1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu trong quan hệ thương mại với trung quốc nhằm hạn chế tình trạng nhập siêu

223 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 223
Dung lượng 2,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tác giả tiếp cận theo hướng này tiêu biểu có Lê Danh Vĩnh, Hồ Trung Thanh 2012, Nguyễn Văn Nam 2012, Trần Công Sách 2012, Vũ Huyền Phương 2014 v.v… 2.2 Tình hình nghiên cứu về chuyển

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Mã số: 62.31.01.06

Nguyễn Thị Nhật Thu Người hướng dẫn khoa học : 1 PGS,TS Nguyễn Hoàng Ánh

2 PGS,TS Đỗ Hương Lan

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các

số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG – HÌNH v

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI CƠ CẤU HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU NHẰM HẠN CHẾ NHẬP SIÊU 25

1.1 Một số vấn đề lý thuyết về đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu 25

1.1.1 Khái niệm và phân loại cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu 25

1.1.2 Một số vấn đề lý thuyết về đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu 27

1.2 Quan hệ giữa đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu và việc giảm nhập siêu song phương 32

1.2.1 Một số vấn đề lý thuyết về nhập siêu 32

1.2.2 Các nhân tố tác động chung đến đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu và cán cân thương mại song phương 35

1.3 Kinh nghiệm đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập với Trung Quốc để giảm nhập siêu 46

1.3.1 Giới thiệu về nền kinh tế Malaysia 47

1.3.2 Đổi mới trong cơ cấu hàng xuất nhập khẩu của Malaysia với Trung Quốc 47

1.3.3 Giải pháp đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu của Malaysia 49

1.3.4 Những kinh nghiệm của Malaysia có thể áp dụng cho Việt Nam 56

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI CƠ CẤU HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM NHẰM HẠN CHẾ NHẬP SIÊU VỚI TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2002-2016 59

2.1.Thực trạng nhập siêu hàng hóa Việt Nam- Trung Quốc giai đoạn 2002-2016 59

2.1.1 Nhập siêu Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 2002-2010 59

2.1.2 Nhập siêu Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 2011-2016 60

Trang 5

2.1.3 Nhâp siêu của Việt Nam-Trung Quốc trong cán cân thương mại chung

61

2.2 Vai trò của cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu trong cán cân thương mại Việt-Trung giai đoạn 2002-2016 62

2.2.1 Thực trạng cơ cấu hàng xuất nhập khẩu Việt-Trung 62

2.2.2 Tác động của cơ cấu hàng xuất nhập khẩu đến tình trạng nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 2002-2016 66

2.3 Đánh giá sự đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam-Trung Quốc giai đoạn 2002-2016 71

2.3.1 Hiệu quả trong hoạt động thương mại Việt Nam-Trung Quốc 71

2.3.2 Khả năng đảm bảo phát triển bền vững quốc gia 75

2.4 Thực trạng các thành tố tác động đến đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu Việt-Trung 77

2.4.1 Thành tố Yếu tố sản xuất 77

2.4.2 Thành tố Chính phủ 79

2.4.3 Thành tố Các ngành công nghiệp phụ trợ 85

2.4.4 Thành tố Doanh nghiệp 89

2.4.5 Thành tố Nhu cầu 93

2.4.6 Thành tố Cơ hội 95

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 98

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CƠ CẤU HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU ĐỂ GIẢM NHẬP SIÊU VỚI TRUNG QUỐC 99

3.1 Bối cảnh đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa nhằm giảm nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 2018-2030 99

3.1.1 Thị trường Trung Quốc 99

3.1.2 Thị trường Việt Nam 102

3.2 Cơ hội và thách thức cho Việt Nam 103

3.2.1 Cơ hội 103

3.2.2 Thách thức 107

3.3 Hướng đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu với Trung Quốc đến năm 2030 109

Trang 6

3.3.1 Phương hướng đổi mới tổng thế 109

3.3.2 Một số nhóm hàng xuất nhập khẩu chủ lực 110

3.4 Giải pháp đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu để hạn chế nhập siêu với Trung Quốc 113

3.4.1 Giải pháp của chủ thể Nhà nước 113

3.4.2 Giải pháp của chủ thể Doanh nghiệp 130

3.4.3 Giải pháp của chủ thể Nhà khoa học 146

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 148

KẾT LUẬN 149

TÀI LIỆU THAM KHẢO 153

PHỤ LỤC 175

Trang 7

DANH MỤC BẢNG – HÌNH DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Chuyển đổi các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu hàng hóa nhập khẩu sang

các thành tố của mô hình Kim cương 37

Bảng 1.2 Tác động của yếu tố Chính phủ đến cơ cấu xuất nhập khẩu và cán cân thương mại song phương 38

Bảng 1.3 Tác động của Yếu tố sản xuất đến cơ cấu xuất nhập khẩu và cán cân thương mại song phương 40

Bảng 1.4 Tác động của yếu tố Nhu cầu đến cơ cấu xuất nhập khẩu và cán cân thương mại song phương 41

Bảng 1.5 Tác động của yếu tố Doanh nghiệp đến cơ cấu xuất nhập khẩu và cán cân thương mại song phương 42

Bảng 1.6 Tác động của yếu tố Công nghiệp phụ trợ và Cơ hội đến cơ cấu xuất nhập khẩu và cán cân thương mại song phương 43

Bảng 1.7 Mức chi cho hoạt động R&D và số bằng phát minh sáng chế 53

Bảng 1.8 Kim ngạch thương mại giữa Malaysia với Thượng Hải 55

Bảng 2.1 Cán cân thương mại Việt Nam với một số khu vực/quốc gia 61

Bảng 2.2: Nhập siêu hàng hóa của Việt Nam với Trung Quốc phân theo hàm lượng 66

Bảng 2.3: Nhập khẩu hàng tiêu dùng từ Trung Quốc 68

Bảng 2.4 Lợi thế so sánh trong một số nhóm hàng của Việt Nam và các nước ASEAN 71

Bảng 3.1: Phương hướng liên kết hàng ngang giữa doanh nghiệp sản xuất Việt Nam với các công ty đa quốc gia 137

Bảng 3.2: Số lượng các hệ thống siêu thị lớn ở Trung Quốc năm 2016 142

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu nhằm giảm nhập siêu song

phương 45

Hình 2.1 Nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 2002-2010 59

Hình 2.2 Nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 2010-2016 60

Hình 2.3 Cơ cấu xuất nhập khẩu theo mục đích sử dụng của hàng hóa 62

Hình 2.4: Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu Việt-Trung theo yếu tố hàm lượng các năm 2002, 2008, 2016 64

Hình 2.5 Xuất nhập khẩu nhóm hàng thiết bị điện-điện tử (HS85) giữa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn 2002-2016 65

Hình 2.6: Nhập siêu nhóm hàng dệt may và da giày trên tổng nhập siêu từ Trung Quốc giai đoạn 2002-2015 69

Hình 2.7: Thị phần các thị trường xuất khẩu nguyên phụ liệu may mặc cho Việt Nam năm 2016 70

Hình 2.8 Tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 72

Việt Nam-Trung Quốc giai đoạn 2002-2016 72

Hình 2.9 Tỷ trọng nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc trong GDP 73

Hình 2.10 Khó khăn của các đơn vị xúc tiến thương mại Việt Nam năm 2016 83

Hình 2.11: Thứ hạng của Việt Nam và Trung Quốc về Năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2017 95

Hình 2.12 Mức chi cho R&D/doanh thu tại các doanh nghiệp Đông Nam Á giai đoạn 2014-2017 97

Hình 3.1 Tác động tích cực của một số FTA thế hệ mới đến cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam thời gian tới 104

Hình 3.2 Phương hướng đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu với Trung Quốc đến năm 2030 109 Hình 3.3 Điều kiện tổng hợp để phát triển các cụm ngành công nghiệp Việt Nam124

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT TỪ VIẾT

1 ACFTA ASEAN-China Free Trade

Area

Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN – Trung Quốc

2 AEC Asean Economic Community Khu vực kinh tế chung

ASEAN

3 AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do

ASEAN

4 ASEAN Association of

Southeast Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CAEXPO China Asean Expo Hội chợ Trung Quốc-Asean

5 E&E Electrical and Electronic equip

6 EPC Engineering Procurement and

Construction

Thiết kế- Cung cấp thiết bị công nghệ -Thi công xây dựng công trình

7 EPZ Export Processing Zone Khu chế xuất

8 EVFTA

European Commmunities-Vietnam Free Trade Agreement

Hiệp định thương mại tự

do Việt Nam – EU

9 FDI ForeignDirirect Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

10 FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do

11 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm nội địa

12 GMP Good Manufacturing Practices Hướng dẫn thực hành sản

xuất tốt

13 HACCP Hazard Analysis and Critical

Control Point System

Hệ thống phân tích mối nguy

và kiểm soát điểm tới hạn

14 HS Harmonised commodity Hệ thống mã hóa và mô tả

Trang 10

description and coding system hàng hóa

15 IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

16 ISO International Organization for

Standardization

Tổ chức quố tế về Tiêu chuẩn hóa

17 MNC Multi-Nation Company Công ty đa quốc gia

18 NICs Newly Industrialized Countries Các nước công nghiệp hóa

22 OECD Organisation for Economic

Co-operation and Development

Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển

23 OEM Original Equipment

Manufacturer Nhà sản xuất thiết bị gốc

24 RCEP Regional Comprehensive

Economic Partnership

Hiệp định đối tác toàn diện khu vực

25 R&D Research and Development Nghiên cứu và Phát triển

26 SITC Standard International Trade

28 TBT Technical Barriers to Trade Hàng rào kỹ thuật trong

thương mại

29 TNCs Trans-Nations Companies Công ty xuyên quốc gia

30 TPP

Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreemen

Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương

Trang 11

31 UNCTAD United Nation Conference on

Trade and Development

Hội nghị của Liên hợp quốc

về thương mại và phát triển

32 VKFTA Vietnam Korea Free Trade

35 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế

giới

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu là sự sắp xếp và mối quan hệ về mặt tỷ trọng giữa các mặt hàng, nhóm hàng trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của một quốc gia Chính phủ các quốc gia luôn nỗ lực hướng đến một cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa phát huy được lợi thế so sánh, tác động tích cực đến thương mại và đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững Tốc độ đa dạng hóa xuất khẩu là một trong những chìa khóa cho tăng trưởng kinh tế Cơ cấu hàng xuất khẩu thâm dụng tài nguyên ở các nước đang phát triển còn có thể tác động đến kinh tế xã hội và thể chế chính trị của quốc gia đó (Isham, Wollcock, 2012)

