1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng rubric trong đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 10 theo chương trình ngữ văn 2018

170 623 20

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VƯƠNG THỊ NHUNG SỬ DỤNG RUBRIC TRONG ĐÁNH GIÁ KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN CỦA HỌC SINH LỚP 10 THEO CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 2018 LUẬN

Trang 2

QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

VƯƠNG THỊ NHUNG

SỬ DỤNG RUBRIC TRONG ĐÁNH GIÁ KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN CỦA HỌC SINH LỚP 10 THEO

CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

BỘ MÔN NGỮ VĂN

Mã số:8140217.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Minh Đức

HÀ NỘI 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, Ban Chủ nhiệm khoa Sư phạm, cảm ơn các thầy cô đã giảng dạy lớp Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn khoá QH-2018-S trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành chương trình học tập và luận văn

Tác giả xin được gửi đến PGS.TS Bùi Minh Đức lời cảm ơn chân thành nhất vì đã hướng dẫn cho tác giả trong quá trình triển khai đề tài

Tác giả xin được cảm ơn Ban Giám hiệu, Tổ Ngữ văn trường THPT Xuân Mai và trường THPT Chúc Động huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội cùng các em học sinh và đồng nghiệp, đã tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt thời gian tác giả thực hiện đề tài

Hà Nội, tháng 09 năm 2020

Tác giả

Vương Thị Nhung

Trang 4

KNĐHVB Kĩ năng đọc hiểu văn bản

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1.Rubric định lượng/phân tích 12

Bảng 1.2.Rubric định tính /tổng hợp 13

Bảng 1.3.Tiêu chuẩn đánh giá một rubric tốt 16

Bảng 1.4 Những khó khăn trong đánh giá học sinh 35

Bảng 1.5 Mong muốn của người học ở mỗi bài kiểm tra Ngữ văn 35

Bảng 1.6 Các cách đánh giá học sinh 36

Bảng 1.7 Hiểu biết về khái niệm rubric 37

Bảng 1.8 Thực trạng HS tham gia cùng thầy /cô và các bạn trong lớp thảo luận xây dựng các tiêu chí đánh giá cho một bài kiểm tra ở môn Ngữ văn 39

Bảng 1.9 Sử dụng rubric trong đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện 40

Bảng 1.10 Lý do khiến thầy /cô chưa sử dụng rubric thường xuyên trong đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện 40

Bảng 1.11 Những thuận lợi khi sử dụng rubric để đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh 41

Bảng 1.12 Những khó khăn khi sử dụng rubric để đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh 42

Bảng 1.13 Hứng thú của học sinh khi học các văn bản truyện trong Chương trình Ngữ văn 10 43

Bảng 1.14 Khảo sát về kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của HS lớp 10 qua các câu hỏi ,bài tập (Phụ lục 2) 44

Bảng 2.1 Cấu trúc năng lực đọc hiểu VB truyện 53

Bảng 2.2 Biểu hiện của kĩ năng ĐHVB truyện của HS lớp 10 55

Bảng 2.3 Các mức độ phát triển của kĩ năng ĐHVB truyện của HS lớp 10 57 Bảng 2.4 Chuẩn đánh giá kĩ năng ĐHVB truyện của HS lớp 10 65

Bảng 2.5 Các tiêu chí đánh giá kĩ năng ĐHVB truyện của HS lớp 10 76

Bảng 2.6 Bảng điểm các tiêu chí đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện 77 Bảng 2.7 Tiêu chí kích hoạt kiến thức nền 78

Trang 6

Bảng 2.8.Tiêu chí nhận diện dấu hiệu hình thức của VB truyện 78

Bảng 2.9.Tiêu chí tái tạo cốt truyện 80

Bảng 2.10.Tiêu chí phân tích nhân vật 80

Bảng 2.11.Tiêu chí đánh giá về đặc điểm nghệ thuật kể chuyện 82

Bảng 2.12 Tiêu chí nhận diện, phân tích không gian, thời gian nghệ thuật của văn bản truyện 84

Bảng 2.13 Tiêu chí đánh giá chủ đề, tư tưởng, thông điệp của nhà văn qua văn bản truyện 86

Bảng 2.14 Tiêu chí nêu ý nghĩa hay tác động của tác phẩm và thể hiện được 87

Bảng 2.15 Rubric chấm bài kiểm tra đọc hiểu văn bản truyện lớp 10 91

Bảng 3.1 Câu 1 - đề kiểm tra 15 phút 102

Bảng 3.2 Câu 2 - đề kiểm tra 15 phút 103

Bảng 3.3 Câu 3 - đề kiểm tra 15 phút 105

Bảng 3.4 Câu 1 - đề kiểm tra 45 phút 106

Bảng 3.5 Câu 2 - đề kiểm tra 45 phút 107

Bảng 3.6 Kết quả điểm số lớp 10D5, bài kiểm tra 15 phút 114

Bảng 3.7 Kết quả điểm số lớp 10D5, bài kiểm tra 45 phút 116

Bảng 3.8 Kết quả điểm số của 2 bài kiểm tra, lớp 10A3 qua 2 lần chấm 119

Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả điểm số của 2 bài kiểm tra, lớp 10A3 qua 2 lần chấm 121

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Mong muốn của người học ở mỗi bài kiểm tra Ngữ văn 36Biểu đồ 1.2 Hiểu biết của GV về khái niệm rubric 38Biểu đồ 1.3 Thực trạng sử dụng rubric trong đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của GV 40Biểu đồ 1.4 Hứng thú của học sinh khi học các văn bản truyện trong Chương trình Ngữ văn 10 43Biểu đồ 3.1 Kết quả điểm số của bài kiểm tra 15 phút, lớp 10A3 qua 2 lần chấm 122Biểu đồ 3.2 Kết quả điểm số của bài kiểm tra 45 phút, lớp 10A3 qua 2 lần chấm 122

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

1.1 Đổi mới kiểm tra, đánh giá là yêu cầu cấp bách trong phát triển giáo dục hiện nay 1

1.2 Rubric là một công cụ hiệu quả để đánh giá năng lực học sinh học Ngữ văn theo yêu cầu đổi mới giáo dục 2

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 3

2.1 Một số công trình nghiên cứu về rubric trong giáo dục 3

2.2.Một số nghiên cứu về kĩ năng đọc hiểu và dạy đọc hiểu ở nhà trường phổ thông 6

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

3.1 Mục đích 8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 9

4.1 Khách thể nghiên cứu 9

4.2 Đối tượng nghiên cứu 9

4.3 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Giả thuyết khoa học 9

6 Phương pháp nghiên cứu 9

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 9

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 10

7 Cấu trúc luận văn 10

CHƯƠNG 1 11

Trang 9

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG RUBRIC TRONG ĐÁNH GIÁ KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN CỦA

HỌC SINH LỚP 10 THEO CHƯƠNG TRÌNH 11

NGỮ VĂN 2018 11

1.1.Cơ sở lý luận 11

1.1.1 Rubric và sử dụng rubric trong đánh giá năng lực học sinh 11

1.1.2 Kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện 21

1.2 Cơ sở thực tiễn 29

1.2.1.Yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 về đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 10 29

1.2.2 Thực trạng kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 10 hiện nay 34

Tiểu kết chương 1 46

CHƯƠNG 2 47

CÁC NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP THIẾT KẾ ,SỬ DỤNG RUBRIC TRONG ĐÁNH GIÁ KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN CỦA HỌC SINH LỚP 10 47

2.1 Các nguyên tắc thiết kế, sử dụng rubric 47

2.1.1 Bám sát yêu cầu phát triển năng lực học sinh 47

2.1.2 Bám sát đặc trưng bài học đọc hiểu văn bản truyện ở lớp 10 48

2.1.3 Đảm bảo tính giá trị và tính tin cậy trong thiết kế rubric 50

2.1.4 Đảm bảo tính khách quan, công bằng trong sử dụng rubric để đánh giá năng lực học sinh 51

2.2 Thiết kế rubric trong đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 10 52

2.2.1 Phương pháp 52

2.2.2 Thiết kế rubric trong đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 10 52

Trang 10

2.3 Hướng dẫn sử dụng rubric trong đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản

truyện của học sinh lớp 10 89

2.3.1 Hướng dẫn giáo viên thiết kế và sử dụng rubric đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh 89

2.3.2 Hướng dẫn học sinh thiết kế và sử dụng rubric tự đánh giá kĩ năng dọc hiểu văn bản truyện 90

Tiểu kết chương 2 96

CHƯƠNG 3 97

THỰC NGHIỆM SỬ DỤNG RUBRIC TRONG ĐÁNH GIÁ KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN CỦA HỌC SINH LỚP 10 THEO CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 2018 97

