1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả công tác quản lý ngân sách nhà nước ở huyện hạ hòa tỉnh phú thọ

120 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhằm động viên đầy đủ và hợp lý các nguồn thu vào NSNN, tạo nguồn lực tài chính mạnh mẽ, quản lý chi ngân sách có hiệu quả, chính là yếu tố có tính

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

–––––––––––––––––––––––––––––––––

NGUYỄN MINH QUÂN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Ở HUYỆN HẠ HOÀ - TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ QUANG QUÝ

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cám ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Minh Quân

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của tập thể và các cá nhân Trước hết tôi xin chân thành cám ơn các giảng viên khoa Kinh tế, khoa Sau Đại học trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo PGS.TS Đỗ Quang Quý trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các đồng chí lãnh đạo UBND huyện Hạ Hòa, lãnh đạo và chuyên viên Phòng Tài chính - KH huyện, Chi Cục Thống kê huyện, Văn phòng UBND huyện, Chi Cục Thuế huyện Hạ Hòa

đã góp ý và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND huyện Hạ Hòa, lãnh đạo các phòng, ban trong huyện cùng các đồng nghiệp, bạn bè đã cổ vũ động viên

và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện Luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Minh Quân

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 2

5 Bố cục của luận văn 2

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách nhà nước và vai trò của nó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội 4

1.1.1 Lý luận chung về quản lý ngân sách nhà nước 4

1.1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước 4

1.1.1.2 Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước 9

1.1.2 Vai trò của quản lý thu, chi ngân sách nhà nước 10

1.1.2.1 Vai trò của ngân sách nhà nước 10

1.1.2.2 Vai trò quản lý thu ngân sách nhà nước 11

1.1.2.3 Vai trò quản lý chi ngân sách nhà nước 12

1.2 Lý luận về quản lý thu, chi ngân sách nhà nước 13

1.2.1 Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu, chi ngân sách nhà nước ở địa bàn huyện Hạ Hòa 13

1.2.2 Đặc điểm quản lý thu, chi ngân sách nhà nước 15

1.3 Nội dung cơ bản về quản lý thu ngân sách nhà nước 16

1.3.1 Nội dung quản lý thu thuế 16

1.3.2 Nội dung quản lý thu phí, lệ phí 19

1.3.3 Nội dung cơ bản về quản lý chi ngân sách nhà nước 20

1.3.3.1 Quản lý chi đầu tư phát triển 20

1.3.3.2 Nội dung quản lý chi thường xuyên 23

Trang 5

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 28

2.2 Phương pháp nghiên cứu 29

2.2.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin 29

2.2.1.1 Thông tin thứ cấp 29

2.2.1.2 Thông tin sơ cấp 29

2.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 30

2.2.2.1 Phương pháp tổng hợp thông tin 30

2.2.2.2 Xử lý thông tin 31

2.2.2.3 Các phương pháp sử dụng và phân tích thông tin 32

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 32

Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở HUYỆN HẠ HOÀ 38

3.1 Thực trạng quản lý ngân sách ở huyện Hạ Hòa 38

3.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của huyện Hạ Hòa có liên quan đến quá trình quản lý ngân sách nhà nước 38

3.1.2 Giới thiệu về phòng Tài chính - kế hoạch của Huyện Hạ Hoà 43

3.1.3.Thực trạng thu ngân sách nhà nước 46

3.1.4 Thực trạng chi ngân sách nhà nước 52

3.1.5 Kết quả đạt được về quản lý thu, chi ngân sách nhà nước 57

3.1.6 Kết quả đạt được về quản lý thu ngân sách nhà nước 57

3.1.7 Kết quả đạt được về quản lý chi ngân sách nhà nước của huyện Hạ Hoà giai đoạn 2008-2012 61

3.2 Những hạn chế, yếu kém trong quá trình quản lý thu, chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2008 - 2012 64

3.2.1 Hạn chế, yếu kém về quản lý thu ngân sách nhà nước 64

3.2.2 Tồn tại, yếu kém về quản lý chi ngân sách nhà nước 68

3.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém về quản lý thu, chi ngân sách nhà nước 75 3.2.4 Nguyên nhân hạn chế, yếu kém về quản lý thu NSNN 75

3.2.5 Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém về quản lý chi ngân sách nhà nước 78

Trang 6

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN

SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HẠ HOÀ 82

4.1 Phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đến năm 2015 82

4.1.1 Quan điểm về công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Hạ Hòa đến năm 2015 83

4.1.2 Định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của huyện Hạ Hòa giai đoạn 2013-2015 84

4.1.3 Một số chỉ tiêu chủ yếu về định hướng phát triển 85

4.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước ở huyện Hạ Hòa 85

4.2.1 Nhóm giải pháp quản lý thu ngân sách nhà nước 85

4.2.2 Nhóm giải pháp về quản lý thu thuế 85

4.2.3 Các biện pháp quản lý thu ngoài thuế 94

4.2.4 Nhóm giải pháp quản lý chi ngân sách nhà nước 95

4.2.5 Nâng cao hiệu quả quản lý chi đầu tư phát triển 95

4.2.6 Đổi mới quản lý chi thường xuyên 98

4.2.7 Củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ quản lý tài chính ngân sách 101

4.2.8 Nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi ngân sách của kho bạc Nhà nước 103

4.2.9 Tăng cường công tác thanh tra tài chính, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm 104

4.2.10 Tăng cường sự lãnh đạo của Huyện ủy và sự điều hành của Uỷ ban nhân dân huyện Hạ Hoà đối với quản lý chi ngân sách nhà nước 105

4.2.11 Thực hiện nghiêm túc việc công khai tài chính các cấp 106

4.2.12 Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan tài chính, thuế, kho bạc Nhà nước và các cơ quan liên quan trong công tác quản lý ngân sách 106

4.3 Một số kiến nghị 107

4.3.1 Đối với Chính phủ, Bộ Tài chính 107

4.3.2 Đối với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ 108

KẾT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 7

KBNN : Kho bạc nhà nước UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của huyện Hạ Hoà trong 5 năm

(2008-2012) 39 Bảng 3.2: Thu NSNN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và huyện Hạ Hoà 47 Bảng 3.3: Tổng hợp thu ngân sách trên địa bàn huyện theo từng lĩnh vực 49 Bảng 3.4: Tổng hợp thực hiện thu ngân sách so với dự toán thu ngân sách hàng năm trên

địa bàn huyện theo từng lĩnh vực 50 Bảng 3.5: Cơ cấu các khoản thu cân đối ngân sách nhà nước 50 Bảng 3.6: Tổng hợp chi ngân sách huyện Hạ Hoà (2008 - 2012) 53 Bảng 3.7: Tổng hợp thực hiện chi ngân sách so với dự toán chi ngân sách hàng năm trên

địa bàn huyện 55

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN ở nước ta đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng một cách có hiệu quả các công cụ, chính sách tài chính, tiền tệ, đặc biệt là chính sách thu, chi ngân sách nhà nước (NSNN) Điều này góp phần khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường thông qua việc sử dụng bàn tay hữu hình, chủ yếu là chính sách tài chính nhằm điều tiết nền kinh tế có hiệu quả Mặt khác thông qua sử dụng các công cụ này mới có thể quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, động viên toàn bộ nguồn lực để phát triển KT-XH, đáp ứng yêu cầu của cuộc đổi mới đất nước

Trong bối cảnh chung của đất nước, huyện Hạ Hoà tỉnh Phú Thọ những năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn về KT-XH, bộ mặt đô thị ngày càng đổi mới Qua gần 10 năm thực hiện Luật NSNN, cân đối ngân sách huyện đang ngày càng vững chắc, nguồn thu ngân sách ngày càng tăng, không những đảm bảo được những yêu cầu chi thiết yếu của bộ máy quản lý nhà nước mà còn dành phần đáng kể cho đầu tư phát triển Tuy nhiên, thực trạng hiện nay công tác quản lý thu, chi ngân sách của huyện vẫn còn nhiều khiếm khuyết, hạn chế Thu ngân sách vẫn chưa bao quát các nguồn thu trên địa bàn, vẫn còn tình trạng thất thu, nguồn thu ngân sách còn hạn chế… Hiệu quả các khoản chi ngân sách còn thấp, chi đầu tư còn dàn trải, thiếu tập trung dẫn đến hiệu quả đầu tư còn thấp, gây lãng phí; chi thường xuyên còn vượt dự toán

Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhằm động viên đầy đủ và hợp lý các nguồn thu vào NSNN, tạo nguồn lực tài chính mạnh mẽ, quản lý chi ngân sách có hiệu quả, chính là yếu tố có tính quyết định để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH của huyện trong giai đoạn 2011 – 2015 mà Nghị quyết Đại hội Đảng

bộ huyện Hạ Hoà lần thứ XIX đề ra

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý Ngân sách nhà nước ở huyện Hạ Hoà - tỉnh Phú Thọ” là nhằm góp phần giải quyết vấn

đề cấp bách nói trên

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung: Vận dụng lý luận về ngân sách nhà nước, quản lý thu, chi

ngân sách nhà nước để phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu, chi ngân sách nhà nước của huyện Hạ Hoà Từ đó đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu, chi NSNN của huyện Hạ Hoà trong thời gian tới

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn chủ yếu nghiên cứu công tác quản lý thu, chi ngân sách nhà nước huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ từ năm 2008 đến năm 2012

3.2 Phạm vi nghiên cứu

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà Nước Việt Nam về quản lý tài chính, ngân sách; kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung gần gũi với đề tài