Việt Nam hiện đang xuất siêu sang các thị trường Âu-Mỹ nhưng lại nhập siêu mạnh từ các nước châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN, trong đó nghiêm trọng nhất là với Trung Quốc Nguyên nhân là do thị trường Âu-Mỹ có nhu cầu rất lớn đối với hàng hóa thâm dụng lao động như dệt may, da giày, hoa quả và thủy hải sản nhưng Việt Nam hầu như ít nhập khẩu từ những thị trường này Trong khi đó,

do nhu cầu nhập khẩu nguyên phụ liệu và máy móc thiết bị công nghệ lớn, nhưng chỉ xuất khẩu được nông lâm thủy sản thô và sơ chế giá trị thấp sang các thị trường châu Á Số liệu thống kê của WTO, Liên hợp quốc và Tổng cục thống kê Việt Nam đều cho thấy nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc tăng nhanh ở mức báo động Thâm hụt thương mại với Trung Quốc ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là sau khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001 Năm 2001, nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc mới ở mức 787 triệu USD nhưng con số này liên tục tăng mạnh và đến năm 2015 đã lên đến 43,7 tỷ USD, gấp hơn 55 lần so với năm 2001 Năm 2016, giá trị nhập siêu giảm mạnh còn gần 25 tỷ USD nhưng giá trị nhập khẩu thực chất vẫn rất cao (61,6 tỷ USD) Quy mô nhập siêu cao, kéo dài và không có dấu hiệu được cải thiện như của Việt Nam với Trung Quốc hiện nay là vấn đề đáng lo ngại vì nó phản ánh thương mại Việt Nam đang phụ thuộc quá lớn vào thị trường Trung Quốc

Việc thuộc quá mức vào một thị trường xuất nhập khẩu là một yếu tố rủi ro không thể xem thường Nếu có biến động từ thị trường Trung Quốc về nguyên phụ liệu đầu vào cho sản xuất thì việc làm và thu nhập của người lao động Việt Nam sẽ

Trang 13

gặp khó khăn lớn Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu sẽ giảm sút, tác động tiêu cực đến cân đối thương mại và thanh toán quốc tế nước ta Nếu Trung Quốc có chính sách hạn chế nhập khẩu từ Việt Nam, lượng hàng hóa tồn đọng không xuất khẩu được cũng sẽ cũng gây thiệt hại rất lớn cho người sản xuất và doanh nghiệp Việt Hơn nữa, phụ thuộc kinh tế tất yếu sẽ kéo theo phụ thuộc chính trị của Việt Nam vào Trung Quốc

Nhiều nghiên cứu gần đây như của MUTRAP (2009), Bùi Trinh, Nguyễn Văn Huân (2011), Tô Trung Thành, Nguyễn Trí Dũng (2012), Lương Văn Khôi (2012) đều chỉ ra, nhập siêu của Việt Nam kéo dài bắt nguồn từ vấn đề cơ cấu Như vậy có thể khẳng định, thâm hụt cán cân thương mại Việt Nam-Trung Quốc có nguyên nhân chủ yếu là do cơ cấu hàng xuất nhập khẩu giữa hai nước

Như vậy, nếu vẫn tiếp tục duy trì cơ cấu xuất nhập khẩu với Trung Quốc như hiện nay, tình trạng nhập siêu của Việt Nam chắc chắn sẽ ngày càng nặng hơn nữa trong những năm tới Ràng buộc từ các FTA mới ký kết cùng tác động mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0 trên toàn cầu buộc Việt Nam phải có sự điều chỉnh căn bản trong cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu nếu muốn bắt kịp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới Bản thân ngưởi tiêu dùng Trung Quốc cũng như Việt Nam cũng đang có sự thay đổi lớn trong nhu cầu và quan điểm tiêu dùng Do Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam hiện nay nên đổi mới được cơ cấu trao đổi hàng hóa với Trung Quốc cũng sẽ tạo ra được sự đổi mới căn bản trong

cơ cấu thương mai hàng hóa chung của Việt Nam

Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là “Đổi mới

cơ cấu hàng xuất nhập khẩu trong quan hệ thương mại với Trung Quốc nhằm hạn chế tình trạng nhập siêu”

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu về tác động của cơ cấu xuất nhập khẩu đến tăng trưởng

Nghiên cứu về tác động của cơ cấu xuất nhập khẩu đến tăng trưởng kinh tế nói chung: Cơ cấu định tính trong rổ hàng xuất khẩu và tác động của nó đối với

tăng trưởng kinh tế là một vấn đề đã được nghiên cứu bởi nhiều tác giả Braford

Trang 14

(1987) phân tích để tìm ra bản chất và nguyên nhân những thay đổi trong cơ cấu kinh tế của các nước châu Á-Thái Bình Dương, quan hệ giữa những thay đổi này với tăng trưởng kinh tế, tác động của những thay đổi đó đến các mối quan hệ thương mại Mayer, Wood (2001) kiểm tra các cơ cấu xuất khẩu của các nước Nam

Á thông qua lăng kính mô hình Heckscher-Ohlin và kết luận rằng các sản phẩm hàm lượng lao động cao bất thường là kết quả của lực lượng lao động trình độ thấp Lederman, Maloney (2003) trong một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, đã kết luận cơ cấu thương mại là yếu tố quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng của một quốc gia Trong đó, nguồn lực sẵn có và thương mại nội ngành ảnh hưởng tích cực đến tăng trường, tập trung xuất khẩu ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng Rodrik (2006) kiểm tra chính xác hơn mối quan hệ giữa các chỉ tiêu về chất lượng cơ cấu xuất khẩu và tăng trưởng GDP, tác giả chỉ ra những thay đổi về cấu trúc trong chất lượng của rổ hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc và báo cáo tăng trưởng kinh tế giữa năm 1992 và 2003 Sử dụng chuỗi thời gian dài (1962-2000), Rodrik (2006) và Hausmann, Hwang, Rodrik (2005) ước tính ảnh hưởng của chất lượng hàng hóa xuất khẩu (hàm lượng công nghệ ) đối với tăng trưởng GDP Sohn, Lee (2008) nghiên cứu mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng dựa trên các biến "cơ cấu thương mại" Nghiên cứu giới thiệu lại ba học thuyết giải thích mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng là định lý Rybczynski; mô hình Sản phẩm khác biệt của Krugman và Helpmen; mô hình Tăng trưởng nội sinh Mỗi học thuyết đưa ra một giải thích khác nhau về cách thức cấu trúc hàng hóa xuất nhập khẩu tác động đến năng suất hay tăng trưởng của một nền kinh tế Sự tăng thêm hàm lượng công nghệ của sản phẩm sẽ kéo theo sự tăng trưởng kinh tế (Lall, 2005; Rodrik, 2006)

Nghiên cứu tác động của cơ cấu xuất nhập khẩu đến phát triển bền vững:

Quan hệ giữa cơ cấu hàng xuất nhập khẩu với cán cân thương mại thực chất phản ánh tác động của cơ cấu thương mại hàng hóa đến tăng trưởng kinh tế nói chung của một quốc gia Một số nghiên cứu khẳng định việc nâng cấp cơ cấu xuất nhập khẩu quyết định đến sự phát triển bền vững của một quốc gia Sự mở rộng xuất khẩu thiếu định hướng đúng đắn có nguy cơ làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học và ô nhiễm môi trường (Kaulin, Freinkman, 2009; Hồ Trung Thanh, 2009, 2012; Halle, 2010; Lê Văn Hùng, 2010) Tăng trưởng xuất khẩu nếu

Trang 15

chỉ chủ yếu dựa vào khai thác các nguồn lợi tự nhiên và sử dụng ngày càng nhiều các yếu tố đầu vào làm gia tăng áp lực gây ô nhiễm Cơ cấu nhập khẩu cũng đe dọa đến tăng trưởng bền vững nếu tập trung vào công nghệ trung gian, hay hàng tiêu dùng xa xỉ…Do vậy, duy trì một cơ cấu xuất nhập khẩu phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế, đảm bảo phát triển bền vững là nhu cầu cấp thiết của mỗi quốc gia Các tác giả tiếp cận theo hướng này tiêu biểu có Lê Danh Vĩnh, Hồ Trung Thanh (2012), Nguyễn Văn Nam (2012), Trần Công Sách (2012), Vũ Huyền Phương (2014) v.v…

2.2 Tình hình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu trên thế giới

Nghiên cứu thực trạng chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu: Thực trạng đổi

mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu là vấn đề được nghiên cứu nhiều ở mọi quốc gia, thậm chí nhiều tổ chức thương mại quốc tế cũng thực hiện hàng loạt các nghiên cứu quy mô liên quan đến vấn đề này OECD là một trong những tổ chức có nhiều nghiên cứu quy mô liên quan đến cơ cấu thương mại hàng hóa của các nước đang phát triển Chương 3 thuộc nghiên cứu “Trade Liberalisation and Economic

Performance: Latin America versus East Asia 1970-2006” qua trường hợp một số

quốc gia phát triển và đang phát triển cụ thể rút ra các yếu tố thúc đẩy sự chuyển

dịch cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu (Duran, Mulder, 2008a) Bên cạnh đó, loạt

nghiên cứu về kinh nghiệm đổi mới cơ cấu thương mại của bốn nước Chile, Philippines, Thái Lan và Ecuador lựa chọn một số nhóm hàng tiêu biểu của mỗi nước, nghiên cứu sự chuyển biến trong cơ cấu xuất nhập khẩu và rút ra kinh nghiệm liên quan đến kinh tế vĩ mô (Bartók, Onodera, 2007; Antonio, Onodera, 2007; Tangkitvanich, Onodera, 2007; Duran, Mulder, 2008b)

Nghiên cứu về cơ cấu thương mại hàng hóa trên quy mô toàn cầu cho thấy thương mại quốc tế đang dần bị chi phối bởi những “đối tác chủ chốt“ (key player),

sự kết nối ngày càng chặt chẽ giữa các đối tác thương mại, sự phát triển của mạng lưới sản xuất toàn cầu, sự đa dạng hóa của các nhà xuất khẩu hàng công nghệ cao và

sự tương đồng trong cơ cấu hàng xuất khẩu ngày càng tăng (Hummels, 2001; Zhi, 2003; OECD, 2005; Hausmann, Klinger, 2006) Các nghiên cứu cũng dự đoán trong