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 97

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 97

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 97

3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 97

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 97

3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 97

3.2.3 Thời gian thực nghiệm 98

3.3.Tiến hành thực nghiệm 98

3.3.1 Quy trình thực nghiệm 98

3.3.2 Công cụ thực nghiệm 98

3.3.3 Tổ chức thực nghiệm 111

3.4 Kết quả thực nghiệm 112

3.4.1 Nhận xét về độ giá trị của rubric thực nghiệm 112

3.4.2 Nhận xét về độ tin cậy của rubric thực nghiệm 119

3.5 Kết luận thực nghiệm 123

Tiểu kết chương 3 124

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 125

Trang 11

1 Kết luận 125

2 Khuyến nghị 126 TÀI LIỆU THAM KHẢO 127 PHỤ LỤC

Trang 12

Tuy nhiên, lâu nay việc kiểm tra đánh giá đối với học sinh THPT còn nhiều bất cập Hầu hết các trường THPT vẫn chủ yếu dựa vào kết quả của các bài kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, thi THPTQG theo hình thức GV

ra câu hỏi, HS trả lời vẫn phụ thuộc nhiều vào cách đánh giá chủ quan và cảm tính của giáo viên Nội dung kiểm tra vẫn thiên về học thuộc lòng văn bản, ghi nhớ máy móc một nội dung nào đó của văn bản, kiểm tra trí nhớ là chính Việc kiểm tra, đánh giá đó theo hướng cung cấp nội dung nên kết quả là HS tập trung học thuộc lòng hoặc sưu tầm chép những bài văn mẫu mà không phát triển được các kĩ năng cần thiết Để khắc phục tình trạng trên và phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập suy nghĩ của người học thì việc làm cấp bách hiện nay là phải đổi mới kiểm tra, đánh giá trong dạy học

Trang 13

Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 đã có nhiều đổi mới về kiểm tra, đánh giá cụ thể như sau: Thay đánh giá theo tiếp cận nội dung bằng đánh giá theo tiếp cận năng lực Các bài kiểm tra không chỉ thực hiện trên giấy vào cuối một chủ đề, một chương, một học kì, mà được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng (giấy, thực hành, sản phẩm dự án, cá nhân, nhóm…) trong suốt quá trình học tập Kiểm tra đánh giá không hướng nhiều vào mục đích cạnh tranh mà hướng chủ yếu vào sự hợp tác; không chú trọng vào điểm

số mà chú trọng vào quá trình tạo ra sản phẩm, chú ý đến ý tưởng sáng tạo và các chi tiết của sản phẩm để nhận xét Đánh giá theo cách mới không tập trung vào kiến thức hàn lâm mà tập trung vào năng lực thực tế và sáng tạo Nếu ở Chương trình Giáo dục 2016, đánh giá được thực hiện bởi các cấp quản

lí và do giáo viên là chủ yếu thì ở Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, giáo viên và học sinh chủ động trong đánh giá, khuyến khích tự đánh giá và đánh giá chéo của học sinh

1.2 Rubric là một công cụ hiệu quả để đánh giá năng lực học sinh học Ngữ văn theo yêu cầu đổi mới giáo dục

Đánh giá theo yêu cầu phát triển năng lực cần xác định được khả năng vận dụng tổng hợp những gì đã học của học sinh vào việc giải quyết những tình huống mới Phương thức đánh giá không chú trọng yêu cầu học thuộc, nhớ máy móc, nói đúng và đầy đủ những điều thầy, cô đã dạy… mà coi trọng

ý kiến và cách giải quyết vấn đề của mỗi cá nhân người học; động viên những suy nghĩ sáng tạo, mới mẻ, giàu ý nghĩa; tôn trọng sự phản biện trái chiều, khuyến khích những lập luận giàu sức thuyết phục…

Trong dạy học môn Ngữ văn, bồi dưỡng, phát triển năng lực đọc hiểu văn bản văn học cho người học là yếu tố căn cốt Năng lực đọc hiểu là năng lực tiếp nhận, xử lí thông tin trong văn bản để phục vụ những mục đích cụ thể trong học tập hoặc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của cuộc sống

Trang 14

Đổi mới KTĐG kĩ năng đọc hiểu ở môn văn đòi hỏi công khai các tiêu chí, biểu điểm cụ thể, định hướng HS tự đánh giá và đánh giá chéo, bên cạnh việc đánh giá của GV nhằm giúp HS tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục những sai sót, hạn chế trong quá trình tìm hiểu, lĩnh hội văn bản, vận dụng những kiến thức từ bài học vào cuộc sống, khơi dậy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập

Đặt trong bối cảnh đổi mới của ngành giáo dục, rubric đã đáp ứng được những nhu cầu đổi mới khâu KTĐG Đó là một bộ công cụ đánh giá gồm các tiêu chí được cụ thể hóa thành các chỉ số hành vi hay các biểu hiện hành vi có thể quan sát, đo đếm, thể hiện mức độ đạt được của mục tiêu học tập Rubric được sử dụng để đánh giá năng lực thực hiện nhiệm vụ của học sinh Rubric được thiết kế theo thang bậc nhận thức với các tiêu chí, các chỉ số hành vi rõ ràng nên có thể giúp GV đánh giá chính xác và phân loại HS Rubric còn được sử dụng khi cần giải thích rõ cho học sinh, giáo viên, cha mẹ học sinh về yêu cầu cần đạt của bài kiểm tra, mức đạt được của mỗi HS trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập Giáo viên có thể sử dụng rubric như là một công

cụ để thiết lập mối liên hệ giữa việc đánh giá, phản hồi và quá trình dạy học Như vậy, rubric sẽ giúp việc đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh trở nên chính xác, dễ dàng Mặt khác, các tiêu chí, mức độ đánh giá trong rubric cũng giúp người học tự đánh giá kết quả đạt được của bản thân, xác định rõ các kĩ năng cần được rèn luyện và phát triển khi đọc hiểu văn bản

Vì những lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Sử dụng rubric trong đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 10 theo chương trình Ngữ Văn 2018”

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

2.1 Một số công trình nghiên cứu về rubric trong giáo dục

Trang 15

Có thể nói, đối với giáo dục của nhiều nước trên thế giới rubric đã trở nên thông dụng, trở thành công cụ đánh giá giáo dục hiệu quả giúp việc dạy học đạt được mục tiêu mà con người kỳ vọng

Rubric đã được biết đến ở Việt Nam từ những thập niên trước song tính đến thời điểm hiện tại, trong lĩnh vực giáo dục, các công trình nghiên cứu tiêu biểu, thực tiễn về KTĐG có liên quan đến rubric so với các quốc gia khác còn khá khiêm tốn, cụ thể:

Trong Hội thảo “Vai trò của hoạt động kiểm tra ,đánh giá trong đổi mới ở giáo dụcViệt Nam” năm 2004 và Hội thảo “Kiểm tra đánh giá để phát huy tính tích cực của học sinh ở bậc trung học” năm 2006 do Viện Nghiên cứu giáo dục và trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, một số bài báo cáo đã đề cập một cách rất ngắn gọn đến rubric như một công cụ dùng

để KTĐG

Từ năm 2009 đến 2011, Nguyễn Kim Dung đã thực hiện dự án “Xây dựng các tiêu chí đánh giá nhận thức” nhằm đề ra phương pháp khắc phục những hạn chế trong khâu đánh giá kết quả học tập của HS THPT Trong đó, tác giả đã nhấn mạnh đến tính cấp thiết của việc sử dụng các tiêu chí lượng hóa (rubric) Đây là một trong những nghiên cứu quan trọng, có thể làm căn

cứ đáng tin cậy cho việc tiến hành sử dụng rubric trong dạy học, KTĐG trong những năm sắp tới ở Việt Nam

Tháng 9 năm 2009, Tạp chí Giáo dục số 221 đã đăng bài viết “Áp dụng đánh giá theo rubric trong dạy học” của Tôn Quang Cường Nội dung bài báo trình bày một cách khái quát vấn đề: khái niệm rubric, phân loại rubric, nguyên tắc và quy trình thiết kế, ápdụng rubric trong dạy học nói chung, Song, việc vận dụng rubric vào môn học Ngữ văn chưa được đề cập Năm 2010, Bộ GDĐT đã tập huấn “Đổi mới kiểm tra kết quả học tập của học sinh trung học phổ thông” cho 10 môn học, trong đó có Ngữ văn Nội dung xoay quanh cách lập ma trận đề kiểm tra, cách KTĐG mới theo định

