Xuất phát từ thực tế, trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu về hoạt động tín dụng tại VietinBank Chi nhánh Đền Hùng, muốn tiếp cận cả về phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn tôi chọn đ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––
ĐOÀN THỊ MAI HƯƠNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIETINBANK, CHI NHÁNH ĐỀN HÙNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––
ĐOÀN THỊ MAI HƯƠNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIETINBANK, CHI NHÁNH ĐỀN HÙNG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ ANH VŨ
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa được
dùng để bảo vệ một học vị nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận
văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, trích dẫn trong luận văn đều đã được
ghi rõ nguồn gốc./
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2015
Tác giả luận văn
Đoàn Thị Mai Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Nâng cao hiệu quả tín dụng đối với
doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank chi nhánh Đền Hùng”, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ
sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các khoa, phòng
-điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn
TS Lê Anh Vũ
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đón
- Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các
đồng chí tại các địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng
nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, ngày … tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Đoàn Thị Mai Hương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 3
5 Kết cấu đề tài 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại 5
1.1.1 Ngân hàng thương mại 5
1.1.2 Hiệu quả tín dụng ngân hàng 15
1.1.3 Những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa 18
1.1.4 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại 22
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 25
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao hiệu quả tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 39
39
Trang 61.2.2 Kinh nghiệm của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
(BIDV) chi nhánh Phú Thọ 42
1.2.3 Bài học kinh nghiệm 44
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 46
2.2 Phương pháp nghiên cứu 46
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 46
47
2.2.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích thông tin 47
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 48
Chương 3 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIETINBANK - CHI NHÁNH ĐỀN HÙNG 52
3.1 Khái quát tình hình phát triển DNNVV ở Phú Thọ 52
3.2 Nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Phú Thọ 55
3.3 Tổng quan về VietinBank Chi nhánh Đền Hùng 57
3.3.1 Chức năng, nhiệm vụ của VietinBank - chi nhánh Đền Hùng 57
3.3.2 Quy trình cho vay khách hàng DNNVV tại VietinBank Chi nhánh Đền Hùng 59
3.3.3 kết quả hoạt động kinh doanh - Chi nhánh giai đoạn 2012- 2014 60
3.4 Thực trạng hiệu quả tín dụng đối với DNNVV tại chi nhánh Đền Hùng giai đoạn 2012 - 2014 65
3.4.1 Cơ cấu danh mục tín dụng và tỷ lệ tăng trưởng dư nợ 66
3.4 68
3.4 70
3.4 2014 72
3.4.5 Tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu 72
Trang 774
3.5.1 Nguyên nhân từ môi trường kinh tế và chính sách vĩ mô 74
3.5.2 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng 76
3.5.3 Nguyên nhân từ phía các doanh nghiệp nhỏ và vừa 78
3.6 Những hạn chê 80
3.6.1 Những kết quả đạt được 80
3.6.2 Những hạn chế 83
Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐỀN HÙNG 86
4.1 Định hướng chung hoạt động tín dụng của VietinBank - Chi nhánh Đền Hùng giai đoạn 2015 - 2020 86
4.1.1 Mở rộng quy mô tín dụng, đa dạng hóa danh mục cho vay, loại hình khách hàng nhằm phân tán rủi ro 86
4.1.2 Xây dựng cơ cấu danh mục TSBĐ theo hướng tăng tỷ trọng dư nợ cho vay có TSBĐ, TSBĐ có tính thanh khoản cao 88
4.2 Một số giải pháp 89
2020 89
4.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ 93
4.3 Một số kiến nghị đối với VietinBank Chi nhánh Đền Hùng 102
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 19
Bảng 3.1 Tình hình huy động vốn trong 3 năm 2012 - 2014 62
2012 - 2014 63
Bảng 3.3 Thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh 64
Bảng 3.4 Cơ cấu danh mục tín dụng và tỷ lệ tăng trưởng dư nợ 66
Bảng 3.5 Cơ cấu danh mục tín dụng DNNVV theo ngành kinh tế 68
Bảng 3.6 Cơ cấu danh mục tín dụng đối với DNNVV theo thời gian vay vốn 70
2012 - 2014 72
Bảng 3.8 Cơ cấu nhóm nợ đối với DNNVV 72
Bảng 3.9 Dự phòng rủi ro tín dụng cụ thể với DNNVV giai đoạn 2012 - 2014 73
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu ngành kinh doanh của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ năm 2014 53 Biểu đồ 3.2 Thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh 65 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ tại chi nhánh từ 2012 đến 2014 67 Biểu đồ 3.4 Cơ cấu tín dụng DNNVV theo ngành kinh tế giai đoạn
2012 - 2014 69 Biểu đồ 3.5 Dư nợ cho vay DNNVV theo thời hạn, 2012 - 2014 71 Biểu đồ 3.6 Cơ cấu nhóm nợ đối với DNNVV 73
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hiện nay, DNNVV ngày càng phát triển mạnh mẽ và chiếm số lượng lớn trong tổng số lượng doanh nghiệp, đóng góp không nhỏ vào thành tựu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Cùng với sự phát triển không ngừng của các DNNVV, các tổ chức tín dụng đặc biệt là các NHTM đã sớm coi các DNNVV là đối tượng khách hàng quan trọng trong chiến lược nhằm đa dạng hóa danh mục đầu tư cho vay, tăng thu nhập, phân tán rủi ro và nâng cao vị thế cạnh tranh
Công cuộc đổi mới nền kinh tế của đất nước đã tác động mạnh mẽ vào hệ thống ngân hàng, hoạt động tín dụng được coi là nghiệp vụ then chốt cấp vốn cho nền kinh tế phát triển và tạo ra thu nhập chủ yếu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Tín dụng là công cụ để thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng mang lại lợi nhuận cao nhất cho các Ngân hàng thương mại (NHTM), đặc biệt là tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp nhiều nhất vào tổng thu nhập của Ngân hàng
Hiệu quả tín dụng đang là mối quan tâm của các cấp lãnh đạo, các nhà quản trị ngân hàng, nó mang tính chất sống còn đối với mỗi ngân hàng thương mại Hiệu quả tín dụng ngày càng được quan tâm, bởi vì việc đảm bảo hiệu quả tín dụng là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò trung tâm thanh toán và chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế quốc dân Hiệu quả tín dụng góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia bởi vì hoạt động tín dụng là công cụ để thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực, từng thời kỳ
Việc nâng cao hiệu quả tín dụng góp phần cải thiện tình hình tài chính của ngân hàng, tạo thế mạnh cho NH trong quá trình cạnh tranh bởi vì hiệu quả tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng có những khách hàng trung thành và những khoản lợi
Trang 12nhuận để bổ xung vốn đầu tư Nâng cao hiệu quả tín dụng sẽ củng cố mối quan hệ
xã hội của ngân hàng bằng những điều kiện lao động tốt nhất, tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng
Theo định hướng phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam (VietinBank) tất cả các Chi nhánh trong hệ thống sẽ trở thành những ngân hàng bán lẻ, đa năng - hiện đại và tốt nhất Việt Nam Đối tượng khách hàng mục tiêu
là các khách hàng thuộc phân khúc bán lẻ và các DNNVV
