Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực cá nhân, nó chi phối mạnh mẽ đến hoạt động của con người nói chung, đời sống tâm lý nói riêng. Nghiên cứu nhu cầu của con người là một việc làm hết sức cần thiết bởi nhu cầu là động lực tạo nên mức độ độc lập, tích cực và sáng tạo của con người.Trong con người tồn tại nhiều loại nhu cầu ở nhiều cấp độ khác nhau. Trong đó, nhu cầu học tập là một loại nhu cầu cấp cao, chi phối mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển nhân cách của con người.
Trang 1MỞ ĐẦU
Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực cá nhân, nó chi phối mạnh mẽ đếnhoạt động của con người nói chung, đời sống tâm lý nói riêng Nghiên cứu nhucầu của con người là một việc làm hết sức cần thiết bởi nhu cầu là động lực tạonên mức độ độc lập, tích cực và sáng tạo của con người.Trong con người tồn tạinhiều loại nhu cầu ở nhiều cấp độ khác nhau Trong đó, nhu cầu học tập là mộtloại nhu cầu cấp cao, chi phối mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển nhâncách của con người
Ở các nhà trường quân đội, chất lượng giáo dục, đào tạo phụ thuộc vàonhiều yếu tố: nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, chất lượng độingũ giáo viên, học viên, cán bộ quản lý, cơ sở vật chất đảm bảo cho quá trình dạyhọc Trong đó, nhu cầu, tính tích cực của bản thân học viên trong quá trình họctập, rèn luyện đóng vai trò quyết định Đây là cơ sở quan trọng để giúp người họcnắm vững hệ thống tri thức, kỹ xảo, kỹ năng nghề nghiệp hoạt động quân sự, làđiều kiện để thúc đẩy tính tích cực, quy định chiều hướng phát triển, tính chấthoạt động và điều chỉnh hành vi của người học trong quá trình học tập, rèn luyện.Thực tế hiện nay, phần lớn học viên đào tạo sĩ quan ở các nhà trường quânđội luôn có mong muốn được học tập để nâng cao trình độ, sự hiểu biết để đápứng yêu yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước của nền kinh tế tri thức và sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng,chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại Tuy nhiên vẫn còn một bộ phậnkhông nhỏ học viên nhận thức chưa đầy đủ về nhiệm vụ học tập, rèn luyện, ítquan tâm đến tích lũy tri thức, kinh nghiệm, chưa nỗ lực học tập, rèn luyện dẫntới kết quả học tập rèn luyện còn thấp Vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dụcđào tạo ở các nhà trường quân đội hiện nay, cần phải quan tâm phát triển nhu cầuhọc tập cho học viên
Với ý nghĩa đó, tôi chọn chủ đề: “Nhu cầu trong tâm lý học, vận dụng trong phát triển nhu cầu học tập của học viên đào tạo sĩ quan ở Nhà trường quân đội hiện nay” làm nội dung viết thu hoạch.
Trang 2I CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU CƠ BẢN VỀ NHU CẦU TRONG TÂM LÝ HỌC
1 Hướng phân tích bản chất tâm lý của nhu cầu
Tác giả Uznatze (1978) phân loại hành vi của con người: “cần xuất phát từcái gì trong khi phân loại các hình thái hành vi người Vấn đề động cơ hay nguồngốc tính tích cực có ý nghĩa cơ bản và ở đây khái niệm nhu cầu phải giữ vai tròquyết định” [5] Như vậy, Uznatze cho rằng nhu cầu là yếu tố quyết định tạo nêntính tích cực, nó xác định xu hướng, tính chất hành vi Từ quan niệm này, ông vàcộng sự đưa ra thuyết tâm thế: nhu cầu thống nhất với hoàn cảnh thì tạo ra tâmthế Tâm thế là trạng thái tích cực tâm lý của hành vi
Tác giả Leonchiev (1989) cho rằng: Nhu cầu thực sự bao giờ cũng phải lànhu cầu về một cái gì đó, và một trạng thái có tính nhu cầu nhưng lại chứa đựngnội dung đối tượng thì không thể là một nhu cầu ở cấp độ tâm lý, đó là trạng tháinhu cầu “trần trụi” của chủ thể, là cái trừu tượng Ông viết: “Sở dĩ những cáitrừu tượng này xuất hiện trên sân khấu là do việc tách rời nhu cầu khỏi hoạtđộng có đối tượng của chủ thể”
Ngoài ra, A.N.Lêônchiev (1989) còn cho rằng: “Nhu cầu gặp đối tượng làhiện tượng kỳ thú nhất trong tâm lý học Nó tác động làm chủ thể “bị đối tượnghóa” Như vậy nhu cầu muốn hướng được hoạt động thì phải đối tượng hóatrong một khách thể nhất định Muốn được như vậy thì đương nhiên chủ thểphải thực hiện một hoạt động tương ứng với khách thể, mà trong khách thể này
có nhu cầu đối tượng hóa trong đó A.N.Lêônchiev phê phán việc nghiên cứunhu cầu tách rời khỏi hoạt động Mối liên hệ giữa nhu cầu và hoạt động đượcA.N.Lêônchiev mô tả bằng sơ đồ: Hoạt động - Nhu cầu - Hoạt động Ông chorằng luận điểm này đáp ứng quan niệm macxit về nhu cầu, rằng nhu cầu của conngười thì được sản xuất ra Tác giả A.N.Lêônchiev còn viết: “Sự biến hóa củanhu cầu, nội dung đối tượng của nhu cầu chính là sự phát triển của động cơ Dovậy, có thể nói sự phân tích các nhu cầu về mặt tâm lý học không thể tránh khỏi
Trang 3việc chuyển thành sự phân tích các động cơ hoạt động” [1, tr.228] Như vậy, nộidung đối tượng của nhu cầu chính là động cơ của hoạt động
Theo tác giả Miaxisep (2007), mọi nhu cầu, mọi chức năng tâm lí cấp caocủa con người, từ đơn giản đến phức tạp đều có liên quan đến hệ thống thái độdưới một hình thức nào đó Ông cho rằng, hệ thống thái độ được hình thành theo
cơ chế “chuyển từ ngoài vào trong”, thông qua hoạt động có ý thức của cá nhântrong các mối quan hệ xã hội mà nó gia nhập vào Miaxisep đặc biệt nhấn mạnh
“thái độ đánh giá” như một phạm trù rất quan trọng, có tính chất nền tảng khibàn tới nhu cầu, động cơ, nhân cách [6, tr 39]
Dựa trên quan điểm của Miaxisep, chúng tôi cho rằng, chỉ trên cơ sở đánhgiá đúng đắn, chính xác bản thân trong mối quan hệ với người khác, với nhóm
và cộng đồng mà mình là thành viên, cá nhân mới có điều kiện xác định chínhxác giá trị xã hội của bản thân là tích cực hay tiêu cực Trên cơ sở ấy, cá nhânđiều khiển, điều chỉnh những phẩm chất nhân cách của mình sao cho phù hợpvới các chuẩn mực xã hội Thông qua đó, cá nhân khẳng định nhu cầu, nănglực và giá trị xã hội của bản thân Như vậy, theo tác giả Miaxisep, nghiên cứunhu cầu phải gắn liền với hệ thống thái độ, với hoạt động có ý thức của conngười trong mối quan hệ mà cá nhân đó gia nhập vào
Do không chấp nhận các yếu tố bên trong (nhu cầu, động cơ, ý thức ) làđối tượng nghiên cứu của mình nên thực chất, Watson và Skinner đều khôngchuyên tâm nghiên cứu nhu cầu, động cơ, nhân cách Theo tác giả Watson,Skinner, nhân cách chỉ là một cấu trúc của những hành vi vận hành (Skinner)hoặc chỉ là sự tích lũy các phản ứng tập nhiễm được củng cố, đã trở thành hệthống thói quen [6, tr.119]
Như vậy, dựa theo quan điểm của Watson, Skinner, chúng tôi cho rằng,nhu cầu, động cơ, nhân cách của con người là cái có thể quan sát được, hành vichỉ được giải thích bởi những nguyên nhân bên ngoài Bandura và Rotter đềunhận thấy khiếm khuyết cơ bản trong hệ thống lý luận của Skinner, Watson làphủ nhận hoàn toàn vai trò của các yếu tố nhu cầu, động cơ Do vậy, cả hai tácgiả Bandura và Rotter hiểu nhân cách như là một “hệ thống bản thân nội tại”, “là
Trang 4tập hợp các cơ cấu nhận thức” dẫn đến quá trình đánh giá những kích thích đến
từ môi trường, tự đánh giá bản thân, tự phản ứng
Nổi bật trong quan điểm của Rotter về nhu cầu, động cơ, về nhân cáchcủa con người là: Con người không phải là nạn nhân thụ động của những sự kiệnbên ngoài (môi trường), sự thừa kế (di truyền) hoặc bị cầm tù bởi những kinhnghiệm thời thơ ấu mà tự do trong việc tạo ra hiện tại và tương lai củamình Như vậy, có khá nhiều quan điểm khác nhau khi phân tích bản chất tâm lícủa nhu cầu Tác giả Miaxisep cho rằng nghiên cứu nhu cầu phải gắn liền vớithái độ, với hoạt động có ý thức của con người Leonchiev thì đặc biệt chú trọngmối quan hệ giữa nhu cầu và hoạt động Uznatze lại nhấn mạnh nhu cầu là yếu
tố quyết định tạo nên tính tích cực của con người Bên cạnh đó, Watson, Skinnerchưa thực sự coi trọng nhu cầu - các yếu tố tâm lí bên trong và cả hai đều chorằng, nhu cầu là cái có thể quan sát được
Với quan điểm của Bandura, Rotter khi nghiên cứu nhu cầu, cả hai nhànghiên cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của năng lực con người trong việc tựtạo ra tương lai cho mình Chúng tôi đồng tình với quan điểm của tâm lý họchoạt động khi cho rằng, nhu cầu là yếu tố quyết định tạo nên tính tích cực, nóquyết định xu hướng, tính chất hành vi của con người Bên cạnh đó, cách tiếpcận này còn cho rằng, nghiên cứu nhu cầu phải gắn liền với hoạt động và nhucầu là những đòi hỏi khách quan của mỗi người trong những điều kiện cụ thểđảm bảo cho sự tồn tại và phát triển
2 Hướng chú trọng nhu cầu tự do cá nhân
Tác giả S.Freud coi nhu cầu tự do của cá nhân như các nhu cầu tự nhiêncủa con người, coi nhu cầu của con người thuần túy mang tính chất sinh học,chủ yếu được điều khiển bởi bản năng tính dục Việc thỏa mãn nhu cầu tự do sẽgiải phóng năng lượng tự nhiên và như thế tự do cá nhân thực sự được tôn trọng.Kìm hãm nhu cầu này dẫn đến mất định hướng của con người Như vậy, theochúng tôi hiểu Freud cho rằng, nguồn gốc hành vi của con người bắt nguồn từbản năng sinh học tức lực vận động hành vi con người nằm trong bản năng Ông
Trang 5khẳng định rằng, tất cả hành vi của con người đều hướng tới việc mong muốnthỏa mãn nhu cầu khoái lạc của cơ thể
Trong lịch sử tâm lý học nói riêng và lịch sử khoa học nói chung, có lẽ không
có hệ thống lý thuyết nào lại gây ra nhiều tranh cãi mạnh mẽ như hệ thống lýluận phân tâm của S Freud Những người ca ngợi ông thì đặt ông ngang hàngvới các vĩ nhân vì đã có những sáng tạo vĩ đại có tác dụng chi phối lịch sử tưduy của thế giới Ngược lại, những người phản đối ông thì dành cho ông mọi sựxúc phạm nặng nề nhất, gán cho ông đủ loại tính từ xấu xa nhất mà trong ngônngữ của họ có thể có Như vậy, vượt lên trên mọi sự tranh cãi, lý thuyết phântâm của Freud đã chứng tỏ sức sống của nó không chỉ trong lĩnh vực tâm lý học,
mà còn trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống Cho đến ngày nay lýthuyết phân tâm của Freud vẫn đang được thừa nhận là tri thức phổ biến củanhân loại
Ngược lại với quan điểm của Phân tâm học, những nghiên cứu của Allportnhấn mạnh tới sự quyết định của ý thức, của động cơ và của sự quan tâm tích cực.Ông cho rằng, ở những năm đầu đời của trẻ, nếu như mẹ manglại cho nó đầy đủ
sự yêu thương và cảm giác an toàn, thì cái tôi của nó sẽ phát triển từng bước mộtcách thuận lợi và ổn định, đứa trẻ sẽ đạt đến sự phát triển tích cực về mặt tâm lí.Những động cơ thời thơ ấu sẽ tự do chuyển sang những động cơ mang tính tự chủchức năng ở tuổi trưởng thành [6, tr 124]
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, ý tưởng của ông về tính tự trị chức năngcủa động cơ còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết Chẳng hạn, bằng cáchnào một động cơ gốc có thể chuyển hóa thành một động lực tự chủ? Làm thếnào để có thể dự đoán được động cơ nào thời thơ ấu sẽ tự do trở thành tự chủ
ở tuổi trưởng thành Mặc dù còn nhiều tồn tại chưa được giải quyết,nhưng quan điểm của Allport vẫn được cộng đồng khoa học thừa nhận là cóđóng góp quan trọng và thú vị
Tư tưởng của các nhà tâm lý học nhân văn là tôn trọng con người,tôn trọng giá trị sáng tạo và trách nhiệm con người, tôn trọng các phẩm giá
cá nhân của con người, coi hiện tượng là cơ bản duy nhất trong đời sống
Trang 6con người Trong quan điểm của Rogers, nổi lên khái niệm “khuynh hướnghiện thực hóa” Khuynh hướng hiện thực hóa được Rogers hiểu là động cơbản năng của con người nhằm hiện thực hóa, duy trì và củng cố cái tôi.Theo Rogers, việc cha mẹ và người chăm sóc đáp ứng như thế nào nhu cầu về
sự quan tâm tích cực của trẻ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự pháttriển “cái tôi” của nó Nhu cầu về sự quan tâm tích cực được hiểu là nhu cầuđược thừa nhận, được yêu thương và được ủng hộ từ những người khác Rogersđặc biệt nhấn mạnh vai trò của nhận thức, đặc biệt là tự nhận thức, tự chịutrách nhiệm về sự biến đổi và cải thiện nhân cách của mình ở mỗi người đểtrở thành người có đầy đủ chức năng mà ông cho là mục đích quan trọng nhấtcủa cả một đời người
Rogers đặc biệt chú trọng phát triển nhân cách con người như nó vốn có,tôn trọng các phẩm giá của con người và sự tự do phát triển nhân cách conngười theo cái mà họ hướng đến Những quan điểm của Carl Rogers về vấn đềnhân cách trong ngành tâm lí học còn nhiều ý kiến trái chiều nhưng nhìn chung,những đóng góp của ông cho tâm lí học thế giới là không thể phủ nhận
Như vậy, các quan điểm được nêu ở trên đều ít nhiều nhấn mạnh và khẳngđịnh tầm quan trọng của nhu cầu tự do của cá nhân, coi nhu cầu tự do của cánhân là nhu cầu tự nhiên của con người Trong các quan điểm đó, chúng tôiđồng tình với quan điểm của Rogers hơn cả, bởi lẽ việc nhận thức, đặc biệt là tựnhận thức, tự chịu trách nhiệm có vai trò rất to lớn nhằm hiện thực hóa, duy trì
và củng cố cái tôi của mỗi người
3 Hướng nhìn nhận nhu cầu của con người theo hình thái phân cấp
Tác giả Maslow đã chia nhu cầu thành 5 mức Cụ thể như sau [6, tr 125]:
- Mức thứ nhất: Các nhu cầu sinh lý, là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống
của con người, như: nhu cầu ăn, nước uống, nhà ở, tình dục Maslow cho rằngkhi các nhu cầu sinh lý này chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết thì nhữngnhu cầu khác sẽ không có tác dụng thúc đẩy hoạt động của con người
- Mức thứ hai: Các nhu cầu an ninh, an toàn là nhu cầu tránh sự nguy hiểm
về thân thể, sự đe dọa mất việc làm, tài sản
Trang 7- Mức thứ ba: Các nhu cầu xã hội, là nhu cầu về giao lưu, giao tiếp với người
ngườikhác và được người khác thừa nhận
- Mức thứ tư: Các nhu cầu được tôn trọng, là xu thế muốn được độc lập,
muốn được người khác tôn trọng khi được chấp nhận là thành viên của xã hội
Đó là nhu cầu về quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin
- Mức thứ năm: Các nhu cầu hiện thực hóa bản thân, là các mong
muốn thể hiện khả năng, năng lực, bộc lộ hết tiềm năng của mình ở mức tối
đa nhằm thực hiện mục tiêu nào đó Nhu cầu này được Maslow xếp ở vị trícao nhất trong bậc thang các nhu cầu Các mức độ trên được sắp xếp thànhtháp nhu cầu
Trong nghiên cứu của mình, Maslow khẳng định: những nhu cầu càng ởbậc thấp thì sức mạnh của nó càng lớn, càng ở những bậc thang cao thìsức mạnh của nó càng yếu hơn Ông gọi những nhu cầu ở bậc thang thấp lànhững nhu cầu bị thiếu hụt Trái lại, những nhu cầu ở bậc thang cao do ít cầnthiết cho sự tồn tại nên việc thỏa mãn những nhu cầu này có thể được trìhoãn (không nhất thiết phải thỏa mãn ngay) Tuy nhiên, việc thỏa mãn nhữngnhu cầu ở bậc cao lại quan trọng cho sự phát triển của cá nhân Do vậy, ônggọi những nhu cầu này là nhu cầu phát triển Từ ý tưởng này, Maslow đưa
ra những khái niệm như “siêu nhu cầu”, “siêu động cơ”, “người tự chủ bảnthân” [6, tr 127]
Bên cạnh đó, Maslow cho rằng tâm lý tự bằng lòng mỗi khi nhữngnhu cầu ở bậc thang thấp được thỏa mãn cũng làm cho con người dừng lại,cảm thấy mãn nguyện không muốn lao vào những thử thách mới nhằm tựkhẳng định bản thân Do đó, ông cho rằng, sự khẳng định bản thân đòi hỏi sựdũng cảm, cần sự nỗ lực, rèn luyện và tự chủ Sự tự khẳng định bản thân sẽkhông thể có ở những người thích an phận, mà nó chỉ có ở những cá nhân tự tin
và thích lao vào các thử thách mới
Với tác giả Murray (1996), ông đã chia nhu cầu con người thành 20 loạikhác nhau: nhu cầu về quyền lực, nhu cầu làm tổn thương người khác, nhu cầutìm kiếm các mối quan hệ bạn bè, nhu cầu bỏ rơi người khác, nhu cầu muốn
Trang 8vượt qua mọi quy định, quy tắc ràng buộc bản thân, lấy mình làm trung tâm, nhucầu phục tùng một cách thụ động, nhu cầu tôn trọng ủng hộ, nhu cầu tự khẳngđịnh (muốn chiến thắng, đánh bại, vượt trội hơn người khác, muốn làm một cái
gì đó nhanh chóng và tốt đẹp, muốn đạt trình độ cao trong công việc), nhu cầutrở thành trung tâm của sự chú ý, nhu cầu được chơi bời giải trí, nhu cầu đặtquyền lợi của mình lên trên tất cả, nhu cầu hướng ngoại, nhu cầu tìm kiếm sựgiúp đỡ, nhu cầu muốn giúp đỡ, nhu cầu tránh bị trách phạt, nhu cầu phòng vệ,nhu cầu tránh thất bại, nhu cầu an toàn, nhu cầu ngăn nắp, nhu cầu phán đoán.Ông cho rằng, nhu cầu tự khẳng định nằm trong nhu cầu thứ phát, đồng thờicũng là nhu cầu tiềm tàng của con người – đặc trưng riêng của con người nhưmột tồn tại xã hội
Tóm lại, các nhà tâm lý học Freud, Maslow, Murray đã có những quanđiểm khác nhau khi nghiên cứu về nhu cầu Tuy không dễ dàng bác bỏ quanđiểm của họ nhưng cũng có một số vấn đề cần bàn như: Có phải việc thỏa mãnnhu cầu tự do cá nhân (nhu cầu tình dục) là động lực thúc đẩy duy nhất conngười hoạt động theo quan niệm của Freud, hay các nhu cầu bậc cao của conngười có nhất thiết phải tuân theo tầng bậc như theo quan niệm của Maslow haykhông? Vấn đề nhu cầu theo quan niệm của các nhà tâm lý học phương Tâycòn nhiều bàn cãi, tuy nhiên tựu chung lại, họ có chung một quan điểm, đó là:
Nhu cầu của con người là những đòi hỏi tất yếu khách quan được con người phản ánh trong những điều kiện cụ thể, cần được thỏa mãn để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của họ
Như vậy, nhu cầu là đòi hỏi tất yếu, khách quan để con người tồn tại vàphát triển Nhu cầu là nguồn gốc, nguyên nhân của tính tích cực hoạt động, có khảnăng điều khiển hành vi, xác định xu hướng tư duy, tình cảm, lý trí của conngười Nhu cầu bắt nguồn từ chính hoạt động thực tiễn của con người Khi nhữngthiếu thốn, những đòi hỏi của điều kiện, hoàn cảnh được cá nhân phản ánh và thúcđẩy cá nhân vươn tới tìm kiếm và chiếm lĩnh đối tượng để thỏa mãn nhu cầu
Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng: Đối tượng của nhu cầu là cái mà con
người đòi hỏi phải có để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình Tính tất yếu cần
Trang 9được thỏa mãn của nhu cầu xuất hiện khi chủ thể nhận thức được đầy đủ ý nghĩa,tầm quan trọng và sự cần thiết ở đối tượng nhu cầu đối với mình Khi ý nghĩa, tầmquan trọng và sự cần thiết của sự vật, hiện tượng đối với chủ thể được chính chủthể nhận thức rõ ràng, đầy đủ (kể cả phương thức để đạt được nó) đó là lúc chủ thể
có một nhu cầu đích thực A.N Leonchiep gọi đó là lúc “nhu cầu gặp được đốitượng” Hiện tượng này làm xuất hiện ở chủ thể một sức mạnh tâm lý thúc đẩy chủthể thực hiện hành động lấy đối tượng của nhu cầu làm mục tiêu vươn tới, chiếmlĩnh Nói cách khác đối tượng của nhu cầu trở thành cái định hướng, điều khiển,điều chỉnh hành động của chủ thể nhằm chiếm lĩnh nó, thỏa mãn nhu cầu
Nhu cầu bao giờ cũng có phương thức thỏa mãn: Thông qua nhận thức,
đối tượng của nhu cầu dần được phản ánh đầy đủ trong đầu chủ thể dưới hìnhthức biểu tượng Để thỏa mãn nhu cầu của mình, chủ thể phải tìm được cáchthức, con đường (phương pháp) hiện thực hóa đối tượng nhu cầu Muốn chỉ raphương thức thỏa mãn nhu cầu, đòi hỏi chủ thể phải phân tích, tìm hiểu bản chấtđối tượng nhu cầu ấy, đồng thời phân tích, tìm hiểu mối quan hệ của đối tượngnhu cầu này với những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của chủ thể
Nhu cầu sinh ra từ hoạt động: Đề cập tới nhu cầu là đề cập tới đối
tượng của nó Đối tượng của nhu cầu hàm chứa nội dung tâm lý của nhu cầu.Nhờ hoạt động nhận thức của chủ thể, đối tượng của nhu cầu dần dần xuấthiện đầy đủ trong đầu chủ thể dưới dạng biểu tượng Sau đó, nhờ hoạt độngthực tiễn của chủ thể, đối tượng của nhu cầu được hiện thực hóa, tồn tại trựcquan, có tác dụng kích thích, định hướng, thúc đẩy hoạt động làm nảy sinhnhu cầu mới Mối quan hệ giữa hoạt động và nhu cầu là mối quan hệ sinhthành lẫn nhau, trong đó hoạt động là điểm xuất phát, nhu cầu là nguồn gốccủa tính tích cực hoạt động
Sự vận động, phát triển của nhu cầu: Nhu cầu của con người luôn vận
động, phát triển đồng thời với sự vận động, phát triển của xã hội loài người Xéttrên bình diện cá thể phát sinh, nhu cầu của con người về những cái cần phải cóluôn vận động, phát triển không ngừng từ thấp đến cao Quá trình hình thành,phát triển nhu cầu ở mỗi người khác nhau là không giống nhau Do trình độ
Trang 10nhận thức về đối tượng của nhu cầu và phương thức chiếm lĩnh đối tượng, thỏamãn nhu cầu ở mỗi người là khác nhau, đồng thời số lượng và tính chất các nhucầu của các chủ thể cũng khác nhau.
II.VẬN DUNG TRONG PHÁT TRIỂN NHU CẦU HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN ĐÀO TẠO SĨ QUAN Ở NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
1.Đặc điểm hoạt động học tập của học viên đào tạo sĩ quan
Trong trường đại học quân sự, hoạt động học tập của học viên là hoạtđộng chủ đạo cơ bản giúp người học lĩnh hội các tri thức khoa học quân sự, kiếnthức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp nhằm phát triển nhân cách, hình thành nhữngphẩm chất, năng lực cần thiết đáp ứng cho công tác sau này Hoạt động đó mangđầy đủ các đặc trưng tâm lý của hoạt động học tập Tuy nhiên, do mục tiêu, yêucầu hoạt động quân sự và việc đào tạo đội ngũ sĩ quan chỉ huy cấp phân độinhằm đáp ứng yêu cầu chỉ huy bộ đội trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiệnnay, hoạt động học tập của học viên đào tạo sĩ quan ở các nhà trường quân độicòn có những đặc thù riêng Những đặc thù riêng này đặt ra yêu cầu phải pháthuy cao độ nhu cầu học tập đúng đắn của mỗi học viên trong quá trình đào tạo
a, Hoạt động học tập của học viên là hoạt động hướng vào thay đổi bản thân nhằm đáp ứng yêu cầu có trình độ bậc đại học và phẩm chất, năng lực của người sĩ quan
Trước đây việc đào tạo sĩ quan chủ yếu là đào tạo theo chức danh đượcđảm nhiệm sau khi tốt nghiệp ra trường Hiện nay, trước yêu cầu mới của sựnghiệp bảo vệ Tổ quốc và những đòi hỏi đặt ra trong thực hiện chức trách,nhiệm vụ của người sĩ quan; mục tiêu, yêu cầu đào tạo đội ngũ sĩ quan ở các nhàtrường quân đội được nâng cao thêm một bước Cụ thể là phải đào tạo ra người
sĩ quan có trình độ bậc đại học, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạođức trong sáng, có năng lực lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, giáo dục, huấn luyện bộđội, có khả năng làm tốt công tác đảng, công tác chính trị theo chức trách Sau
Trang 11khi tốt nghiệp ra trường có khả năng chỉ huy các đơn vị cấp phân đội hoàn thành
và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, quân đội giao phó
Để thực hiện mục tiêu trên, trong thời đào tạo ở nhà trường, học viên đàotạo sĩ quan vừa phải tiếp thu một khối lượng tri thức rất lớn cả về khoa học tựnhiên, khoa học xã hội, khoa học quân sự ở trình độ đại học, vừa phải nắm vữngnhững tri thức, kỹ xảo, kỹ năng chỉ huy, quản lý, giáo dục, tổ chức các hoạtđộng quân sự và tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực của người sĩquan chỉ huy cấp phân đội Đó là một quá trình khó khăn, căng thẳng, phức tạpđòi hỏi học viên phải huy động nỗ lực rất cao cả về tinh thần, thể lực Muốnchiếm lĩnh mục tiêu, yêu cầu đào tạo người học viên phải có nhu cầu học tậpđúng đắn; phải tích cực vươn lên không ngừng để tự chiếm lĩnh tri thức của từngbài học, môn học; tự hình thành cho bản thân phương thức, phương tiện để hoànthiện tri thức và con đường biện pháp tu dưỡng rèn luyện phẩm chất, năng lựccủa người sĩ quan Thực tế cho thấy, nếu học viên đào tạo sĩ quan không có nhucầu học tập đúng đắn, ổn định, bền vững; không duy trì được tính tích cực phấnđấu thường xuyên, liên tục trong học tập, rèn luyện thì kết quả học tập khôngcao, thậm chí họ không thể hoàn thành được mục tiêu, yêu cầu đào tạo
b, Phương thức, phương tiện học tập của học viên đào tạo sĩ quan mang tính đặc thù
Phương thức, phương tiện học tập của học viên đào tạo sĩ quan có tínhđặc thù Ở chỗ, phương thức học tập không chỉ trên sách vở, thư viện, phòngthí nghiệm mà còn chủ yếu trên vũ khí, trang bị kỹ thuật chiến đấu của bộđội, sảy ra trong một không gian rộng, ở trên thao trường, bãi tập, địa hình dãngoại khác nhau
Trong quá trình học tập, dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của giáo viên, họcviên sử dụng các hành động học tập để chiếm lĩnh các tri thức khoa học do giáoviên truyền đạt và trong tài liệu, sách giáo khoa, giáo trình làm cho các tri thức
ấy được tái hiện một lần nữa và trở thành tài sản riêng của chính bản thân họ.Cùng với lĩnh hội các tri thức khoa học, học viên phải hướng đến chiếm lĩnhcách thức học tập, cách vận dụng nó vào trong cuộc sống và thực tiễn hoạt động
Trang 12quân sự Học viên phải rèn luyện để phát triển khả năng quan sát, ghi nhớ, xử lýthông tin về tình huống mọi mặt, phát triển các phẩm chất trí nhớ, tư duy, nănglực tổ chức, chỉ huy bộ đội.
Về phương tiện học tập cũng có tính đặc thù, ở chỗ học viên chủ yếu sửdụng các thao tác như: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượnghoá, cụ thể hoá; tư duy bằng các khái niệm khoa học, lấy khái niệm làm công cụ.Khác với bậc phổ thông, học viên đào tạo sĩ quan không chỉ dừng lại ở việcchiếm lĩnh các khái niệm kinh nghiệm mà còn phải hình thành và phát triển cáckhái niệm khoa học Do vậy, khi học tập đòi hỏi học viên phải có tính tích cực,sáng tạo, độc lập, suy nghĩ cao, tính quyết đoán, mưu trí, linh hoạt, tư duy nhanhnhạy để tiếp thu các tri thức khoa học
Với mục tiêu, yêu cầu đào tạo đã xác định, hoạt động học tập của học viênđào tạo sĩ quan càng có những yêu cầu cao hơn Do yêu cầu huấn luyện sát điềukiện chiến đấu nên học viên phải học trong điều kiện tâm lý căng thẳng, đòi hỏicao về sức bền bỉ dẻo dai, cũng như ý chí quyết tâm của học viên
c, Hoạt động học tập của học viên đào tạo sĩ quan có tổ chức chặt chẽ, diễn ra trong môi trường kỷ luật nghiêm ngặt
Học viên đào tạo sĩ quan sau khi tốt nghiệp ra trường là người trực tiếp
tổ chức, chỉ đạo, duy trì mọi mặt hoạt động của cấp dưới và phân đội thuộcquyền Họ có trách nhiệm bảo đảm cho mọi mặt hoạt động của đơn vị diễn ra
ăn khớp, phối hợp nhịp nhàng theo đúng mệnh lệnh của người chỉ huy, yêu cầu
kỷ luật quân sự; tạo cho mọi tổ chức và cá nhân trong toàn đơn vị có sự thốngnhất về ý chí, hành động tạo thành sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi mọinhiệm vụ được giao
Để có được đội ngũ sĩ quan đáp ứng những yêu cầu cơ bản trên, quá trìnhđào tạo sĩ ở các học viện, nhà trường luôn được tổ chức chặt chẽ cả về nội dung,phương pháp, thời gian, địa điểm và duy trì mọi mặt hoạt động theo đúng chế độđiều lệnh, điều lệ quân đội Thông qua đó tạo ra môi trường học tập, rèn luyện cótác động tích cực đến việc hình thành cho học viên phong cách, tác phong hoạtđộng khoa học, tỷ mỉ, cụ thể; phát triển ở họ tính kỷ luật, tác phong chỉ huy độc