Trang 16

hướng phát triển năng lực Tài liệu tập huấn đã giới thiệu quy trình, kĩ thuật biên soạn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS cùng các ví dụ ở 10 môn học thuộc cấp THPT Bước đầu, các tác giả cũng đã trình bày một số bảng rubric minh họa về tiêu chí chấm điểm bài tự luận của HS, trong đó có Ngữ văn Tuy nhiên, tài liệu này cũng chỉ là kết quả của những bước thử nghiệm chung, việc áp dụng rubric cụ thể cho từng phân môn, lí thuyết, cách thiết kế, sử dụng vẫn chưa được đề cập

Chương trình tập huấn đổi mới PPDH và KTĐG cho GV của hãng Intel phối hợp với Bộ GDĐT - dự án “Phát triển giáo dục trung học phổ thông” tổ chức ở 17 tỉnh, thành tại Việt Nam cũng đã đề cập nhiều tới rubric Đặc biệt, rubric được sử dụng trong việc thiết kế các bảng tiêu chí để đánh giá các dự án học tập, đánh giá trong suốt quá trình học tập Đây là những việc làm cụ thể trong đổi mới PPDH và KTĐG mà Intel đã làm được tại Việt Nam

Năm 2010, trong công văn 8773/BGDĐT-GDTrH ngày 30/12/2010 hướng dẫn đổi mới KTĐG cấp trung học, Bộ GDĐT hướng dẫn GV cách xây dựng ma trận đề kiểm tra (thực chất là một bảng rubric dạng ma trận 2 chiều) Cũng tại công văn này, Bộ GDĐT cũng đã khuyến khích GV dùng rubric trong xây dựng thang điểm để chấm điểm bài tự luận cho HS Tuy vậy, không phải GV nào cũng biết lí thuyết về công cụ rubric

Năm 2014,Tạp chí Khoa học, trường đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh có đăng bài “Vận dụng rubric để xây dựng các tiêu chí đánh giá môn học” của tác giả Lê Thị Ngọc Nhẫn Bài viết đã giới thiệu các khái niệm, vai trò, các hình thức trình bày rubric và quy trình xây dựng các tiêu chí đánh giá môn học theo rubric gồm 4 bước: bước 1, chuẩn bị; bước 2, viết các tiêu chí đánh giá theo từng cấp độ hoặc từng thang điểm; bước 3, thảo luận thống nhất duyệt các tiêu chí đánh giá môn học; bước 4, hoàn thành bản tiêu chí đánh giá môn học và trình cấp trên phê

Trang 17

Năm 2017, tác giả Nguyễn Thành Ngọc Bảo đã có bài viết “Mô hình rubric đánh giá năng lực tạo lập văn bản nghị luận xã hội của học sinh THPT” trên Tạp chí Khoa học, trường đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, tập

14, số 10 (trang 163-172) Bài báo đã nêu ra các tiêu chí và mức cho điểm cho từng tiêu chí trong rubric đánh giá năng lực tạo lập văn bản nghị luận xã hội

và đề xuất rubric đánh giá năng lực tạo lập văn bản nghị luận xã hội của học sinh THPT

Năm 2018, hai tác giả Trịnh Thị Lan và Nguyễn Thu Thủy đã có một công trình nghiên cứu đăng trên Tạp chí Giáo dục, số 432 (trang 44-48 ), là

“Thiết kế rubric đánh giá bài viết văn thuyết minh của học sinh lớp 8”

Tháng 3/2019, tác giả Lê văn Hảo đã đưa ra bài viết “Thiết kế và sử dụng rubric trong đánh giá học tập” trong tài liệu tập huấn cho giảng viên các trường đại học Những nghiên cứu về rubric ở đây chủ yếu dùng để đánh giá các đồ án, luận án tốt nghiệp cho sinh viên[9]

2.2.Một số nghiên cứu về kĩ năng đọc hiểu và dạy đọc hiểu ở nhà trường phổ thông

Trên thế giới, lí thuyết đọc hiểu và dạy đọc hiểu được nghiên cứu từ rất

sớm Nhiều công trình, bài báo viết về đọc hiểu và liên quan đến đọc hiểu đã xuất hiện ở các nước Âu Mĩ từ những thập nên 70 của thế kỉ XX như: K.Goodman (1970), P.Arson (1984), M.Adams(1990), B.Naiđenxốp với

“phương pháp đọc diễn cảm”…

Những năm 80 của thế kỉ XX, ở Cộng hòa Liên bang Đức cho ra mắt nhiều cuốn sách về đọc hiểu nâng cao như :”Những tấm gương soi”, “Những đặc điểm đọc” Những năm đầu thế kỉ XXI, một công trình về đọc hiểu khá đồ sộ của tập thể tác giả có uy tín về vấn đề này được công bố Cuốn sách đề cập đến nhiều nội dung trong đó có “lịch sử việc đọc” do Erich Schon viết, “tâm lí học của việc đọc ”do Ursula Christman viết

Trang 18

Ở Liên Xô cũ cũng có thành tựu đáng kể về việc nghiên cứu vấn đề đọc hiểu Nhà nghiên cứu A.Primacốpxki viết “Phương pháp đọc sách”(1976) Ở

đó tác giả đã khẳng định thế giới mới lạ trong các tác phẩm văn chương chính

là vẻ đẹp và giá trị thẩm mĩ của ngôn ngữ và đời sống

Ở Việt Nam, nghiên cứu về vấn đề đọc hiểu sớm nhất phải kể đến những công trình của các tác giả Lê Phương Nga “Dạy học tập đọc ở tiểu học”(Nhà xuất bản Giáo dục, 11/2001), Nguyễn Thị Hạnh với chuyên luận

“Dạy học đọc hiểu ở tiểu học” (2002), đã trình bày khá thuyết phục về cơ sở khoa học của việc dạy đọc hiểu Năm 2004, trong bài viết “Vấn đề đọc hiểu

và dạy đọc hiểu” đăng trên tạp chí Thông tin Khoa học Sư phạm, số 8 đã nêu lên tầm quan trọng, ý nghĩa cấp thiết của vấn đề đọc hiểu Sau đó, phải kể đến tác giả Nguyễn Trọng Hoàn với một loạt sách đọc hiểu văn bản Ngữ Văn lớp 6,7,8,9 Ở đó tiến trình đọc hiểu được thực hiện theo ba bước: phần gợi dẫn, phần nội dung và phần liên hệ Đó là sự gợi ý cho GV giải quyết nhiệm vụ cụ thể trước mắt về đọc hiểu trong sách giáo khoa Năm 2008, chuyên luận “Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường ” được Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành là công trình lí thuyết về đọc hiểu bao quát được các nội dung cốt yếu về đọc hiểu gần gũi với các công trình nghiên cứu về đọc hiểu trên thế giới Năm 2011, Nguyễn Thanh Hùng cho ra mắt cuốn sách “Kĩ năng đọc hiểu văn” Ở đó, tác giả đã khẳng định đọc hiểu là vấn đề cơ bản của nội dung và phương pháp dạy học tác phẩm văn chương Người viết đi sâu nghiên cứu cách thức dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương theo loại thể ở trường THPT, đưa ra thiết kế mô hình đọc hiểu một sô tác phẩm cụ thể về cả thơ và truyện

Đó là nhưng gợi ý cụ thể để GV áp dụng lý thuyết đọc hiểu vào giảng dạy Tiếp đến, là những đóng góp của tác giả Trần Đình Sử Tác giả đã thể hiện cái nhìn sâu sắc ,thấu đáo về đọc hiểu qua hàng loạt bài báo:” Đọc hiểu văn bản-một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay”(báo Văn Nghệ 8/2013), “Văn bản văn học và những ngã đường đọc hiểu”(báo Văn

Trang 19

Nghệ 2014), “Từ giảng văn qua phân tích tác phẩm đến đọc hiểu văn bản văn học”…

Gần đây, tác giả Trịnh Thị Lan có đưa ra một công trình nghiên cứu là “Văn bản và dạy đọc hiểu văn bản ở trường trung học”( nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2017) Cuốn sách đã đi sâu nghiên cứu về dạy đọc hiểu truyện dân gian

ở trường THPT từ góc độ văn bản, đưa ra một số thiết kế bài học đọc hiểu cụ thể

Có thể nói vào những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, trên thế giới

và Việt Nam đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề đọc hiểu nói chung và đọc hiểu trong nhà trường phổ thông nói riêng Phần lớn các công trình này đều tập trung đề xuất các giải pháp cải thiện năng lực đọc hiểu của

HS và tìm kiếm biện pháp hình thành thái độ sáng tạo và hoạt động chiếm lĩnh tác phẩm văn chương một cách tích cực và năng động Song những công trình nghiên cứu về kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện còn hạn chế