Việc nâng cao hiệu quả tín dụng là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của Ngân hàng thương mại; Chính vì vậy, hiệu quả tín dụng luôn luôn là vấn đề mà VietinBank Chi nhánh Đền Hùng quan tâm và cải tiến thường xuyên để nâng cao hiệu quả tín dụng của ngân hàng
Xuất phát từ thực tế, trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu về hoạt động tín dụng tại VietinBank Chi nhánh Đền Hùng, muốn tiếp cận cả về phương diện lý
thuyết cũng như thực tiễn tôi chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả tín dụng đối với
doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank chi nhánh Đền Hùng” làm đề tài luận
* Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hiệu quả tín dụng
và nâng cao hiệu quả tín dụng đối với DNNVV tại Ngân hàng thương mại
- Phân tích thực trạng tín dụng đối với DNNVV tại Ngân VietinBank Chi nhánh Đền Hùng
- Đánh giá hiệu quả tín dụng đối với các DNNVV tại VietinBank Chi nhánh Đền Hùng để chỉ ra những kết quả đạt được, những khó khăn tồn tại, nguyên nhân
Trang 13dẫn đến khó khăn, tồn tại trong việc nâng cao hiệu quả tín dụng tại VietinBank - Chi nhánh Đền Hùng
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng đối với DNNVV tại VietinBank chi nhánh Đền Hùng đến năm 2020
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực trạng các vấn đề liên quan đến hiệu quả tín dụng đối với các DNNVV tại VietinBank Chi nhánh Đền Hùng
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Địa bàn tỉnh Phú Thọ
+ Thời gian: Nghiên cứu hiệu quả tín dụng đối với các DNNVV tại VietinBank chi nhánh Đền Hùng từ 2012 - 2014; đề xuất giải pháp đến năm 2020
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Về mặt lý luận: Góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về hiệu quả tín
dụng đối với DNNVV và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng đối với đối tượng khách hàng này của ngân hàng thương mại
Trang 14Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hiệu quả tín dụng đối với DNNVV tại VietinBank chi
nhánh Đền Hùng
Chương 4: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng đối với DNNVV tại
VietinBank chi nhánh Đền Hùng
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại
1.1.1 Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng, ngân hàng thương mại hình thành trên
cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá Khi sản xuất phát triển thì nhu cầu trao đổi mở rộng sản xuất giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia tăng lên, để khác phục sự khác biệt về tiền tệ giữa các khu vực thì thì xuất hiện các thương gia làm nghề đổi tiền Khi trao đổi hàng hoá phát triển quay trở lại kích thích sản xuất hàng hóa Cùng với sự phát triển đó, các nghiệp vụ được phát triển dần như giữ tiền
hộ, chi trả hộ trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm
gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống NHTM đã
có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được
Từ lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng thương mại cho thấy, các ngân hàng thương mại chỉ xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế đã phát triển đến một trình độ nhất định, dẫn đến tính tất yếu khách quan của việc hình thành hệ thống ngân hàng gắn liền với sự phát triển kinh tế
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:
Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Theo đạo luật ngân hàng của Pháp (1941): “NHTM là những xí nghiệp hay
Trang 16cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”
Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16/06/2010, định nghĩa: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận
Theo luật các tổ chức tín dụng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được thông qua ngày 16/06/2010, tại điều 4 định nghĩa "Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã"
"Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận"
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội Khái niệm về NHTM đang có sự thay đổi vì sự pha trộn của các hoạt động truyền thống của ngân hàng với các trung gian tài chính khác
1.1.1.2 Vai trò và chức năng của Ngân hàng thương mại
Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế phát triển, đang phát triển, thậm chí chưa phát triển thì hoạt động ngân hàng cũng có tác dụng to lớn đến hoạt động của nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của ngân hàng được thể hiện như sau:
Ngân hàng là nơi tập trung tiền nhàn rỗi và cung ứng tiền vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 17Ngân hàng là trung gian trong quá trình thanh toán góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá nhanh chóng
Ngân hàng góp phần điều tiết và kiểm soát thị trường tiền tệ, thị trường vốn Ngân hàng góp phần thu hút, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước và cung cấp các dịch vụ tài chính khác
Tương ứng với vai trò của mình trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại có ba chức năng chính như sau gồm: Chức năng là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, chức năng tạo tiền trong đó chức năng quan trọng nhất là trung gian tín dụng
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, mặt khác nó dùng chính số tiền đã huy động được để cho vay đối với các
thành phần kinh tế trong xã hội, hay nói cách khác là một tổ chức đóng vai trò “cầu nối” giữa các đơn vị thừa vốn với các đơn vị thiếu vốn Thông qua sự điều chuyển
này Ngân hàng thương mại có vai trò quan trong trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm, cải thiện mức sống dân cư, ổn định thu chi Chính phủ Đồng thời chức năng này còn góp phần quan trọng trong việc điều hoà lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát Từ đó cho thấy rằng, đây là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng thương mại
1.1.1.3 Khái quát về tín dụng ngân hàng
Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc La tinh Credit có nghĩa là một sự tin tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin
Trước hết, “tín dụng” là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu (gọi là người cho vay) sang
Trang 18người sử dụng (gọi là người đi vay) để sau một thời gian nhất định thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu Khi đó quan hệ giữa người cho vay và người đi vay được gọi là quan hệ tín dụng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng dưới hình thái tiền tệ phát sinh giữa một bên là ngân hàng với một bên là tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong
đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay
Khái niệm tín dụng được thể hiện qua ba mặt cơ bản: có sự giao quyền sử dụng một giá trị từ người này sang người khác; sự chuyển giao mang tính chất tạm thời; khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức Một quan hệ được gọi là tín dụng phải đầy đủ
cả ba mặt đó Tín dụng ra đời từ rất sớm, nó gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa Cơ sở ra đời của tín dụng xuất phát từ: có sự tồn tại và phát triển hàng hóa, có nhu cầu bù đắp thiếu hụt khi gặp biến cố nhằm bảo đảm sản xuất kinh doanh, đảm bảo cuộc sống bình thường
Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền
tệ hoặc hàng hoá
