Nhưng thực chất, sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường không diễn ra ngẫu nhiên mà tuân theo các quy luật kinh tế, trong đó quy luật giá trị có vai trò quan trọng –
Trang 1Chương I: Một số vấn đề cơ bản về quy luật giá trị. 4
1.2.1 Những quan điểm về giá trị được trình bày trong sách
giáo khoa KT - CT trước đây
41.2.2 Quan điểm mới về quy luật giá trị 61.2.3 Quan điểm khác về quy luật giá trị 6
1.4 Phương thức hoạt động của quy luật giá trị. 7
1.4.1 Biểu hiện của hoạt động quy luật giá trị trong điều kiện
tự do cạnh tranh
8
1.4.1.1 Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. 8
1.4.1.2 Sự chuyển hoá của giá trị thành giá cả sản xuất. 101.4.2 Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều kiện
độc quyền
111.4.3 Một số vấn đề về sản xuất hàng hoá và quy luật giá trị
trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
112
1.5 Vị trí và tác dụng của quy luật giá trị trong kinh tế xã hội
chủ nghĩa.
13
Trang 2trên thế giới.
141.6.1 Các nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs) Châu á 14
Chương II: Thực trạng về việc vận dụng quy luật giá trị và
những giải pháp cơ bản để thực hiện tốt quy luật giá trị ở
nước ta.
18
2.1 Thực trạng của nền kinh tế trước và sau đổi mới ở nước ta. 18
2.2 Sự vận dụng quy luật giá trị ở nước ta. 20
2.2.1 Vận dụng quy luật giá trị điều tiết sản xuất lưu thông 202.2.2 Vận dụng quy luật giá trị để phát triển lực lượng sản
xuất
222.2.3 Vận dụng quy luật giá trị để lựa chọn được người kinh
doanh giỏi trên thị trường
22
2.3 Một số giải pháp nhằm thực hiện tốt việc vận dụng quy luật
giá trị.
23
2.3.1 Hạch toán kinh tế là một giải pháp nhằm thực hiện tốt
việc vận dụng quy luật giá trị
232.3.2 Với những chính sách giá cả hợp lý trong nền kinh tế thị
Trang 3đối với giá cả thị trường.
2.3.3 Cần khắc phục những tiêu cực trong nền kinh tế 30
Trang 4Lời mở đầu
Đất nước ta đã trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ ác liệt với tinh thần dũng cảm và ý chí quyết tâm của cả dân tộc Sau khi hoà bình lập lại nhân dân ta hăng hái vào công cuộc đổi mới đất nước Trong đó, vấn đề đổi mới kinh
tế được đặt lên hàng đầu Quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam từ năm 1979 đến nay đã thu sự chú ý của đông đảo các nhà nghiên cứu, các nhà báo và các doanh nghiệp trên thế giới Đổi mới kinh tế Việt Nam là một quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Trong quá trình đổi mới, nền kinh tế ở nước ta chịu sự tác động của các quy luật kinh tế – Các quy luật kinh tế của thị trường có mối quan
hệ mật thiết với nhau, trong đó quy luật giá trị có vai trò quan trọng nhất Quy luật giá trị với tư cách là quy luật cơ bản của sản xuất hàng hoá, đã tạo ra cho người mua và người bán những động lực cực kỳ quan trọng Trên thị trường người mua bao giờ cũng muốn tối đa hoá lợi Ých sử dụng Vì vậy, người mua luôn luôn muốn Ðp giá thị trường với mức giá thấp Ngược lại, người bán bao giờ cũng muốn tối đa hoá lợi nhuận, và do đó, muốn bán với giá cao Để tồn tại
và phát triển, những người bán, một mặt phải phấn đấu giảm chi phí để chi phí
cá biệt bằng hoặc nhỏ hơn chi phí xã hội trung bình Mặt khác, họ lại phải tranh thủ tối đa các điều kiện của thị trường để bán với giá cao
Do đó, chúng ta cần phải nghiên cứu quy luật giá trị và sự vận dụng của
nó đối với sự phát triển của kinh tế đất nước và rót ra những giải pháp nhằm vận dụng tốt quy luật giá trị ở nước ta trong thời gian tới
Trang 5Chương I.
Một số vấn đề cơ bản về quy luật giá trị.