Tóm lại, cho đến thời điểm nghiên cứu hiện tại, chúng tôi nhận thấy công cụ rubric đã được đề cập và vận dụng bước đầu trong thực tiễn giáo dục tại Việt Nam Tuy nhiên, những công trình, tài liệu nghiên cứu về lí thuyết, cũng như cách vận dụng rubric vào KTĐG trong quá trình dạy môn Ngữ văn còn rất hạn chế, các nghiên cứu về sử dụng rubric vào KTĐG năng lực đọc hiểu văn bản thì chưa nhiều Như vậy, nghiên cứu và vận dụng rubric vào KTĐG kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện lớp 10 theo chương trình Ngữ văn 2018 của chúng tôi là một việc làm còn mới mẻ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất cách thức thiết kế và sử dụng rubric trong đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:

Trang 20

- Xác định cơ sở lí luận của việc sử dụng rubric trong đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 10

- Khảo sát, đánh giá thực trạng sử dụng rubric trong đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 10

- Đề xuất biện pháp thiết kế và sử dụng rubric trong đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 10

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp thiết kế và sử dụng Rubric trong đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 10

5 Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên kết hợp một cách khéo léo, hợp lý giữa việc sử dụng Rubric và các công cụ đánh giá truyền thống vào đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của HS lớp 10 thì sẽ thu được kết quả đánh giá chính xác và khoa học, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học đọc hiểu văn bản truyện và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Trang 21

Phương pháp phân tích, hệ thống hóa, các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xác lập cơ sở lý luận cho đề tài như: khái niệm, cấu trúc ,vai trò

và cách thiết kế rubric; kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện; yêu cầu của CTGD

Ngữ văn 2018 về đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp

10

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp phỏng vấn : Sử dụng các phiếu -phỏng vấn GV và HS để thu thập thông tin về thực trạng sử dụng rubric trong dạy học bộ môn Ngữ văn nói chung và trong dạy đọc hiểu văn bản truyện nói riêng , chất lượng dạy học môn Ngữ văn

- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động dạy và học của GV và HS để thu thập những thông tin cần thiết

- Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành sử dụng rubric trong dạy đọc –hiểu văn bản truyện cho HS lớp 10 để đánh giá hiệu quả của công cụ này đối với việc đánh giá kĩ năng đọc –hiểu văn bản truyện của HS lớp 10 theo chương

trình Ngữ văn 2018

- Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý các kết quả nghiên cứu

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề sử dụng rubric trong

đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 10 theo chương trình Ngữ văn 2018

- Chương 2: Các nguyên tắc và biện pháp thiết kế, sử dụng rubric trong

đánh giá kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 10

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 22

1.1.1 Rubric và sử dụng rubric trong đánh giá năng lực học sinh

1.1.1.1.Khái niệm rubric

Có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về rubric Xâu chuỗi các định nghĩa đó lại, ta nhận thấy những điểm chung Natalie Pham cho rằng rubric là một hệ thống cho điểm theo các tiêu chí đánh giá cho trước, nêu rõ người chấm đánh giá bài theo những kỳ vọng nào

và mô tả các cấp độ tiêu chí dùng để đánh giá [20]

Theo Heidi Goodrich- chuyên gia về rubric, khẳng định rubric là một công cụ dùng để cho điểm bằng cách liệt kê tất cả các tiêu chí đánh giá bài học, bài tập, bài làm hay công việc mà người học thực hiện bằng cách xếp loại theo thứ bậc [4]

Tác giả Tôn Quang Cường có đưa ra khái niệm về rubric cụ thể, chi tiết hơn: rubric là một cách đánh giá, công cụ đánh giá được sử dụng khá rộng

rãi trong thực tiễn giáo dục và dạy học hiện nay trên thế giới (rubrica theo tiếng Latin có nghĩa là “vùng đất đỏ”,“ phần viết bằng mực đỏ trong các cuốn Kinh thánh, sách cổ”; tập tục hoặc quy tắc được thiết lập để thực hiện)

Rubric là bảng mô tả chi tiết có tính hệ thống (theo chuẩn, tiêu chí và mức) những kết quả (kiến thức, kỹ năng, thái độ) mà người học nên làm và cần phải làm để đạt được mục tiêu cuối cùng khi thực hiện một nhiệm vụ cụ thể [3] Theo tác giả Lê Văn Hảo, rubric là một công cụ đánh giá/chấm điểm, được xây dựng bởi GV (có thể có sự tham gia của SV) để hỗ trợ việc đánh giá chi tiết một sản phẩm hoặc một hoạt động học tập [19]

Trang 23

Từ các định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu : rubric là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của người học được thể hiện bằng bản mô tả các tiêu chí đánh giá theo các cấp độ khác nhau trên cơ sở các yêu cầu, mục tiêu cần đạt của môn học

1.1.1.2 Phân loại rubric

a Phân loại: Theo PGS.TS Lê Văn Hảo [19], có 2 loại rubric chính:

-Rubric định lượng/phân tích (Analytical rubric): cung cấp các mô tả chi tiết

của mỗi tiêu chí ở mỗi mức trên thang đánh giá

Bảng 1.1.Rubric định lượng/phân tích

Tiêu chí

đánh giá

Mô tả mức chất lượng Điểm Xuất sắc Tốt Đạt yêu cầu Chưa đạt

10-9 8-7 6-5 4-0

Hình

thức

Đẹp, rõ, không lỗi chính tả

Đẹp, rõ, còn lỗi chính tả

Rõ, còn lỗi chính tả

Đơn điệu, chưa rõ, nhiều lỗi chính tả

Nội

dung

Đáp ứng tốt các yêu cầu,

có mở rộng,

có trích nguồn

Đáp ứng khoảng70%- 80% các yêu cầu , có mở rộng

Đáp ứng khoảng 50%-60%

các yêu cầu của đề

Đáp ứng từ 40% yêu cầu của đề trở xuống

Kỹ năng

Trình

bày

Nói to,rõ ,tự tin ,thuyết phục ,có giao lưu người nghe

Nói to,rõ ,tự tin, giao lưu người nghe

Nói nhỏ, thiếu tự tin,

ít giao lưu người nghe

Nói không

rõ lời , thiếu

tự tin, không giao lưu người nghe Trả lời Trả lời đúng Trả lời đúng Trả lời đúng Trả lới đúng

Trang 24

các câu

hỏi

tất cả các câu hỏi

2/3 số câu hỏi 1/2 số câu

hỏi

dưới 1/2 số câu hỏi

Tham

gia thực

hiện

100% thành viên tham gia thực hiện

Khoảng từ 80% thành viên tham gia thực hiện

Khoảng 60% thành viên tham gia thực hiện

Khoảng dưới 40%

thành viên tham gia

ĐIỂM TỔNG

- Rubric định tính/tổng hợp (Holistic rubric): cung cấp mô tả tổng hợp ứng

với mỗi mức trên thang đánh giá

Bảng 1.2.Rubric định tính /tổng hợp

Mức chất

lượng

Thang điểm

Xuất sắc 9-10 Bố cục rõ ràng, trình bày đẹp, sáng sủa ,

không mắc lỗi chính tả ,diễn đạt mượt mà, ấn tượng Nội dung đáp ứng tốt yêu cầu của đề , lập luận chặt chẽ, thuyết phục, có liên hệ, mở rộng, bài viết sâu sắc

Tốt 7-8 Bố cục rõ ràng, sáng sủa, còn ít lỗi chính tả,

diễn đạt trôi chảy Nội dung đáp ứng khoảng70%- 80% yêu cầu của đề, có mở rộng, liên hệ, lập luận có cơ sở

Đạt yêu

cầu

5-6 Bố cục rõ, mắc nhiều lỗi chính tả, diễn đạt

trúc trắc Nội dung đáp ứng khoảng 60% yêu cầu của đề

Trang 25

50%-Chưa đạt 0-4 Không rõ bố cục, mắc quá nhiều lỗi chính

tả, diễn đạt lủng củng,tối nghĩa Nội dung đạt khoảng dưới 40% yêu cầu của đề

b Ưu nhược điểm của từng loại:

-Rubric định lượng/phân tích:

+ Ưu: Cung cấp thông tin phản hồi chi tiết ứng với mỗi tiêu chí và mức đánh giá, giúp HS tự hoàn thiện tốt hơn Mặt khác, đảm bảo độ tin cậy tốt khi đánh giá bởi điểm được chia nhỏ theo các mức đạt được tiêu chí, độ lệch điểm sẽ thấp

+ Nhược: Mất nhiều thời gian để xây dựng hệ thống tiêu chí và đánh giá -Rubric định tính/tổng hợp:

+ Ưu: Cung cấp thông tin phản hồi tổng hợp ở mỗi mức đánh giá Dễ xây dựng hơn, đánh giá nhanh hơn

+ Nhược: Không chỉ ra được mức độ đạt được ứng với mỗi nội hàm trong thông tin phản hồi tổng hợp nên kém hữu ích đối với HS

1.1.1.3.Cấu trúc Rubric (Tương ứng với loại rubric được sử dụng phổ biến là

rubric định lượng /phân tích)

Theo Goodrich, H.(2014), một rubric có cấu trúc gồm bốn phần cơ bản:

Một là: mô tả nhiệm vụ công việc (công việc được giao của HS)

Hai là: khung ĐG hay các bậc tiêu chuẩn ĐG (ở hình thức các mức độ đáp

ứng yêu cầu hoặc hình thức điểm số)

Ba là: các khía cạnh hay các tiêu chí ĐG kết quả (liệt kê các kĩ năng hay kiến

thức cần có đối với công việc được giao.)