Trang 16

giai đoạn 2011-2020, thương mại hàng hóa quốc tế sẽ tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng cường thuê ngoài sản xuất (Outsourcing), sự phát triển mạnh của chuỗi cung ứng khu vực để cung cấp sản phẩm hoàn thiện cho các thị trường đang tăng trưởng nhanh (Ernst&Young, 2011; IMF, 2011; Meng, Fang, 2012; Johansson, Olaberría, 2014)

Nghiên cứu giải pháp chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu: Tìm ra giải pháp

đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu là áp lực chung của nhiều quốc gia trên thế giới để hướng đến nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định Ở mỗi quốc gia, tình hình đổi mới cơ cấu hàng hóa có thể khác nhau nên quan điểm đổi mới được các giả đưa ra dựa trên tình hình thực tế của mỗi nước Để có thể chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hướng đến các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao, cần có chính sách giáo dục để nâng cao trình độ giáo dục cao hơn tốc độ trung bình của thế giới (Mayer, 2001) Acharya (2008), Vĩtola, Gundars (2007) lại cho rằng, để nâng cấp cơ cấu thương mại hàng hóa quốc tế, cần tác động đến lợi thế so sánh, cụ thể là tập trung vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) Một nền kinh tế tập trung vào các sản phẩm có hàm lượng R&D cao được coi là một nền kinh tế thành công Xing, Xu (2013) chứng minh tỷ lệ tiết kiệm cao là động lực không thể thay thế cho việc nâng cấp cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa ở các nước đang phát triển Với Ấn Độ, các đặc khu kinh tế (Special Economic Zone) đã giúp xuất khẩu tăng trưởng mạnh, từ

đó nâng cấp cơ cấu xuất khẩu của nước này (Bhat, 2011) Quá trình đổi mới cơ cấu xuất khẩu phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài FDI FDI đóng vai trò quan trọng trong cả tăng trưởng xuất khẩu lẫn hàm lượng thu nhập của hàng xuất khẩu (Freitas, Mamede, 2011)

Nghiên cứu về nâng cấp cơ cấu xuất nhập khẩu tại khu vực châu Á: Nghiên

cứu về nâng cấp cơ cấu xuất nhập khẩu khu vực châu Á đều có chung một kết luận: Trung Quốc đang làm thay đổi cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của nhiều nước Nguyên nhân là do nước này có nhu cầu nhập khẩu rất lớn đối với nhóm hàng linh phụ kiện công nghệ cao để lắp ráp hoàn thiện và xuất khẩu sang các thị trường Âu-Mỹ Nhiều nước đông Á đã tham gia mạnh mẽ vào mạng lưới sản xuất toàn cầu hình thành từ năm 1985 đến nay và hưởng lợi nhờ xuất khẩu linh phụ kiện đồ điện

và điện tử cho Trung Quốc (Lardy, 1992; Gaulier, 2005, 2007, Athukorala, Hill,

Trang 17

2008; Saunders, 2008) Các nghiên cứu cũng nhấn mạnh, phân công hàng dọc đặc biệt phù hợp cho các nước đang phát triển châu Á để trở thành một trung tâm sản xuất hàng hóa trung gian có hàm lượng công nghệ cao Tiêu biểu là các tác giả Jongwanich, James (2009), WTO (2011), Athukorala (2011), Ernst&Young (2012), Wong, Li (2013) Với khu vực Đông Á, các quốc gia khu vực này đang ngày càng trở nên phụ thuộc vào xuất khẩu sang Trung Quốc, và Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn thứ nhất hoặc thứ nhì của hầu hết tất cả các quốc gia trong khu vực

kể từ đầu thiên niên kỷ mới Trong khuôn khổ ACFTA, xét về dài hạn Trung Quốc

sẽ là nước được hưởng lợi nhiều hơn, giúp Trung Quốc tạo ra thặng dư thương mại với các nước ASEAN (Thái Kiệt, 2007; Yoeh, Ooi, 2007; Phạm Thái Quốc, 2010; Trần Văn Thọ, 2005; Escaith, Inomata, 2013)

Nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu hàng xuất nhập khẩu tại các nước đang phát triển: Chuyển dịch trong cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu tại các nước đang

phát triển cho thấy xu hướng chuyển từ nông sản và hàng sơ cấp sang hàng chế biến tạo nên xu hướng tăng hàm lượng nhập khẩu trong sản phẩm (Hellvin, 2006) Về cơ bản, các nước đang phát triển duy trì thương mại với Trung Quốc theo quan hệ Nam-Nam rất mạnh Châu Phi và các nước Mỹ Latin trở thành nhà cung cấp hàng hóa sơ cấp cho Trung Quốc, còn Trung Quốc ngày càng xuất khẩu nhiều hàng chế biến sang các khu vực này (IMF, 2008) Hơn nữa, thương mại toàn cầu thể hiện qua chuỗi giá trị với mỗi công đoạn sản xuất ra sản phẩm được thực hiện ở các nước khác nhau Sự thay đổi trong cơ cấu thương mại này, cũng với nhu cầu hàng sơ cấp ngày càng tăng của những nền kinh tế tăng trưởng nhanh đã đẩy mạnh thương mại Nam-Nam (World Economic Situation and Prospects 2012) Với các nước đang phát triển, hàng nông sản vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể trong nền kinh tế cũng như trong cơ cấu hàng xuất khẩu (Briones, Rakotoarisoa, 2013)

Nghiên cứu về cơ cấu hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc với các thị trường hiện đang xuất siêu sang Trung Quốc: Nghiên cứu về cơ cấu hàng xuất nhập khẩu của

Trung Quốc với các thị trường hiện đang xuất siêu sang Trung Quốc cho thấy có một

sự nâng cấp rõ rệt về hàm lượng công nghệ trong sản phẩm Nguyên nhân là do các nước này (như các nước công nghiệp phát triển ở Đông Á- thị trường quan trọng của Trung Quốc) đã tham gia được vào mạng lưới sản xuất khu vực và toàn cầu trong lĩnh

Trang 18

vực thiết bị điện và điện tử Quan trọng là trong mạng lưới đó, Trung Quốc đóng vai trò kép vừa xuất khẩu linh kiện điện tử cho các nước Đông Á vừa nhập khẩu từ nước này máy móc nguyên chiếc để xuất sang thị trường Âu, Mỹ Các nước như Malaysia, Thái Lan, Philippines đều có sự nâng cấp cơ bản trong cơ cấu hàng xuất nhập khẩu với Trung Quốc từ khoảng sau những năm 80 khi trao đổi thương mại liên ngành được chuyển nội ngành Đến những năm 90, hàng công nghiệp đã trở thành hàng hóa chủ yếu trong cơ cấu xuất nhập khẩu (Yean, 2001; Palanca, 2004; Woo, 2004, Devadason,

2009, Manarungsan, 2009; Chan, Lean, 2013)

Nghiên cứu về cơ cấu xuất nhập khẩu của Trung Quốc với các thị trường hiện đang nhập siêu với nước này: Nghiên cứu về cơ cấu xuất nhập khẩu của Trung

Quốc với các thị trường hiện đang nhập siêu với nước này đều cho thấy với các nước nhập siêu, hàng xuất khẩu thường là tài nguyên và hàng hóa thâm dụng lao động giản đơn, hàng nhập khẩu là máy móc thiết bị, nguyên liệu đầu vào hoặc hàng tiêu dùng Đây là các nước Mỹ La-tinh, các quốc gia châu Phi hoặc các nước đang phát triển ở châu Á Những nước này đều phải chịu nhiều thiệt thòi khi duy trì cơ cấu hàng xuất nhập khẩu lạc hậu, chưa được nâng cấpvới Trung Quốc và hầu như chưa tham gia hoặc có tham gia nhưng chỉ ở vị trí rất thấp trong mạng lưới sản xuất toàn cầu ngành thiết bị điện, điện tử (Mesquita, 2007; Soo, 2007, Gyan, Amma, 2008; Ray, Gallagher, 2015) Một trường hợp đặc biệt khác, nền kinh tế lớn mạnh nhất thế giới là Hoa Kỳ cũng nhập siêu mạnh từ Trung Quốc trong thời gian dài Nghiên cứu về cơ cấu thương mại hàng hóa Mỹ-Trung cho thấy, quốc gia này chỉ đóng vai trò nhập khẩu mà hầu như không xuất khẩu được máy móc thiết bị sang Trung Quốc (Kilpatrick, 2006; Casey, 2012; Cheung, Chinn, 2014, Morrison 2015) Tokovenko, Koo (2011) khẳng định yếu tố tỷ giá không phải là nguyên nhân chính dẫn đến nhập siêu của Mỹ với Trung Quốc, nguyên nhân chính nằm ở cơ cấu kinh

tế

2.3 Tình hình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam

Nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu hàng xuất nhập khẩu chung của Việt Nam:

Ở Việt Nam, cơ cấu hàng xuất nhập khẩu là vấn đề được Chính phủ, các ban ngành

Trang 19

và các nhà nghiên cứu quan tâm Hầu hết các nghiên cứu nêu lên bất cập trong cơ cấu hiện tại, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp điều chỉnh cơ cấu hàng xuất khẩu hoặc xuất nhập khẩu hợp lý hơn Có những tác giả nghiên cứu thực trạng

cơ cấu xuất nhập khẩu nói chung của Việt Nam (Trần Ngọc Sơn, 2005; Nguyễn Đình Cung, 2011; Nguyễn Ngọc Anh, Tô Trung Thành, 2013; Nguyễn Chiến Thắng, Trần Văn Hoàng, 2015) Nhiều tác giả khác tập trung nghiên cứu cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam với các đối tác thương mại riêng lẻ Tiêu biểu như Phạm Minh Sơn, Chung (2008), Nguyễn Tiến Dũng (2014) nghiên cứu cơ cấu xuất nhập khẩu Việt Nam Hàn Quốc, phân tích chiều hướng và cơ cấu thương mại giữa Việt Nam với Hàn Quốc và các nước ASEAN cũng như cấu trúc bảo hộ trong các nước thành viên của AKFTA Nguyễn Thị Minh Hương (2012) nghiên cứu sâu về cơ cấu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản giai đoạn 2002-2012, số liệu cập nhật, nhiều chỉ số liên quan đến cơ cấu thương mại hàng hóa, các giải pháp đề ra trong cả ngắn hạn và dài hạn

Nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu hàng xuất nhập khẩu chung của Việt Nam với thị trường Trung Quốc: Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam với