1.1 Tính tất yếu khách quan về quy luật giá trị.
Sự vận động, phát triển của nền sản xuất xã hội thường xuyên chịu sự tác động của các quy luật kinh tế Nền kinh tế hàng hoá và nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng trong quá trình chuyển biến và phát triển từ nền kinh tế này sang nền kinh tế khác tưởng chừng diễn ra một cách ngẫu nhiên không chịu ảnh hưởng hay tác động của một nhân tố nào Nhưng thực chất, sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường không diễn
ra ngẫu nhiên mà tuân theo các quy luật kinh tế, trong đó quy luật giá trị có vai trò quan trọng – Quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất
1.2 Các quan điểm về quy luật giá trị.
1.2.1 Những quan điểm về giá trị được trình bày trong sách giáo khoa KT-CT trước đây.
Theo cách hiểu xưa nay của chúng ta – tức là cách hiểu trong sách giáo khoa và các tài liệu chính thức ở các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây- thì học thuyết giá trị Mac-xít được xem là đỉnh cao khoa học trong lĩnh vực
lý luận giá trị giá cả C.Mac và Ph.Angghen đã thực hiện được bước chuyển biến cách mạng trong lý luận giá trị nhờ phát hiện ra tính hai mặt của lao động tạo ra hàng hoá
Nội dung của tính hai mặt thể hiện ở chỗ, lao động của người sản xuất hàng hoá vừa là lao động cụ thể, lao động có Ých vừa là “lao động trừu tượng” thể hiện cái chung trong mọi hình thức lao động cụ thể với tư cách là lao động của con người nói chung, thể hiện sự tiêu hao về sinh lực, tinh thần và cơ bắp của người lao động Lao động trừu tượng là hình thức lịch sử xác định của con người trong điều kiện của sản xuất hàng hoá Tính hai mặt của lao động là nguyên nhân trực tiếp của tính hai mặt của hàng hoá Nếu lao động cụ thể tạo ra
Trang 6giá trị sử dụng thì lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá Hàng hoá, do
đó là “sự thống nhất mâu thuẫn” của giá trị và giá trị sử dụng Giá trị của hàng hoá được xác định bằng chi phí lao động trung bình, điển hình đối với trình độ lực lượng sản xuất xã hội sản xuất hàng hoá
Giá trị trao đổi (thể hiện ở tỷ lệ trao đổi thực tế giữa các hàng hoá) là hình thức bề ngoài, là biểu hiện của giá trị Giá trị trao đổi tồn tại dưới hai hình thái là hình thái tương đối và hình thái ngang giá Các hình thái này trải qua những sự phát triển nhất định tương ứng với nhau Đỉnh cao của sự phát triển là tiền với tư cách là dạng phát triển cao của hình thức ngang giá và giá cả với tư cách là dạng phát triển cao của hình thái tương đối Do đó, giá cả chỉ là biểu hiện tiền tệ của giá trị
Nhược điểm của quan niệm cũ về giá trị.
Mục đích cơ bản của học thuyết giá trị của C.Mac là trên cơ sở nó xây dựng học thuyết giá trị thặng dư, từ đó tìm ra quy luật vận động cơ bản của chủ nghĩa tư bản là tính hai mặt của toàn bộ các hiện tượng kinh tế xã hội diễn ra trong nó Mác viết: “Mục đích cuối cùng của tác phẩm của tôi là vạch ra quy luật vận động cơ bản của xã hội hiện đại” (1) Đồng thời, ông cũng khẳng định rằng để đạt được điều đó phải dựa vào lý luận về tính hai mặt của lao động “Bản chất hai mặt này của lao động chứa đựng trong hàng hoá lần đầu tiên được tôi chứng minh một cách có phê phán…điểm đó là xuất phát điểm để hiểu kinh tế chính trị…”(2)
Phạm trù giá trị Macxit không thể dùng làm cơ sở để phân tích tăng trưởng vì nó không phản ánh được sự vận động của cải theo thời gian
Giá trị và quy luật giá trị hiểu theo cách hiểu cũ không thể dùng làm cơ sở phân tích sự vận động của giá cả trên thị trường Thật vậy, nội dung của quy luật giá trị phát biểu trong học thuyết giá trị là giá cả của hàng hoá được xác định trên cơ sở hao phí lao động xã hội trung bình để chế tạo ra hàng hoá: thời gian này có thể xác định được sau khi sản xuất ra hàng hoá và không thay đổi Đây
là chưa kể giá cả còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nh quy mô thị trường,
Trang 7chất lượng sản phẩm, tâm lý người tiêu dùng… Với ý nghĩa này thì nhìn chung trao đổi không theo giá trị chứ không phải ngược lại.