Bốn là:Các mô tả đối với từng mức độ chất lượng (của kết quả đạt được cho

từng tiêu chí ĐG) [1, tr14]

Theo Nguyễn Kim Dung (2010), thành phần của rubric bao gồm các yếu tố sau: mô tả bài tập/công việc/nhiệm vụ, các chiều, thang đo hoặc các mức độ

Trang 26

thành tích và mô tả các chiều Rubric chia các bài tập thành nhiều phần và mô

tả chi tiết các mức độ thực hiện [4]

Martin Kniep, G (2000), cho rằng một rubric cơ bản chỉ bao gồm ba thành phần là:

-Nội dung

-Hình thức (cấu trúc)

-Cách trình bày (bố cục)

Không có phần mô tả nhiệm vụ [11]

Có thể nhận thấy ba ý kiến trên tuy diễn đạt khác nhau nhưng tương đồng ở chỗ cho rằng một rubric cơ bản cần đảm bảo ba thành phần chính là:

-Các tiêu chí ĐG

-Các mức độ đạt được tiêu chí ĐG

-Mô tả các tiêu chí ĐG theo từng mức độ đạt được

1.1.1.4.Thiết kế rubric

a Nguyên tắc thiết kế rubric

- Các mô tả tiêu chí cần phải được diễn đạt theo phổ đi từ mức cao nhất đến mức thấp nhất hoặc ngược lại

- Các mô tả tiêu chí cần phải chỉ ra được ranh giới giữa các mức độ hoàn thành đối với từng HS và giữa các HS với nhau

- Các mô tả tiêu chí cần phải thể hiện được hết các đặc tính khía cạnh của hoạt động hoặc kết quả sản phẩm thực hiện theo mục tiêu

- Các mô tả tiêu chí cần phải chỉ ra được những định hướng mà HS hoặc GV cần hướng tới để thực hiện mục tiêu, giúp họ tự đánh giá và cùng đánh giá

b.Quy trình thiết kế rubric

Quy trình thiết kế một rubric đánh giá gồm 6 bước:

- Bước 1: Xác định chuẩn kiến thức kĩ năng của kiến thức ở nội dung bài học

- Bước 2: Xác định mục tiêu dạy học theo cấp độ nhận thức, nhiệm vụ công

việc

Trang 27

- Bước 3: Xác định các tiêu chí cùng HS:

+ Liệt kê các tiêu chí và thảo luận để lựa chọn, phân loại tiêu chí, từ đó xác định các tiêu chí cần thiết

+ Bổ sung thông tin cho từng tiêu chí

+ Phân chia các mức độ của mỗi tiêu chí Các mức độ phân bậc này cần mô tả chính xác mức độ chất lượng tương ứng

+ Gắn điểm cho mỗi mức độ, điểm cao nhất ứng với mức cao nhất

+ Lập bảng rubric

- Bước 4 Áp dụng thử: HS thử nghiệm rubric đối với các bài làm mẫu do GV

cung cấp Phần thực hành này có thể gây sự tự tin ở HS bằng cách chỉ cho HS cách GV sử dụng rubric để đánh giá bài làm của các em thế nào Đồng thời nó cũng thúc đẩy sự thống nhất giữa HS và GV về độ tin cậy của rubric;

- Bước 5: Điều chỉnh rubric cho phù hợp dựa trên thông tin phản hồi từ việc

áp dụng thử

- Bước 6: Sử dụng rubric cho hoạt động đánh giá và tự đánh giá hoặc đánh

giá đồng đẳng đối với HS và GV[1,tr16]

c.Tiêu chuẩn đánh giá một rubric tốt

Bảng 1.3.Tiêu chuẩn đánh giá một rubric tốt

Tiêu chí Các thông tin có mô tả rõ ràng, thể hiện theo một chuỗi liên kết và

đảm bảo cho sự phát triển của HS không?

Thân thiện

với HS Ngôn ngữ có rõ ràng, dễ hiểu đối với HS không?

Trang 28

d Một số lưu ý khi xây dựng rubric

- GV nên xác định tiêu chí cùng với HS

- Việc lựa chọn tiêu chí nào đưa vào rubric phụ thuộc vào mong đợi của HS

và mục tiêu của đánh giá

- Rubric cần thể hiện rõ chức năng, không những đánh giá kiến thức, kĩ năng

mà còn đánh giá năng lực thực hiện và các năng lực khác nhau của HS [18]

1.1.1.5.Vai trò, chức năng của rubric trong đánh giá

* Khi chưa có Rubric đánh giá GV gặp phải khá nhiều điều bất cập: phải

chấm quá nhiều bài kiểm tra và việc viết nhận xét, bình luận chiếm nhiều thời gian, có khi viết đi viết lại cùng một nhận xét qua nhiều bài của nhiều HS khác nhau Đôi khi HS hỏi lại về yêu cầu bài làm sau khi nhận kết quả chấm, thắc mắc về điểm số Không có một bảng tiêu chí và mức đánh giá rõ ràng, việc chấm bài sẽ có độ “vênh” ít nhiều giữa bài này và bài khác, giữa các bài chấm đầu, chấm giữa và chấm cuối

*Vai trò, chức năng của rubric trong đánh giá

Đối với HS:

- Nhờ có rubric mà việc học tập của HS trở nên rõ ràng, các em dễ dàng kiểm soát được những gì mình đã làm được và chưa làm được, có thể hình dung được những kỳ vọng của GV, của nhà trường về kết quả học tập của các em.Từ đó hình thành động cơ học tập tích cực và xác định rõ các mục tiêu học tập từ trước đó để phấn đấu

Trang 29

- Rubric với các tiêu chí, thang bậc chấm điểm rõ ràng là nguồn cung cấp những phản hồi liên tục cho HS trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập Nhìn vào đó HS có thể tự chấm điểm cho mình, cho bạn và thấy rõ nhưng ưu, khuyết điểm của mình trong quá trình hoạt động, thực hiện nhiệm vụ học tập

Từ đó các em sẽ tìm cách khắc phục, sửa chữa nhược điểm một cách nhanh chóng

+ Rubric không chỉ là một phương pháp đánh giá công bằng mà còn giúp HS hoàn thiện nhiều kĩ năng khác như giao tiếp, hoạt động nhóm, làm việc độc lập Rubric rút ngắn khoảng cách giữa HS và GV khi thầy, trò cùng nhau thảo luận xây dựng rubric, cùng thảo luận về điểm số khi đánh giá…

Đối với GV:

- Rubric là một phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm, GV là người định hướng, dẫn dắt, HS cứ theo các tiêu chí, yêu cầu trong rubric mà thực hiện nhiệm vụ học tập một cách tự giác, nỗ lực để đạt được thang điểm kỳ vọng

mà GV không mất nhiều thời gian giảng giải, phân tích

- Rubric sẽ giúp GV nâng cao chất lượng giảng dạy Từ các tiêu chí rõ ràng trong bảng rubric cũng chính là mục tiêu cần đạt của HS, GV có thể lập kế hoạch giảng dạy cụ thể để hướng dẫn HS một cách hiệu quả

- Rubric sẽ giúp việc đánh giá, cho điểm HS dễ dàng, nhanh chóng, khách quan và chính xác hơn bởi các tiêu chí đã được thống nhất cùng HS trước đó

- Bên cạnh đó, GV có thể kiểm tra bất cứ nội dung nào mình muốn vào bất

cứ lúc nào như: hình thức trình bày, ý tưởng, diễn đạt, sự sáng tạo…

Đối với phụ huynh:

- Rubric giúp phụ huynh hiểu rõ các yêu cầu của GV, nhà trường đối với việc học tập của con, tự kiểm tra, đánh giá được việc thực hiện nhiệm vụ của con

và có cách hỗ trợ con học tập tốt nhất

- Rubric trở thành cầu nối giữa gia đình và nhà trường

Trang 30

Tuy nhiên, rubric bên cạnh rất nhiều lợi ích cũng có một số mặt hạn chế như sau:

- Thiết kế một rubric mất rất nhiều thời gian, đòi hòi công phu, tỉ mỉ

- Rubric có thể làm hạn chế sự sáng tạo của HS Nếu các tiêu chí trong rubric chưa đầy đủ,chưa phù hợp, sự sáng tạo của HS vượt ra ngoài các tiêu chí lại không được công nhận, các em bị bó buộc trong các tiêu chí của rubric sẽ mất

đi hứng thú sáng tạo, gây tâm lý chán nản trong học tập

1.1.1.6 Sử dụng rubric trong đánh giá năng lực học sinh

Chương trình giáo dục phổ thông mới do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2018 theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh với 5 phẩm chất chủ yếu và 10 năng lực cốt lõi cần phát triển

*5 phẩm chất chủ yếu đó là: yêu nước, trách nhiệm, trung thực, chăm chỉ, nhân ái

*10 năng lực cốt lõi cần phát triển là:

Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Năng lực giao tiếp và hợp tác [18]

Trong đó có các năng lực chung được tất cả các môn học, các hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển và các năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học, hoạt động giáo dục nhất định như: ngôn ngữ, thẩm mĩ, tính toán, thể chất, công nghệ, tin

Trang 31

học Chương trình các môn học và sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy đều hướng tới mục tiêu hình thành, phát triển các năng lực cho người học không chỉ những năng lực cốt lõi mà cả những năng lực chuyên biệt (năng khiếu của HS)

Môn Ngữ văn có nhiều ưu thế trong việc góp phần hình thành và phát triển toàn diện các năng lực chung nêu trong Chương trình tổng thể Những năng lực này không chỉ phát triển qua nội dung dạy học mà còn qua phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích cực

Với tiêu chí đổi mới của chương trình giáo dục phổ thông 2018 là tập trung hướng vào phát triển năng lực người học cả năng lực cốt lõi và năng lực chuyên biệt, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của từng cá nhân thì việc sử dụng rubric vào đánh giá giáo dục là lựa chọn hợp lý Bởi:

- Rubric với việc thiết kế các tiêu chí đánh giá dựa vào mục tiêu bài học và các thang bậc đánh giá từ thấp đến cao sẽ giúp phân loại HS một cách rõ ràng, chính xác

- Rubric được thiết kế theo thang bậc Bloom, đòi hỏi HS không chỉ nhớ, hiểu kiến thức bài học mà con biết vận dụng, phân tích, đánh giá, có đủ kỹ năng giải quyết một vấn đề gặp trong đời sống, xã hội

- Sử dụng rubric giúp HS làm chủ việc học: nhận biết các mục tiêu cần đạt, nhận biết điểm mạnh, điểm yếu của mình từ đó tự khắc phục những hạn chế, yếu kém để tiến bộ

- Rubric góp phần thúc đẩy việc học của HS Nhìn vào bảng rubric những HS khá, giỏi sẽ có kì vọng đạt được những thang bậc cao nhất trong các tiêu chí đánh giá Những HS trung bình, yếu cũng sẽ cố gắng để vượt qua các giới hạn

để đạt kết quả cao hơn

- Mô hình rubric đánh giá trong giáo dục góp phần phát triển người học một cách toàn diện Ngoài việc lĩnh hội, tiếp thu kiến thức bài học, HS còn được

Trang 32

phát triển, hoàn thiện các kỹ năng khác như: hợp tác làm việc nhóm, giao tiếp, chia sẻ, sáng tạo

Có thể nói việc sử dụng rubric trong đánh giá giáo dục góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, phù hợp với xu hướng đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực hiện nay, đồng thời làm giảm đi rất nhiều gánh nặng, bất cập trong nền giáo dục

1.1.2 Kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện

1.1.2.1 Đọc hiểu

Theo Walcutt: “đọc văn bản là công việc giải mã những kí hiệu đã được viết thành văn bản và có thể nghe được âm thanh mà kí hiệu đó thể hiện”[7,tr26]

Karlin lại cho rằng đọc là một dạng biểu hiện của tư duy, là dung nạp hay suy nghĩ về một hay những thông tin nào đó Đọc là sự tái tạo những ý tưởng của người khác[7,tr26]

Theo tác giả Trịnh Thị Lan: hoạt động đọc “là một hoạt động phân tích

và tổng hợp phức tạp được truyền đạt thông qua nội dung chứa đựng trong từ

và câu để diễn tả những mối quan hệ khác nhau nhờ sự tiếp thu và nắm vững

ý nghĩa được sắp xếp trong kí hiệu ngôn ngữ”[7,tr28]

Theo tác giả Trần Đình Sử, về khái niệm đọc văn bản văn học nhìn chung

có thể xác định với sáu nội dung như sau:

- Đọc là hoạt động tâm lí nhằm giải mã văn bản Một là chuyển văn bản kí hiệu văn tự thành văn bản bằng ngôn ngữ tương ứng với văn bản chữ viết Hai

là giải mã văn bản để tìm ý nghĩa

- Đọc là hoạt động tìm nghĩa, và vì ý nghĩa là cái không hiển thị rõ ràng nên đọc là hoạt động cảm thụ kết hợp với tư duy nhằm kiến tạo ý nghĩa

- Đã có vai trò của cảm thụ và tư duy thì đọc là hoạt động mang tính cá thể hoá cao độ, gắn với trình độ, cá tính, trí tuệ của người đọc

- Sự kiến tạo ý nghĩa xác định đọc là hoạt động sáng tạo

Trang 33

- Hoạt động tìm nghĩa là quá trình đối thoại với tác giả và cộng đồng lí giải tính liên chủ thể, tính hợp tác

Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối

tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào?[15]

Theo cách hiểu thông thường, như trong Từ điển tiếng Việt (2004) hiểu

sự vật theo những góc độ khác nhau, không có tiêu chuẩn duy nhất cho sự

hiểu Ở đây theo M Bakhtin trong bài Phương pháp luận nghiên cứu văn học,

không có tiêu chuẩn chính xác, mà chỉ có tiêu chí chiều sâu Vấn đề là ai hiểu sâu hơn Tiêu chí chính xác chỉ áp dụng cho tư liệu, trích dẫn chứ không áp dụng cho sự hiểu [15]

Theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng: Hiểu tức là nắm vững và vận dụng được Hiểu cũng có nghĩa là đồng hóa những cái trong tác phẩm và những cái của mình tuy nhiên không xóa nhòa ranh giới giữa chủ thể và đối tượng Hiểu

Trang 34

tác phẩm văn chương là nắm vững ý nghĩa và vẻ đẹp của nó trong tương quan với những gì đã tiềm tàng trong tác phẩm và trong kiến văn của người đọc [5,tr 28]

Từ các cách định nghĩa về đọc và hiểu trên có thể rút ra những điểm

chung về khái niệm đọc hiểu như sau:

Đọc hiểu là một phạm trù khoa học trong nghiên cứu và giảng dạy văn học Hoạt động đọc hiểu sinh thành từ việc đọc, giải mã các kí hiệu ngôn từ

để tìm ra các lớp ý nghĩa của văn bản, là quá trình khám phá, phát hiện ý nghĩa xã hội ,con người, thời đại trong cấu trúc hình tượng thẩm mĩ của tác phẩm Hiểu là kết quả, là mục đích cuối cùng và cao nhất của hành động đọc

Từ hiểu ý nghĩa văn bản mà vận dụng kiến thức từ văn bản vào đời sống, làm thay đổi thế giới quan của người đọc Hiểu một văn bản văn học không có tiêu chuẩn chính xác mà chỉ có tiêu chí chiều sâu, mức độ hiểu văn bản sâu sắc đến đâu là tùy thuộc vào nền tảng tri thức, vốn sống của người đọc Đọc là tiền đề của hiểu Đọc và hiểu có quan hệ phụ thuộc vào nhau ,phối hợp lẫn nhau để hiểu trọn vẹn tác phẩm trong quá trình đọc

Khái niệm đọc hiểu đó, không cho phép ta dạy học văn như cũ mà đòi hỏi phải thay đổi quan niệm dạy ngữ văn và phương pháp dạy học ngữ văn Giảng văn chỉ mới là giải thích, phân tich văn bản, chưa bao gồm sự hiểu của trò Đọc hiểu là hoạt động của trò, là một khái niệm sâu sắc, phong phú, nhiều mặt và chắc chắn sẽ còn có nhiều kiến giải khác nữa Tuy nhiên với khái niệm này, muốn dạy đọc hiểu văn học cho học sinh, đào tạo năng lực đọc hiểu cho các em để các em có thể tự học và tự học suốt đời nhất thiết phải nghiên cứu đổi mới các thao tác dạy học ngữ văn một cách thấu đáo, khoa học, hệ thống, mới mong có hiệu quả [13]