Về phương pháp nghiên cứu: vận dụng các phương pháp chung, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp so sánh, khái quát hóa vấn đề, bảng biểu minh họa

5 Bố cục của luận văn

Qua thực tiễn tại đơn vị phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Hạ Hoà, em đã nhận thấy rõ được kiến thức về công tác quản lý điều hành Ngân sách Nhà nước nói chung và ngân sách cấp huyện nói riêng Em mong rằng một số ý kiến đề xuất của

Trang 11

cá nhân em sẽ đóng góp phần nào nhỏ bé vào công tác quản lý điều hành ngân sách tại địa phương và luật Ngân sách Nhà nước

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của Thầy giáo Đỗ Quang Quý khoa sau đại học, trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên cùng tập thể các đồng chí trong phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Hạ Hoà đã giúp

em hoàn thành chuyên đề tài này Mong rằng các bạn đọc đóng góp ý kiến tham gia những khiếm khuyết và thiếu xót trong đề tài này

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách nhà nước

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước ở huyện Hạ Hoà

Chương 4 Các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước ở huyện Hạ Hoà

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách nhà nước và vai trò của nó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

1.1.1 Lý luận chung về quản lý ngân sách nhà nước

1.1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước

NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời,tồn tại và phát triển trên

cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 đã xác định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ.Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực hiện mục tiêu KT-XH NSNN được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua

NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Quỹ này thể hiện lượng tiền huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nước, có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động Mặt tĩnh thể hiện các nguồn tài chính được tập trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định được vào bất kỳ thời điểm nào Mặt động thể hiện các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung vào NSNN và từ NSNN phân bổ các nguồn tài chính cho các ngành, các lĩnh vực, các địa phương của nền kinh tế quốc dân

NSNN là một phạm trù kinh tế tài chính, được coi là một hệ thống quan hệ kinh tế tồn tại khách quan Hệ thống các quan hệ kinh tế này được đặc trưng bởi quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính và bằng các

Trang 13

quan hệ kinh tế đó mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được tạo lập và sử dụng.Hệ thống các quan hệ kinh tế này bao gồm:

- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp

- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính sự nghiệp

- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư

- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa NSNN với các quan hệ kinh tế

Như vậy đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN là một loại quỹ tiền tệ của Nhà nước với các khoản thu và các khoản chi của nó thì NSNN lại phản ảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối, thể hiện các quan hệ phân phối

và các quan hệ lợi ích kinh tế gắn với một chủ thể đặc biệt, đó là Nhà nước nhằm tạo lập và sử dụng nguồn tài chính quốc gia để giải quyết các nhiệm vụ về KT-XH

Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách

Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hệ thống NSNN được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy quản lý hành chính nhà nước Ở nước ta bộ máy quản

lý hành chính Nhà nước được tổ chức 4 cấp: Trung ương; tỉnh, huyện trực thuộc TW; quận, huyện, thị xã, huyện thuộc tỉnh và xã, thị trấn, thị trấn Mỗi cấp chính quyền đều phải có ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật và phù hợp với khả năng quản lý của cấp chính quyền đó

Trang 14

Quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo những nguyên tắc cơ bản sau:

- Ngân sách Trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể

- Ngân sách TW đóng vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ các địa phương chưa cân đối được ngân sách

- Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu để chủ động thực hiện những nhiệm vụ được giao

- Nhiệm vụ chi thuộc cấp ngân sách nào do cấp ngân sách đó cân đối Trường hợp cơ quan QLNN cấp trên ủy quyền cho cơ quan QLNN cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó

- Thực hiện phân chia theo tỷ lệ % đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương Tỷ lệ % phân chia các khoản thu và số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định

từ 3-5 năm Số bổ sung từ ngân sách cấp trên được coi là khoản thu của ngân sách cấp dưới

- Ngoài cơ chế bổ sung nguồn thu và cơ chế ủy quyền không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác

NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai minh bạch, có sự phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm, nguyên tắc cân đối Các nguyên tắc này xuất phát từ các lý do sau:

Tổ chức bộ máy hành chính của Nhà nước Việt Nam là thống nhất từ TW đến địa phương dưới sự lãnh đạo và điều hành của Quốc hội và Chính phủ Ngân sách cấp dưới là một bộ phận không thể tách rời của ngân sách cấp trên; Ngân sách

TW và ngân sách địa phương hợp thành một chỉnh thể NSNN thống nhất Nguồn tài chính quốc gia được tạo ra từ một cơ cấu kinh tế thống nhất, được phân bổ trên các vùng lãnh thổ của quốc gia cho nên NSNN là một thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các khoản thu, các khoản chi của Nhà nước trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước Hệ thống tổ chức và quản lý NSNN là thống nhất từ TW đến địa phương dưới sự lãnh đạo và điều hành của Quốc hội và Chính phủ Các cơ chế, chính sách thu chi và phương thức quản lý NSNN phải được thực hiện thống nhất do Quốc hội, Chính phủ quy định

Trang 15

Nguyên tắc tập trung được thiết lập nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống NSNN và tăng cường quyền lực của chính quyền TW Tuy nhiên để phù hợp với xu thế phát triển nền dân chủ chính trị, đi đôi với việc tăng cường tập trung quyền lực của chính quyền TW cần phải đẩy mạnh thể chế dân chủ thông qua việc phân cấp quản lý NSNN và tăng quyền tự chủ cho các cấp ngân sách trong việc tổ chức và khai thác tối đa nguồn lực của địa phương để thúc đẩy sự phát triển của địa phương Việc phân cấp mà nội dung cốt lõi của nó là sự phân quyền nhưng đồng thời phải tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chủ thể quản lý đối với NSNN

Nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý NSNN xuất phát từ xu hướng mở rộng dân chủ trong hệ thống chính trị Người dân nộp thuế cho Nhà nước

có quyền yêu cầu Chính phủ phải công khai minh bạch các khoản thu, chi của NSNN để đánh giá mức độ hiệu quả và trách nhiệm của các cấp chính quyền Nhà nước trong việc sử dụng nguồn lực tài chính công Và để thực hiện nội dung này Chính phủ cũng đã có những quy định cụ thể để công khai ngân sách các cấp NSNN vừa đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch vừa phải được kiểm tra, kiểm soát theo một cơ chế được tổ chức chặt chẽ, thông qua việc sử dụng có hiệu quả các công cụ kế toán, kiểm toán, thanh tra tài chính

Ngân sách huyện, quận, thị

xã, thành phố thuộc tỉ nh

Ngân sách xã, phường,

thị trấn

Ngân sách địa phương

Trang 16

Khi đã hình thành hệ thống NSNN gồm nhiều cấp thì việc phân cấp ngân sách là một tất yếu khách quan Thực chất của phân cấp ngân sách là giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong toàn bộ hoạt động của NSNN Thông qua phân cấp NSNN, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trong thu chi NSNN được xác định cụ thể; đồng thời, phân cấp NSNN còn phản ánh mối quan hệ

về lợi ích kinh tế giữa các cấp ngân sách, giữa các địa phương, giữa địa phương với quốc gia Phân cấp ngân sách gắn liền với nội dung phân cấp hành chính Phân cấp ngân sách không chỉ tập trung vào việc nâng cao tính tự chủ của chính quyền địa phương mà còn phải hướng đến nâng cao tính trách nhiệm về chính trị, tính hiệu quả và minh bạch

* Nội dung chủ yếu của phân cấp ngân sách là:

- Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong việc ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức tài chính Đây là nội dung chủ yếu của phân cấp ngân sách

- Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nguồn thu, nhiệm

vụ chi và cân đối ngân sách Đây là mối quan hệ lợi ích nên trong thực tế giải quyết mối quan hệ này rất phức tạp, gay cấn Do đó phải xác định rõ nhiệm vụ kinh tế, chính trị của mỗi cấp chính quyền Phân cấp này phải ổn định và đảm bảo cho NSTW giữ vai trò chủ đạo, tập trung những nguồn thu lớn để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng trên phạm vi cả nước, đồng thời những nhiệm vụ nào ổn định mang tính thường xuyên, có tính xã hội rộng phân cấp cho chính quyền địa phương

- Giải quyết mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách Đó là quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách

* Nguyên tắc phân cấp NSNN:

- Phân cấp NSNN phải phù hợp với Hiến pháp, với Luật tổ chức HĐND và UBND các cấp Nguyên tắc này đảm bảo tính pháp lý cho mỗi chính quyền về quyền hạn trách nhiệm trong điều hành NSNN các cấp Đồng thời phân cấp NSNN phải đồng bộ với phân cấp quản lý kinh tế nhằm đảm bảo sự phù hợp giữa nguồn thu và nhiệm vụ chi được giao

Trang 17

- Phân cấp NSNN phải đảm bảo tính hiệu quả Nguyên tắc này yêu cầu phân cấp NSNN không dẫn đến sự chia cắt nguồn thu ngân sách, làm suy yếu và phân tán nguồn tài chính quốc gia Phân cấp NSNN phải đảm bảo sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp trong hệ thống ngân sách để hướng vào phục vụ lợi ích chung của quốc gia Bên cạnh đó, phân cấp NSNN phải mang tính ổn định để tạo điều kiện cho các cấp ngân sách chủ động khai thác và bồi dưỡng nguồn thu, tiến đến cân đối ngân sách địa phương nhằm thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được giao

- Phân cấp NSNN phải đảm bảo tính công bằng Mục đích của phân cấp là nhằm sử dụng nguồn lực tài chính công có hiệu quả hơn trong việc cung cấp hàng hóa công cho xã hội Do đó phân cấp nguồn thu phải tương ứng với nhiệm vụ chi được giao để các cấp chính quyền cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho dân một cách tốt nhất Ngoài ra, phân cấp ngân sách phải đảm bảo phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương, tạo cho người dân được hưởng thụ lợi ích phúc lợi công cộng do Nhà nước cung cấp là như nhau giữa các vùng, miền khác nhau

1.1.1.2 Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước

Quản lý chi ngân sách là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách

có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật Chi ngân sách mới thể hiện ở khâu phân bổ ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì phải thông qua các biện pháp quản lý

Rõ ràng quản lý chi ngân sách sẽ quyết định hiệu quả sử dụng vốn ngân sách

Quản lý chi NSNN là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối

và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của Nhà nước Thực chất quản lý chi NSNN là quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng ngân sách đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt

ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nước phục vụ các mục tiêu KT-XH

Vấn đề quan trọng trong quản lý chi NSNN là việc tổ chức quản lý giám sát các khoản chi sao cho tiết kiệm và có hiệu quả cao, muốn vậy cần phải quan tâm các mặt sau:

Trang 18

- Quản lý chi phải gắn chặt với việc bố trí các khoản chi làm cơ sở cho việc quản lý xây dựng quy chế kiểm tra, kiểm soát

- Bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí và quản lý các khoản chi tiêu ngân sách nhà nước

- Quản lý chi phải thực hiện các biện pháp đồng bộ, kiểm tra giám sát trước, trong và sau khi chi

- Phân cấp quản lý các khoản chi cho các cấp chính quyền địa phương và các

tổ chức trên cơ sở phải phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển KT-XH của các cấp theo luật ngân sách để bố trí các khoản chi cho thích hợp

- Quản lý chi ngân sách phải kết hợp quản lý các khoản chi ngân sách thuộc vốn nhà nước với các khoản chi thuộc nguồn của các thành phần kinh tế để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả chi

1.1.2 Vai trò của quản lý thu, chi ngân sách nhà nước

1.1.2.1 Vai trò của ngân sách nhà nước

NSNN là khâu tài chính tập trung quan trọng nhất, là kế hoạch tài chính cơ bản, tổng hợp của Nhà nước Nó giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính và có vai trò quyết định sự phát triển của nền KT-XH Vai trò của NSNN được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn cụ thể Phát huy vai trò của NSNN như thế nào là thước đo đánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo của Nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, NSNN

có các vai trò chủ yếu sau:

Thứ nhất, với chức năng phân phối, ngân sách có vai trò huy động nguồn tài

chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thực hiện sự cân đối thu chi tài chính của Nhà nước Đó là vai trò truyền thống của NSNN trong mọi mô hình kinh

tế Nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình

Thứ hai, NSNN là công cụ tài chính của Nhà nước góp phần thúc đẩy sự tăng

trưởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế vĩ mô Nhà nước sử dụng NSNN như là công cụ tài chính để kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường, giá cả cũng như giải quyết các nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn định KT-XH Muốn thực hiện tốt vai trò này NSNN phải có quy mô đủ lớn để Nhà nước thực hiện các chính sách tài khóa phù

Trang 19

hợp (nới lỏng hay thắt chặt) kích thích sản xuất, kích cầu để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội

Thứ ba, NSNN là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm khuyết

của kinh tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển bền vững Kinh tế thị trường phân phối nguồn lực theo phương thức riêng của

nó, vận hành theo những quy luật riêng của nó Mặt trái của nó là phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng trong xã hội, tạo ra sự bất bình đằng trong phân phối thu nhập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định xã hội Bên cạnh đó do mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên các chủ sở hữu nguồn lực thường khai thác tối đa mọi nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bị hủy hoại, nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần nhưng khu vực tư nhân không cung cấp như hàng hóa công cộng Do đó nếu để kinh tế thị trường tự điều chỉnh mà không có vai trò của Nhà nước thì sẽ phát triển thiếu bền vững Vì vậy Nhà nước sử dụng NSNN thông qua công cụ là chính sách thuế khóa và chi tiêu công để phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong

xã hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ công cho xã hội, chú ý phát triển cân đối giữa các vùng, miền đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường

1.1.2.2 Vai trò quản lý thu ngân sách nhà nước

Quản lý thu NSNN đóng vai trò rất quan trọng, thể hiện:

Thứ nhất, quản lý thu NSNN là công cụ quản lý của Nhà nước để kiểm soát,

điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, kiểm soát thu nhập của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm động viên sự đóng góp đảm bảo công bằng, hợp lý Các nhà nước trong lịch sử đều sử dụng công cụ thuế để ổn định và phát triển nền kinh tế, chống lại các hành vi kinh doanh phạm pháp

Thứ hai, quản lý thu NSNN là công cụ động viên, huy động các nguồn lực tài

chính cần thiết nhằm tạo lập quỹ tiền tệ tập trung của NSNN Huy động các nguồn tài chính cần thiết vào nhà nước là nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống thu dưới bất kỳ chế

độ nào, đó là đòi hỏi tất yếu của mọi nhà nước Nhà nước muốn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ lịch sử của mình tất yếu phải có nguồn tài chính Nguồn tài chính mà Nhà nước có được đại bộ phận do quản lý tốt nguồn thu ngân sách mang lại

Thứ ba,quản lý thu NSNN là nhằm khai thác, phát hiện, tính toán chính xác

các nguồn tài chính của đất nước để có thể động viên được và cũng đồng thời không ngừng hoàn thiện các chính sách, các chế độ thu để có cơ chế tổ chức quản lý hợp lý

Trang 20

Đây là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước trong quá trình tổ chức quản lý kinh tế

Thứ tư, quản lý thu ngân sách góp phần tạo môi trường bình đẳng, công bằng

giữa các thành phần kinh tế,giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong quá trình sản xuất kinh doanh Với hình thức thu và mức thu thích hợp kèm với các chế

độ miễn giảm công bằng, thu NSNN có tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh của cơ sở Với sự tác động quản lý thu ngân sách sẽ góp phần tạo nên môi trường kinh tế thuận lợi đối với quá trình sản xuất kinh doanh Đồng thời nó là công

cụ quan trọng góp phần thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội

Thứ năm, quản lý thu ngân sách có vai trò tác động đến sản lượng và sản

lượng tiềm năng, cân bằng của nền kinh tế Việc tăng mức thuế quá mức thường dẫn tới giảm sản lượng trong nền kinh tế, tức là thu hẹp quy mô của nền kinh tế Ngược lại, giảm mức thuế chung có xu thế làm tăng sản lượng cân bằng Trong nền kinh tế thị trường, người ta sử dụng tính chất này để điều chỉnh quy mô sản lượng của nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp và hộ kinh doanh

1.1.2.3 Vai trò quản lý chi ngân sách nhà nước

Quản lý chi NSNN có vai trò rất to lớn, thể hiện:

Thứ nhất, thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi NSNN nhằm

tăng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, đảm bảo tiết kiệm,có hiệu quả Thông qua quản lý các khoản cấp phát của chi NSNN sẽ có tác động khác nhau đến đời sống KT-XH, giữ vững ổn định, đặc biệt là giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội như: xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, các hoạt động mang tính cộng đồng Quản lý chi tiêu của NSNN có hiệu quả sẽ tác động vào kích cầu khi nền kinh tế bị giảm sút hoặc cắt giảm chi tiêu chính phủ để bình ổn giá cả thúc đẩy sản xuất phát triển, hình thành quỹ dự phòng trong NSNN để ứng phó với những biến động của thị trường

Thứ hai, thông qua quản lý các dự án đầu tư phát triển nhằm phục vụ chuyển

dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả Quản lý chi ngân sách góp phần điều tiết thu nhập dân cư thực hiện công bằng xã hội Trong tình hình phân hoá giàu nghèo ngày càng gia tăng chính sách chi NSNN và quản lý chi NSNN sẽ giảm bớt khoảng cách phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, các khu vực, các tầng lớp dân cư, góp phần khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường

Vai trò của quản lý chi ngân sách trong việc phục vụ cho việc chuyển dịch cơ

Trang 21

cấu kinh tế ở tầm vĩ mô được thể hiện rất rõ Đồng thời vai trò của nó còn thể hiện ở chỗ thông qua đầu tư và quản lý vốn đầu tư sẽ tạo ra điều kiện rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa Có thể nói quản lý chi ngân sách có hiệu quả là yếu tố góp phần thúc đẩy phát triển bền vững

Thứ ba, quản lý chi NSNN có vai trò điều tiết giá cả, chống suy thoái và

chống lạm phát Khi nền kinh tế lạm phát và suy thoái nhà nước phải sử dụng công

cụ chi ngân sách để khắc phục tình trạng này Sự mất cân đối giữa cung - cầu sẽ tác động đến giá cả giá cả tăng hoăc giảm Để đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng, nhà nước sử dụng công cụ chi ngân sách để điều tiết, can thiệp vào thị trường dưới hình thức cắt giảm chi tiêu, cắt giảm đầu tư hoặc tăng đầu tư, tăng chi tiêu cho bộ máy QLNN, cũng như trợ vốn, trợ giá và sử dụng quỹ dự trữ của nhà nước Trong quá trình điều tiết thị trường việc quản lý chi ngân sách có vai trò rất lớn đến trong viêc chống lạm phát và suy thoái, kích cầu nền kinh tế Khi nền kinh tế lạm phát nhà nước cắt giảm chi tiêu, thắt chặt chính sách tiền tệ để hạn chế tổng cung tổng cầu, hạn chế đầu tư của xã hội làm cho giá cả dần dần ổn định, chống lạm phát Khi nền kinh suy thoái, sức mua giảm sút nhà nước tăng chi đầu tư để tăng cung, tăng cầu, tạo việc làm, kích cầu chống suy thoái nền kinh tế

Thứ tư, để duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế, Nhà nước sử dụng công

cụ chi ngân sách Thông qua quản lý các khoản chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, Nhà nước sẽ điều chỉnh phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng cụ thể, tạo

ra sự kích thích tăng trưởng nền kinh tế thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư vào

các ngành kinh tế mũi nhọn, đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu

kinh tế mở để nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế

1.2 Lý luận về quản lý thu, chi ngân sách nhà nước

1.2.1 Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu, chi ngân sách nhà nước ở địa bàn huyÖn H¹ Hoµ

Thứ nhất, huyÖn H¹ Hoµ là một cấp hành chính rất quan trọng trong hệ thống

hành chính ở nước ta hiện nay với những chức năng nhiệm vụ được quy định trong luật tổ chức HĐND và UBND các cấp, tuy nhiên cấp này chỉ mang tính độc lập tương đối, chịu sự lãnh đạo toàn diện của tỉnh

Thứ hai, theo luật NSNN hiện hành, ngân sách cấp huyÖn là một cấp ngân

sách hoàn chỉnh với nguồn thu và nhiệm vụ chi được quy định cụ thể để đảm bảo

Trang 22

hoàn thành chức năng nhiệm vụ của cấp huyện thuộc tỉnh Tuy nhiên do luật ngân sách cũng đã quy định đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách thì Quốc hội quyết định tỷ lệ điều tiết ngân sách giữa Trung ương và địa phương, còn HĐND tỉnh thì quyết định tỷ lệ điều tiết giữa ngân sách tỉnh, ngân sách huyện (và quận, huyện, thị xã) và ngân sách xã Do đó có thể thấy rằng quy mô ngân sách, khả năng tự cân đối của ngân sách cấp huyện thuộc tỉnh hoàn toàn phụ thuộc vào việc phân cấp nguồn thu, phân cấp nhiệm vụ chi của tỉnh đối với huyÖn cũng như tỷ lệ điều tiết ngân sách giữa ngân sách tỉnh và ngân sách huyÖn Hay có thể nói ngân sách huyện có tự cân đối chủ động trong điều hành được hay không phần lớn phụ thuộc vào ý chí của HĐND, UBND tỉnh

Thứ ba, do không phải là cấp có thể hình thành các chính sách, chế độ về

thu, chi ngân sách nên nội dung thu, chi của ngân sách huyện do tỉnh (cụ thể là HĐND &UBND tỉnh) quyết định, do đó trong thực tiễn hay phát sinh mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ phát triển KT-XH ở địa phương cũng như những nhiệm vụ chi được giao thêm với cân đối ngân sách đã được ổn định (với thời gian từ 3-5 năm theo luật ngân sách quy định) Điều này đặt ra yêu cầu là các cơ quan hoạch định chính sách, xây dựng chính sách chế độ thu, chi ngân sách, tham mưu việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ điều tiết cho ngân sách cấp huyện phải xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn đầy đủ để tham mưu cơ quan có thẩm quyền của tỉnh quyết định, tránh yếu tố cảm tính, thiếu cơ sở khoa học Đồng thời phân cấp phải trên quan điểm tăng quyền chủ động của ngân sách huyện cũng như xã thị trấn

để tạo điều kiện cho huyện và xã thị trấn hoàn thành ngày càng tốt hơn nhiệm vụ phát triển KT-XH ở địa phương

Thứ tư, cũng vì những đặc điểm trên có thể thấy quy mô ngân sách huyện

thường không ổn định qua các giai đoạn Đối với nguồn thu của ngân sách huyện thường chủ yếu là các khoản thu về thuế, phí, lệ phí, thu chuyển quyền sử dụng đất

và thu khác, trong đó thu từ thuế và phí, lệ phí là nguồn thu quan trọng chiếm tỷ trọng từ 70-80% tổng thu ngân sách Tuy nhiên trong thực tế cũng thấy rằng khoản thu thuế được giao chủ yếu là các sắc thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp từ khu vực ngoài quốc doanh, đây là khoản thu rất khó thực hiện, quy

mô số thu không lớn nhưng chi phí phải bỏ ra cho công tác thu không nhỏ và đây cũng là địa chỉ của những sai phạm trong việc chấp hành luật thuế như gian lận

Trang 23

thương mại, trốn thuế, mua bán hóa đơn… Còn đối với chi ngân sách thường thì xảy ra tình trạng mâu thuẫn giữa nhiệm vụ chi được giao và nguồn để trang trải nhiệm vụ chi (thể hiện qua công tác giao dự toán hàng năm), đôi khi tạo ra cảm giác không bình đẳng, có sự ấn định chưa hợp lý từ cấp tỉnh

1.2.2 Đặc điểm quản lý thu, chi ngân sách nhà nước

Quản lý thu, chi ngân sách là hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực tài chính ngân sách Quá trình quản lý thu, chi ngân sách thường bị chi phối bởi các nhân tố sau:

Thứ nhất, nhân tố về thể chế tài chính Thể chế tài chính quy định phạm vi,

đối tượng thu, chi của các cấp chính quyền; quy định, chế định việc phân công, phân cấp nhiệm vụ chi, quản lý chi của các cấp chính quyền; quy định quy trình, nội dung lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý thu,chi ngân sách, sử dụng quỹ ngân sách Thể chế tài chính quy định, chế định những nguyên tắc, chế độ, định mức chi tiêu Do vậy, nói đến nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu, chi ngân sách trước hết phải nói đến thể chế tài chính Vì nó chính là những văn bản của Nhà nước có tính quy phạm pháp luật chi phối mọi quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý thu, chi ngân sách Thực tế cho thấy nhân tố về thể chế tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý thu chi ngân sách trên một lãnh thổ địa bàn nhất định, do vậy đòi hỏi phải ban hành những thể chế tài chính đúng đắn phù hợp mới tạo điều kiện cho công tác nói trên đạt được hiệu quả

Thứ hai, nhân tố về bộ máy và cán bộ Khi nói đến cơ cấu tổ chức một bộ máy

quản lý thu, chi ngân sách người ta thường đề cập đến quy mô nhân sự của nó và trong sự thiết lập ấy chính là cơ cấu tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý thu, chi ngân sách và các mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các bộ phận trong quá trình thực hiện chức năng này Hay nói cách khác, điều quan trọng hơn cả là phải thiết lập cụ thể rõ ràng, thông suốt các “mối quan hệ ngang” và các “mối quan hệ dọc”

Sự thiết lập ấy được biểu hiện thông qua qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cấp, các bộ phận trong tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý thu chi ngân sách Quy định chức năng nhiệm vụ của bộ máy và cán bộ quản lý thu, chi theo chức năng trách nhiệm quyền hạn giữa bộ phận này với bộ phận khác, giữa cấp trên với cấp dưới trong quá trình phân công phân cấp quản lý đó Nếu việc quy định

Trang 24

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp huyện không rõ ràng, cụ thể thì dễ xảy ra tình trạng hoặc thiếu trách nhiệm, hoặc lạm quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý thu, chi ngân sách Nếu bộ máy và cán bộ năng lực trình độ thấp thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý thu, chi ngân sách Do đó tổ chức bộ máy và cán bộ là nhân tố rất quan trọng trong quá trình tổ chức quản lý thu,chi ngân sách

Thứ ba, nhân tố về trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập Việc quản lý

thu, chi ngân sách luôn chịu ảnh hưởng của nhân tố về trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập của người dân trên địa bàn Khi trình độ kinh tế phát triển và mức thu nhập bình quân của người dân tăng lên, không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động nguồn ngân sách và sử dụng có hiệu quả, mà nó còn đòi hỏi các chính sách, chế độ, định mức kinh tế - tài chính, mức chi tiêu ngân sách phải thay đổi phù hợp với sự phát triển kinh tế và mức thu nhập, mức sống của người dân Do đó, ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, người ta luôn quan tâm chú trọng đến nhân

tố này, trong qúa trình quản lý hoạch định của chính sách thu chi NSNN

Thực tế cho thấy,khi trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập bình quân trên địa bàn còn thấp cũng như ý thức về sử dụng các khoản chi chưa được đúng mức còn

có tư tưởng ỷ lại Nhà nước thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chi NSNN Khi chúng ta thực hiện tốt những vấn đề thu ngân sách trong đó có nhiều nhân tố tác động nhưng trình độ mức sống của người dân ngày càng nâng cao thì việc thực hiện nghĩa

vụ đối với Nhà nước có thể rất dễ dàng Trường hợp nếu trình độ và mức sống còn thấp thì việc thu thuế cũng rất khó khăn

1.3 Nội dung cơ bản về quản lý thu ngân sách nhà nước

Việc nghiên cứu toàn diện việc quản lý thu NSNN bao gồm rất nhiều vấn đề

và rất rộng, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ tập trung trình bày một số vấn đề về quản lý thu thuế và các khoản phí, lệ phí Đây là các khoản thu chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng thu NSNN nhất là NSNN của cấp huyện thuộc Tỉnh

1.3.1 Nội dung quản lý thu thuế

Như chúng ta đã biết, thuế là nguồn thu chính chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng ngày càng tăng trong tổng thu NSNN Đồng thời thuế cũng là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều chỉnh kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế và thực hiện công bằng xã hội Do vậy quản lý thu thuế nói chung và quản lý thu thuế ở địa phương có ý nghĩa đặt biệt quan trọng trong quản lý NSNN Quản lý thu

Trang 25

thuế là hệ thống các biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu ngân sách thực hiện

Quản lý thu thuế phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật Quy trình xây dựng các biện pháp

quản lý thuế phải xuất phát từ các luật thuế, nằm trong khuôn khổ luật quy định Nguyên tắc này cũng đòi hỏi các biện pháp quản lý thuế của Nhà nước cũng phải phù hợp với quy định chung về thuế của các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là sau khi chúng ta gia nhập WTO

Thứ hai, nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ Quy trình tổ chức và quản

lý thuế được áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước cho các cơ quan thu và cho các đối tượng nộp thuế là các pháp nhân hay thể nhân Không cho phép cơ quan thu được đặt ra bất cứ biệt lệ nào và cũng như có sự phân biệt đối xử giữa những người nộp thuế trong quá trình hành thu thuế

Thứ ba, nguyên tắc công bằng trong quản lý thuế Đây là nguyên tắc cơ bản

của thuế, nghĩa là mọi công dân phải có nghĩa vụ vật chất với Nhà nước phù hợp với khả năng tài chính của mình Khi xây dựng biện pháp quản lý thuế phải quán triệt nguyên tắc này nhằm động viên sức lực của toàn xã hội cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; qua đó gắn kết nghĩa vụ, quyền lợi của các tổ chức và công dân với nghĩa vụ và quyền lợi của quốc gia Chỉ có như thế sự phát triển mới mang tính chất cộng đồng và bền vững

Thứ tư, nguyên tắc minh bạch Các khâu trong quy trình quản lý thuế đối với

các đối tượng nộp thuế phải được công khai hóa Công tác tuyên truyền, tư vấn, giải thích quy trình quản lý thuế đến việc tổ chức thực hiện từng khâu trong quy trình này đều phải rõ ràng, dễ hiểu, công khai Hạn chế trường hợp đối tượng nộp thuế thiếu thông tin về các quy định về thuế

Thứ năm, nguyên tắc thuận tiện, tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý thuế

Quản lý thuế là những biện pháp mang tính nghiệp vụ và hành chính pháp định.Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan hành thu phải xây dựng quy trình quản lý thuế theo luật định một cách hợp lý, phù hợp với tình hình, đặc điểm, điều kiện SXKD, thu nhập phát sinh của người nộp thuế Việc thực hiện nguyên tắc này phải tạo ra những thuận lợi và tiết kiệm tối đa chi phí về thời gian, vật chất và tiền cho cơ quan thu và cho người nộp thuế Có như vậy mới phát huy được hiệu quả và hiệu lực của

Trang 26

cơ chế hành thu thuế

Trên cơ sở tuân thủ những nguyên tắc nêu trên, nội dung công tác quản lý thu thuế bao gồm các vấn đề sau:

Thứ sáu, xây dựng dự toán thu về thuế Đây là khâu cơ sở của quá trình quản

lý thu thuế, việc xây dựng dự toán thu này phải dựa trên các căn cứ sau:

- Các văn bản pháp luật về thuế hiện hành Đây là cơ sở pháp lý của dự toán thu về thuế

- Kế hoạch phát triển KT-XH của cả nước hay từng địa phương, đơn vị

- Thực trạng tài chính quốc gia, tình hình thực hiện dự toán thu ngân sách năm báo cáo và yêu cầu động viên vào ngân sách năm kế hoạch

- Chủ trương, chính sách quản lý kinh tế của nhà nước đã và sẽ ban hành

Thứ bảy, tổ chức các biện pháp hành thu Nội dung này bao gồm:

- Quản lý đối tượng nộp thuế thông qua việc đăng ký thuế và cấp mã số thuế Các tổ chức và cá nhân kinh doanh phải liên hệ với cơ quan thuế địa phương để đăng lý thuế Các bộ phận của cơ quan thuế sau khi tiếp nhận, kiểm tra sẽ phát giấy chứng nhận đăng ký thuế cùng với mã số thuế cho doanh nghiệp

- Xây dựng và lựa chọn quy trình quản lý thu thuế Hiện nay đang có hai loại quy trình đó là:

+ Quy trình kê khai, nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế Theo quy trình này thì các đối tượng nộp thuế phải kê khai thuế và nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế Cơ quan thuế sẽ tiến hành kiểm tra, tính thuế và ra thông báo số thuế phải nộp gởi cho đối tượng nộp thuế Phương thức này có nhiều hạn chế, gây nhiều khó khăn cho người nộp và cơ quan thuế

+ Quy trình tự kê khai, tự tính thuế, tự nộp thuế Theo phương thức này các đối tượng nộp thuế phải tự kê khai, tự tính thuế và tự nộp vào KBNN và phải chịu trách nhiệm pháp lý về tính chính xác, trung thực của việc tự khai tự nộp của mình

Cơ quan thuế sẽ chủ yếu tập trung vào công tác kiểm tra, thanh tra và đôn đốc cũng như tư vấn cho đối tượng nộp thuế Đây là phương thức tiên tiến được nhiều nước

có nền kinh tế thị trường trên thế giới áp dụng, tạo nhiều thuận lợi cho người nộp thuế cũng như cơ quan thuế,tiết kiệm được chi phí

- Tổ chức thu nộp tiền thuế Hình thức chủ yếu hiện nay là nộp trực tiếp vào KBNN Theo đó đối tượng nộp thuế sẽ nộp trực tiếp vào KBNN dưới dạng tiền mặt

Trang 27

hoặc chuyển khoản Để làm tốt công tác này cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế và KBNN để nắm bắt kịp thời tình tình hình nộp thuế từ đó có biện pháp đôn đốc thu nộp kịp thời

- Tổ chức thanh tra, kiểm tra về thuế Đây là khâu tất yếu của quy trình quản

lý thuế Mục tiêu chính của công tác này là đảm bảo thi hành pháp luật thuế nghiêm minh từ cả phía đối tượng nộp thuế lẫn cơ quan thuế, giúp loại trừ mọi biểu hiện gian lận thuế,trốn thuế và cả những nhũng nhiễu, tiêu cực của cán bộ thuế Ngoài ra khi đẩy mạnh việc thực hiện chế độ tự khai tự tính thuế, tự nộp càng phải củng cố

và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra

1.3.2 Nội dung quản lý thu phí, lệ phí

Thuế là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN, tuy nhiên nếu chỉ thu thuế thì chính phủ không đủ nguồn tài trợ cho nhiều hoạt động vốn rất đa dạng của mình và cũng không thể buộc người dân sử dụng hàng hóa và dịch vụ công theo cách thức có hiệu quả Do đó phí, lệ phí đặt ra đối với những tổ chức và

cá nhân sử dụng hàng hóa hay dịch vụ công

Phí thuộc NSNN là khoản tiền mà các tổ chức và cá nhân phải trả cho một cơ quan nhà nước khi nhận được dịch vụ do cơ quan này cung cấp Trong hoạt động xã hội, nhiều tổ chức thuộc bộ máy công quyền cung cấp ra bên ngoài nhiều dịch vụ Chúng cần thiết phải thu tiền của đối tượng thụ hưởng để bù đắp chi phí hoạt động Phí chính là số tiền đó

Lệ phí là khoản tiền mà các tổ chức và cá nhân phải nộp cho cơ quan nhà nước khi thụ hưởng dịch vụ liên quan đến quản lý hành chính do cơ quan này cung cấp

Phí, lệ phí không phải là giá cả của dịch vụ công mà chỉ là động viên một phần thu nhập của người thụ hưởng nhằm thực hiện công bằng trong tiêu thụ dịch

độ quản lý Đối với những khoản còn lại, chính phủ giao hoặc phân quyền quy định mức thu, chế độ thu, nộp và chế độ quản lý cho cấp Bộ và tương đương Căn cứ vào

Trang 28

quy định chi tiết của Chính phủ, Bộ Tài chính quy định mức thu cụ thể đối với từng loại phí, lệ phí, hướng dẫn mức thu cho các cơ quan được phân cấp quy định mức thu HĐND Tỉnh quyết định thu phí, lệ phí được phân cấp Nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân tự đặt ra các loại phí, sửa đổi mức thu phí đã được cơ quan có thẩm quyền quy định, thu phí trái với quy định của pháp luật

Đơn vị thu phí, lệ phí là cơ quan thuế và các cơ quan được pháp luật quy định Các cơ quan này phải niêm yết công khai tại địa điểm thu về tên gọi, mức thu, phương thức thu và cơ quan quy định thu Khi thu phải cấp chứng từ thu theo quy định của Bộ Tài chính

1.3.3 Nội dung cơ bản về quản lý chi ngân sách nhà nước

1.3.3.1 Quản lý chi đầu tư phát triển

Chi đầu tư phát triển của NSNN là quá trình sử dụng một phần vốn tiền tệ đã tập trung vào NSNN để xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH, phát triển sản xuất và thực hiện

dự trữ vật tư hàng hóa nhằm thực hiện mục tiêu ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế

Chi đầu tư phát triển có các đặc điểm sau:

- Chi đầu tư phát triển của ngân sách là khoản chi tích lũy

- Quy mô và cơ cấu chi đầu tư phát triển của NSNN không cố định và phục thuộc vào chiến lược phát triển KT-XH của Nhà nước trong từng thời kỳ và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân

- Chi đầu tư phát triển phải gắn chặt với chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư

Quản lý chi đầu tư phát triển của NSNN là một nội dung rất rộng lớn,trong luận văn này tác giả tập trung vào trình bày về quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB), đây là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi đầu tư phát triển và được thực hiện theo phương thức không hoàn trả

Nhằm đảm bảo nâng cao hiệu quả vốn đầu tư XDCB, việc quản lý cấp phát vốn đầu tư cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Cấp phát vốn đầu tư XDCB phải đảm bảo đúng mục đích và đúng kế hoạch Đây là nguyên tắc quan trọng do nguồn vốn và phương hướng sử dụng vốn đầu tư đã được trong dự toán ngân sách hàng năm Nguyên tắc này đòi hỏi việc cấp phát chỉ được tiến hành cho những công trình đã được ghi kế hoạch và phải có đầy

đủ thủ tục XDCB theo quy định

Trang 29

- Vốn đầu tư XDCB được cấp phát trực tiếp Nguyên tắc này đòi hỏi vốn đầu

tư XDCB phải được cấp phát trực tiếp cho từng công trình, từng chủ đầu tư

- Vốn đầu tư XDCB được cấp phát theo mức độ hoàn thành thực tế của công trình, theo đúng dự toán được duyệt Chủ đầu tư chỉ thanh toán cho bên nhận thầu khi đã hoản thành bàn giao công trình hay hạng mục công trình hoặc khối lượng hoàn thành theo giai đọan, điểm dừng kỹ thuật Nguyên tắc này đảm bảo việc cấp phát vốn đầu tư được sử dụng đúng mục đích

- Cấp phát vốn đầu tư XDCB phải được thực hiện kiểm tra bằng đồng tiền Việc kiểm tra này được thực hiện trong toàn bộ quá trình đầu tư Thực hiện kiểm tra bằng đồng tiền trong quá trình cấp phát vốn đầu tư nhằm đảm bảo tính hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

Các nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết với nhau nhằm đảm bảo vốn đầu tư của Nhà nước được cấp phát kịp thời, đúng kế hoạch, đúng mục đích và đạt hiệu quả kinh tế cao

Quản lý cấp phát, thanh toán vốn đầu tư thuộc NSNN bao gồm các nội dung sau:

- Lập, thông báo kế hoạch vốn đầu tư XDCB hàng năm

Các dự án đầu tư từ NSNN chỉ được ghi vốn kế hoạch khi đủ các điều kiện theo quy định hiện hành của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng Trong thời gian lập dự toán ngân sách hàng năm, căn cứ vào tiến độ và mục tiêu của dự án,chủ đầu tư lập kế hoạch vốn đầu tư của dự án gởi cơ quan quản lý cấp trên để tổng hợp vào dự toán ngân sách theo quy định của luật NSNN

Sau khi dự toán NSNN được Quốc hội quyết định, trên cơ sở đề nghị của Bộ

Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Tài chính, Thủ tướng Chính phủ giao UBND Tỉnh, Huyện trực thuộc TW lập phương án phân bổ vốn đầu tư thuộc địa phương quản lý trình thường trực HĐND cùng cấp quyết định Thực hiện nghị quyết của HĐND, UBND phân bổ và quyết định giao kế hoạch vốn đầu tư cho từng dự án đã đủ điều kiện thủ tục đầu tư thuộc phạm vi quản lý đảm bảo khớp đúng với chỉ tiêu được giao về tổng mức đầu tư,cơ cấu vốn, cơ cấu ngành kinh tế Đối với cấp huyện, thị xã, huyện thuộc Tỉnh thì phòng Tài chính - Kế hoạch chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng của Huyện tham mưu cho UBND cấp Huyện phân bổ vốn đầu tư cho từng dự

án do Huyện quản lý Sau khi phân bổ UBND Huyện báo cáo kế hoạch vốn đầu tư cho Sở Tài chính

Trang 30

- Thông báo kế hoạch thanh toán vốn đầu tư XDCB hàng năm Đối với các

dự án do Tỉnh (hoặc huyện trực thuộc tỉnh, huyện) quản lý, Sở Tài chính (hoặc phòng Tài chính kế hoạch) thông báo kế hoạch thanh toán vốn đầu tư cho KBNN cùng cấp để làm căn cứ thanh toán vốn cho các dự án đồng thời gửi cho các ngành

để theo dõi quản lý

Chủ đầu tư phải gửi cho cơ quan tài chính các cấp các tài liệu cơ sở của dự án

để kiểm tra, thông báo kế hoạch thanh toán vốn đầu tư cho dự án, cụ thể:

+ Văn bản phê duyệt đề cương hoặc nhiệm vụ dự án quy hoạch; văn bản cho phép tiến hành chuẩn bị đầu tư

+ Dự toán chi phí cho công tác quy hoạch, chuẩn bị đầu tư hoặc chuẩn bị thực hiện dự án

+ Quyết định đầu tư dự án của cấp có thẩm quyền, quyết định phê duyệt thiết

kế kỹ thuật và tổng dự toán

- Cấp phát vốn đầu tư XDCB thuộc NSNN

Để được cấp phát vốn đầu tư, các dự án đầu tư phải đảm bảo các điều kiện sau: + Phải có đủ thủ tục đầu tư theo quy định

+ Đã được ghi vào kế hoạch đầu tư XDCB của năm

+ Đã tổ chức đấu thầu tuyển chọn tư vấn mua sắm vật tư, thiết bị và xây lắp theo quy định

Phương pháp cấp phát vốn đầu tư XDCB gồm hai khâu:

+ Cấp phát tạm ứng: nhằm đảm bảo vốn cho các đơn vị thực hiện các công việc thi công xây lắp, mua sắm thiết bị, thuê tư vấn, đền bù giải phóng mặt bằng Do vậy cấp tạm ứng nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị hoàn thành dự án đúng kỳ hạn

+ Cấp phát khối lượng hoàn thành: đây là nội dung chính của cấp phát vốn đầu tư XDCB và là khâu quyết định nhằm đảm bảo cấp phát đúng thiết kế, đúng kế hoạch và dự toán được duyệt Nội dung cấp phát theo khối lượng công trình hoàn thành bao gồm: khối lượng công tác quy hoạch hoàn thành, khối lượng công tác chuẩn bị đầu tư hoàn thành, khối lượng thực hiện dự án đầu tư hoàn thành, các chi phí khác của dự án

- Quyết toán vốn đầu tư XDCB:

Tất cả các dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN đều phải thực hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình ngay sau khi công trình hoàn thành bàn giao đưa

Trang 31

vào khai thác, sử dụng Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã được thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng Chi phí hợp pháp là chi phí thực hiện đúng với thiết kế, dự toán được duyệt, đảm bảo đúng định mức, đơn giá, chế độ tài chính kế toán, hợp đồng kinh tế kỹ thuật được ký kết

và các quy định của nhà nước có liên quan Báo cáo quyết toán vốn đầu tư phải xác định đầy đủ, chính xác tổng chi phí đầu tư đã thực hiện; phân định rõ nguồn vốn đầu tư; chi phí đầu tư được phép không tính vào giá trị tài sản hình thành qua đầu tư

dự án; giá trị tài sản hình thành qua đầu tư dự án, tái sản cố định, tài sản lưu động; đồng thời phải bảo đảm đúng nội dung,thời gian lập, thẩm tra và phê duyệt theo quy định

1.3.3.2 Nội dung quản lý chi thường xuyên

Chi thường xuyên là một bộ phận của chi NSNN, nó phản ảnh quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN để thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên về quản lý KT-XH của Nhà nước Chi thường xuyên của NSNN bao gồm các khoản chi cho các lĩnh vực: sự nghiệp kinh tế; sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội; chi bộ máy quản lý nhà nước; chi an ninh quốc phòng, chi chuyển giao,… Cùng với quá trình phát triển KT-XH các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước ngày càng tăng lên làm phong phú thêm nội dung chi thường xuyên của ngân sách Chi thường xuyên có các đặc điểm cơ bản đó là: đây là những khoản chi có tính chất liên tục; là những khoản chi mang tính chất tiêu dùng; phạm vi, mức độ chi thường xuyên phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước

và quy mô cung ứng các hàng hóa công của Nhà nước

Chi thường xuyên của NSNN phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc quản lý theo dự toán: lập dự toán là khâu đầu tiên và cũng là khâu quan trọng nhất của toàn bộ chu trình ngân sách, nó quyết định chất lượng phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính Lập dự toán là căn cứ quan trọng cho việc quản lý và kiểm soát chi thường xuyên Hay nói các khác quản lý theo dự toán đối với chi thường xuyên là cơ sở để đảm bảo cân đối NSNN, tạo điều kiện chấp hành NSNN, hạn chế tính tùy tiện của các đơn vị sử dụng NSNN Do đó vấn đề là cần phải nâng cao chất lượng lập và xét duyệt dự toán trên cơ sở bố trí NSNN sát đúng với nhiệm vụ của từng đối tượng và các loại hình hoạt động Dự toán chi sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt có giá trị như chỉ tiêu pháp lệnh Các ngành, các cấp, các đơn vị phải có trách nhiệm chấp hành dự toán chi thường xuyên được duyệt trong quá trình hoạt động của mình, phải phân bổ và sử dụng cho các khoản, các mục chi theo đúng mục lục ngân sách quy định

Trang 32

- Nguyên tắc hiệu quả Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quản lts kinh tế nói chung và quản lý chi thường xuyên nói riêng Đối với một nền kinh tế, nguồn lực tài chính là có giới hạn nhất định, cho nên trong quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực cần phải tính toán sao cho đạt được những mục tiêu đề ra Tính hiệu quả đòi hỏi các đơn vị sử dụng NSNN phải cung cấp hàng hóa

và dịch vụ công cho xã hội với mức chi phí hợp lý nhất vì vậy các đơn vị phải sử dụng nguồn lực một cách tiết kiệm Quán triệt nguyên tắc này đòi hỏi phải xây dựng các định mức tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tượng, từng tính chất công việc và phù hợp với thực tế, hình thành các phương thức cấp phát phù hợp với đặc thù của nhóm các đơn vị thụ hưởng ngân sách Khi đánh giá hiệu qủa cần xem xét một các toàn diện về các mặt: kinh tế, xã hội, môi trường …

- Nguyên tắc đảm bảo sự tự chủ về tài chính của các đơn vị sử dụng ngân sách Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc hiệu quả ở trên Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là: các đơn vị chủ động xây dựng dự toán chi phù hợp với nhu cầu chi và nhiệm vụ hoạt động của mình; trên cơ sở dự toán được duyệt, các đơn vị chủ động phân bổ và sử dụng kinh phí theo nhu cầu thực tế của đơn vị mình

- Nguyên tắc chi trả trực tiếp qua KBNN KBNN là cơ quan tài chính được Nhà nước giao nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN, do vậy có nhiệm vụ trực tiếp thanh toán mọi khoản chi ngân sách KBNN có nhiệm vụ kiểm soát mọi khoản chi ngân sách và có quyền từ chối đối với các khoản chi sai chế độ và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Các khoản chi ngân sách phải được thanh toán trực tiếp đến các đối tượng thụ hưởng, hạn chế tối đa thanh toán qua trung gian Để thực hiện tốt nguyên tắc này yêu cầu các đơn vị dự toán phải mở tài khoản tại KBNN để thực hiện các giao dịch của mình, chịu sự kiểm tra của KBNN trong quá trình sử dụng kinh phí do ngân sách cấp phát, sử dụng nguồn thu sự nghiệp của đơn vị, kể cả quá trình lập dự toán và quyết toán của đơn vị

Quản lý chi thường xuyên bao gồm các nội dung sau:

Thứ nhất, xây dựng hệ thống định mức chi ngân sách Đây là công cụ rất

quan trọng để cơ quan tài chính các cấp có căn cứ để lập phương án phân bổ ngân sách, kiểm tra quá trình chấp hành ngân sách và thẩm tra xét duyệt quyết toán của các đơn vị sử dụng ngân sách Bên cạnh đó định mức chi cũng là cơ sở pháp lý để các đơn vị sử dụng ngân sách triển khai thực hiện dự toán ngân sách được giao theo

Trang 33

đúng chế độ quy định Định mức chi bao gồm hai loại: định mức phân bổ và định mức sử dụng ngân sách

- Định mức phân bổ ngân sách Đây là định mức mang tính chất tổng hợp Lọai định mức này biểu hiện như: định mức kinh phí hành chính trên một biên chế, định mức chi tổng hợp cho một học sinh thuộc các cấp học, một giường bệnh; định mức cho sự nghiệp văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao tính trên một người dân… Định mức này có thể ban hành hàng năm hoặc tính cho cả một thời kỳ ổn định ngân sách có tính đến yếu tố điều chỉnh tăng hàng năm do trượt giá Trên cơ sở tổng chi ngân sách địa phương được Chính phủ giao và định mức phân bổ ngân sách của Thủ tướng chính phủ, các địa phương xây dựng và ban hành các định mức phân bổ cho các ngành, các cấp, các đơn vị thụ hưởng ngân sách phù hợp với điều kiện KT-XH và khả năng ngân sách của địa phương mình

- Định mức sử dụng ngân sách: loại định mức này biểu hiện như chế độ tiền lương, phụ cấp lương, chế độ công tác phí, thanh toán cước phí điện thọai… Loại định mức này khá đa dạng do chi thường xuyên bảo gồm nhiều lĩnh vực khác nhau Theo quy định hiện hành phần lớn các định mức này do Bộ Tài chính và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Đối với địa phương thì HĐND Tỉnh được ban hành một số định mức, chế độ chi tiêu phù hợp với đặc thù địa phương Đây là cơ sở pháp lý để các đơn vị sử dụng ngân sách chấp hành khi chi tiêu ngân sách được cấp và cũng là cơ sở để KBNN thực hiện kiểm soát chi

Do tầm quan trọng của định mức đối với công tác quản lý chi thường xuyên nên khi xây dựng định mức cần chú ý các yêu cầu sau:

+ Định mức chi phải được xây dựng một cách khoa học, không mang tính áp đặt chủ quan từ cấp trên, từ trung ương xuống, phải phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng đơn vị, với từng nội dung chi

+ Định mức chi phải mang tính thực tiễn cao, phản ảnh được mức độ phù hợp của các định mức chi với nhu cầu kinh phí cho hoạt động Phải tổ chức theo dõi và đánh giá tình hình hình thực hiện định mức, từ đó điểu chỉnh kịp thời cho phù hợp với biến động của thực tiễn

+ Định mức phải mang tính ổn định nhằm đảm bảo ổn định chi thường xuyên trong cân đối ngân sách cũng như thực hiện hiện chính sách khoán chi hành chính, giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp có thu

Trang 34

Thứ hai, lập dự toán chi thường xuyên

Khi lập dự toán chi thường xuyên phải dựa trên các căn cứ sau:

- Các chỉ tiêu phát triển KT-XH, đảm bảo an ninh quốc phòng,… liên quan đến chi thường xuyên

- Chính sách của Nhà nước về hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, các hoạt động sự nghiệp, an ninh quốc phòng và các hoạt động khác trong từng giai đoạn nhất định

- Các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định; định mức phân bổ dự toán ngân sách do Thủ tướng chính phủ, HĐND Tỉnh, Huyện trực thuộc trung ương ban hành theo phân cấp

- Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH

và dự toán NSNN; thông tư hướng dẫn lập dự toán ngân sách của Bộ Tài chính và văn bản hướng dẫn của cơ quan chủ quản các cấp

- Số kiểm tra về dự toán ngân sách được cơ quan có thẩm quyền thông báo, tình hình thực hiện dự toán năm báo cáo và các năm liên kề

Thứ ba, chấp hành dự toán chi thường xuyên Đây là nội dung rất quan trọng

trong chi ngân sách, là khâu thứ hai trong chu trình quản lý ngân sách Mục tiêu chính của việc tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên là đảm bảo phân phối, cấp phát và sử dụng kinh phí được phân bổ một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Muốn vậy trong quá trình tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên cần chú trọng các yêu cầu sau: phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm trên cở sở dự toán chi đã xác định; đảm bảo cấp phát vốn kịp thời, đúng nguyên tắc; tuân thủ đúng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong sử dụng vốn NSNN

Trong khâu này cần tăng cường công tác kiểm tra giám sát của cơ quan tài chính các cấp, công tác kiểm soát chi của KBNN và hơn hết là nâng cao ý thức chấp hành dự toán, sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm nguồn kinh phí được cấp của các đơn

vị sử dụng ngân sách

Thứ tư, quyết toán chi thường xuyên Đây là khâu kết thúc của chu trình quản

lý các khoản chi thường xuyên của ngân sách Quyết toán chi thường xuyên cũng được lập từ cơ sở và tổng hợp từ dưới lên theo hệ thống các cấp dự toán và các cấp ngân sách Quá trình quyết toán chi thường xuyên phải chú ý các nội dung sau:

Trang 35

- Phải lập đầy đủ các loại báo cáo quyết toán và gởi kịp thời các loại báo cáo

đó cho các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, xét duyệt hoặc phê chuẩn theo quy định của luật NSNN

- Số liệu trong báo cáo quyết toán phải đảm bảo chính xác, trung thực,theo đúng mục lục ngân sách quy định

- Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán và của ngân sách các cấp phải được KBNN đồng cấp xác nhận về tổng số và chi tiết trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét phê duyệt

Qua công tác quyết toán chi thường xuyên ngân sách sẽ giúp các cơ quan quản lý phân tích đánh giá quá trình chấp hành ngân sách, chấp hành các định mức nhà nước đã quy định của các đơn vị thụ hưởng ngân sách cũng như của các cấp ngân sách, nâng cao trách nhiệm của các đơn vị trong quá trình sử dụng ngân sách; làm

cơ sở cho việc xây dựng cũng như điều chỉnh các định mức phân bổ ngân sách, xây dựng dự toán ngân sách cho năm sau

Trang 36

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng công tác quản lý ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ hiện nay như thế nào? có thực hiện đúng Luật Ngân sách năm

Để quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ huyện đi vào nề nếp, chính quy, hiện đại, đảm bảo đúng cơ sở pháp lý và nguyên tắc quản lý cán bộ của Đảng Đội ngũ cán bộ phải ổn định, chuyên nghiệp, có đủ phẩm chất, năng lực thực hiện nhiệm vụ, trong sạch, tận tụy phục vụ, thực sự là cầu nối giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước

Muốn có được đội ngũ cán bộ như vậy thì cần phải đào tạo phát triển đội ngũ cán bộ huyện trên cơ sở xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của bộ máy chính quyền cấp huyện trong điều kiện và tình hình nhiệm vụ mới

Quá trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ huyện cần phải tiến hành đồng

bộ cả về xây dựng thể chế, tổ chức, quản lý, chế độ chính sách đãi ngộ

- Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý ngân sách

Trong những năm gần đây, công nghệ thông tin đang được ứng dụng tại hầu hết mọi lĩnh vực và ngày càng thể hiện rõ vai trò là công cụ đắc lực của mình Do vậy, để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, điều hành Ngân sách Nhà nước thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý Ngân sách là hết sức cần thiết Hiện nay hầu hết các tỉnh thành trong cả nước đã thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý Ngân sách và đã đem lại hiệu quả cao

Huyện Hạ Hòa là một huyện vùng sâu vùng xa của tỉnh, vì vậy để công tác quản lý Ngân sách Nhà nước cần trang bị máy móc, thiết bị tin học, phần mềm quản

lý chuyên dùng và phần mềm kế toán ngân sách cho các cơ quan, đơn vị sử dụng

Trang 37

Ngân sách, đồng thời đi đôi với việc trang bị máy móc, thiết bị cần phải tập huấn cho đội ngũ cán bộ làm công tác này về chuyên môn, cùng kiến thức cơ bản Trong thời gian tới, cần đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao trình độ tin học cho các đơn vị của huyện để phục vụ công tác quản lý thu, chi ngày càng có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin

2.2.1.1 Thông tin thứ cấp

Thọ: Bản mô tả công việc hiện tại, hệ thống kiến thức, kỹ năng chung của các chức danh, tài liệu đào tạo của cơ quan

Đề tài tiến hành thu thập số liệu từ Ủy ban

, Niên giám thống kê

quan; Từ các báo cáo, tài liệu, số liệu các cuộc điều tra, các sách báo, tạp chí, các văn bản pháp quy, các Website có liên quan , được sử dụng làm nguồn tài

2.2.1.2 Thông tin sơ cấp

- Phương pháp phỏng vấn cá nhân trực tiếp: Tác giả đến gặp trực tiếp hoặc

gọi điện thoại đối tượng được điều tra để phỏng vấn theo một số nội dung được chuẩn bị từ trước Phỏng vấn sâu

- Các đơn vị trên địa bàn: Các tổ chức, cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực

- Lĩnh vực: Nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ

Trang 38

:

b) Tiến hành thu thập số liệu

+ Những thông tin sau khi thu thập được sẽ

:

+

, đề tài sử dụng kết hợp cả hai loại phân tích: phân tích định tính và định lượng Hai phương pháp phân tích này sẽ hỗ trợ tích cực cho nhau trong việc làm sáng tỏ các nhận định hoặc rút ra các kết luận của vấn đề nghiên cứu

Nguồn số liệu phục vụ cho nghiên cứu đánh giá được thu thập từ hai nguồn; (1) Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo, các kết quả nghiên cứu, các

số liệu đã được công bố chính thức của các cơ quan, tổ chức (2) Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra trực tiếp bằng việc sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc và phỏng vấn trực tiếp bằng phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi kín

và phỏng vấn trực tiếp

2.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin

+ Chất lượng nguồn nhân lực và hiện trạng sử dụng, số lượng lao động, độ tuổi, giới tính, sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ, tin học, tình trạng việc làm, thời gian làm việc, nhu cầu làm thêm, nhu cầu đào tạo,

cơ cấu ngành nghề, chất lượng số liệu, mức độ thoả mãn, chế độ đãi ngộ, nhu cầu nhân sự trong tương lai, kế hoạch tuyển dụng

Thông tin vị trí công tác và thông tin của lao động trong đơn vị, độ tuổi, giới tính, sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, tình trạng việc làm, thời gian làm việc, nhu cầu làm thêm, nhu cầu được đào tạo, cơ cấu ngành nghề, chất lượng

số liệu, mức độ thoả mãn, chế độ đãi ngộ, nhu cầu nhân sự trong tương lai, kế hoạch tuyển dụng, đào tạo lao động

2.2.2.1 Phương pháp tổng hợp thông tin

Sau khi thu thập được các tài liệu cần thiết, tiến hành phân loại tài liệu đã thu thập được; liên kết các yếu tố, các th

Cụ thể:

Trang 39

- –

, công tác lập dự toán là khâu đầu tiên của quá trình quản lý Ngân sách; Do đó chất lượng công tác quản lý Ngân sách đều phụ thuộc vào khâu lập dự toán Lập dự toán Ngân sách là việc lên kế hoạch cụ thể, chi tiết cho các chỉ tiêu thu và các nội dung chi Ngân sách cho năm Ngân sách hàng năm, toàn bộ các dự kiến về các khoản thu như (các loại thuế, phí, lệ phí, thu bổ sung ) và các nội dung chi như (chi đầu tư phát triển, thường xuyên, .) đều được thể hiện rõ nét Đó là những yêu cầu cơ bản nhất

mà khâu lập dự toán Ngân sách cần phải thực hiện được Với tư cách là khâu đầu tiên, lập dự toán có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quản lý Ngân sách Nhà nước cũng như làm cho Ngân sách Nhà nước có tính ổn định, an toàn và hiệu quả

Thấy được tầm quan trọng của việc xây dựng dự toán Ngân sách như vậy, Cấp chính quyền địa phương phải có các biện pháp cụ thể trong chỉ đạo, đôn đốc các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân lên kế hoạch cụ thể cho Ngân sách Xây dựng

dự toán Ngân sách huyện phải ddược thực hiện sớm, cần phải xem xét kỹ lưỡng, tránh tình trạng bỏ sót nguồn thu, tính thiếu chi phí cho các nhiệm vụ chi Khi các trường hợp đó xảy ra sẽ làm cho công tác quản lý Ngân sách bị động

Uỷ ban nhân dân huyện, hàng năm căn cứ vào luật Ngân sách Nhà nước và các thông tư, văn bản hướng dẫn để giao số kiểm tra của huyện về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện cho các cơ quan, đơn vị, các xã thị trấn để các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn tiến hành lập dự toán gửi phòng Tài chính - Kế hoạch xem xét, tổng hợp lập dự toán Ngân sách Nhà nước được đảm bảo sát thực tế, đúng quy định của Nhà nước

2.2.2.2 Xử lý thông tin

+ Được tổng hợp và hệ thống hoá từ phiếu điều tra thực tế của huyện Hạ Hòa qua các năm 2008, 2009, 2010,2011,2012

+ Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp những người có trách nhiệm các

sở, ban ngành của tỉnh, địa phương nghiên cứu, các ý kiến trao đổi của các chuyên gia Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế tỉnh, Sở Tài Chính, lãnh đạo UBND huyện, Chi cục Thuế huyện, Phòng Tài chính-Kế hoạch huyện và lấy số liệu trực tiếp từ các báo cáo của huyện

Trang 40

- Thể hiện thông tin: Phương pháp thể hiện thông tin chủ yếu thông qua các

- Từ nguồn dữ liệu, bài viết, các báo

tuổi v

Độ tuổi trung bình =

Với N1, N2, N3, N4: Là số lao động ứng với các nhóm tuổi

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

Để tăng cường quản lý Ngân sách Nhà nước nói chung, công tác quản lý Ngân sách huyện nói riêng theo đúng qui định của luật Ngân sách Nhà nước, cần tiếp tục tuyên truyền, phổ biến, quán triệt sâu sắc Luật Ngân sách Nhà nước tới toàn thể cán bộ và nhân dân các dân tộc huyện Hạ Hòa Đồng thời, trong quá trình thực hiện phải tuân thủ nghiêm ngặt toàn bộ nội dung quản lý Ngân sách Nhà nước đúng theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật Ngân sách Nhà nước và Thông tư số: 59/2003/TT-BTC ngày 23/06/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số: 60/2003/NĐ-CP cùng một số Nghị định, thông

tư, văn bản hướng dẫn thực hiện liên quan đến công tác quản lý Ngân sách Nhà nước mới ban hành Đây là căn cứ quan trọng để quản lý Ngân sách huyện, vì vậy cần triển khai áp dụng một cách đồng bộ, thống nhất trong phạm vi toàn huyện Các

tổ chức, các cơ quan, đơn vị dự toán của huyện trong quá trình thực hiện phải tuân thủ nghiêm ngặt tất cả các khâu: lập, chấp hành và kế toán, quyết toán Ngân sách

25*N1+35*N2+45*N3+55*N

4 N1+N2+N3+N4

Ngày đăng: 30/03/2021, 08:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Giáo trình Kinh tế học vĩ mô, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học vĩ mô
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
2. Bộ Tài chính (2003), Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2003
4. Bộ Tài chính (2004), Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2012
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2004
5. Bộ Tài chính (2004) Báo cáo đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước về tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước về tài chính
7. Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI (2002), Luật ngân sách nhà nước, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật ngân sách nhà nước
Tác giả: Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2002
8. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (1997), Giáo trính Kinh tế công cộng, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trính Kinh tế công cộng
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1997
9. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2000), Giáo trính về quản lý ngân sách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trính về quản lý ngân sách
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
11. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2003), Giáo trính Thuế, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trính Thuế
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2003
6. Chi Cục thống kê huyện Hạ Hoà(2008-2012), Niên giám thống kê năm 2008-2012 Khác
10. Trường Đại học Ngoại thương (2001), Giáo trình về Kinh tế vĩ mô, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
12. UBND tỉnh Phú Thọ (2009), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ đến năm 2015 tầm nhìn đến 2020 Khác
13. UBND huyện Hạ Hoà Hạ Hoà (2010), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Hạ Hoà đến năm 2015 tầm nhìn đến 2020 Khác
14. UBND huyện Hạ Hoà Hạ Hoà (2008-2012), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2008-2012 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2015 Khác
15. UBND huyện Hạ Hoà Hạ Hoà (2008-2012), Báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách năm 2008-2012 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w