Quy luật giá trị không cho phép giải thích được sự phụ thuộc của giá cả hàng hoá vào toàn bộ hệ thống công nghệ sản xuất của xã hội nói chung còng
nh toàn bộ hệ thống công nghệ của nó
Đối với lý luận quá trình Macxit thông thường còn tập trung vào một số điều sau đây:
- Không cần dựa vào phạm trù giá trị, vào quy luật giá trị vẫn có thể xây dựng được lý thuyết giá cho phép cắt nghĩa được cái hiện tượng trong thực tiễn
Vì thực tế chỉ có giá trị là tồn tại nên cần nghiên cứu mối liên hệ giữa giá cả và các đại lượng khác là đủ
- Học thuyết giá trị Macxit quá trừu tượng, thuần là “máu xám”, do đó không thể đi vào cuộc sống
- Học thuyết giá trị Macxit chỉ đúng cho thời kỳ cạnh tranh tù do vì chỉ trong thời kỳ đó trao đổi mới được thực hiện theo “các quy luật trung bình”, quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân… Nhưng ngày nay, người ta không còn trao đổi theo thời gian lao động sản xuất ra trong điều kiện trung bình… Học thuyết giá trị không còn liên quan gì đến độc quyền nên nó đã trở nên lỗi thời, lạc hậu
1.2.2 Quan điểm mới về quy luật giá trị.
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá Chừng nào còn sản xuất và trao đổi hàng hoá thì chừng đó còn quy luật giá trị Dưới chủ nghĩa xã hội, sản xuất hàng hoá còn tồn tại nên cũng có sự hoạt động của quy luật giá trị
1.2.3 Quan điểm khác về quy luật giá trị.
Cơ chế thị trường tự điều tiết là cơ chế vận động của hệ thống qui luật, trước hết là quy luật giá trị
Trang 8Quy luật giá trị là quy luật “thống soái” chi phối cơ chế thị trường.
Quy luật giá trị chi phối các quy luật khác, các quy luật kinh tế khác chỉ là biểu hiện của quy luật giá trị mà thôi
Quy luật giá trị quyết định giá cả hàng hoá, dịch vụ, mà giá cả là tín hiệu nhạy bén nhất của cơ chế thị trường
Chỗ khác nhau giữa học thuyết kinh tế Mac với kinh tế học hiện đại là ở chỗ này Kinh tế học phương Tây quá đề cao quy luật cung – cầu Họ coi quy luật cung cầu là quy luật tạo thế cân bằng sản xuất, chi phối quyết định giá cả Ngược lại, Mac quan niệm quy luật cung – cầu không quyết định giá trị và giá
cả hàng hoá được
Mac chứng minh ngay cả khi cung cầu cân bằng nhau giá vẫn biến động Mac khẳng định: “Dù giá cả được điều tiết nh thế nào thì quy luật giá trị vẫn chi phối sự vận động của chúng”(1)
1.3 Yêu cầu của quy luật giá trị.
Yêu cầu của quy luật giá trị là “sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở giá trị hàng hoá hay thời gian lao động xã hội cần thiết”
Trong kinh tế hàng hoá, vấn đề quan trọng là hàng hoá sản xuất ra có bán được hay không Để hàng hoá có bán được thì hao phí lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hoá đó phải phù hợp với lao động xã hội cần thiết, tức là phải phù hợp với mức lao động xã hội có thể chấp nhận được Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa vào hao phí lao động xã hội cần thiết Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi với nhau được khi lượng giá trị của chúng ngang nhau Theo nghĩa đó thì trao đổi phải theo nguyên tắc ngang giá
Quy luật giá trị là trừu tượng Nó thể hiện sự vận động thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị Giá cả phụ thuộc vào giá trị, và giá trị là cơ sở của giá cả Hàng hoá nào mà hao phí lao động để sản xuất ra nó nhiều thì giá trị của nó lớn, do vậy giá cả thị trường sẽ
Trang 9cao và ngược lại Ngoài ra, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như quan
hệ cung cầu, tình trạng độc quyền trên thị trường Tác động của các nhân tố trên làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường lên xuống xoay quanh giá trị của nó CacMac gọi đó là vẻ đẹp của quy luật giá trị Trong vẻ đẹp này, giá trị hàng hoá
là trục, giá cả hàng hoá trên thị trường lên xuống xoay quanh trục đó Đối với mỗi hàng hoá riêng biệt, giá cả của nó có thể cao hơn, thấp hơn hoặc phù hợp với giá trị của nó Nhưng cuối cùng, tổng giá cả phù hợp với tổng giá trị của chúng
1.4 Phương thức hoạt động của quy luật giá trị.
Quy luật giá trị hoạt động trong các hình thái xã hội khác nhau, và trong
hệ thống các quan hệ kinh tế của mỗi hình thái đó, nó đóng một vai trò phụ thuộc – vai trò “phục vụ”
Quy luật giá trị là trừu tượng Nó thể hiện sự vận động thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị Giá cả phụ thuộc vào giá trị, vì giá trị là cơ sở của giá cả Tuy nhiên, ngoài sự phụ thuộc vào giá trị hàng hoá, giá cả còn phụ thuộc vào giá trị của tiền tệ
Mối quan hệ thực tế giữa giá trị và giá cả được thể hiện trong nội dung của quy luật giá trị Sản xuất và trao đổi hàng hoá được thực hiện theo giá trị Điều này không có nghĩa là giá cả luôn trùng với giá trị Giá cả chỉ “xoay quanh” giá trị mà thôi Tức là, nhìn chung tỷ lệ trao đổi xấp xỉ bằng tỷ lệ giữa giá trị của các hàng hoá
Quy luật giá trị dưới chủ nghĩa xã hội đòi hỏi việc trao đổi hàng hoá phải tiến hành trên cơ sở giá trị, tức là phải lấy giá trị xã hội để làm cơ sở của giá cả hàng hoá Điều đó đòi hỏi giá cả phải phản ánh đúng đắn giá trị xã hội Tức là trước hết phải bù đắp được chi phí sản xuất, chi phí lao động vật hoá cũng nh lao động sống – theo những định mức kinh tế kỹ thuật được xã hội thừa nhận
Phần giá trị do lao động thặng dư sáng tạo ra được phân phối trong giá cả dưới hình thức lợi nhuận không chỉ bảo đảm lợi Ých riêng của xí nghiệp và
Trang 10người lao động xí nghiệp mà phải bảo đảm sự thống nhất hài hoà giữa ba lợi Ých: lợi Ých xã hội, lợi Ých tập thể vầ lợi Ých cá nhân của người lao động trong xã hội.
Như vậy, giá cả của một hàng hoá không nhất định phải hoàn toàn nhất trí với giá trị cá biệt hoặc giá trị xã hội của hàng hoá đó Giá cả có khả năng tách rời giá trị hàng hoá, nhưng xét trên toàn xã hội tổng giá cả vẫn bằng tổng giá trị
1.4.1 Biểu hiện của hoạt động quy luật giá trị trong điều kiện tự
do cạnh tranh.
Trong giai đoạn này quy luật giá trị được biểu hiện dưới dạng tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất
1.4.1.1 Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Tỷ suất lợi nhuận bình quân được hình thành dựa trên:
a, Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Cạnh tranh là hình thức đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, nhằm giành dật những điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá
Cơ sở của cạnh tranh là chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất Chế
độ này đẻ ra cạnh tranh, chèn Ðp lẫn nhau “Cá lớn nuốt cá bé” Dưới chủ nghĩa
tư bản do có chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, cho nên tất yếu có cạnh tranh Trong sản xuất tư bản chủ nghĩa tồn tại hai loại cạnh tranh: cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành
• Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch
• Biện pháp cạnh tranh: Các nhà tư bản thường xuyên cải tiến kỹ thuật, nâng cao cấu tạo hữu cơ của tư bản, nâng cao năng suất lao động nhằm làm cho
Trang 11giá trị cá biệt của hàng hoá xí nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội để thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Kết quả của cạnh tranh nội bộ ngành là hình thành nên giá trị xã hội (giá trị thị trường) của từng loại hàng hoá Điều kiện sản xuất trung bình trong một ngành thay đổi, kỹ thuật sản xuất phát triển, tỷ suất lợi nhuận giảm xuống
Trong các đơn vị sản xuất khác nhau, do điều kiện sản xuất (điều kiện kỹ thuật, tổ chức sản xuất, trình độ tay nghề …) khác nhau, cho nên hàng hoá có giá trị cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường các hàng hoá đều phải bán theo một giá trị thống nhất, bán theo giá trị thị trường Vậy giá trị thị trường là gì ? CacMac giả thích như sau: “ Một mặt phải coi giá trị thị trường là giá trị bình quân của những hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện trung bình của khu vực sản xuất đó và chiếm một khối lượng lớn trong những sản phẩm của khu vực này”(1)
b, Cạnh tranh gữa các ngành
ã Cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh giữa các ngành tư bản kinh doanh trong các ngành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn
ã Biện pháp cạnh tranh: Tư do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, tức là tự phát phân phối tư bản (c và m) vào các ngành sản xuất khác nhau
Kết quả của cuộc cạnh tranh này là hình thành dần tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hoá chuyển hoá thành giá trị sản xuất
Do hiện tượng di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, làm cho ngành có cung (hàng hoá) lớn hơn cầu (hàng hoá) và giá cả giảm xuống, còn ngành có cầu (hàng hoá) lớn hơn cung (hàng hoá) thì giá cả tăng lên Sự tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác làm thay đổi tỷ suất lợi nhuận cá biệt vốn có của các ngành Kết quả là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân
- tỷ suất lợi nhuận bình quân là tỷ số tính theo % giữa tổng giá trị thặng dư trong
Trang 12xã hội tư bản và tổng tư bản xã hội đã đầu tư vào tất cả các lĩnh vực, các ngành của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
1.4.1.2 Sự chuyển hoá của giá trị thành giá cả sản xuất.
Cùng với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, giá trị hàng hoá chuyển hoá thành giá cả sản xuất
Giá cả sản xuất của hàng hoá bằng chi phí sản xuất của hàng hoá cộng với lợi nhuận bình quân (giá cả sản xuất = k + p )
Tiền đề của giá cả sản xuất là sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân Điều kiện để giá trị biến thành giá cả sản xuất gồm có: đại công nghiệp cơ khí tư bản chủ nghĩa phát triển; sự liên hệ rộng rãi giữa các ngành sản xuất, quan hệ tín dụng phát triển, tư bản tự do di chuyển từ ngành này sang ngành khác
Trước đây, khi chưa xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả hàng hoá xoay quanh giá trị hàng hoá Giờ đây, giá cả của hàng hoá lại xoay quanh giá cả của sản xuất Về mặt lượng, ở mỗi ngành giá cả sản xuất và giá trị có thể không bằng nhau, nhưng trong toàn xã hội thì giá cả sản xuất bằng tổng giá trị hàng hoá Chính trong mối quan hệ này giá trị vẫn là cơ sở, nội dung bên trong của giá cả sản xuất, giá cả thị trường
Thực chất của quy luật giá cả sản xuất là sự biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản
1.4.2 Biểu hiện ho ạt động của quy luật giá trị trong điều kiện độc quyền.
Do tư bản độc quyền nhất là tư bản tài chính, giữ vị trí thống trị trong sản xuất và lưu thông nên nó có thể không chỉ sử dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận bình quân, lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất vốn là những phạm trù kinh tế quen thuộc trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh mà nó sử dụng phương pháp cưỡng bức siêu kinh
tế để thu lợi nhuận cao – lợi nhuận độc quyền Lợi nhuận độc quyền là một
Trang 13hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư, hình thành trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền.
Song song với việc hình thành lợi nhuận độc quyền, các tổ chức độc quyền không bán hàng theo giá cả sản xuất, mà bán theo giá cả độc quyền (mặc
dù lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất không mất đi vì cạnh tranh tù do vẫn tồn tại)
Giá cả độc quyền là hình thức biểu hiện của giá trị hàng hoá trong giai đoạn độc quyền Nó bao gồm chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận độc quyền Thông thường các tổ chức độc quyền bán hàng hoá với giá cả cao hơn giá trị hàng hoá; còn khi mua hàng hoá của xí nghiệp không độc quyền, của người sản xuất nhỏ trong nước và nước ngoài thì giá cả thường thấp hơn giá trị Thông qua cơ chế mua bán theo cơ chế độc quyền các tổ chức độc quyền thu được lợi nhuận độc quyền cao
Việc các tổ chức độc quyền mua bán theo giá cả độc quyền để thu lợi nhuận độc quyền xét về thực chắt chỉ là sự biểu hiện mới, cao hơn, nó không làm giảm hiệu lực của lý luận giá trị và lý luận giá trị thặng dư, nếu chúng ta đặt nó trong sự cạnh tranh, phân phối lại giá trị và đặt nó trong các mối quan hệ trong và ngoài nước mà các tổ chức độc quyền có liên quan đến sản xuất và kinh doanh
1.4.3 Một số vấn đề về sản xuất hàng hoá và quy luật giá trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
Chuyển sản xuất nông nghiệp sang kinh tế hàng hoá là yêu cầu to lớn của phát triển sản xuất hàng hoá ở một nước tiến lên chủ nghĩa xã hội từ nền sản xuất nhỏ Đặc điểm lớn nhất của nước ta là nền kinh tế đang vận động từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Vấn đề cần giải quyết để phát triển sản xuất hàng hoá ở nước ta nhằm đáp ứng quan hệ phân công hợp tác quốc tế này là phải quy hoạch lại, sản xuất, kế hoạch hoá chặt chẽ, tập trung vào những trọng điểm để tạo nguồn hàng tham gia vào sự phân công và giải quyết nhu cầu
Trang 14trong nước Sự hợp tác về mặt kế hoạch do vậy có tầm quan trọng đặc biệt trong
sự phát triển kinh tế hàng hoá ở nước ta Phát huy tác dụng của quy luật giá trị trong kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế tác động của các quy luật giá trị trong kinh tế không xã hội chủ nghĩa là yều cầu của chính sách giá cả và quản lý thị trường ở nước ta trong thời kỳ quá độ Trong thời kỳ này do tồn tại ba loại quan
hệ sản xuất nên tồn tại ba loại sản xuất hàng hoá, là quy luật của sản xuất hàng hoá quy luật giá trị tồn tại trong cả ba loại hình sản xuất hàng hoá đó Tuy nhiên, như sự phân tích ở trên đây, quy luật giá trị trong các loại hình sản xuất hàng hoá đó có cùng một nội dung, phương thức và phạm vi hoạt động khác nhau, trong sản xuất hàng hoá giản đơn, quy luật giá trị có yêu cầu là bảo đảm lợi Ých
cá nhân người lao động riêng biệt, trong sản xuất tư bản chủ nghĩa quy luật giá trị có yêu cầu mang lại giá trị thặng dư càng nhiều càng tốt cho nhà tư bản
Trong sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa: lợi Ých xã hội, lợi Ých tập thể
và lợi Ých người lao động làm chủ xã hội, gắn liền với cuộc đấu tranh giữa ba loại hình sản xuất hàng hoá có công cuộc đấu tranh giữa các quy luật giá trị Đó
là cuộc đấu tranh về giá cả trên thị trường đã làm nảy sinh hai khuynh hướng phát triển: ổn định và rối loạn, có kế hoạch và vô chính phủ, xã hội chủ nghĩa và
tư bản chủ nghĩa
Vấn đề đặt ra cần phải vận dụng quy luật giá trị trong kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế và hướng dẫn quy luật giá trị trong hai thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa
1.5 Vị trí và tác dụng của quy luật giá trị trong kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Sự phân tích trên đã xác định quy luật giá trị trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có nội dung căn bản khác với quy luật giá trị trong các nền kinh tế hàng hoá trước nó, khẳng định quy luật giá trị là quy luật giá trị của kinh tế xã hội chủ nghĩa tiến bộ hữu cơ với các quy luật giá trị kinh tế khác trong hệ thống quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội “ trong chủ nghĩa xã hội, dưới sự thống trị của chế
độ công hữu xã hội chủ nghĩa tư liệu sản xuất, quy luật giá trị biểu hiện của quan
hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa giữa người và người hoạt động trong hệ thống quy
Trang 15luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội, trong mối liên hệ lẫn nhau giữa các quy luật
đó và được sử dụng để quản lý có kế hoạch nền sản xuất”(1) Sự khẳng định vị trí
đó của quy luật giá trị không có nghĩa là thừa nhận chủ nghĩa xã hội mới có quy luật giá trị, không ghép quy luật giá trị vào nhóm quy luật đặc thù của chủ nghĩa
xã hội và cũng không phủ định quy luật giá trị là quy luật của nền kinh tế hàng hoá, rằng quy luật giá trị tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất xã hội khác nhau
Quy luật giá trị là quy luật của kinh tế hàng hoá nên quy luật giá trị vẫn tồn tại trong xã hội chủ nghĩa ở đó vẫn tồn tại kinh tế hàng hoá Xét theo góc độ này, quy luật giá trị là một quy luật chung tồn tại trong nhiều phương thức vì là quy luật chung, quy luật giá trị dưới chủ nghĩa xã hội có những nội dung chung giống với những quy luật giá trị trong các phương thức sản xuất trước đó Đồng thời phép biện chứng về cái riêng là cái toàn thể, cái chung là cái bộ phận, cái chung nằm trong cái riêng lại cho phép khẳng định rằng quy luật giá trị dưới chủ nghĩa xã hội lại là một toàn thể vừa chứa đựng những nội dung giống nhau của các quy luật giá trị trước đó, vừa chứa đựng những nội dung riêng phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Nh vậy, quy luật giá trị trong chủ nghĩa xã hội không phải là sự tái hiện nguyên vẹn của quy luật giá trị mà là một quy luật khác, quy luật giá trị của kinh
tế hàng hoá xã hội chủ nghĩa, quy luật chủ nghĩa xã hội
Đối với sản xuất xã hội quy luật giá trị được thể hiện: Tính toán kinh tế để
bố trí lực lượng sản xuất trong cả nước nhằm thực hiện tốt nhất yêu cầu của quy luật phát triển kinh tế có kế hoạch
Quy định các cân đối không cơ bản, tác động đến việc hoàn thiện các cân đối cơ bản và đến sự hình thành các cân đối khác trong nền kinh tế
Quy định các phương án kinh tế tối ưu trong thực hiện yêu cầu các quy luật kinh tế khác
Trang 16Quy định các phương tiện kinh tế kích thích nâng cao hiệu quả sản xuất
và chất lượng sản phẩm
Quy luật giá trị tác động mạnh đến phân phối xã hội chủ nghĩa, phân phối theo lao động là quy luật của chủ nghĩa xã hội, là phương thức cơ bản để kết hợp hài hoà giữa các lợi Ých trong xã hội xã hội chủ nghĩa
Lưu thông hàng hoá dưới chủ nghĩa xã hội được thực hiện một cách có kế hoạch nhằm thực hiện yêu cầu quy luật giá trị cơ bản của chủ nghĩa xã hội
Quy luật giá trị điều tiết tiêu dùng xã hội một cách rõ rệt và dưới hình thái giá bán lẻ, trở thành công cụ để nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện chính sách tiêu dùng phù hợp với điều kiện sản xuất từng thời kỳ
Tác dụng của quy luật giá trị cũng như các quy luật kinh tế khác của chủ nghĩa xã hội đều tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức
độ hoàn thiện của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, vào khả năng nhận thức, vận dụng và khả năng tổ chức các hoạt động kinh tế thực hiện của nhà nước, vào những điều kiện tự nhiên xã hội và cả những yếu tố phi kinh tế Do được xã hội chủ nghĩa nhận thức và vận dụng một cách tự giác, cho nên tác động của quy luật giá trị đối với sự phát triển xã hội chủ nghĩa không gắn liền hữu cơ với sự phân hoá giầu nghèo của những người sản xuất hàng hoá
1.6 Quy luật giá trị và sự vận dụng của nó đối với các nước khác trên thế giới.
1.6.1 Các nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs) Châu á.
Các nước NIEs Châu á nghèo tài nguyên thiên nhiên, chỉ có lực lượng lao động đông đảo và giá rẻ làm lợi thế so sánh khi mở đầu chương trình công nghiệp hoá, đã giành được những thành tựu kinh tế đáng khâm phục Để đạt tới những tiêu chí của xã hội trưởng thành về kỹ thuật (theo cách phân loại 5 giai đoạn trong tăng trưởng kinh tế W.W.Rostow) Các nước này chỉ đi một chặng đường khoảng 30 năm, rút ngắn hơn 60 năm của Nhật bản và càng rút ngắn hơn với 100 năm của nước Anh Phát triển rút ngắn trở thành đặc trưng của NIEs
Trang 17Châu á và là kết quả của sự tác động bởi các yếu tố bên trong cũng như bên ngoài Xét về mức độ đô thị hoá, chúng ta thấy rõ các nước NIEs Châu á ngay
từ đầu đã vận động theo cơ chế thị trường cùng với thời gian họ hiểu rõ hơn những quy luật kinh tế chi phối quá trình vận động đó và các chính sách đề ra đều chứng tỏ họ rất tôn trọng các quy luật khách quan, tôn trọng lợi Ých cá nhân
và dân tộc Chính vì lẽ đó mà sự hình thành một thị trường trong nước đầy đủ chưa làm họ thoả mãn Họ mở cửa vươn ra thế giới hơn là chỉ trông cậy vào nhu cầu nội địa, tranh thủ những cơ hội có thể để hoà nhập vào nền kinh tế thị trường trên quy mô quốc tế để đi xa và đi nhanh Cúng với việc tôn trọng những quy luật khách quan của cơ chế thị trường, xây dựng nền kinh tế mở cửa mạnh mẽ là những điều khác biệt mà nhiều nước thuộc địa thế giới thư ba chưa làm hoặc không làm được
1.6.2 Các nước Đông á.
Trong những thập kỷ gần đây, Đông á, một khu vực nghèo tài nguyên thiên nhiên, xuất phát ban đầu từ một nền kinh tế bị thất bại, bị chiếm đóng hay thuộc địa, lạc hậu, đã tạo ra một sự phát triển “thần kỳ” và rút ngắn quá trình công nghiệp hoá sau vài ba thập kỷ 80 với Anh gần hai thế kỷ, Mỹ hơn một thế
kỷ Tại sao khu vực lại làm được điều kỳ diệu đó? Đã có nhiều kiến giải rất khác nhau về vấn đề này Theo chúng tôi, phải chăng các nước này, mặc dù có khác nhau về mức độ, song đã tập trung phát triển một nền kinh tế thị trường mở cửa dưới sự điều tiết của một Nhà nước mạnh, vì mục tiêu chung là tăng trưởng kinh
tế và công bằng xã hội
Việc mô hình kinh tế thị trường Đông á có phù hợp với nước ta hay không còn là điều phải bàn song trong quá trình nghiên cứu, tiếp thu mô hình này thiết nghĩ cần hướng một số điểm:
Không nên tuyệt đối hoá mô hình phát triển, mỗi quốc gia có bước đi riêng của mình, mỗi giai đoạn đều có đặc thù riêng Do đó, học tập một quốc gia khác, một mô hình phát triển nào đó chỉ nên học ở những nét đại cương, cho dù
Trang 18đó là một mô hình tỏ ra rất thành công trong thực tế và phải biết vận dụng có chọn lọc vào hoàn cảnh cụ thể của mình.
Hoàn toàn không có những “công thức” chính xác chứ không nói đến một
“chìa khoá” duy nhất, vạn năng cho phát triển Ngay cả những chính sách và chiến lược về cơ bản là đúng, là khôn ngoan cũng chỉ phát huy tác dụng được khi chúng đứng ở đâu đó trên một dải hành động có thể
Song để tìm ra được vị trí đúng của những chính sách và những chiến lược đó, chúng ta phải dựa vào những quy luật kinh tế Để phục tùng được các quy luật kinh tế đó, việc đầu tiên là phải xác định được khả năng có thực của mình là gì, có làm được không Trong quá trình hành động, tín hiệu phản ứng của thị trường, vốn là biểu hiện của “các quy luật kinh tế” sẽ bảo cho chóng ta biết chúng ta có thể hành động đúng hay không và chúng ta nên đi theo hướng nào
1.6.3 Phép lạ kinh tế Nhật Bản.
Mặc dù đã có nhiều Ên phẩm về Nhật Bản, nhưng cho đến nay vẫn chưa
có một cách hiểu thống nhất những nguyên nhan của sự tăng trưởng kinh tế đặc biệt này Nhiều nhà nghiên cứu đã lưu ý tới các nhân tố khác nhau của sự phát triển sau chiến tranh của nước Nhật
Các giai đoạn “ thần kỳ “ của nền kinh tế Nhật Bản thường là kết quả của việc Chính phủ xác định một mục tiêu quốc gia thống nhất, phát triển một cơ sở
hạ tầng toàn quốc nh một cơ sở hạ tầng cho sự tăng trưởng kinh tế Luôn duy trì một quan điểm hướng ngoại đối với các chính sách kinh tế…
Sự thật ngây thơ nếu cho rằng các chiến lược kinh tế của Nhật Bản có thể được chuyển giao nguyên xi cho bất cứ nước nào khác – dù người ta có thể xác định chính xác những nhân tố nào đóng góp chủ yếu vào thành công của Nhật Bản Tất cả những nhân tố như những khác biệt văn hoá, sự sẵn có về nguồn lực, những cân nhắc về chính trị và hoàn cảnh lịch sử đều phải được tính đến Song
nh vậy không có nghĩa là kinh nghiệm của Nhật Bản không có một bài học nào