Trung Quốc thường được các nhà nghiên cứu nước ngoài phân tích chung khi xem xét sự thay đổi trong cơ cấu thương mại hàng hóa của các quốc gia châu Á, Đông Á hay ASEAN với Trung Quốc Khi được nghiên cứu chung với các nước láng giềng phát triển như Thái Lan, Malaysia, Philippines , cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam với Trung Quốc thể hiện sự tụt hậu và chậm đổi mới Trong khi nhiều nước trong khu vực đã tận dụng thị trường Trung Quốc và tham gia mạnh mẽ vào chuỗi cung ứng toàn cầu thì của Việt Nam lại có nguy cơ trở thành thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp của Trung Quốc và cung cấp tài nguyên cũng như sản phẩm nông lâm ngư nghiệp cho nước này (Trần Văn Thọ, 2005a, 2010; Tong, Seng, 2009; Ernst&Young, 2012) Các nghiên cứu này tuy phân tích rất chi tiết thực trạng cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa với Trung Quốc của các quốc gia, nhưng chưa rút ra kinh nghiệm đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu của các quốc gia này để giảm nhập siêu với Trung Quốc

Các nghiên cứu này thường trùng lắp về ý tưởng nghiên cứu, các giải pháp đưa ra về cơ bản không mới mà nhắc lại xu hướng chuyển dịch cơ cấu xuất nhập

Trang 20

khẩu hàng hóa nói chung của mỗi quốc gia, đó là “chuyển dịch từ sản phẩm nông nghiệp với hàm lượng lao động và tài nguyên cao sang sản phẩm công nghiệp và chế biến với hàm lượng công nghệ và vốn cao“ Không có gì đảm bảo cứ chuyển dịch theo hướng này là chắc chắn sẽ thực hiện được việc giảm nhập siêu với Trung Quốc Cần nghiên cứu thêm những biến động trong nhu cầu tiêu dùng và nhập khẩu của hai nước trước mắt và dài hạn, kết hợp với khả năng cung cấp hai nước, tác động của các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, sự hiệu quả trong điều hành của chính phủ mới có thể đưa ra giải pháp hữu hiệu và phù hợp với Việt Nam

2.4 Tình hình nghiên cứu về đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu để giảm nhập siêu với Trung Quốc

Nghiên cứu về quan hệ giữa giữa cơ cấu hàng xuất nhập khẩu và cán cân thương mại không được nhiều tác giả nghiên cứu riêng lẻ Trên thực tế, cán cân thương mại là sự chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa và thay đổi liên tục qua từng mốc thống kê và không phải quốc gia nào cũng gặp phải áp lực giảm nhập siêu Nghiên cứu riêng lẻ về cán cân thương mại hoặc về cơ cấu thương mại hàng hóa có rất nhiều, nhưng lại rất ít nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai vấn

đề này Gros (2013) thông qua trường hợp của Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu có thể làm xấu đi cán cân thương mại của một quốc gia Khi cơ cấu hàng hóa của một nước chủ yếu là công nghệ thấp và trung bình, giá trị gia tăng trong hàng xuất khẩu sẽ không cao Điều này dẫn đến thực tế là khu vực xuất khẩu không đóng góp nhiều cho GDP và việc làm Tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu cao trong hàng xuất khẩu cũng gây nên tình trạng thâm hụt thương mại

Nghiên cứu về cán cân thương mại Việt Nam- Trung Quốc: Nhiều tác giả khác

nghiên cứu tổng quan về tình hình hơp tác đầu tư và thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc và chỉ ra rằng, chiến lược phát triển bền vững cho thương mại Việt-Trung là điều chỉnh cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của cả hai quốc gia Đó là các tác giả Trần Văn Thọ (2000, 2005), Chaponniere, Cling (2009), Nguyễn Ngọc Bảo (2010), Bùi Thúy Vân (2011), Zhang (2012) Các tác giả cũng khẳng định chuyển dịch cơ cấu hàng xuất nhập khẩu là một trong những biện pháp giảm nhập

Trang 21

siêu chung và đặc biệt là nhập siêu với Trung Quốc, từ đó đề xuất phương hướng giảm nhập siêu bằng các giải pháp liên quan nhằm tăng cường hoặc hạn chế một số nhóm hàng nhất định trong thương mại với Trung Quốc (Hạ Thị Thiều Dao, 2010;

Hà Thị Hương Lan, 2012) Tuy nhiên, các nghiên cứu này coi việc chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu là giải pháp đương nhiên để giảm nhập siêu mà không giải thích

cơ chế tác động của việc chuyển dịch này đến cán cân thương mại Định hướng chuyển dịch cơ cấu hàng xuất nhập khẩu được các tác giả nêu tập trung vào nhiều nhóm hàng khác nhau

Tại Việt Nam, số lượng nghiên cứu về thực trạng và giải pháp cho vấn đề nhập siêu có thể nói là rất lớn Các tác giả tiếp cận nguyên nhân nhập siêu là do các chính sách thương mại, đầu tư, tỷ giá hối đoái Muốn hạn chế nhập siêu, cần đồng bộ điều chỉnh những chính sách này Các giải pháp hạn chế nhập siêu được đưa ra thường là phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, nhập khẩu công nghệ từ các nước tiên tiến, chuyển dịch cơ cấu đầu tư, giải pháp liên quan đến chính sách tỷ giá, các giải pháp định hướng tiêu dùng, định hướng sản xuất Tiêu biểu như nghiên cứu của Nguyễn Thành Biên (2008) Nguyễn Hoàng Giang (2008), Doãn Công Khánh (2007), Lê Tuấn Thanh (2008), Phan Kim Nga (2010), Nguyễn Thị Hiền (2010), Trần Đình Thiên, Nguyễn Chiến Thắng (2012) v.v Các nghiên cứu này về cơ bản là trùng lặp

về mục đích, phương pháp và kết quả nghiên cứu, các giải pháp tương đối dàn trải

Nghiên cứu về cải thiện cán cân thương mại Việt-Trung thông qua nâng cấp

cơ cấu hàng xuất nhập khẩu: Một số nghiên cứu khẳng định cơ cấu kinh tế hay cơ

cấu xuất nhập khẩu hiện tại là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập siêu nặng nề và kéo dài của Việt Nam nói chung hay với Trung Quốc nói riêng, các yếu tố khác có tác động nhưng không đáng kể Giải pháp chủ yếu được đưa ra là chuyển đổi cơ cấu kinh tế để cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam nói chung và với Trung Quốc nói riêng (Bùi Trinh, 2011; Bùi Trường Giang, Phạm Sỹ An, 2011) Peter Naray (2009), trong một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới nhấn mạnh bất cập về cán cân thương mại thực chất là bất cập về cơ cấu kinh tế và chính sách vĩ mô, vì vậy giải pháp tốt nhất chính là cải cách cơ cấu và các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô

Trang 22

Với phương pháp nghiên cứu định lượng, Bùi Trinh, Nguyễn Văn Huân (2011)

sử dụng mô hình cân đối liên ngành, Tô Trung Thành, Nguyễn Trí Dũng (2012) sử

dụng mô hình SVAR để định lượng độ lớn tác động và vai trò của các cú sốc “thực”, mang tính cấu trúc và cú sốc “danh nghĩa” (chính sách tiền tệ, tỉ giá tác động đến tỉ giá danh nghĩa và tỉ giá thực) đến cán cân thương mại của Việt Nam Lương Văn Khôi (2012) sử dụng các mô hình CCR-I và BCC-I để tìm ra nguyên nhân chính dẫn đến nhập siêu của Việt Nam Kết luận chung cho thấy nhập siêu là do vấn đề cơ cấu kinh tế Các chính sách được khuyến nghị gồm nâng cao năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế, lập

kế hoạch cần ưu tiên các ngành trọng điểm và xây dựng lại một cấu trúc phù hợp cho nền kinh tế Việt Nam Việc tái cấu trúc kinh tế đương nhiên sẽ tạo ra một cơ cấu xuất nhập khẩu mới, nhưng cụ thể cơ cấu đó như thế nào để giảm được nhập siêu với Trung Quốc lại là vấn đề cần nghiên cứu cụ thể Các nghiên cứu trên chỉ ra định hướng điều chỉnh nhưng lại chưa kết hợp được nhu cầu xuất nhập khẩu của Trung Quốc trong thời gian tới, hay thực trạng tự do hóa thương mại của Việt Nam nên chưa thể coi giải pháp đưa ra có thể đảm bảo giảm nhập siêu được với Trung Quốc

Nhiều tác giả đi vào nghiên cứu cấu trúc nhập siêu của Việt Nam để làm rõ Việt Nam nhập siêu ở những mặt hàng, nhóm hàng nào, từ khối doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp nhà nước Pham Ngoc Quang, Bui Trinh (2006) sử dụng bảng Đầu vào-Đầu ra với số liệu từ năm 1986-2000 để làm rõ sự thay đổi trong cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam Ha Thi Hong Van, Đo Tien Sam (2009) cũng sử dụng dải số liệu khá dài (1998-2008) để nghiên cứu về tình hình hợp tác thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc Từ Thúy Anh cũng là tác giả quan tâm và có nhiều nghiên cứu liên quan đến cấu trúc nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc Tác giả phân tích sâu hơn, toàn diện hơn về cấu trúc thâm hụt thương mại Việt Nam-Trung bằng phương pháp tính hệ số tỉ lệ thâm nhập - chỉ số đo lường sức ép cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài trên thị trường nội địa (Từ Thúy Anh, Nguyễn Bình Dương, 2011; Từ Thúy Anh, 2011; Từ Thúy Anh và những người khác, 2012)

Có thể kết luận, giải pháp điều chỉnh nhập siêu của Việt Nam nói chung và với Trung Quốc nói riêng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là tác giả

Trang 23

trong nước Số liệu phân tích tương đối đầy đủ với nguồn số liệu thống kê từ trong nước hoặc quốc tế Tuy nhiên, vấn đề dễ nhận thấy nhất là các giải pháp đưa ra về

cơ bản là trùng lắp, không có nhiều điểm mới khác biệt giữa các nghiên cứu

2.4 Khoảng trống nghiên cứu và hướng tiếp cận của luận án

2.4.1 Khoảng trống nghiên cứu

Thông qua việc xem xét nghiên cứu của các tác giả đi trước về vấn đề này, tác giả nhận thấy một số khoảng trống nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, thiếu sự giải thích rõ ràng về mối liên hệ giữa cơ cấu hàng hóa xuất

nhập khẩu với cán cân thương mại: Hiện tại, có rất nhiều nghiên cứu riêng lẻ về

nhập siêu và cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu, nhưng chưa có nghiên cứu nào đưa ra

cơ sở lý thuyết chặt chẽ và đầy đủ về tác động của cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu với cán cân thương mại Các nghiên cứu đều coi mối quan hệ này là đương nhiên,

và đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu sẽ chắc chắn giúp cải thiện cán cân thương mại theo chiều hướng tích cực