1.1.2.2 Kĩ năng đọc hiểu

Kĩ năng đọc hiểu gồm kĩ năng đọc và kĩ năng hiểu Trong đó, kĩ năng đọc là sự vận dụng thành thạo các thủ pháp và thao tác đọc để tiếp nhận (hoặc

Trang 35

làm người khác tiếp nhận) được nội dung thông tin như: nhận biết kí hiệu chữ viết, từ ngữ, câu văn, văn bản, phát âm thành tiếng hay không thành tiếng…

Kĩ năng hiểu là sự vận dụng thành thạo các thủ pháp và thao tác ghi nhớ, liên

hệ , suy ý để hiểu nội dung văn bản thông qua quá trình đọc văn bản Ở cấp

độ cao, đọc hiểu là một hệ thống thủ pháp và các thao tác tích hợp, vận dụng toàn bộ hiểu biết, kinh nghiệm, tri thức, kĩ năng để hiểu một văn bản[7,tr28]

Để đọc hiểu văn bản văn học cần nắm được sự tương quan giữa các cấu trúc tồn tại trong tác phẩm Tác phẩm văn học gồm có 3 cấu trúc liên kết chặt chẽ với nhau:

Trước hết là cấu trúc ngôn ngữ: Đó là hệ thống ngôn từ được chọn lọc, sắp xếp theo một dụng ý nghệ thuật trong tác phẩm Bên cạnh các từ ngữ, câu văn thông thường,có những từ đắt, từ chốt, lời hay, ý đẹp dược gọi là “thần cú”, “nhãn tự” [7,tr 30]

Thứ đến là cấu trúc hình tượng thẩm mĩ: Là hiện thực, các mối quan hệ

xã hội giữa con người với con người được tổ chức lại một cách sáng tạo, mới

mẻ trong một thế giới được xác định bởi không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật [7,tr 31]

Sau nữa là cấu trúc ý nghĩa: Là tư tưởng, tình cảm, thái độ được biểu hiện trong tác phẩm văn học Đó cũng có thể là những thông điệp sâu sắc về cuộc sống, con người mà nhà văn muốn gửi đến bạn đọc qua tác phẩm nghệ thuật

Từ cấu trúc trên ta có ít nhất bốn cách tiếp cận đọc hiểu văn bản Một là đọc thông, đọc hiểu văn bản ngôn từ Hai là đọc hiểu thông báo của văn bản

Ba là đọc hiểu ý nghĩa Bốn là đọc tổng hợp, phát hiện ý nghĩa của văn bản

Đọc thông là đọc đánh vần được hết các chữ trong bài, không vấp Tiếp theo là đọc hiểu nghĩa của tất cả các chữ, bao gồm từ cổ, từ địa phương, từ dùng ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, chơi chữ…Đọc văn bản bắt đầu từ nhan đề [14] Ví dụ khi đọc hiểu bài thơ “Thuật hoài ” của Phạm Ngũ Lão, cần bắt đầu

Trang 36

từ việc hiểu ý nghĩa nhan đề , sau đó hiểu các từ “hoành sóc”, “giang sơn”, “tì

hổ ,“thôn ngưu”,” công danh trái”

Đọc ý nghĩa tức là đọc tư tưởng, tình cảm, thái độ đối với các hiện tượng đời

sống được thể hiện trong tác phẩm Điều này không chỉ được suy ra từ văn bản mà còn kết hợp với ngữ cảnh xã hội, văn hóa để tìm hiểu[14] Ví dụ khi đọc hiểu bài “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương cần liên hệ với hoàn cảnh

xã hội phong kiến, các bài ca dao than thân để hiểu được ý nghĩa tư tưởng của bài thơ Đọc hiểu bài “Thu điếu ” của Nguyễn Khuyến phải nắm được hoàn cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX và những tâm sự u buồn trong cuộc đời nhà thơ

Cách đọc tổng hợp dành cho người đã hình thành cách đọc, có kinh nghiệm, không cần phải đi qua từng bước như trên nữa Đối với học sinh lớp trên của bậc THPT hoặc đại học [14]

Như vậy, bốn cách tiếp cận đọc hiểu văn bản cũng có thể coi là bốn bước đọc hiểu từ thấp đến cao, đi từ giải mã các tín hiệu ngôn ngữ đến các tầng ý nghĩa, tư tưởng của văn bản

Bàn về kĩ năng đọc hiểu, ta cũng cần chú ý tới các hình thức đọc Chương trình ngữ văn mới của Trung Quốc hiện nay đề cập tới sáu hình thức đọc như sau: đọc thành tiếng, đọc diễn cảm, đọc trầm, đọc tinh (kĩ), đọc lướt, đọc chơi Mọi hình thức đọc đều gắn với đọc hiểu[15]

Để dạy học sinh đọc hiểu, nhà trường dạy cho học sinh đọc hiểu từ ngữ, hiểu nghĩa từ dưới các hình thức tu từ, chơi chữ, hiểu nghĩa từ theo văn cảnh, tiến lên hiểu bố cục, mạch lạc của bài văn và nắm được chủ đích của bài văn[13] Ở các cấp học thấp (cấp 1,2), dạy học sinh đọc hiểu chủ yếu dừng lại

ở cấp độ hiểu nghĩa từ ngữ, bố cục và ý nghĩa của văn bản Lên cấp 3 học sinh

sẽ được đọc hiểu văn bản theo cấu trúc của các thể loại như: loại trữ tình, tự

sự hay các thể như: cáo, phú, văn tế…

Trang 37

1.1.2.3 Đặc trưng của truyện

a Khái niệm truyện

Truyện là một thể loại văn học Truyện thuộc loại tự sự, phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó , qua con người ,hành vi ,sự kiện được miêu tả

và kể lại bởi một người kể chuyện (trần thuật) nào đó [9,tr135]

hệ chặt chẽ với ngoại cảnh, với môi trường xung quanh

Truyện không bị gò bó về không gian, thời gian có thể đi sâu vào tâm trạng con người, những cảnh đời cụ thể, hay tái hiện những bức tranh đời sống toàn cảnh, rộng lớn

Truyện sử dụng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau Ngoài ngôn ngữ người kể chuyện còn có ngôn ngữ nhân vật Bên cạnh ngôn ngữ đối thoại còn

có ngôn ngữ độc thoại Lời người kể và lời nhân vật có khi tách bạch, có lúc lại nhập làm một (lời nửa trực tiếp) Ngôn ngữ truyện ít cách điệu, gần với ngôn ngữ đời sống

c Các kiểu loại truyện

Các kiểu loại truyện chia ra gồm ba nhóm :

Nhóm truyện dân gian gồm: Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn

Nhóm truyện trung đại gồm : Truyện chữ Hán (Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ), truyện chữ Nôm ( Truyện Kiều của Nguyễn Du)

Nhóm truyện hiện đại, theo quy mô văn bản và dung lượng hiện thực, người

ta phân ra thành truyện ngắn, truyện vừa ,truyện dài Trong đó: truyện ngắn

Trang 38

thường ít nhân vật, sự kiện, nó hướng tới một vài mảnh nhỏ của cuộc sống, có thể kể về cả cuộc đời hay một đoạn đời, một “chốc lát”, của nhân vật, nhưng trong phạm vi hạn hẹp vẫn có thể đặt ra những vấn đề lớn lao, những tư tưởng nhân sinh sâu sắc; truyện vừa là thể loại văn xuôi tự sự cỡ trung bình; không

có sự phân biệt rạch ròi giữa truyện vừa và truyện dài (tiểu thuyết) [9,tr135]

1.1.2.4 Kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện

Đọc sáng tạo: đọc văn là đọc tâm hồn, cần hòa vào dòng chảy cảm xúc của tác giả, của nhân vật, cùng vui, cùng buồn.Ví như khi đọc đoạn Chí Phèo thức

tỉnh sau cơn say (Chí Phèo của Nam Cao), hay tâm trạng Mị trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài), trái tim phải cùng phập phồng thổn

thức mới thấy hết được ý vị của trang văn

Chú ý: là nếu văn bản dài có thể cho HS đọc trước ở nhà, trên lớp chỉ đọc

một số đoạn tiêu biểu, đọc kết hợp tóm tắt Có thể dùng các hình thức đọc

Trang 39

khác nhau cho sinh động như đọc phân vai, nhập vai luôn dành những khoảng lặng khi đọc để các em có thể nhập tâm vào văn bản