Những hành vi tín dụng có thể được diễn ra trực tiếp giữa người thừa vốn cần đầu tư và người cần vốn để sử dụng Nhưng thực tế hai người này khó có thể phù hợp được với nhau về quy mô, về thời gian nhàn rỗi, và thời gian sử dụng vốn; hoặc cũng có thể phù hợp được thì phải tốn kém chi phí tìm kiếm, nên để thoả mãn được nhu cầu của cả hai người thì cần thiết phải có một người thứ ba đứng ra tập trung được tất cả số vốn của những người tạm thời thừa vốn, cần đầu tư kiếm lãi Trên cơ sở số vốn tập trung được phân phối cho những người cần vốn để sử dụng dưới hình thức cho vay Người đó không ai khác chính là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngân hàng thương mại - người môi giới tài chính trên thị trường tài chính Việc các ngân hàng thương mại tập trung vốn dưới hình thức huy động và phân phối vốn dưới hình thức cho vay được gọi là tín dụng ngân hàng
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng, tùy thuộc vào giác độ tiếp cận mà tín dụng có thể được hiểu như là: Sự trao đổi các tài sản hiện tại để được nhận các
Trang 19tài sản cùng loại trong tương lai Hoặc có thể định nghĩa tín dụng như là quan hệ kinh tế, theo đó một người thỏa thuận để người khác được sử dụng số tiền hay tài sản của mình trong một thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả Trong đời sống, tín dụng hiện diện dưới nhiều hình thái khác nhau Tín dụng thương mại là một doanh nghiệp thỏa thuận bán chịu hàng hóa cho khách hàng Tín dụng NH là việc các NHTM huy động vốn của khách hàng để sau đó lại cho khách hàng khác vay với mục đích kiếm lời Ngoài ra việc Chính phủ hay những doanh nghiệp phát hành các trái phiếu ra ngoài công chúng để vay tiền các tổ chức, cá nhân cũng được xem là những hình thức tín dụng Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, nghiệp vụ cho thuê tài chính do những công ty cho thuê tài chính thực hiện đối với khách hàng
là các doanh nghiệp cũng được xem là một hình thức tín dụng đặc thù của nền kinh
Ngân hàng với tư cách là người đi vay sẽ huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội bằng hình thức nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong
xã hội
Đồng thời NH lại là người cho vay đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Với vai trò này, NH đã thực hiện chức năng phân phối lại vốn, tiền tệ để đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội
Đây là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt đầy đủ và kịp thời
Trang 201.1.1.4 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng
Nhìn chung tín dụng ngân hàng có các đặc trưng sau:
- Tín dụng ngân hàng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin ở đây người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả nợ được
- Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn Để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, người cho vay thường xác định rõ thời gian cho vay Việc xác định thời hạn đó dựa vào: Quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay Có nghĩa là thời hạn cho vay phài phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay vốn thì lúc đó người vay mới có điều kiện để trả nợ Nếu thời hạn cho vay nhỏ hơn chu
kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì khi đến hạn khách hàng không có nguồn
để trả nợ sẽ gây khó khăn cho khách hàng Ngược lại, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn của khách hàng sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích và không có nguồn để trả nợ, nhưng nếu có nguồn thu nợ khác ngoài nguôn thu chính thì có thể thu nợ từ nguồn đó Vì vậy, thời hạn cho vay
có thể ngắn hơn chu kỳ sản xuất kinh doanh Việc xác định thời hạn cho vay không chỉ dựa vào chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay mà còn dựa vào tính chất vốn của người cho vay: nếu vốn của người cho vay ổn định thì thời hạn cho vay có thể dài hơn và ngược lại thì thời hạn cho vay phải ngắn hơn để đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc phải hoàn trả cả gốc và lãi Đây là thuộc tính riêng có của tín dụng Vì vốn cho vay của ngân hàng là vốn huy động của những người tạm thời thừa nên sau một thời gian nhất định phải trả lại cho người ký thác Mặt khác, ngân hàng cần có nguồn để
bù đắp chi phí hoạt động như: khấu hao tài sản cố định, trả lương công nhân viên, chi phí văn phòng phẩm… nên người vay vốn ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi
1.1.1.5 Nguyên tắc tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng ngân hàng dựa trên một số nguyên tắc nhất định để đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời Các nguyên tắc được cụ thể hoá trong các quy định của ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại
Trang 21Mục đích cho vay
Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn đúng mục đích đã thoả thuận với ngân hàng, không trái với quy định của pháp luật và các quy định khác của ngân hàng Các mục đích đó phải được thoả thuận trước và ghi rõ trong hợp đồng tín dụng đảm bảo cho ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật và việc tài trợ đó phải phù hợp với mục tiêu hoạt động của ngân hàng
Khả năng sinh lời
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ đặc biệt, vì mục tiêu lợi nhuận Nếu ngân hàng thực hiện kinh doanh không sinh lời thì sẽ không bù đắp được những chi phí, những rủi ro có thể gặp phải, từ đó làm tổn thất nguồn vốn của ngân hàng, gây yếu kém trong tổ chức hoạt động, mất uy tín hinh ảnh của ngân hàng đối với khách hàng… do vậy, với bất kỳ khoản vay nào ngân hàng cũng phải đảm bảo nguyên tắc này Mặt khác, ngân hàng cũng như các doanh nghiệp kinh doanh mục tiêu chính của họ là kinh doanh có lợi nhuận
Đa dạng hoá rủi ro
Hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro Nếu khách hàng không
có khả năng trả nợ do những điều kiện khách quan thì ngân hàng không thể thu hồi được nợ gốc và lãi Do vậy, ngân hàng nên trải rộng trên nhiều đối tượng cho vay hoặc một lĩnh vực một thành phần kinh tế nào đó vì dễ dàng bị tổn thất khi khách hàng gặp khó khăn về vấn đề tài chính Điều này dẫn đến một tập hợp các món vay
có tính cân bằng và bền vững
Tính an toàn
Tính an toàn được hiểu là việc trả nợ vay bao gồm gốc và lãi khi đến hạn thanh toán Do vậy, ngân hàng luôn yêu cầu người vay phải thực hiện đúng cam kết này Tính an toàn của khoản vay được ngân hàng đánh giá qua nhiều mặt: mục đích
sử dụng vốn, phương án kinh doanh, đạo đức của người vay, tài sản đảm bảo… Tính an toàn của các khoản vay là điều kiện để ngân hàng có thể tồn tại và phát triển được Tính an toàn được ngân hàng đánh giá dựa trên mức độ rủi ro thấp mà ngân hàng có thể chấp nhận được
Trang 221.1.1.6 Các hình thức tín dụng ngân hàng
Có thể nói tín dụng cho vay tồn tại dưới rất nhiều hình thức và tên gọi Tuy nhiên căn cứ vào một số các tiêu thức khác nhau để có thể phân chia tín dụng ngân hàng Sau đây là một số cách phân chia mà Ngân hàng thường sử dụng để phân tích
và đánh giá
Phân loại theo thời hạn tín dụng:
Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng thành 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng dưới 12 tháng và được sử dụng để bổ
sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và phục vụ các nhu cầu kinh doanh và chi tiêu ngắn hạn của cá nhân Đối với các ngân hàng thương mại thông thường tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất Đây là loại tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có cũng chỉ là những biến động mà ngân hàng có thể dự tính được
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng
và chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết
bị kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh của doanh nghiệp và cá nhân Hình thức tín dụng này có độ rủi ro không cao
vì ngân hàng có khả năng dự đoán trước những biến động xảy ra
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng trở lên, sử
dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, bến cảng, sân bay…), cải tiến và mở rộng sản xuất kinh doanh với quy mô lớn Tín dụng dài hạn bao gồm nhiều giai đoạn cam kết giải ngân Việc giải ngân tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng, tiền vay có thể được giải ngân một lần hoặc có thể được giải ngân trong suốt thời hạn cam kết Loại tín dụng này có mức độ rủi ro rất lớn vì trong thời hạn dài, những biến động xảy ra ngân hàng không thể lường trước được
Mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
- Tín dụng có bảo đảm: Là hình thức cấp tín dụng có tài sản bảo đảm hoặc
người bảo lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay Hình thức này áp dụng đối với các khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng hoặc chưa đạt tiêu chuẩn
Trang 23nhất định đối với cho vay không có tài sản bảo đảm, khi vay vốn đòi hỏi phải có tài sản bảo đảm Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu thứ hai bổ sung cho nguồn thu thứ nhất thiếu chắc chắn, nó có tác dụng giảm bớt rủi ro, tăng trách nhiệm của khách hàng đối ngân hàng và tạo tâm lý yên tâm cho ngân hàng
- Tín dụng không có bảo đảm: Là hình tín dụng không có tài sản hoặc
người bảo lãnh đứng ra đảm bảo cho khoản nợ vay Tuy nhiên, khách hàng vay không có bảo đảm sẽ được nhận khoản vay khi hội tụ đầy đủ các yếu tố sau:
+ Có tín nhiệm đối với tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay
và trả nợ đúng hạn, đầy đủ cả gốc và lãi
+ Tình hình tài chính tốt và minh bạch
+ Có dự án đầu tư, hoặc phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ khả thi, có khả năng hoàn trả nợ, hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thi phù hợp với quy định của pháp luật
+ Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
+ Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của tổ chức tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hoạt động tín dụng, cam kết trả nợ đúng hạn nếu không thực hiện được các biện pháp bảo đảm bằng tài sản
Như vậy, mặc dù không có tài sản bảo đảm nhưng đây cũng là loại tín dụng
ít rủi ro cho ngân hàng vì khách hàng có uy tín và khả năng trả nợ cao mới được cấp tín dụng không có bảo đảm
Phân loại theo mục đích:
Theo tiêu thức này thì tín dụng ngân hàng được phân chia thành 2 dạng:
- Tín dụng sản xuất, kinh doanh: Là hình thức cấp tín dụng lấy đối tượng
thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh của ngân hàng để làm cơ sở cấp tín dụng như các nhà doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hoá và các cá nhân hộ sản xuất kinh doanh
- Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cấp cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng như: mua sắm nhà cửa, xe cộ, tủ lạnh, điều hoà, máy giặt…Với hình thức này, ngân hàng quan tâm nhiều đến nguồn trả và thu nhập của khách hàng mà ít
Trang 24quan tâm tới việc sử dụng khoản tín dụng có hiệu quả hay không do đó loại tín dụng này có mức độ rủi ro cao hơn
Phân loại theo đối tượng tín dụng:
Theo tiêu thức này thì tín dụng được chia làm 2 loại:
- Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng có thời hạn ngắn thường nhỏ hơn 1
năm và được sử dụng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế, có nghĩa
là cho vay bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản
nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ phiếu Đây là loại tín dụng có mức độ rủi ro thấp
do nó phục vụ cho chu kỳ sản xuất kinh doanh nên ngân hàng có thể theo dõi thường xuyên và dự báo biến động xảy ra
- Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản cố
định, có nghĩa là đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuất, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới, dự án mới
Phân loại theo phương thức hoàn trả tiền vay:
- Cho vay có thời hạn: Là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thể
theo hợp đồng Đối với loại cho vay này khách hàng có thể trả nợ trước hạn nhưng ngân hàng được quyền thu lãi toàn bộ kỳ hạn trả nợ theo hợp đồng trừ trường hợp
có những thoả thuận khác Nó bao gồm: cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ, cho vay
có nhiều kì hạn trả nợ cụ thể (cho vay trả góp), cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kì hạn nợ cụ thể, mà việc trả nợ phụ thuộc và khả năng tài chính của người đi vay
- Cho vay không có thời hạn cụ thể: Là loại cho vay mà ngân hàng có thể yêu
cầu người đi vay tự nguyện trả nợ bất kì lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, thời gian này có thể thoả thuận trong hợp đồng
Các hình thức tín dụng:
- Tín dụng gián tiếp: Là hình thức cấp tín dụng thông qua một trung gian tài
chính như ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín dụng khác
- Tín dụng trực tiếp: Là hình thức cấp tín dụng giữa người có tiền hoặc hàng
hoá với người cần sử dụng tiền hoặc hàng hoá đó, không cần phải thông qua một trung gian tài chính nào cả
Trang 25Mục đích sử dụng vốn:
- Tín dụng sản xuất, kinh doanh: Là hình thức cấp tín dụng lấy đối tượng
thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh của ngân hàng để làm cơ sở cấp tín dụng như các nhà doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hoá và các cá nhân hộ sản xuất kinh doanh
- Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cấp cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng như: mua sắm nhà cửa, xe cộ, tủ lạnh, điều hoà, máy giặt…Với hình thức này, ngân hàng quan tâm nhiều đến nguồn trả và thu nhập của khách hàng mà ít quan tâm tới việc sử dụng khoản tín dụng có hiệu quả hay không do đó loại tín dụng này có mức độ rủi ro cao hơn
Phân loại theo thành phần kinh tế:
- Tín dụng đối với thành phần kinh tế quốc doanh
- Tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
1.1.2 Hiệu quả tín dụng ngân hàng
Hiệu quả nói chung được định nghĩa là đạt được một kết quả giống nhau nhưng sử dụng ít thời gian, công sức và nguồn lực nhất, là mối quan hệ giữa kết quả đạt được và nguồn lực được sử dụng Đây là một vấn đề được các nhà kinh tế và quản lý kinh tế rất quan tâm Mọi hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều hướng tới mục tiêu hiệu quả Các doanh nghiệp đều có mục đích chung là làm thế nào để một đồng vốn bỏ vào kinh doanh mang lại hiệu quả cao nhất, khả năng sinh lời nhiều nhất
Có rất nhiều quan điểm về hiệu quả trong hoạt động kinh doanh Mỗi quan điểm về hiệu quả kinh doanh đều chứa đựng những ưu nhược điểm và chưa hoàn chỉnh Qua các quan điểm trên, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa đầy đủ về hiệu quả kinh doanh như sau:
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trong hoạt động kinh doanh; trình độ tổ chức, quản
lý của doanh nghiệp để thực hiện ở mức độ cao nhất các mục tiêu kinh tế - xã hội với mức chi phí thấp nhất
Trang 26Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thì tín dụng là hoạt động chủ yếu đem lại thu nhập chính cho ngân hàng Tín dụng ngân hàng còn có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội có quan hệ đa chiều Hiệu quả tín dụng được hiểu là một trong những biểu hiện của hiệu quả kinh tế, nó phản ánh chất lượng của hoạt động cho vay của ngân hàng Đó là khả năng cho vay phù hợp với yêu cầu phát triển của các mục tiêu kinh tế xã hội và nhu cầu của khách hàng đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ vay đúng hạn, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
Quan hệ cho vay có sự tham gia của hai chủ thể ngân hàng và khách hàng, mối quan hệ này được đặt trong sự vận động chung của nền kinh tế xã hội Vì thế sẽ thật phiến diện khi xem xét chất lượng cho vay của ngân hàng chỉ từ góc độ của ngân hàng hay khách hàng Việc xem xét chất lượng cho vay phải có sự đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau: từ phía ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế
Xét từ góc độ ngân hàng thì hiệu quả tín dụng thể hiện ở mức độ an toàn và khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động này mang lại Khi cho vay, điều mà ngân hàng quan tâm là khoản vay đó phải được đảm bảo an toàn, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, được hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường
Xét từ góc độ khách hàng: Một khoản tín dụng được khách hàng đánh giá là
có hiệu quả khi nó thoả mãn được nhu cầu của họ Mức độ thoả mãn của khách hàng thể hiện ở chỗ khoản tín dụng đó được cung ứng một cách đầy đủ, kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn của họ với lãi suất, kỳ hạn, phương thức giải ngân, thu nợ hợp lý, các thủ tục vay vốn được tiến hành nhanh gọn, tiết kiệm thời gian và chi phí
Xét từ góc độ nền kinh tế - xã hội: Hiệu quả tín dụng chỉ thực sự đạt được khi đáp ứng những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong lĩnh vực mà khoản tín dụng ngân hàng tham gia hoạt động
Hiệu quả tín dụng tốt đồng nghĩa với việc giúp các khách hàng sản xuất kinh doanh có hiệu quả, sản phẩm cung ứng với chất lượng tốt và giá thành hợp lý, đáp ứng nhu cầu trong nước, một phần cho xuất khẩu và có sức cạnh tranh trên thị trường, vốn vay đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra một số tiền lớn đủ để
Trang 27trang trải chi phí, trả được gốc và lãi cho ngân hàng và có lợi nhuận, góp phần vào
sự tăng trưởng chung của nền kinh tế góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động, ngoài ra nó còn thể hiện tính an toàn cao của hoạt động ngân hàng, nâng cao khả năng thanh toán, chi trả và hạn chế được rủi ro
Hiệu quả tín dụng tốt là thoả mãn được đồng thời cả ba mục tiêu của ngân hàng, của khách hàng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Trong khi ba mục tiêu này lại có mặt mâu thuẫn với nhau: ngân hàng muốn đạt được lợi nhuận cao nhất từ các khoản vốn vay vì thế họ muốn khoản tín dụng đó có lãi suất cao mà lại được hoàn trả gốc và lãi đúng hạn; còn với khách hàng tiền lãi là một khoản chi phí, muốn đạt lợi nhuận cao họ phải tối thiểu hoá chi phí, nên họ mong muốn có được khoản vốn vay với mức lãi suất thấp; mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi hoạt động tín dụng của ngân hàng phải giải quyết được công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế công cộng, bảo vệ môi trường hiệu quả là hướng tới việc phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững Hoạt động tín dụng tốt là phải dung hoà được lợi ích của ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế - xã hội, có như vậy ngân hàng mới hoạt động và phát triển bền vững
Mặc dù hoạt động tín dụng mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng nhưng đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất Vì vậy, ngân hàng luôn tìm cách khắc phục, hạn chế những rủi ro mà hoạt động tín dụng gây ra, nâng cao chất lượng
và hiệu quả tín dụng để mang lại sự ổn định đảm bảo cho mục tiêu an toàn và sinh lợi của Ngân hàng thương mại
Như vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng là vấn đề sống còn đối với hoạt động của ngân hàng, là nhu cầu bức thiết, nó không chỉ có ý nghĩa đối với ngân hàng thương mại mà còn có ý nghĩa với các chủ thể kinh tế và đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội Việc nâng cao tín dụng là một trong những cơ sở vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 282008 - 2014
Do v
Hi
1.1.3 Những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.3.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong một nền kinh tế, nếu chỉ dựa vào quy mô hoạt động có thể chia doanh nghiệp thành hai loại: doanh nghiệp lớn, DNNVV Các DNNVV là loại hình doanh nghiệp phổ biến ở hầu hết các nước, tuy nhiên, không có một tiêu chuẩn chung nào cho việc phân định ranh giới quy mô doanh nghiệp ở các nước
Ở mỗi nước khác nhau, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh phát triển kinh tế cụ thể
mà có cách xác định quy mô doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể Hầu hết các nước trên thế giới đều xác định DNNVV theo hai tiêu thức: tổng số vốn kinh doanh, số lượng lao động của doanh nghiệp để phân biệt quy mô lớn, vừa và nhỏ
Theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 23/11/2001 về trợ
giúp và phát triển DNNVV đã định nghĩa: "Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành Có vốn đăng ký không quá 10 tỷ VNĐ hoặc số lao động hàng năm không quá 300 người"
Trang 29Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của từng ngành, địa phương trong quá trình thực hiện các biện pháp chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên
Bảng 1.1 Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Nguồn vốn (tỷ VNĐ)
Lao động (người)
Nguồn vốn (tỷ VNĐ)
Lao động (người)
Nông, lâm nghiệp
và thủy sản <10 <20
Từ 10 đến dưới 200
Từ 20 đến dưới 100
Từ 200 đến dưới 300 Công nghiệp và
Từ 10 đến dưới 200
Từ 20 đến dưới 100
Từ 200 đến dưới 300 Thương mại và
Từ 10 đến dưới 50
Từ 10 đến dưới 50
Từ 50 đến dưới 100
(Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát triển DNNVV) 1.1.3.2 Những đặc điểm của DNNVV
Với những khái niệm về DNNVV như đã trình bày ở trên thì DNNVV có các đặc điểm sau:
DNNVV vừa năng động, vừa dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, DNNVV dễ dàng đáp ứng những yêu cầu
có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa, đồng thời có thể chuyển đổi sản xuất hoặc thu hẹp quy mô mà không gây những hậu quả nặng nề cho xã hội Bên cạnh đó nhờ tính linh hoạt, khả năng thích ứng với thị trường và chấp nhận rủi ro nên loại hình doanh nghiệp này có khả năng đổi mới, mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế
DNNVV tồn tại và phát triển ở hầu hết các ngành và lĩnh vực, chiếm tỷ trọng tối đa trong hầu hết các thành phần của nền kinh tế Có khả năng thích ứng với mọi ngành nghề, ở mọi nơi trong mọi lĩnh vực đời sống - kinh tế - xã hội Các doanh nghiệp hoạt động đưới nhiều hình thức như DN nhà nước, DN tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH DN có vốn đầu tư nước ngoài Hoạt động trên tất cả các
Trang 30lĩnh vực như thương mại, dịch vụ, nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng và
có thể hoạt động với mọi trình độ từ thủ công đến cơ khí hóa, hiện đại hóa
DNNVV tạo lập dễ dàng, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp Với
ưu thế nhỏ gọn, năng động, dễ quản lý, không cần các nguồn lực tài chính quá mạnh như công nghệ, nhân sự, do đó nó rất năng động trước những biến động của thị trường, linh hoạt chyển hướng kinh doanh, thay đổi sản phẩm, thời gian thu hồi vốn nhanh Bộ máy tổ chức quản lý được thành lập rất gọn nhẹ, quy trình quyết định kinh doanh, điều hành quản lý nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí quản
lý Thông thường theo quy mô quản lý kiểu gia đình đối với DNTN
DNNVV có thể thâm nhập đến các vùng kinh tế xa xôi, tuy khó khăn để tạo
sự phát triển cân bằng giữa các vùng kinh tế
DNNVV khó tiếp cận với nguồn vốn tín dụng của ngân hàng do thông tin hai chiều giữa ngân hàng và doanh nghiệp còn hạn chế Doanh nghiệp chưa quen với việc thanh toán qua ngân hàng cũng như sử dụng các tiện ích mà ngân hàng mang lại cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, các DNNVV gặp khó khăn trong việc thế chấp tài sản, hoặc ngân hàng nhận tài sản thế chấp với giá trị thấp nên không đáp ứng được nguồn vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp
Thu hút được số lượng lớn lao động có chuyên môn trung bình và thấp vào làm việc, khó khăn trong việc thu hút các lao động có năng lực, trình độ cao
1.1.3.3 Vai trò của DNNVV
DNNVV có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước, trong kinh doanh DNNVV thể hiện sự năng động và sáng tạo, đối với xã hội, DNNVV đóng góp phần lớn tạo công ăn việc làm cho người lao động, và đối với Chính phủ, DNNVV tạo nên sự tăng trưởng quốc gia, đóng góp vào ngân sách thu từ thuế
Góp phần tăng trưởng, ổn định kinh tế xã hội:
Trước hết, các DNNVV chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp Sự phát triển nhanh của các DNNVV cả về số lượng và chất lượng đã đóng góp quan trọng vào GDP Ở các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, DNNVV chiếm 90% số lượng doanh nghiệp, đóng góp từ một phần đáng kể vào giá trị GDP hàng năm
Trang 31Tạo lập sự phát triển cân bằng cơ cấu kinh tế địa phương:
Thông thường các doanh nghiệp lớn tập trung ở các vùng đô thị, nơi có cơ sở
hạ tầng phát triển, nhưng lại không đáp ứng được tất cả các yêu cầu của nền kinh tế như lưu thông hàng hóa, dịch vụ, phát triển ngành nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp, giải quyết lao động, ổn định đời sống xã hội của nhân dân…Với chiều hướng đó sẽ gây ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh
tế, văn hóa xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng trong một quốc gia Trong khi đó, với sự tạo lập dễ dàng, DNNVV có thể phát triển rộng rãi ở mọi vùng lãnh thổ và tạo ra các sản phẩm phong phú, đa dạng, đồng thời tạo ra sự phát triển cân bằng giữa các vùng trong một nước Đặc biệt, DNNVV có thể hiện diện ở khắp mọi miền đất nước, kể cả ở nông thôn và miền núi
Hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp, tập đoàn lớn trong việc hình thành kinh tế thị trường:
DNNVV có mặt trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại tất yếu khách quan trong nền kinh tế của mỗi nước Nó là một bộ phận hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn Doanh nghiệp lớn thường tập trung vào những đoạn thị trường có quy mô lớn và không thể bao quát được toàn bộ thị trường Trong khi đó
thị trường mục tiêu của các DNNVV lại tập trung vào những “thị trường ngách”
nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp lớn trong việc tiếp cận thị trường, cân đối cung cầu trong xã hội Với vai trò là một kênh phân phối có hiệu quả, các DNNVV vừa cung cấp các yếu tố đầu vào vừa là thị trường tiêu thụ sản phẩm
Tối ưu hóa các nguồn lực xã hội:
Về nguồn tài chính: Các DNNVV có thể thành lập và hoạt động mà không
cần quá nhiều vốn Điều này đã tạo cơ hội cho đông đảo ngời dân có thể tham gia đầu tư Mặt khác, trong quá trình hoạt động, các DNNVV có thể dễ dàng huy động vốn dựa trên quan hệ họ hàng, bạn bè thân thuộc
Về nguồn lao động: Chiếm ưu thế về số lượng, DNNVV đã và đang thu hút
một lượng lớn lao động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 321.1.4 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại
1.1.4.1 Đặc điểm cấp tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngoài những đặc điểm chung của cấp tín dụng, cấp tín dụng cho DNNVV có những đặc điểm riêng xuất phát từ những đặc thù của DNNVV
Thứ nhất, cho vay DNNVV với số lượng khách hàng lớn, quy mô khoản vay
nhỏ Tại nhiều quốc gia, số lượng các DNNVV luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng
số doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, đây là đối tượng khách hàng đông đảo để ngân hàng khai thác Điều này cũng đặt ra cho ngân hàng những vấn đề về quản lí khoản vay với đối tượng khách hàng này
Thứ hai, cho vay DNNVV có tính rủi ro cao tuy nhiên việc cho vay đối
tượng khách hàng này có thể phân tán rủi ro cho ngân hàng Các DNNVV có vốn chủ sở hữu tham gia vào phương án kinh doanh thấp, sổ sách báo cáo tài chính sơ sài, chưa theo chuẩn mực, thiếu tài sản đảm bảo nên khó khăn trong việc thẩm định và rủi ro khi cấp tín dụng Tuy nhiên, việc cho vay DNNVV lại góp phần phân tán rủi ro cho ngân hàng đặc biệt là những rủi ro khách quan
Thứ ba, cho vay DNNVV liên quan tới nhiều ngành nghề lĩnh vực kinh tế,
chi phí quản lí cao Với số lượng khách hàng lớn, việc mỗi khách hàng hoạt động trong một lĩnh vực khiến việc cho vay đối tượng khách hàng này liên quan tới nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau thậm chí là những lĩnh vực hoàn toàn mới Ngoài ra, một số doanh nghiệp siêu nhỏ còn có thể dễ dàng thay đổi lĩnh vực kinh doanh, thay đổi trụ sở khiến cho việc quản lí của ngân hàng phức tạp và tốn kém
1.1.4.2 Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả tín dụng đối với DNNVV của ngân hàng thương mại
Đối với ngân hàng thương mại
Thứ nhất, với việc mở rộng cho vay DNNVV mang lại nguồn thu cho ngân hàng thương mại
Hiệu quả tín dụng có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng nói chung cũng như tổng thể hoạt động của ngân hàng Hiệu quả tín dụng quyết định khả năng thu hồi vốn và lãi cho ngân hàng Trong khi các khoản cho vay đối với khách hàng (là các tổ chức kinh tế và các cá nhân) chiếm đến 70% tổng tài sản có,
Trang 33nguồn thu nhập từ lãi cho vay là nguồn thu nhập chủ yếu của một ngân hàng thương mại Vì vậy chất hiệu quả dụng quyết định khả năng thu lợi nhuận của ngân hàng Hiệu quả tín dụng tốt không chỉ nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của mỗi ngân hàng riêng lẻ mà còn cho cả hệ thống bởi mối quan hệ mật thiết của các ngân hàng thương mại với tổng thể nền kinh tế cũng như với từng chủ thể kinh tế bằng vai trò thực thi chính sách tiền tệ và điều tiết vĩ mô nền kinh tế của mình
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản, truyền thống của ngân hàng thương mại Đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ cho vay chiếm tới hơn 60% tổng tài sản
có, thu nhập từ hoạt động cho vay cũng chiếm khoảng từ 60% - 70% tổng thu nhập của ngân hàng Trong hoạt động cho vay nói chung, cho vay đối tượng DNNVV vừa đem lại thu nhập cho ngân hàng vừa giúp ngân hàng có thể bán chéo các sản phẩm dịch vụ khác như thanh toán, ngân quỹ tăng thêm thu nhập từ thu phí dịch
vụ Ngoài ra, trong mối quan hệ với ngân hàng, các DNNVV được đánh giá là trung thành nếu một ngân hàng có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu của họ với chính sách hợp
lí, nguồn thu từ đối tượng khách hàng này sẽ mang tính ổn định cao
DNNVV là đối tượng khách hàng đông đảo đầy tiềm năng của NHTM DNNVV chiếm tới hơn 90% tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh tại nhiều nền kinh tế trong quá trình mở rộng hoạt động thường xuyên có nhu cầu về vốn, rõ ràng đây là nhóm khách hàng dồi dào mà ngân hàng cần khai thác
Thứ hai, mở rộng cho vay DNNVV góp phần phân tán rủi ro, ổn định nguồn thu cho ngân hàng
So với các doanh nghiệp lớn các khoản vay của DNNVV có quy mô nhỏ hơn Dư nợ cho vay đối với một doanh nghiệp lớn có thể bằng dư nợ của hàng chục doanh nghiệp nhỏ cộng lại, vì vậy cho vay một doanh nghiệp lớn sẽ đem lại nguồn thu tương đương với cho vay nhiều doanh nghiệp nhỏ mà quản lí không phức tạp bằng Tuy nhiên, khi rủi ro xảy ra đối với các doanh nghiệp lớn sẽ có hậu quả nghiêm trọng cho ngân hàng (Nợ xấu Vinashin công bố năm 2010 tại nhiều NHTM lên đến hơn 10.000 tỷ VNĐ) Cho vay DNNVV sẽ góp phần phân tán rủi ro Nếu như doanh nghiệp lớn tập trung vào một lĩnh vực thì mỗi doanh nghiệp nhỏ lại có lĩnh vực ngành nghề hoạt động riêng Do vậy cho vay nhiều doanh nghiệp nhỏ trong nhiều ngành nghề sẽ giảm thiểu được rủi ro nhờ đa dạng hóa lĩnh vực tài trợ
Trang 34Ngoài ra, trong điều kiện cạnh tranh, các ngân hàng đối thủ thường xuyên đưa ra những điều kiện ưu đãi để thu hút khách hàng, nếu như thu nhập của ngân hàng phụ thuộc vào một đối tượng khách hàng lớn, khi những khách hàng này bỏ đi hoặc hoạt động kém hiệu quả sẽ ảnh hưởng đáng kể đến tổng thu nhập Trong khi
đó nguồn thu từ cho vay các DNNVV mặc dù có tính chất nhỏ lẻ nhưng ngược lại
sẽ đem lại tính ổn định cao hơn
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bên cạnh vấn đề công nghệ và nhân lực thì nguồn vốn là một hạn chế thường gặp của các DNNVV
Thứ nhất, việc nâng cao hiệu quả tín dụng góp phần hình thành kênh cung cấp vốn quan trọng
Các DNNVV thành lập không cần nhiều vốn, có thể dùng vốn tự có của các thành viên, huy động từ các mối quan hệ Tuy nhiên sau khi thành lập, các DNNVV không thể giữ nguyên quy mô hoạt động ban đầu, để tồn tại họ phải tìm cách mở rộng thị phần, nâng cao năng lực hoạt động Bên cạnh đó khoa học công nghệ ngày càng phát triển đòi hỏi sự đầu tư thích hợp từ chủ doanh nghiệp Khi nguồn vốn tự có ban đầu không đáp ứng đủ cho hoạt động, doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn kinh doanh thông qua tích lũy hoặc vay vốn từ bên ngoài Quá trình tích lũy thường tốn nhiều thời gian và không đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp, vì vậy các DNNVV rất cần sự tài trợ từ bên ngoài
So với các kênh huy động khác vốn vay từ ngân hàng có những ưu điểm vượt trội hơn cả đối với các DNNVV
Thứ hai, việc nâng cao hiệu quả tín dụng là động lực để các DNNVV nâng cao hiệu quả hoạt động
Như đã phân tích, vốn vay ngân hàng rất cần thiết cho hoạt động và phát triển của các DNNVV Tuy nhiên, để vay được vốn của ngân hàng trước hết doanh nghiệp phải có phương án kinh doanh hiệu quả đem lại lợi nhuận cho bản thân mình Trong quá trình vay vốn, doanh nghiệp chịu áp lực trả nợ gốc và lãi ngân hàng, điều này buộc các doanh nghiệp phải nâng cao công tác quản lí dòng tiền, bên
Trang 35cạnh đó hiệu quả kinh doanh cũng phải được nâng cao nhằm đạt được mức tỉ suất lợi nhuận cần thiết không chỉ đủ trả nợ mà còn đáp ứng yêu cầu sinh lợi của chủ doanh nghiệp
Thứ ba, việc nâng cao hiệu quả tín dụng từ ngân hàng góp phần hình thành
cơ cấu tối ưu cho doanh nghiệp
Lãi vay từ ngân hàng hạch toán vào chi phí hợp lí được khấu trừ trước khi tính vào thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó việc sử dụng vốn vay sẽ giúp doanh nghiệp có khoản tiết kiệm lãi nhờ thuế Thực tế sẽ không có một cơ cấu vốn nào là tối ưu cho mọi doanh nghiệp, tuy nhiên việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ đem lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ
và vừa
Hiệu quả tín dụng tác động rất lớn đến tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững của ngân hàng Vì vậy, việc xem xét các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả tín dụng là cần thiết
Để nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp phải hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng, từ đó phát huy những ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực Mặt khác cả ngân hàng và doanh nghiệp phải cố gắng linh hoạt để phù hợp với pháp luật của Nhà nước trong hoạt động tín dụng Có như thế thì cả ngân hàng và doanh nghiệp mới có các biện pháp đúng đắn, cụ thể, để đạt được mục tiêu hoạt động của mình một cách tốt nhất Sau đây chúng ta lần lượt nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng ngân hàng
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng nhưng có thể chia thành hai các nhân tố cơ bản sau:
1.1.5.1 Nhân tố liên quan đến môi trường kinh tế và chính sách vĩ mô
Hoạt động của mỗi ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng rất lớn từ môi trường kinh doanh Chính vì vậy, việc nghiên cứu môi trường kinh doanh là hoạt động thường xuyên của ngân hàng thương mại Ta có thể xem xét ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đến hiệu quả tín dụng của ngân hàng thương mại từ các yếu
tố sau:
Trang 36- Tác động của môi trường kinh tế:
Trong điều kiện môi trường chịu những tác động tiêu cực từ môi trường chung của thế giới thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn lớn trong việc sản xuất cũng như tiêu thụ mặt hàng của mình Từ đó ảnh hưởng tới thời hạn trả nợ đúng hạn của doanh nghiệp cũng như khả năng trả khoản vay đó, vì thế mà ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng Nhưng ngược lại khi môi trường chung mà thuân lợi thì doanh nghiệp cũng sẽ nhận được những lợi ích chung mang lại, họ sẽ làm ăn có hiệu quả hơn và từ đó có thể trả được khoản vay đúng hạn, điều này tác động tích cực tới hiệu quả tín dụng
Đây là nhân tố đầu tiên, quan trọng trong nhóm nhân tố khách quan bởi bất
kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng diễn ra trong một môi trường kinh tế nhất định
và chịu tác động mạnh mẽ của môi trường đó
Nhân tố luôn ảnh hưởng đến khả năng tài chính của người vay hay nói rõ hơn là nếu môi trường kinh tế xấu làm cho hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn, ảnh hưởng đến thời hạn trả nợ và khả năng hoàn trả vốn vay cho ngân hàng
do đó ảnh hưởng đến hiệu quả của khoản tín dụng Ngược lại nếu môi trường kinh
tế thuận lợi sẽ tác động tốt đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thu hồi được vốn nhanh, lợi nhuận thu được cao và từ đó khoản vay sẽ được hoàn trả đúng hạn, khoản tín dụng sẽ có hiệu quả tốt
Hoạt động tín dụng ngân hàng có quan hệ mật thiết với nền kinh tế từng giai đoạn và biến cố kinh tế đều có những tác động đến hoạt động ngân hàng: lạm phát, suy thoái hay tăng trưởng kinh tế, thay đổi chính sách thuế, tỷ giá… đều ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng
- Tác động của môi trường pháp lý:
Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt luôn phải hoạt động trong hành lang pháp lý hẹp hơn bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất hay thương mại nào Vì vậy, một hệ thống pháp lý càng hoàn chỉnh, đồng bộ sẽ càng đem lại hiệu quả hoạt động của ngân hàng, của các doanh nghiệp và đảm bảo được hiệu quả tín dụng của các doanh nghiệp đó với ngân hàng Nếu môi trường pháp lý không hoàn chỉnh, có nhiểu lỗ hổng thì kết quả sẽ ngược lại, từ đó làm cho hiệu quả của các khoản tín dụng đối với doanh nghiệp sẽ xấu đi và khó thu hồi
Trang 37Hệ thống pháp luật là cơ sở điều tiết các hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế Đối với ngân hàng thì nó tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng như: Luật TCTD, Luật NHNN…, vậy nếu hệ thống pháp luật ban hành không đầy đủ, không đồng bộ, các văn bản dưới luật thiếu và có những nội dung còn mâu thuẫn, chồng chéo trong khi thực hiện tại các ban, ngành, đơn vị liên quan thì ảnh hưởng mạnh tới hiệu quả hoạt động tín dụng Ngược lại, nếu nó phù hợp với thực tế khách quan thì sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động tín dụng ngân hàng Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân trong nền kinh tế, hành lang pháp lý thông thoáng sẽ tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh tốt hơn, khả năng trả nợ ngân hàng cao hơn, từ đó nâng cao hiệu quả tín dụng Ngược lại, nếu hệ thống pháp lý chồng chéo, mâu thuẫn sẽ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, rủi ro tín dụng có thể xảy ra, từ đó làm giảm sút hiệu quả tín dụng
Như vậy, nhân tố pháp luật có vị trí quan trọng đối với hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng, đặc biệt là hiệu quả tín dụng
- Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước:
Trong nền kinh tế thị trường các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước bao gồm các chính sách tài chính tiền tệ, chính sách lãi suất, chính sách thuế, chính sách đối ngoại có vai trò quan trọng đối với hoạt động của nền kinh tế nói chung
và hoạt động của các ngân hàng, các doanh nghiệp nói riêng Chính sách kinh tế trong hoàn cảnh này có tác dụng tích cực cho cả ngân hàng và doanh nghiệp nhưng trong hoàn cảnh khác thì lại ngược lại Các chính sách này nhằm ưu tiên phát triển hay hạn chế một ngành nào đó để đảm bảo cân đối cho nền kinh tế Do vậy các chủ trương, chính sách của Nhà nước phải đúng đắn mới thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, là điều kiện cần để đạt được chất lượng và hiệu quả của các khoản tín dụng ngân hàng
Chính sách kinh tế của Nhà nước nhằm ưu tiên hay hạn chế sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực để hạn chế những tiêu cực và đảm bảo sự phát triển cân đối trong nền kinh tế cũng tác động định hướng cho hoạt động tín dụng và ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng
Trang 38- Tính cạnh tranh của thị trường:
Tính cạnh tranh của thị trường có ảnh hưởng rất lớn tới nguồn thu, lợi nhuận, thậm chí suy thoái và phá sản của khách hàng, từ đó ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của khách hàng, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng của ngân hàng
- Môi trường chính trị - xã hội:
Tình hình chính trị một quốc gia sẽ tác động đến mọi mặt của đời sống kinh
tế xã hội Một quốc gia ổn định về chính trị sẽ là điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài, bởi các nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà họ còn chú trọng đến việc bảo tồn vốn đầu tư Mặt khác, sự ổn định chính trị của một quốc gia còn làm cho nhu cầu đầu tư, mở rộng quy mô hoạt động của các chủ thể trong nền kinh
tế tăng lên và thúc đẩy lưu thông tiền tệ Chính những hoạt động này tác động gián tiếp đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, trong đó có hoạt động tín dụng, từ đó ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tín dụng của ngân hàng Ngược lại, khi tình hình chính trị của một quốc gia bất ổn sẽ làm hoạt động sản xuất bị đình trệ, kết quả sản xuất kinh doanh bị giảm sút, doanh nghiệp phá sản không trả được nợ ngân hàng
Ngoài ra, đạo đức, tập quán, thói quen và trình độ nhân thức của khách hàng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới khoản vay Trong trường hợp đạo đức xã hội không tốt, lợi dụng lòng tin để lừa đảo sẽ làm giảm hiệu quả tín dụng Hơn nữa, trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết về hoạt động ngân hàng cũng làm giảm hiệu quả tín dụng
- Môi trường khoa học công nghệ:
Sự tiến bộ của khoa học công nghệ quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh, năng lực cạnh tranh, hoạt động của các ngân hàng và đặt ra vấn đề là cả ngân hàng và khách hàng đều phải nắm bắt được những tiến bộ khoa học công nghệ
- Môi trường tự nhiên:
Môi trường tự nhiên đem lại những thuận lợi, khó khăn không thể dự đoán được cho cả ngân hàng và khách hàng Đặc biệt đối với các khoản tín dụng được cấp cho các đơn vị hoạt động chịu tác động lớn của môi trường tự nhiên như: ngành nông nghiệp, khai thác thuỷ hải sản, khai khóang… Những biến động bất khả kháng xảy ra trong môi trường tự nhiên như thiên tai (hạn hán, lũ lụt, động đất…), hoả hoạn làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, từ đó ảnh
Trang 39hưởng tới hoạt động tín dụng của ngân hàng có thể làm cho ngân hàng không có khả năng thu hồi vốn
- Môi trường quốc tế:
Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, vấn đề hội nhập quốc tế là tất yếu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới Tháng 11 năm 2006 nước ta chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO Trong xu thế ấy, hệ thống ngân hàng không chỉ là huyết mạch của nền kinh tế quốc dân mà còn mang trong mình vận hội vươn rộng ra khu vực và thế giới Đó chính là yêu cầu đòi hỏi của mỗi ngân hàng phải nâng cao năng lực tài chính, nâng cao sức mạnh cạnh tranh, đặc biệt là nâng cao hiệu quả tín dụng để phát triển bền vững Ngày 1 tháng 4 năm 2006, theo Quyết định của thống đốc NHNN các ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ thành lập ở Việt Nam Các ngân hàng nước ngoài có tiềm lực về tài chính mạnh, đánh giá thị trường một cách nhạy bén và chính xác, hiệu quả hoạt động tín dụng cao… đó cạnh tranh với các ngân hàng Việt Nam Chính vì vậy, các ngân hàng trong nước phải khẳng định được vị thế của mình trên sân nhà thì mới có thể tồn tại và phát triển được
- Các yếu tố từ thiên tai:
Chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhiều khi mang tính thời vụ Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước có thành phần kinh tế Nhà nước, doanh nghiệp trong các ngành nông - lâm - ngư nghiệp lại chiếm một tỷ lệ không nhỏ thì yếu tố này rất quan trọng Khi thiên tai xảy ra như: lũ lụt, hạn hán, mưa bão, hỏa hoạn, làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị đổ bể, dẫn đến khả năng hoàn trả các khoản nợ là khó khăn hoặc không thể, kéo theo chất lượng của các khoản tín dụng bị giảm sút
- Ổn định kinh tế vĩ mô:
Ổn định kinh tế có tác động trực tiếp và rừ nột đến hoạt động tín dụng ngân hàng, được biểu hiện qua các chỉ số kinh tế vĩ mô như: GDP, lãi suất, tỷ giá, lạm phát…
Khi kinh tế vĩ mô thay đổi sẽ ảnh hưởng đến tiết kiệm, đầu tư và do đó ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng ngân hàng Khi nền kinh tế ổn định, tăng trưởng, sản
Trang 40xuất kinh doanh sẽ được mở rộng, dẫn đến nhu cầu về vốn tăng, Ngược lại, khi nền kinh tế bị suy thoái, sản xuất bị thu hẹp sẽ dẫn đến hoạt động tín dụng ngân hàng gặp khó khăn do nhu cầu vốn tín dụng của các doanh nghiệp giảm
1.1.5.2 Nhóm nhân tố thuộc về ngân hàng
Nguồn vốn của NHTM gồm vốn của chủ Ngân hàng và vốn nợ, không như các DN thông thường, vốn nợ là tài nguyên chính của Ngân hàng, chất lượng và số lượng của nó ảnh hưởng mạnh đến hoạt động tín dụng - hoạt động chủ yếu nhất của mỗi Ngân hàng Ngân hàng không chỉ cố gắng huy động lượng vốn ngày càng lớn
để đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô cho vay và đầu tư đối với khách hàng, mà còn không ngừng đa dạng hoá nguồn vốn để tìm kiếm cơ cấu nguồn có chi phí thấp nhất, ổn định nhất Ngân hàng thực hiện chức năng trung gian tài chính, trung gian thanh toán nên thường xuyên phải duy trì khả năng thanh toán tức là duy trì thanh khoản của mình Có thể nói quy mô và cơ cấu nguồn vốn là một trong trong các nhân tố quyết định đến quy mô, thời hạn tài trợ của Ngân hàng đối với khách hàng
nói chung và DNNVV nói riêng
- Chính sách của ngân hàng
Đây là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng và hiệu quả hoạt động tín dụng Một chiến lược đúng đắn và phù hợp sẽ đảm bảo cho ngân hàng phát triển, ngược lại một chiến lược không phù hợp sẽ có ảnh hưởng xấu đến tất cả hoạt động của ngân hàng Để xây dựng một chiến lược phát triển phù hợp, người ta thường sử dụng Mô hình SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngân hàng Phân tích điểm mạnh, điểm yếu chính là phân tích các yếu tố nội tại của ngân hàng gồm: nguồn vốn, nguồn nhân lực ,… và phân tích cơ hội, thách thức là phân tich các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh bên ngoài như cạnh tranh, thị trường, chính trị, xã hội, pháp luật…
Một chiến lược phát triển phù hợp là một chiến lược phát huy được tối đa các điểm mạnh, khai thác được các cơ hội đồng thời phải hạn chế được tới mức tối thiểu các điểm yếu và vượt qua được các thách thức Một chiến lược phát triển rõ ràng sẽ định hướng hoạt động cho tất cả các nghiệp vụ của ngân hàng trong đó có hoạt động tín dụng