Thứ hai, về vấn đề đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu để giảm nhập siêu với

Trung Quốc, các nghiên cứu hầu như chỉ giải quyết về mặt định hướng, như tăng

hàm lượng chế biến và công nghệ trong sản phẩm, giảm tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng thô chưa qua chế biến, giảm nhập khẩu máy móc thiết bị từ Trung Quốc Chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu riêng về việc đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu nhằm mục tiêu hạn chế nhập siêu với Trung Quốc

Thứ ba, chủ thể đổi mới trong các nghiên cứu chỉ giới hạn ở Nhà nước và

Doanh nghiệp, chưa có nghiên cứu nào đề xuất giải pháp đổi với Nhà khoa học

Đây cũng là một chủ thể có tác động lớn đến đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam

2.4.2 Hướng nghiên cứu của luận án

Từ các khoảng trống nghiên cứu được nêu ở trên, tác giả đưa ra hướng nghiên cứu của luận án như sau:

Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của Bùi Trinh, Nguyễn Văn Huân (2011), Tô Trung Thành, Nguyễn Trí Dũng (2012), Lương Văn Khôi (2012) để kết

Trang 24

luận nhập siêu của Việt Nam có nguyên nhân từ vấn đề cơ cấu Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu của Yean (2001), Palanca (2004), Woo (2004), Devadason (2009), Manarungsan (2009), Chan, Lean (2013) khẳng định cán cân thương mại của các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Philipines đã được cải thiện đáng kể cùng với sự nâng cấp của cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của các nước này với Trung Quốc Từ đó, nghiên cứu tìm ra các nhân tố tác động chung cho cả cơ cấu hàng xuất nhập khẩu và cán cân thương mại song phương Thông qua hệ thống giải pháp của ba chủ thể là Nhà nước, Doanh nghiệp và Nhà khoa học tác động vào các nhân tố này để đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu

và giảm nhập siêu với Trung Quốc giai đoạn 2018-2030

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất một số giải pháp đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu, từ đó hạn chế tình trạng nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc trong dài hạn (đến năm 2030)

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu dưới đây:

(1) Hệ thống hóa các vấn đề lý luận, xác lập một khung lý thuyết hợp lý có thể giải thích cơ chế tác động của cơ cấu hàng xuất nhập khẩu đến đến cán cân thương mại song phương

(2) Phân tích thực trạng nhập siêu hàng hóa của Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 2002-2016, thực trạng cơ cấu hàng xuất nhập khẩu Việt-Trung giai đoạn 2002-2016, và đánh giá tác động của cơ cấu này đến tình trạng nhập siêu giữa hai nước; Chỉ ra nguyên nhân cho những hạn chế trong đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu Việt-Trung và phân tích thực trạng các thành tố tác động theo khung lý thuyết

(3) Đưa ra hệ thống giải pháp đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu nhằm giảm nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc với ba chủ thể là Nhà nước, Doanh nghiệp và Nhà

Trang 25

khoa học Các giải pháp cụ thể đều hướng đến mục tiêu cải thiện sáu thành tố tác động chung đã nêu trong khung lý thuyết

(4) Nghiên cứu kinh nghiệm đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu để cải thiện cán cân thương mại với Trung Quốc của Malaysia và rút ra một số bài học cho Việt Nam

3.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề nêu ra trong luận án, tác giả đưa ra các câu hỏi nghiên cứu là: (1) Cơ chế tác động của cơ cấu hàng xuất nhập khẩu đến cán cân thương mại là gì?

(2) Thực trạng nhập siêu hàng hóa giữa Việt Nam với trung Quốc giai đoạn 2002-2016 như thế nào?

(3) Thực trạng cơ cấu hàng xuât nhập khẩu Việt Nam- Trung Quốc giai đoạn 2002-2016 như thế nào?

(4) Đâu là những nhân tố tác động chung đến cán cân thương mại và cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam-Trung Quốc?

(5) Có thể áp dụng bài học kinh nghiệm nào của Malaysia trong việc đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu để giảm nhập siêu với Trung Quốc?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là:

(1) Cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa Việt-Trung giai đoạn 2002-2016

(2) Cán cân thương mại hàng hóa Việt-Trung giai đoạn 2002-2016

(3) Cán cân thương mại và cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa của Malaysia và Trung Quốc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Phạm vi về thời gian nghiên cứu

Luận án lựa chọn khoảng thời gian nghiên cứu là từ năm 2002 đến năm 2016

là giai đoạn sau khi Trung Quốc gia nhập WTO Đây là giai đoạn cán cân thương mại Việt-Trung bắt đầu thâm hụt trầm trọng, giá trị nhập siêu của Việt Nam tăng

Trang 26

mạnh qua từng năm Giai đoạn này cũng có những mốc thời gian quan trọng khác như Việt Nam gia nhập WTO (2007), khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) chính thức có hiệu lực hay nhiều FTA thế hệ mới mà Việt Nam ký kết với các nước đối tác, hứa hẹn những đổi mới cơ bản trong cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam nếu có thể tận dụng tốt các FTA này

Các giải pháp nêu trong chương 3 của luận án được áp dụng cho giai đoạn từ nay (năm 2018) đến năm 2030 Tác giả lựa chọn giai đoạn này vì đây cũng là giai đoạn mà Chính phủ Việt Nam đặt ra mục tiêu “Giảm dần thâm hụt thương mại, kiểm soát nhập siêu và tiến tới cân bằng cán cân thương mại vào năm 2020; thặng

dư thương mại thời kỳ 2021 – 2030“ theo “Quan điểm, chiến lược của Chính phủ về xuất nhập khẩu hàng hóa giai đoạn từ nay đến năn 2025 định hướng đến năm 2030”

Bên cạnh đó “Quyết định của Chính phủ về Chương trình phát triển công nghiệp hỗ

trợ từ năm 2016 đến năm 2025“ cũng tác động nhiều đến cơ cấu sản xuất và cơ cấu

xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam nói chung và với Trung Quốc nói riêng

4.2.2 Phạm vi về không gian nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa và tình trạng nhập siêu giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc (không bao gồm Hongkong và Đài Loan)

Bên cạnh đó, sự đổi mới trong cơ cấu hàng xuất nhập khẩu nhằm giảm nhập siêu của Malaysia với Trung Quốc cũng được xem xét nhằm rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam

4.2.3 Phạm vi về nội dung nghiên cứu

Luận án chỉ xem xét cán cân thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, không bao hàm hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ

Cơ cấu hàng hóa xuất nhập trong luận án là cơ cấu hàng hóa theo hàm lượng chế biến, theo mục đích sử dụng, theo mức độ thâm dụng lao động-tài nguyên-công nghệ

Mô hình Kim cương của Michael Porter được áp dùng với mục đích xác định những nhân tố chung tác động đến cả cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu và cán cân

Trang 27

thương mại song phương Luận án không đi sâu phân tích so sánh lợi thế cạnh tranh quốc gia giữa Việt Nam và Trung Quốc

4.2.4 Phạm vi về số liệu nghiên cứu

Về quốc gia báo cáo số liệu, luận án sử dụng số liệu do cả Việt Nam và Trung Quốc báo cáo tùy theo mức độ sẵn có và phù hợp của từng nguồn số liệu Trên các

cơ sở dữ liệu thương mại quốc tế từ năm 2009, số liệu do Trung Quốc báo cáo luôn cao hơn khá nhiều so với số liệu do Việt Nam báo cáo (trung bình chênh lệch trên 10%), có thể là do phía Trung Quốc thống kê được cả kim ngạch xuất nhập khẩu tiểu ngạch, hoặc tồn tại hiện tượng nhập lậu giữa hai nước nhưng phía Việt Nam chưa thống kê được Để tăng mức độ chính xác trong phân tích, với các thống kê thương mại song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc, tác giả lựa chọn số liệu do phía Trung Quốc công bố, trường hợp không tìm được sẽ lấy số liệu do Việt Nam công bố

5 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài “Đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu trong quan hệ thương mại

với Trung Quốc nhằm hạn chế tình trạng nhập siêu”, tác giả sử dụng phương

pháp nghiên định tính Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

5.1 Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng trong nghiên cứu nhằm:

Thống kê số liệu thương mại để phân tích thực trạng cán cân thương mại hàng hóa song phương tổng thể giữa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn 2002-2016 Thống kê số liệu để phân tích thực trạng nhập siêu hàng hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc Tác giả sử dụng kết hợp trong luận án ba Danh mục phân loại hàng hóa trong thương mại quốc tế là HS: Hệ thống mã hóa và mô tả hàng hóa (Harmonised commodity description and coding system) do Tổ chức Hải quan thế giới ban hành; SITC: Hệ thống phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu (Standard International Trade Classification) do Ban Thư ký Liên hợp quốc xây dựng; BEC:

Trang 28

Danh mục phân loại hàng hóa theo ngành kinh tế rộng (Broad Economics Categories) do Ủy ban thống kê Liên hợp quốc ban hành

Thống kê số liệu để phân tích thực trạng cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu hàng hóa Việt-Trung song phương qua các năm (tỷ lệ giữa nhóm hàng tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng, tỷ trọng hàng công nghệ thấp, công nghệ cao, tỷ trọng hàng hóa tập trung lao động giản đơn, hàng hóa tập trung tài nguyên thô, hàng hóa tập trung vốn-trí tuệ )

5.1.2 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh được sử dụng trong nghiên cứu nhằm:

So sánh sự thay đổi theo từng năm của kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu chung, của từng nhóm hàng theo các tiêu chí như giá trị, hàm lượng lao động-tài nguyên-công nghệ

So sánh số liệu thống kê về thứ hạng và các tiêu chí đánh giá khác giữa Việt Nam với Trung Quốc và các nước trong khu vực

5.1.3 Phương pháp phân tích-tổng hợp

Phương pháp phân tích-tổng hợp được sử dụng trong luận án nhằm:

Phân tích các nhân tố tác động đến cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của một quốc gia và cơ chế tác động của cơ cấu xuất nhập khẩu đến cán cân thương mại

Thông qua phân tích các số liệu đã thống kê, tổng hợp xu hướng phát triển thương mại của Trung Quốc với Việt Nam, thực trạng cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu giữa hai nước, đưa ra định hướng đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam với Trung Quốc

Tổng hợp kinh nghiệm đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của Malaysia với Trung Quốc nhằm giảm nhập siêu, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

5.1.4 Phương pháp điều tra khảo sát

Để việc phân tích thực trạng và đưa ra giải pháp với các doanh nghiệp Việt Nam sát thực hơn, tác giả đã tiến hành điều tra khảo sát về hoạt động xuất nhập

Trang 29

khẩu của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp có quan hệ nghiệp vụ thương mại với thị trường Trung Quốc Phiếu điều tra được gửi đến doanh nghiệp thông qua hình thức phát trực tiếp hoặc qua email Số lượng mẫu gồm 200 doanh nghiệp xuất nhập khẩu với đối tác Trung Quốc trên toàn quốc Thời gian tiến hành khảo sát là từ tháng 5/2015 đến tháng 5/2016 Kết quả điều tra được sử dụng khi phân tích về thực trạng hoạt động và khó khăn của doanh nghiệp trong nước Nội dung phiếu điều tra được trình bày trong Phụ lục 1, kết quả điều tra được trình bày trong Phụ lục 2

Bảng câu hỏi gồm 3 phần: Phần 1: Thông tin chung của doanh nghiệp: các thông tin về tên, địa chỉ, loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực xuất nhập khẩu chính, loại hình kinh doanh của doanh nghiệp Phần 2: Tình hình xuất khẩu và Tình hình xuất khẩu của doanh nghiệp: Các câu hỏi về thị trường chủ lực, tỷ lệ nội địa hóa, chiến lược kinh doanh với thị trường Trung Quốc, những khó khăn của doanh nghiệp khi tiếp cận thị trường Trung Quốc, tình hình đăng ký thương hiệu cho hàng hóa xuất khẩu của doanh nghiệp Phần 3: Một số đánh giá chung: nhu cầu của doanh nghiệp liên quan đến hiệp hội ngành hàng, thông tin về FTA, quan điểm của doanh nghiệp

về biện pháp quản lý nhập khẩu với thị trường Trung Quốc…

6 Đóng góp của luận án

6.1 Đóng góp về mặt lý thuyết

Thứ nhất, luận án lựa chọn cách tiếp cận mới khi áp dụng mô hình Kim cương của Michael Porter để giải thích về các nhân tố chung tác động ảnh hưởng đến cơ cấu hàng xuất nhập khẩu và cán cân thương mại hàng hóa song phương Đây là điểm mới nổi bật của luận án do chưa có nghiên cứu nào liên quan đến mục tiêu giảm nhập siêu với Trung Quốc ứng dụng mô hình này Do đặc thù của đề tài luận

án là nghiên cứu đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu nhằm mục tiêu cụ thể là giảm nhập siêu song phương, nghiên cứu không chỉ cần phân tích mối quan hệ giữa cơ hàng xuất nhập khẩu và cán cân thương mại song phương mà còn phải chỉ ra được nguyên nhân chung của cả hai vấn đề này Chỉ trên cơ sở xác định được các nhân tố tác động chung mới có thể tìm ra giải pháp tác động, để chắc chắn giải pháp đó vừa giúp đổi mới được cơ cấu hàng xuất nhập khẩu vừa đảm bảo giảm được nhập siêu

Trang 30

song phương Sáu thành tố Chính phủ, Doanh nghiệp, Nhu cầu, Yếu tố sản xuất, Các ngành phụ trợ và Cơ hội có thể nói đã bao quát được đầy đủ cả các nhân tố vi

mô và vĩ mô cần đề cập để giải quyết vấn đề của luận án

Thứ hai, luận án đưa ra khái niệm: “Đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu là một

quá trình cải tiến cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa hiện thời để đảm bảo sự phát triển bền vững quốc gia và tính hiệu quả trong quan hệ thương mại với một hoặc nhiều nước đối tác“

Thứ ba, luận án đưa ra tiêu chí để đánh giá sự đổi mới trong cơ cấu hàng xuất

nhập khẩu song phương, đó là Hiệu quả trong quan hệ thương mại và Khả năng đảm

bảo phát triển bền vững quốc gia Tiêu chí Hiệu quả trong quan hệ thương mại thể hiện ở các khía cạch tận dụng được lợi thế so sánh quốc gia, tác động tích cực đến tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu và cán cân thương mại song phương, phải tận dụng được các ưu đãi trong các hiệp định thương mại song phương và đa phương Tiêu chí Khả năng đảm bảo phát triển bền vững thể hiện ở khía cạnh đảm bảo tăng trưởng kinh tế, không tác động xấu đến môi trường và góp phần phát triển

xã hội

Thứ tư, luận án xác định chủ thể quyết định sự đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu không chỉ có Nhà nước và Doanh nghiệp mà còn có một chủ thể rất quan trọng là các Nhà khoa học

6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Thứ nhất, luận án phân tích tổng quan thực trạng nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 2002-2016, trong đó chia thành hai giai đoạn 2002-2010, 2011-2016 Bên cạnh đó, luận án so sánh nhập siêu của Việt Nam trong cán cân thương mại hàng hóa nói chung của Việt Nam để xem xét tỷ trọng kim ngạch nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc trong tổng nhập siêu của Việt Nam

Thứ hai, trên cơ sở phân tích thực trạng cơ cấu hàng xuất nhập khẩu Việt-Trung, luận án đánh giá tác động của cơ cấu hàng này đến nhập siêu song phương giai đoạn 2002-2016

Trang 31

Thứ ba, luận án đánh giá sự đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu Việt-Trung giai đoạn 2002-2016 cụ thể theo các tiêu chí là Tính hiệu quả trong quan hệ thương mại và Khả năng đảm bảo phát triển bền vững quốc gia

Thứ tư, luận án tìm hiểu kinh nghiệm đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu với Trung Quốc của Malaysia là quốc gia từng có giai đoạn nhập siêu từ Trung Quốc Nhờ sự đổi mới trong cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu, Malaysia đã cải thiện được cán cân thương mại và duy trì được tình trạng xuất siêu với Trung Quốc Kinh nghiệm đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu của nước này sẽ là gợi ý rất có ý nghĩa với Việt Nam trong thời điểm hiện tại

Thứ năm, để tăng thêm tính thuyết phục cho các phân tích liên quan đến thực trạng xuất nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam với đối tác Trung Quốc, tác giả đã thực hiện khảo sát điều tra các doanh nghiệp Việt Nam xuất nhập khẩu hàng hóa với Trung Quốc thông qua phiếu câu hỏi Kết quả khảo sát cũng là căn cứ

để tác giả đề xuất một số giải pháp liên quan trong chương 3

Thứ sáu, trên cơ sở tổng hợp bối cảnh kinh tế thế giới, tình hình thị trường Trung Quốc và thị trường Việt Nam, luận án đưa ra một số những cơ hội và thách thức đối cho Việt Nam khi đổi mới cơ cấu hàng hóa nhập khẩu nhằm giảm nhập siêu với Trung Quốc giai đoạn 2018-2030

Thứ bảy, luận án xây dựng phương hướng đổi mới tổng thế cơ cấu hàng xuất nhập khẩu Việt Nam- Trung Quốc giai đoạn 2018-2030 Trên cơ sở đó, luận án đề xuất năm nhóm hàng Việt Nam nên đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc và ba nhóm hàng cần giảm nhập khẩu từ Trung Quốc để giúp lành mạnh hóa cán cân thương mại song phương

Thứ tám, luận án đề xuất một hệ thống giải pháp với ba chủ thể là Nhà nước, Doanh nghiệp và Nhà khoa học Các giải pháp của từng chủ thể đều hướng tới việc cải thiện hiện sáu thành tố chung tác động đến cơ cấu hàng xuất nhập khẩu và cán cân thương mại Việt-Trung để đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập nhằm giảm nhập siêu với Trung Quốc giai đoạn 2018- 2030

Trang 32

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài lời mở đầu, danh mục bảng biểu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo

và phụ lục, luận án có kết cấu 3 chương như dưới đây:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu nhằm hạn chế nhập siêu

Chương 2: Thực trạng đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam nhằm hạn chế nhập siêu với Trung Quốc giai đoạn 2002-2016

Chương 3: Đề xuất giải pháp đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam nhằm hạn chế nhập siêu với Trung Quốc giai đoạn 2018-2030

Trang 33

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI CƠ CẤU

HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU NHẰM HẠN CHẾ NHẬP SIÊU

1.1 Một số vấn đề lý thuyết về đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu

1.1.1 Khái niệm và phân loại cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu

1.1.1.1 Khái niệm cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu

Để làm rõ khái niệm “Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu”, có thể xuất phát từ

định nghĩa về “cơ cấu” Theo từ điển Oxford (2012), cơ cấu là “Sự sắp xếp và mối

quan hệ giữa các bộ phận hoặc nhân tố cấu thành của một phức thể” Tại Việt Nam,

“cơ cấu“ được định nghĩa là “Cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện chức

năng của chỉnh thể” (Hoàng Phê, 2003, tr214) hay “Cơ cấu là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó” (Nguyễn Hữu Khải, 2007, tr7)

Từ định nghĩa về “cơ cấu”, Nguyễn Hữu Khải (2007) đưa ra khái niệm “Cơ

cấu xuất khẩu là: “Tổng thể các nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu trong toàn bộ kim

ngạch xuất khẩu với vị trí, tỷ trọng tương ứng và mối liên hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành”

Như vậy, cơ cấu hàng xuất nhập khẩu có thể hiểu là “Sự sắp xếp và mối quan

hệ về mặt tỷ trọng giữa các mặt hàng, nhóm hàng trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của một quốc gia”

1.1.1.2 Phân loại cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa

Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu có thể được xem xét ở các góc độ khác nhau tùy từng quốc gia, từng tác giả cũng như mục đích nghiên cứu Dưới đây tác giả đưa

ra một số cách phân loại thường gặp

(1) Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu theo yếu tố hàm lượng

Đây là cách phân loại khá phổ biến trong nhiều nghiên cứu và các tác giả có cách phân chia không giống nhau “Hàm lượng” ở đây có thể hiểu là hàm lượng về tài nguyên, về trình độ lao động, về công nghệ nghiên cứu phát triển

Trang 34

Theo cách phân loại của Lall (2000): Hàng thâm dụng tài nguyên (nông sản); Hàng

thâm dụng tài nguyên khác; Hàng chế biến công nghệ thấp (dệt, may, da giày); Hàng chế biến công nghệ thấp khác; Hàng chế biến công nghệ trung bình (ngành tự động); Hàng chế biến công nghệ trung bình (dùng trong quá trình sản xuất); Hàng chế biến công nghệ trung bình (ngành cơ khí); Hàng chế biến công nghệ cao (thiết

bị điện và điện tử); Hàng chế biến công nghệ cao khác

Theo cách phân loại của UNCTAD (2002): cơ cấu hàng xuất nhập khẩu được chia

thành 6 nhóm (dựa trên thống kê SITC phiên bản 2 cấp độ 3 chữ số): Nhóm A: hàng hóa sơ cấp; Nhóm B: hàng thâm dụng lao động và tài nguyên; Nhóm C: Hàng thâm dụng kỹ năng lao động và công nghệ thấp; Nhóm D: Hàng thâm dụng kỹ năng lao động và công nghệ trung bình; Nhóm E: Hàng thâm dụng kỹ năng lao động và công nghệ cao; Nhóm F: Hàng hóa không phân loại

Theo cách phân loại của OECD (2011): hàng công nghiệp được phân loại theo hàm

lượng công nghệ R&D gồm: Các ngành công nghiệp công nghệ cao; Các ngành công nghiệp công nghệ trung bình-cao; Các ngành công nghiệp công nghệ trung bình thấp; Các ngành công nghiệp công nghệ thấp

(2) Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu theo mục đích sử dụng

Phân theo mục đích sử dụng, hàng hóa thường được chia thành các nhóm: Tư liệu sản xuất, hàng hóa trung gian và hàng tiêu dùng

Tư liệu sản xuất: những mặt hàng không dùng cho sinh hoạt gia đình mà dùng để

sản xuất ra những mặt hàng khác

Hàng hóa trung gian: đầu vào sản xuất ra những hàng hóa khác

Hàng tiêu dùng: hàng hóa dùng cho sinh hoạt nói chung, được chia thành ba loại:

Hàng tiêu dùng lâu; hàng tiêu dùng bán lâu bền và hàng tiêu dùng không lâu bền

(3) Cách phân loại hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam

Phân loại theo nhóm hàng: Theo Niên giám thống kê của Tổng cục thống kê Việt

Nam (GSO), kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu hàng năm được thống kê và phân loại theo cơ cấu ngành kinh tế Cụ thể có ba nhóm hàng: Hàng công nghiệp nặng và

Trang 35

khoáng sản; Hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; Hàng nông lâm thủy sản

Phân loại theo hàm lượng chế biến: Chiến lược phát triển ngoại thương Việt Nam

giai đoạn 2001-2010 chia hàng hóa xuất nhập khẩu thành bốn nhóm là: Khoáng sản: nhóm hàng hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên; Nông lâm thủy

sản: nhóm hàng có sự kết hợp giữa tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực lao động,

hàm lượng công nghệ không cao; Hàng chế biến chính: nhóm hàng có hàm lượng công nghệ ổn định nhưng hàm lượng lao động cao, kỹ năng lao động thấp; Hàng

chế biến cao: nhóm hàng có hàm lượng công nghệ cao, kỹ năng lao động phức tạp

Trong luận án này, tác giả sử dụng kết hợp nhiều cách phân loại cơ cấu hàng hóa Tác giả thống kê hàng hóa xuất nhập khẩu theo mục đích sử dụng (theo hệ thống phân loại BEC), theo nhóm hàng (theo hệ thống phân loại SITC với 9 nhóm hàng) Khi thống kê hàng hóa theo hàm lượng, tác giả dụng cách thống kê cơ cấu xuất nhập khẩu của Lall (2000) và của UNCTAD (2002)

1.1.2 Một số vấn đề lý thuyết về đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu

1.1.2.1 Khái niệm đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu

(1) Khái niệm “Đổi mới”

“Đổi mới“ hay “Đổi mới sáng tạo“ trong tiếng Anh là “Innovation” Có rất nhiều định nghĩa về “Đổi mới sáng tạo“ trên thế giới, trong đó định nghĩa của OECD được sử

dụng rộng rãi là: "Thực hiện một sản phẩm mới hay một sự cải tiến đáng kể (đối với

một loại hàng hóa hay dịch vụ cụ thể), một quy trình, phương pháp marketing mới, hay một phương pháp tổ chức mới trong thực tiễn kinh doanh, tổ chức nơi làm việc, hay các mối quan hệ đối ngoại" (OECD, 2005)

Theo đó, OECD (2005) xác định bốn loại Đổi mới sáng tạo:

Đổi mới sáng tạo sản phẩm: hàng hóa hay dịch vụ được cải tiến đáng kể Bao

gồm những cải tiến đáng kể về thông số kỹ thuật, thành phần và vật liệu, phần mềm trong sản phẩm, đặc tính thân thiện với người sử dụng và các đặc điểm chức năng khác

Trang 36

Đổi mới sáng tạo quy trình: Phương pháp phân phối hay sản xuất mới hay được

cải thiện đáng kể Bao gồm những thay đổi đáng kể về kỹ thuật, thiết bị và / hoặc phần mềm

Đổi mới sáng tạo hoạt động tiếp thị (marketing): Một phương pháp tiếp thị

(marketing) mới liên quan đến những thay đổi đáng kể trong thiết kế sản phẩm hoặc bao bì, sắp xếp sản phẩm, quảng bá sản phẩm hoặc định giá

Đổi mới sáng tạo tổ chức: Phương pháp tổ chức mới trong thực tiễn kinh doanh,

tổ chức nơi làm việc hoặc quan hệ đối ngoại

(2)Khái niệm “Đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu”

Với định nghĩa về “Đổi mới sáng tạo” của OECD (2005) được đề cập ở mục trên,

có thể đưa ra định nghĩa “Đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu” như sau:

“Đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu là một quá trình cải tiến cơ cấu xuất nhập

khẩu hàng hóa hiện thời để đảm bảo tính hiệu quả trong quan hệ thương mại với một hoặc nhiều nước đối tác và sự phát triển bền vững của một quốc gia“

Đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa không phải chỉ giới hạn trong đổi mới sản phẩm mà phải được thực hiện đồng thời với đổi mới quy trình, đổi mới hoạt động tiếp thị và đổi mới tổ chức

Đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu thông qua đổi mới sản phẩm: đổi mới hàm

lượng công nghệ, thành phần, đặc tính trong hàng hóa xuất nhập khẩu

Đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu thông qua đổi mới quy trình: Đổi mới quy

trình sản xuất, đổi mới phương thức xuất nhập khẩu hàng hóa

Đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu thông qua đổi mới hoạt động tiếp thị: đổi

mới hoạt động xúc tiến thương mại tầm vi mô và vĩ mô với các thị trường truyền thống và tiềm năng

Đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu thông qua đổi mới tổ chức: Đổi mới chiến

lược kinh doanh của doanh nghiệp, đổi mới chính sách thương mại và đầu tư của nhà nước

Trang 37

“Đổi mới“ trong cơ cấu hàng xuất nhập khẩu phải được hiểu là sự thay đổi đáng

kể về tỷ trọng giữa các nhóm hàng hóa được xuất khẩu và nhập khẩu của một nước với một hoặc nhiều đối tác

Đổi mới trong cơ cấu hàng xuất nhập khẩu không thể diễn ra quá nhanh bởi cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu là hệ quả của cơ cấu kinh tế và cơ cấu sản xuất của một quốc gia Cơ cấu kinh tế phải thay đổi thì mới có được sự thay đổi trong cơ cấu xuất nhập khẩu Về cơ bản, cơ cấu kinh tế cũng chỉ có thể chuyển dịch từ từ, không thể có sự đổi mới nhanh chóng toàn diện trong thời gian ngắn Tuy nhiên, tính “mới“ thể hiện ở sự lựa chọn mặt hàng chủ lực để tập trung khai thác xuất khẩu sao cho phù hợp với xu thể chuyển dịch, nằm trong tầm khả năng hoặc lợi thế của nước xuất khẩu, là sản phẩm mà nước nhập khẩu có nhu cầu lớn và lâu dài

1.1.2.2 Chủ thể đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu song phương

Trong nghiên cứu này, tác giả xác định cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của một quốc gia chỉ có thể thực hiện được nếu có sự kết hợp của cả ba chủ thể Chính phủ, Doanh nghiệp và Nhà khoa học

(1) Chủ thể Nhà nước

Nhà nước tác động đến đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu thông qua việc đổi mới

mô hình tăng trường, đổi mới các các chính sách khuyến khích xuất nhập khẩu, tích cực đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại, đưa ra định hướng phát triển kinh tế quốc gia cũng như các chính sách vĩ mô khác Nhà nước không phải là chủ thể duy nhất nhưng là chủ thể quan trọng nhất trong đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu

(2) Chủ thể Doanh nghiệp

Doanh nghiệp gồm có doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp thương mại Cả hai loại doanh nghiệp này, dù ở quy mô và hoạt động trong lĩnh vực nào cũng đều góp phần rất lớn trong đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu song phương

Doanh nghiệp sản xuất góp phần đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu

thông qua việc đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất để đổi mới hàm lượng chế

Trang 38

biến trong sản phẩm, không ngừng khai thác sản phẩm mới, nâng cao năng lực và chi phí cho công tác nghiên cứu và phát triển…

Doanh nghiệp thương mại góp phần đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu

thông qua đổi mới chiến lược kinh doanh ngắn hạn và dài hạn với thị trường nước đối tác, đổi mới phương thức tiến hành xúc tiến thương mại tầm vi mô với thị trường nước đối tác cũng như các thị trường tiềm năng khác

(3) Chủ thể Nhà khoa học

Các nhà khoa học dù ở tổ chức hay ngành nghề nào cũng có thể góp phần rất lớn vào quá trình đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu thông qua các nghiên cứu lý thuyết hay ứng dụng của mình

Về nghiên cứu lý thuyết: Các công trình nghiên cứu đi sâu tìm hiểu đặc điểm,

nhu cầu tiêu dùng theo vùng miền của các nước đối tác thương mại, dự báo những

xu hướng tiêu dùng mới…có thể là căn cứ rất có tác dụng cho các doanh nghiệp sản xuất phát triển sản phẩm và doanh nghiệp thương mại triển khai thị trường mới

Về nghiên cứu ứng dụng: các nhà khoa học thông qua các phát minh, sáng chế,

sáng kiến đổi mới trong sản xuất…tạo đột phá trong sản xuất, giúp nâng cao vị thế công nghệ, giúp nâng cao vị trí quốc gia trong các mạng lưới sản xuất khu vực và toàn cầu

1.1.2.3 Tiêu chí đánh giá sự đổi mới trong cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa song phương

Hiện nay tại Việt Nam, chưa có một nghiên cứu nào đưa ra các tiêu chí cụ thể

và đầy đủ để đánh giá sự đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu song phương Trong nghiên cứu này, tác giả đưa ra hai tiêu chí là lớn là Tính hiệu quả trong quan

hệ thương mại song phương và Khả năng đảm bảo phát triển bền vững quốc gia

(1) Tính hiệu quả trong quan hệ thương mại song phương

Tính hiệu quả trong quan hệ thương mại song phương của đối mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu có thể được xem xét qua các tiêu chí sau:

Trang 39

Đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu phải tận dụng được lợi thế so sánh quốc gia: tỷ trọng giữa các nhóm hàng được xuất-nhập khẩu giữa hai nước

có sự thay đổi căn bản theo chiều hướng có lợi cho cả hai bên Sự đổi mới này cần có sự đột phá và phải tạo ra một cơ cấu hàng hóa mà trước đó hai

nước chưa từng đạt được trong thương mại song phương

Đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu phải tác động tích cực đến tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu và cán cân thương mại song phương: Sự đổi

mới trong cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu giữa hai nước cần đảm bảo kim ngạch xuất và nhập khẩu hàng hóa ngày càng tăng sự nhưng cán cân thương mại hàng hóa giữa hai nước không mất cân bằng quá lớn trong dài hạn

Đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu song phương phải tận dụng được các ưu đãi trong các hiệp định thương mại song phương và đa phương: Sự

đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu song phương cần tận dụng được những ưu đãi thuế quan và hạn ngạch trong các thỏa thuận hợp tác và FTA song phương, cũng như không vi phạm các thỏa thuận hợp tác và FTA mà hai nước đã ký kết khác

(2)Khả năng đảm bảo phát triển bền vững quốc gia

"Phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường (Kaulin, Freinkman, 2009) Sự đổi mới trong cơ cấu xuất nhập khẩu theo đó cần đảm bảo:

Đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế:

Đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu song phương cần góp phần đảm bảo tăng trưởng kinh tế, góp phần đưa quốc gia hội nhập sâu rộng với kinh tế khu vực và thế giới

Đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu phải không tác động xấu đến môi trường: Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu song phương cần đổi mới theo hướng

hướng giảm xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên, giảm nhập khẩu hàng hóa chất

Trang 40

lượng kém, công nghệ lạc hậu gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng

và môi trường tự nhiên

Đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu phải góp phần phát triển xã hội: Cơ

cấu hàng xuất nhập khẩu song phương cần được đổi mới theo hướng tác động tích cực công ăn việc làm, khuyến khích nâng cao tay nghề cho người lao động

1.2 Quan hệ giữa đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu và việc giảm nhập siêu song phương

1.2.1 Một số vấn đề lý thuyết về nhập siêu

1.2.1.1 Khái niệm nhập siêu

Cán cân thương mại (hay xuất khẩu thuần, có khi được kí hiệu là NX) là sự chênh lệch giữa tổng giá trị xuất khẩu tính bằng tiền với tổng giá trị nhập khẩu hàng hóa tính bằng tiền của một nước với nước ngoài trong một thời kỳ xác định, và được tính bằng đồng tiền của quốc gia đó (Sullivan, Sheffrin, 2003)

Cán cân thương mại thường có các trạng thái là cân bằng (tổng kim ngạch xuất khẩu bằng tổng kim ngạch nhập khẩu), thặng dư (tổng kim ngạch xuất khẩu vượt qua tổng kim ngạch nhập khẩu) và cuối cùng là thâm hụt (tổng kim ngạch xuất khẩu nhỏ hơn tổng kim ngạch nhập khẩu) Nhập siêu là cách gọi khác của thâm hụt cán cân thương mại

1.2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến nhập siêu song phương

(1) Nguyên nhân từ xuất khẩu

Tăng trường xuất khẩu thấp hơn nhập khẩu: Xuất khẩu là nguồn động lực đóng

góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy phát triển các chuỗi dịch vụ, sản xuất, tài chính- tiền tệ, và tăng quy mô cán cân thương mại tổng thể cũng như song phương (Gros, 2013) Nếu tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa của một nền kinh tế thấp hơn hoặc tương đương với tăng trưởng nhập khẩu sang nước đối tác, sẽ dẫn đến tình trạng nhập siêu song phương

Ngày đăng: 30/03/2021, 09:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Anh, Tô Trung Thành, 2013, Những vấn đề về cơ cấu thương mại quốc tế tại Việt Nam, Kỷ yếu Diễn đàn kinh tế mùa thu 2013 “Kinh tế Việt Nam 2013, triển vọng 2014 - Nỗ lực thực hiện 3 đột phá chiến lược“, 2013 (tr295-314) (trích dẫn Nguyễn Ngọc Anh, Tô Trung Thành, 2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về cơ cấu thương mại quốc tế tại Việt Nam", Kỷ yếu Diễn đàn kinh tế mùa thu 2013 “"Kinh tế Việt Nam 2013, triển vọng 2014 - Nỗ lực thực hiện 3 đột phá chiến lược
6. Từ Thúy Anh, 2013, Giáo trình Kinh tế học quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, 2013 (trích dẫn Từ Thúy Anh, 2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học quốc tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
7. Bộ Công thương, WB, 2017, Báo cáo “Nghiên cứu về tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của doanh nghiệp vừa và nhỏ” (Trích dẫn Bộ Công thương, WB, 2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo “Nghiên cứu về tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của doanh nghiệp vừa và nhỏ”
8. Bộ Công thương, 2017, Báo cáo tổng kết tình hình phát công nghệ và thương mại 2016 (trích dẫn Bộ Công thương, 2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình phát công nghệ và thương mại 2016
9. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục thống kê, 2016, Báo cáo tóm tắt Năng suất lao động của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, 2016 (Trích dẫn Bộ Kế hoạch và đầu tư, GSO, 2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt Năng suất lao động của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, 2016
11. Nguyễn Kim Chi, 2006, Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với xuất khẩu hàng hóa Việt Nam, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Viện nghiên cứu thương mại (trích dẫn Nguyễn Kim Chi, 2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với xuất khẩu hàng hóa Việt Nam
12. Hạ Thị Thiều Dao, 2010, Một số giải pháp giảm nhập siêu của Việt Nam nhìn từ cơ cấu xuất nhập khẩu, Tạp chí Ngân hàng số 22/2010 (trích dẫn Hạ Thị Thiều Dao, 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp giảm nhập siêu của Việt Nam nhìn từ cơ cấu xuất nhập khẩu
13. Cao Anh Dũng, 2006, Phân tích sự dịch chuyển cơ cấu thương mại của Việt Nam và nguyên nhân chủ yếu của nó, Luận án tiến sĩ Đại học Kobe, Nhật Bản, 2006 (trích dẫn Cao Anh Dũng, 2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích sự dịch chuyển cơ cấu thương mại của Việt Nam và nguyên nhân chủ yếu của nó
14. Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, 2013 Tổng quan chính sách đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2012 (Trích dẫn Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, 2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan chính sách đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2012
15. Nguyễn Tiến Dũng, 2011, Tác động của Khu vực Thương mại Tự do ASEAN - Hàn Quốc đến thương mại Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 27 (2011) 219‐231 (trích dẫn Nguyễn Tiến Dũng, 2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của Khu vực Thương mại Tự do ASEAN - Hàn Quốc đến thương mại Việt Nam
16. Bùi Trường Giang, Phạm Sỹ An, 2011, Vấn đề nhập siêu 2011 nhìn từ yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế trong kế hoạch 2011-2015, Viện Kinh tế Việt Nam (Trích dẫn Bùi Trường Giang, Phạm Sỹ An, 2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nhập siêu 2011 nhìn từ yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế trong kế hoạch 2011-2015
17. Nguyễn Văn Hậu, 2013, Về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2013 (trích dẫn Nguyễn Văn Hậu, 2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay
18. Nguyễn Thị Hiền, 2006, Phân tích thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn hiện nay, Tạp chí Ngân hàng Số 23/2010 (trích dẫnNguyễn Thị Hiền, 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn hiện nay
20. Đỗ Văn Huân, 2009, Nhập siêu không thể coi thường, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 16/2009 (trích dẫn Đỗ Văn Huân, 2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập siêu không thể coi thường
22. Dương Duy Hưng, 2013, Cán cân thương mại Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, luận án Tiến sỹ kinh tế, Viện nghiên cứu thương mại, Bộ Công thương, 2013 (trích dẫn Dương Duy Hưng, 2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cán cân thương mại Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
23. Nguyễn Hữu Khải, Đào Ngọc Tiến, Vũ Thị Hiền, 2007, Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam, NXB Thống kê, 2007 (trích dẫn Nguyễn Hữu Khải, 2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam, NXB Thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê"
24. Đỗ Tuyết Khanh, 2014, Trung Quốc và thương mại đa phương, Báo Thời Đại Mới số tháng 7, 2014, tr49-75, (Trích dẫn Đỗ Tuyết Khanh, 2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc và thương mại đa phương
25. Doãn Công Khánh, 2007, Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam- Trung Quốc trong tiến trình khu vực hóa, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 6 (67)- 2007 (trích dẫn Doãn Công Khánh, 2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam- Trung Quốc trong tiến trình khu vực hóa
26. Thái Kiệt, 2007, Trung Quốc trong quan hệ với các nước Asean, Tạp chí Cộng sản, số 18 (138)/2007 (trích dẫn Thái Kiệt, 2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc trong quan hệ với các nước Asean
27. Lương Văn Khôi và cộng sự, 2012, Phân tích định lượng để tìm ra nguyên nhân nhập siêu cao và kéo dài của nền kinh tế Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, 2012 (trích dẫn Lương Văn Khôi, 2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích định lượng để tìm ra nguyên nhân nhập siêu cao và kéo dài của nền kinh tế Việt Nam

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w