* Kĩ năng tóm tắt cốt truyện

- Cần đọc kĩ, hiểu đúng chủ đề của văn bản

- Xác định hệ thống nhân vật chính, nhân vật phụ

- Tìm các sự việc, chi tiết tiêu biểu liên quan đến nhân vật chính

- Tóm tắt văn bản dựa trên các sự việc, chi tiết tiêu biểu

* Kĩ năng phân tích văn bản

Phân tích diễn biến cốt truyện qua các phần mở đầu, vận động, kết thúc với các tình tiết, sự kiện, biến cố cụ thể Làm rõ các giá trị của các yếu tố trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống và khắc họa bản chất, tính cách nhân vật Phân tích tình huống truyện (nếu có)

Phân tích hệ thống nhân vật trong cốt truyện: cảm nhận chung về nhân vật ( xác định nhân vật chính, phụ, ấn tượng với nhân vật nào nhất? thương nhân vật nào nhất? ); tìm hiểu về cách giới thiệu nhân vật, cuộc đời, tính cách, phẩm chất của các nhân vật (qua ngoại hình, ngôn ngữ, hành động,biến cố ); đánh giá chung về nhân vật Mối quan hệ giữa các nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật…

Phân tích nhân vật: Phân tích đặc điểm ngoại hình, nội tâm nhân vật, đánh giá về cuộc đời số phận nhân vật, ý nghĩa tư tưởng được gửi gắm qua nhân vật, bút pháp xây dựng nhân vật…

Kết nối giữa các chi tiết trong và ngoài tác phẩm (giữa tác phẩm đang tìm hiểu với các tác phẩm khác, giữa tác phẩm đang tìm hiểu với các chi tiết tương tự ngoài đời thực ) để thấy được ý nghĩa tư tưởng và giá trị nghệ thuật qua mỗi chi tiết …

Chú ý tới nghệ thuật tự sự : Người kể chuyện ở ngôi thứ mấy? (thứ nhất hay thứ ba); điểm nhìn trần thuật; cách sắp xếp các tình tiết, sự kiện; thủ pháp

kể chuyện, miêu tả; giọng điệu, lời văn,…

Trang 40

* Kĩ năng đánh giá văn bản

Đánh giá lại nhưng giá trị chủ yếu về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tác phẩm đặt ra vấn đề gì? Có ý nghĩa tư tưởng như thế nào? Giá trị lớn nhất của tác phẩm nằm ở chỗ nào? Cũng có thể xác định giá trị của truyện ở các phương diện: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ Cần thấy được đọc truyện không chỉ “tái hiện lịch sử đời sống” mà còn là “hành trình đi tìm con người trong con người” (M Ba-khtin) Nét độc đáo của tác giả trong khám phá về con người, về cuộc đời?

* Kĩ năng vận dụng

Em rút ra điều gì sau khi đọc văn bản? Liên hệ bản thân Vận dụng kiến thức rút ra từ tác phẩm đưa ra phương án giải quyết những tình huống khác nhau trong đời sống xã hội

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1.Yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 về đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 10

1.2.1.1 Yêu cầu đổi mới đánh giá năng lực học sinh trong môn Ngữ văn

Những năm trước, công tác kiểm tra đánh giá của giáo dục nước ta còn nặng

về đánh giá định kỳ và đánh giá sự ghi nhớ kiến thức của học sinh Việc đánh giá quá trình và đánh giá học sinh vận dụng kiến thức học được vào giải quyết vấn đề của thực tế cuộc sống chưa được quan tâm đúng mức

Nhận thức rõ vấn đề này, từ năm 2013, Bộ GD&ĐT đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện các phương pháp dạy học/hoạt động giáo dục và kiểm tra đánh giá tích cực Trong đó có công văn số 3535 (năm 2013) hướng dẫn triển khai thực hiện phương pháp “bàn tay nặn bột” và các phương pháp dạy học tích cực khác; công văn 791 (năm 2013) hướng dẫn thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông; công văn

5555 (năm 2015) hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá

Ngày đăng: 30/03/2021, 08:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thành Ngọc Bảo (2017), Mô hình rubric đánh giá năng lực tạo lập văn bản nghị luận xã hội của học sinh THPT, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP.HCM, số 10, tr 163-172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Mô hình rubric đánh giá năng lực tạo lập văn bản nghị luận xã hội của học sinh THPT
Tác giả: Nguyễn Thành Ngọc Bảo
Năm: 2017
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, (Ban hành kèm theo Thông tƣ số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2018
3.Tôn Quang Cường (2009), Áp dụng đánh giá theo rubric trong dạy học, Tạp chí Giáo dục, số 221, tr 47-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng đánh giá theo rubric trong dạy học
Tác giả: Tôn Quang Cường
Năm: 2009
4. Nguyễn Kim Dung (2012), Xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng học sinh trung học phổ thông tại Tp.HCM, Tạp chí Khoa ĐHSP TP.HCM, số 21, tr 144-151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng học sinh trung học phổ thông tại Tp.HCM
Tác giả: Nguyễn Kim Dung
Năm: 2012
5. Nguyễn Thanh Hùng (2011), Kĩ năng đọc hiểu văn, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng đọc hiểu văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2011
6. Nguyễn Công Khanh (chủ biên), (2014), Giáo trình kiểm tra đánh giá trong giáo dục, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kiểm tra đánh giá trong giáo
Tác giả: Nguyễn Công Khanh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2014
7. Trịnh Thị Lan (2017), Văn bản và dạy học đọc hiểu văn bản ở trường trung học, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và dạy học đọc hiểu văn bản ở trường trung học
Tác giả: Trịnh Thị Lan
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2017
8. Trịnh Thị Lan, Nguyễn Thu Thủy (2018), Thiết kế rubric đánh giá bài viết văn thuyết minh của học sinh lớp 8, Tạp chí Giáo dục, số 432, tr 44-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế rubric đánh giá bài viết văn thuyết minh của học sinh lớp 8
Tác giả: Trịnh Thị Lan, Nguyễn Thu Thủy
Năm: 2018
9. Phan Trọng Luận (chủ biên), (2007), Ngữ văn 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11
Tác giả: Phan Trọng Luận (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
10. Lê Thị Ngọc Nhẫn (2014), Vận dụng rubric để xây dựng các tiêu chí đánh giá, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP.HCM, số 62, tr 146-151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng rubric để xây dựng các tiêu chí đánh giá
Tác giả: Lê Thị Ngọc Nhẫn
Năm: 2014
11. Martin-Kniep O.Gisell (2011), Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi
Tác giả: Martin-Kniep O.Gisell
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2011
12. Trần Đình Sử (2013), “Đọc hiểu văn bản -1 khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay”, Báo Văn nghệ 30/08/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu văn bản -1 khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay”
Tác giả: Trần Đình Sử
Năm: 2013
13. Trần Đình Sử (2017), “Môn văn dạy gì? Hay là quan niệm của tôi về dạy văn”, Báo Văn nghệ 03/08/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môn văn dạy gì? Hay là quan niệm của tôi về dạy văn”
Tác giả: Trần Đình Sử
Năm: 2017
14. Trần Đình Sử (2014) , “Văn bản văn học và những ngã đường đọc hiểu”, Báo Văn nghệ, 14/9/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản văn học và những ngã đường đọc hiểu”
15. Trần Đình Sử “ Từ giảng văn qua phân tích tác phẩm đến dạy học đọc hiểu văn bản văn học”, Tạp chí Văn nghệ, số 321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ giảng văn qua phân tích tác phẩm đến dạy học đọc hiểu văn bản văn học”
16. Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), (2018), Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn THPT, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn THPT
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2018
18. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), 5 phẩm chất và 10 năng lực cần phát triển cho học sinh, http://rgep.moet.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop/infographics-5-pham-chat-va-10-nang-luc-can-phat-trien-cho-hoc-sinh-4875.html, truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 5 phẩm chất và 10 năng lực cần phát triển cho học sinh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2019
19. Lê Văn Hảo (2019), Thiết kế và sử dụng rubric trong đánh giá học tập, http://www.ntu.edu.vn/Portals/96/DiendandoimoiPPGD, truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và sử dụng rubric trong đánh giá học tập
Tác giả: Lê Văn Hảo
Năm: 2019
20. Natalie Pham (2010), Rubric, http://www.docstoc.com/doc/54132218/ Rubric_PowerPoit by_heicli_gooddrich_andrade.pdf, truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rubric
Tác giả: Natalie Pham
Năm: 2010
21.Goodrich(2014), Understanding Rubric Retrieved, http://www.saddleback.edu/uploads/goe/understanding_rubricby_heicli_gooddrich_andrade.pdf, truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Understanding Rubric Retrieved
Tác giả: Goodrich
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm