BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG Nguyễn Hữu Lê CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CỦA CHA MẸ VỀ PHÒNG CHỐNG TẬT KHÚC XẠ CHO HỌC SINH TIỂ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
Nguyễn Hữu Lê
CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CỦA CHA MẸ VỀ PHÒNG CHỐNG TẬT KHÚC XẠ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC
HÀ HUY TẬP II, TP VINH, NGHỆ AN
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Hà Nội- Năm 2020
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Y tế Công cộng
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Thị Hoàng Lan
vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Trường Đại học Y tế Công cộng
-
Trang 3về kiến thức, thái độ, thực hành của cha mẹ đối với các bệnh về tật khúc xạ của học sinh đã được công bố đều cho thấy phần lớn cha mẹ chưa có đầy đủ những kiến thức về tật khúc xạ cũng như về phòng chống tật khúc xạ cho học sinh Có nhiều mô hình can thiệp ở mức độ cộng đồng giúp nâng cao kiến thức, thái độ của về phòng chống tật khúc xạ, trong đó can thiệp truyền thông đã được chứng minh tính hiệu quả
Nghiên cứu “Can thiệp truyền thông nâng cao kiến thức và thực hành của cha mẹ về phòng chống tật khúc xạ cho học sinh tiểu học tại trường Tiểu học Hà Huy Tập II, TP Vinh, Nghệ An năm 2019” được
tiến hành với mục đích đánh giá ban đầu kiến thức, thực hành và xác định một số yếu tố liên quan về phòng chống tật khúc xạ của cha mẹ học sinh tại hai trường tiểu học tại TP Vinh, Nghệ An, đồng thời thử nghiệm một mô hình can thiệp truyền thông cộng đồng, từ đó đánh giá
sự thay đổi kiến thức cũng như thực hành trên đối tượng phụ huynh học sinh tại trường tiểu học nhận được can thiệp (trường TH Hà Huy Tập II) khi so sánh với một trường đối chứng (trường TH Lê Lợi)
MỤC TIÊU
1 Mô tả kiến thức và thực hành của cha mẹ về phòng chống tật khúc xạ ở học sinh tại trường tiểu học Hà Huy Tập II và trường tiểu học Lê Lợi, TP Vinh, Nghệ An năm 2019
Trang 42 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của cha mẹ về phòng chống tật khúc xạ ở học sinh tại 2 trường tiểu học được chọn trong nghiên cứu
3 Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thực hành của cha mẹ về phòng chống tật khúc xạ ở học sinh sau can thiệp truyền thông tại trường tiểu học Hà Huy Tập II, TP Vinh, Nghệ An năm 2019
NHỮNG ĐIỂM MỚI/ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Nghiên cứu xác định được thực trạng kiến thức, thực hành về phòng chống tật khúc xạ ở trẻ của cha mẹ học sinh và các yếu tố liên quan tại trường tiểu học Hà Huy Tập II và trường tiểu học Lê Lợi, TP Vinh, Nghệ An năm 2019 Các phương pháp truyền thông được áp dụng trong nghiên cứu là các biện pháp mới, đối ứng nhu cầu của các đối tượng bao gồm tin nhắn điện thoại, tờ rơi, sách nhỏ và truyền thông trực tiếp
Nghiên cứu đánh giá được hiệu quả các phương pháp can thiệp truyền thông đã áp dụng Sau can thiệp, kiến thức và thực hành về phòng chống tật khúc xạ ở trẻ của cha mẹ học sinh tại trường tiểu học
Hà Huy Tập II (trường can thiệp) có sự cải thiện rõ rệt Các kết quả đánh giá hiệu quả được minh chứng bằng mô hình hồi quy logistic có
điều kiện (conditional logistic regression model) thay vì các mô hình
hồi quy và hệ số hiệu quả thông thường Kỹ thuật này giúp phân tầng
dữ liệu, ghép cặp đối ứng các dữ liệu trước sau can thiệp, nhằm loại
bỏ tối đa các yếu tố nhiễu có thể ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu Các kết quả thu được cho thấy mô hình có hiệu quả tốt, có thể dự phòng tật khúc xạ ở trẻ ngay tại cộng đồng và có thể ứng dụng mở rộng
Trang 5KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án bao gồm 109 trang gồm Đặt vấn đề (2 trang), Mục tiêu (1 trang); 4 chương: Chương 1: Tổng quan tài liệu (35 trang), Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (14 trang), Chương 3: Kết quả nghiên cứu (35 trang), Chương 4: Bàn luận (22 trang); Kết luận (2 trang); và Kiến nghị (1 trang) Ngoài ra còn có: phần tài liệu tham khảo, 13 phụ lục, bảng, biểu đồ và hình ảnh minh chứng
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.2 Thực trạng tật khúc xạ ở trẻ em trên Thế giới và Việt Nam
Hiện nay trên thế giới ước tính có khoảng 153 triệu người bị tật khúc xạ trong đó có 13 triệu là trẻ em (5) (6) Các nghiên cứu khác dự báo đến năm 2050 tình trạng giảm thị lực do cận thị cao dự báo sẽ tăng gấp bốn lần (7)
Châu Á là nơi có tỷ lệ tật khúc xạ cao nhất thế giới, tỷ lệ tật khúc
xạ ở học sinh Trung học Cơ sở đứng đầu là Singapore chiếm tỷ lệ 86%, tiếp đến là Hồng Kông, Đài Loan khoảng 80%, Trung Quốc là 59% và Australia là 41% (8) (9)
Hiện nay Việt Nam được xem là một trong những nước có tỷ lệ tật khúc xạ rất cao (10, 11) Năm 2014, tỷ lệ mắc tật khúc xạ ở nước ta là
Trang 6từ 10% -15% ở học sinh nông thôn và từ 40% - 50% ở học sinh thành thị (12) Tỷ lệ mắc tật khúc xạ của học sinh tăng dần theo lứa tuổi, cao nhất là ở Trung học Phổ thông (13)
Nghiên cứu của McCrann và cộng sự (2018) đã cho thấy trước tiên
là Trên thế giới có rất ít các nghiên cứu về kiến thức cũng như thực hành của cha mẹ trong việc phòng chống tật khúc xạ cho học sinh hiểu biết về nguyên nhân gây ra tật khúc xạ - cận thị còn hạn chế Họ không nhận ra các nguy cơ sức khỏe có thể có đối với các bệnh về mắt nói chung liên quan đến cận thị bên cạnh đó mặc dù có quan tâm và
có động lực để tránh cho con khỏi bị cận thị nhưng họ thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về cách phòng chống (24)
Trong một nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuyên và cộng sự (25) tại thành phố Hồ Chí Minh (2009), tiến hành khảo sát kiến thức, thái
độ và hành vi về tật khúc xạ trên 1967 cha mẹ học sinh có: 10% cha
mẹ học sinh có kiến thức tốt, 34,7% có kiến thức khá, 44% kiến thức trung bình và 11,4% có kiến thức yếu về tật khúc xạ (25)
Một số cha mẹ đã cho con ăn các đồ chứa nhiều Vitamin A để phòng chống tật khúc xạ cho con mình (26, 27) Kết quả của một nghiên cứu tại Nigeria đã chỉ ra rằng đa phần phụ huynh (62,9%) ở nghiên cứu này nghĩ đồ ăn chứa nhiều vitamin A sẽ khiến cho mắt trẻ sáng hơn (26)
Nghiên cứu của McCrann và cs (2018) đã chỉ ra tầm quan trọng của việc tạo ra nhận thức xung quanh các nguyên nhân gây ra cận thị
và lợi ích của việc kiểm soát cận thị có thể đã bị đánh giá thấp (28, 29)
1.3 Các yếu tố liên quan đến tật khúc xạ và các bệnh về mắt ở trẻ
em
Trang 7Hoạt động nhìn gần như đọc sách kéo dài, chơi điện tử, xem ti vi nhiều giờ liên tục là các hành vi có nguy cơ mắc tật khúc xạ cao (14)
Tư thế ngồi học cũng là một trong những yếu tố nguy cơ của cận thị
học đường Học sinh có thói quen ngồi học không đúng mắc cận thị
cao hơn so với ngồi học đúng (OR= 2,6; 95%CI = 1,7 - 3,9) (15) Nhiều nghiên cứu đã chứng minh các bệnh về mắt có chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền (16-19) Theo Hoàng Ngọc Chương (2012), học sinh có bố mẹ bị tật khúc xạ thì trẻ có nguy cơ bị tật khúc
xạ cao gấp 2,2 lần các học sinh khác (10)
Theo Hội Nhãn khoa Hoa Kỳ, 40% trường hợp mắc cận thị có thể
do các yếu tố của môi trường học tập, làm việc (20-23) Ánh sáng lớp học không đảm bảo và sử dụng bàn ghế không chuẩn là các yếu tố nguy cơ quan trọng có thể ảnh hưởng đến tật khúc xạ học đường Các nghiên cứu đã báo cáo rằng sức khỏe của trẻ em có liên quan đáng kể đến thái độ và hành vi của cha mẹ (30, 31) Nếu cha mẹ chú
ý đến thị lực của trẻ sớm thì nguy cơ cận thị của trẻ sẽ giảm (32) Cha mẹ đảm bảo thời gian cho con được ngủ đủ giấc có thể làm giảm nguy cơ cận thị của trẻ (32) Bằng chứng dịch tễ học gần đây cho thấy rằng những đứa trẻ dành nhiều thời gian ở ngoài trời sẽ ít có khả năng bị cận thị hơn (33)
1.4 Tổng quan các mô hình can thiệp cộng đồng
Tại các nước có mạng lưới chăm sóc sức khỏe ban đầu tốt, trẻ em thường được khám mắt sớm, trẻ sẽ được khám định kỳ theo dõi tật khúc xạ, điều chỉnh kính đúng để phòng ngừa những biến chứng như nhược thị, song thị, lé (25) Nghiên cứu của Jin X (34) đã báo cáo thực hiện can thiệp trên nhóm học sinh trường học Tuy nhiên, hiệu quả sau can thiệp được báo cáo chưa có nhiều sự khác biệt giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng
Trang 8Kết quả khảo sát của nghiên cứu (25) là những gợi ý về các hình thức tổ chức chương trình can thiệp nhằm thay đổi kiến thức, thực hành của cha mẹ trong việc phòng chống tật khúc xạ cho học sinh nhằm đạt được hiệu quả tối ưu
1.5 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu
Hai trường tiểu học được lựa chọn trong nghiên cứu là trường tiểu học Hà Huy Tập II và trường tiểu học Lê Lợi đều là những trường nằm
ở khu vực thành thị, tập trung số lượng học sinh tỷ lệ mắc tật khúc xạ tương đương nhau Hai trường này cũng có các đặc điểm tương đồng khác như: số lớp mỗi khối, tổng số học sinh, phương thức liên lạc giữa Nhà trường và phụ huynh học sinh (thông quan hệ thống tin nhắn nội bộ), từ đó giúp cho việc so sánh các kết quả trước – sau khi can thiệp giữa trường có can thiệp và trường đối chứng có nhiều thuận lợi Ngoài
ra, cả 2 trường tiểu học được lựa chọn trong nghiên cứu đều được sự ủng hộ của Ban Giám hiệu, giúp cho việc thu thập thông tin không gặp khó khăn
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn thành phố Vinh tại hai trường tiểu học: Hà Huy Tập (can thiệp) và Lê Lợi (chứng) từ tháng 04/2019 đến hết tháng 06/2020
2.1.1 Cấu phần định lượng
Tiêu chuẩn lựa chọn cha mẹ học sinh:
- Là cha/mẹ hiện đang sống cùng và trực tiếp chăm sóc các trẻ (với thời gian tối thiểu trên 1 tháng), các trẻ này đang là học sinh lớp một của 2 trường tiểu học được chọn trong nghiên cứu
Trang 9- Đủ tỉnh táo, có khả năng đọc, hiểu tại thời điểm tham gia nghiên cứu
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Cấu phần định tính
Đối tượng cho cấu phần này sẽ là cha/mẹ học sinh và những người
có trách nhiệm trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe về mắt cho trẻ em tại các cơ sở có liên quan như: đại diện ban giám hiệu, trung tâm y tế quận
2.2 Thiết kế nghiên cứu
- Mục tiêu 1 và 2: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang
- Mục tiêu 3: Thiết kế nghiên cứu tiền thực nghiệm so sánh hai nhóm trước và sau can thiệp
2.3 Cỡ mẫu
2.3.1 Định lượng
Đối với cấu phần nghiên cứu cắt ngang (mục tiêu 1 và 2): Công
thức tính cỡ mẫu 1 tỷ lệ với sai số tuyệt đối được áp dụng trong nghiên cứu:
𝑛 = 𝑧1−∝ 22 ⁄ ×𝑝 × (1 − 𝑝)
𝑑2 × 𝐷𝐸 Trong đó:
- 𝑧1−∝ 22 ⁄ : Mức ý nghĩa thống kê mong muốn (với α=0,05 ta có giá trị z=1,96);
- p: (=0,208) Tỷ lệ cha/mẹ có kiến thức đúng về phòng chống cận thị cho con mình (theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Thái và cộng
sự tại quận Ba Đình, Hà Nội, năm 2010) (35)
- d: sai số tuyệt đối (=0,06)
- DE (Design effect): hệ số thiết kế, áp dụng cho phương pháp chọn mẫu cụm, trong nghiên cứu này lấy DE = 1,5
Trang 10Thay vào công thức tính được cỡ mẫu là 264 người Dự trù 10%
bỏ cuộc và làm tròn ta được cỡ mẫu cho một trường tham gia nghiên cứu là 300 cha/mẹ của học sinh Như vậy với 2 trường tham gia nghiên cứu, cỡ mẫu cần thiết sẽ là 600 cha/mẹ của học sinh (phỏng vấn 300 người mỗi trường)
Đối với cấu phần nghiên cứu can thiệp so sánh hai nhóm trước
và sau can thiệp (mục tiêu 3): Công thức tính cỡ mẫu 2 tỷ lệ với sai
số tuyệt đối được áp dụng trong nghiên cứu
- 𝑝2 (=0,7) Tỷ lệ dự kiến cha/mẹ của học sinh trường tiểu học Hà Huy Tập II, thành phố Vinh trong nghiên cứu có kiến thức đúng về phòng chống cận thị cho con mình sau khi can thiệp được triển khai
- d: sai số tuyệt đối (=0,07)
Thay vào công thức tính được cỡ mẫu là 277 người Dự trù 10%
bỏ cuộc và làm tròn ta được cỡ mẫu là 300 cha mẹ của học sinh tại trường tiểu học Hà Huy Tập II Tổng hợp lại của cả 2 cấu phần, nghiên cứu này sẽ chọn cỡ mẫu bao trùm được cỡ mẫu yêu cầu của các mục tiêu nêu ra là 600 cha/mẹ học sinh
Trang 11Thực tế nhóm đã thu thập được 663 phiếu đảm bảo chất lượng để phân tích ở 2 trường, trong đó số phiếu ở trường Hà Huy Tập II và Lê Lợi lần lượt là 360 và 303 phiếu
2.3.2 Định tính
Tổng số có 09 cuộc phỏng vấn sâu đã được tiến hành tại trường tiểu học Hà Huy Tập II trước khi tiến hành can thiệp nhằm thu thập thông tin giúp xây dựng can thiệp truyền thông phù hợp
Sau chương trình can thiệp, có 5 cuộc phỏng vấn sâu đã được thực hiện với cha mẹ, 2 cuộc phỏng vấn sâu với giáo viên chủ nhiệm của học sinh tại trường can thiệp, 1 cán bộ y tế trường học và 1 cán bộ trung tâm y tế
2.4 Nội dung can thiệp truyền thông được triển khai
Các can thiệp được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu trước can thiệp về thực trạng kiến thức, thực hành của cha mẹ học sinh về tật khúc xạ còn thấp (62,1% và 35,1%) Các phương pháp truyền thông được xác định dựa trên đánh giá về hình thức truyền thông các cha/mẹ học sinh mong muốn được nhận là truyền thông trực tiếp (86,3%), tờ rơi/sách nhỏ (87,8%) và tin nhắn điện thoại (72,3%) Danh sách chủ
đề truyền thông cũng được khảo sát và lựa chọn dựa trên ý kiến của các cha/mẹ học sinh Can thiệp truyền thông được triển khai trong nghiên cứu này thông qua các phương pháp tiếp cận sau:
- Nhắn tin tới điện thoại di động cá nhân: Mỗi tin nhắn có độ dài khoảng 200 – 250 ký tự Tin nhắn được gửi vào 2 khung giờ: buổi sáng từ 8h-11h30 và buổi chiều từ 13h30-18h
- Phát tờ rơi, sách nhỏ: Tờ rơi định dạng khổ A4 (gấp làm 3, in 2 mặt) Sách nhỏ định dạng khổ B5 (in 2 mặt) 1500 tờ rơi và 700 sách nhỏ đã được in và phát ra
Trang 12- Các buổi truyền thông trực tiếp tại trường: Tổ chức 2 buổi truyền thông trực tiếp trong vòng 6 tháng can thiệp Mỗi buổi truyền thông kéo dài khoảng 20-30 phút
2.5 Các biến số nghiên cứu
Các biến số định lượng được chia thành các nhóm chính như sau:
Các nhóm biến số phân tích cho mục tiêu 1 và 2:
- Thông tin chung của cha mẹ học sinh
- Thời gian sử dụng mắt của học sinh
- Tình trạng sức khỏe mắt của học sinh
- Kiến thức phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh
- Thực hành về cách phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh
Các nhóm biến số phân tích cho mục tiêu 3:
- Nhóm chỉ số quá trình cho các hoạt động can thiệp truyền thông đã triển khai
- Nhóm chỉ số đánh giá kết quả của can thiệp truyền thông đã triển khai
Các chủ đề định tính theo mục tiêu xây dựng riêng với từng loại đối tượng, bao gồm thực trạng, thuận lợi và rào cản trong điều trị, tiếp cận dịch vụ điều trị tật khúc xạ của trẻ em, nhu cầu tiếp nhận truyền thông, đánh giá hiệu quả sau can thiệp…
2.6 Phương pháp phân tích số liệu
Thống kê mô tả sử dụng để mô tả thông tin chung của đối tượng nghiên cứu và kiến thức, thực hành về phòng ngừa tật khúc xạ học đường của cha mẹ học sinh Thống kê suy luận sử dụng để xác định
và ước lượng tác động của các yếu tố liên quan lên kiến thức, thực hành về phòng ngừa tật khúc xạ học đường các đối tượng trong nghiên cứu Kiểm định λ2 và mô hình hồi quy logistics đa biến được sử dụng
Trang 13để xác định mối liên quan giữa biến phụ thuộc về kiến thức, thực hành (dạng nhị phân) với các biến độc lập Hiệu quả can thiệp được đánh
giá bởi phân tích hồi quy logistic có điều kiện (conditional logistic regression model) nhằm phân tầng dữ liệu dựa trên ghép cặp đối ứng
1:1 các dữ liệu trước sau can thiệp, nhằm loại bỏ tối đa các yếu tố nhiễu có thể ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu Các kiểm định và kết luận có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa α = 0,05
Các cuộc phỏng vấn được xin phép trước khi ghi âm, sau đó được
gỡ băng bởi đội ngũ điều tra viên Các nội dung trong bản gỡ băng được ghi chép trung thực và mã hóa theo các chủ đề định tính
2.7 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ theo những quy định về đạo đức trong nghiên cứu Nghiên cứu được triển khai sau khi được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trường Đại học Y tế công cộng, Quyết định số: 415/2019/YTCC-HD3 Các đối tượng tự nguyện tham gia nghiên cứu, thông tin đối tượng được giữ bí mật
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng đã thu thập thông tin từ 663 cha mẹ học sinh lớp 1, trong đó 360 cha mẹ ở trường can thiệp và 303 cha mẹ ở trường không can thiệp Có 71% cha/mẹ trẻ có trình độ học vấn là Trung cấp/Cao đẳng/Đại học Về nghề nghiệp, phần lớn đối tượng là cán bộ công nhân viên chức (chiếm khoảng 60%), tiếp theo là buôn bán (khoảng 20%)
Về đặc điểm của các học sinh, tỷ lệ trẻ nam và nữ được phân bố khá đều, mỗi nhóm khoảng 50% BMI của trẻ ở cả hai nhóm chứng và
Trang 14nhóm can thiệp đều là 16 kg/m2 Có 40 trẻ có mắc tật khúc xạ (chiếm 6,1%) Trước can thiệp có khoảng 60% trẻ mắc tật khúc xạ hiện đang đeo kính, tỷ lệ này lần lượt ở nhóm chứng và can thiệp là 52,6% và 66,7%
3.2 Thực trạng kiến thức và thực hành về phòng chống tật khúc xạ cho học sinh của cha/mẹ học sinh trước can thiệp
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ kiến thức tốt về phòng chống tật khúc xạ của
cha/mẹ học sinh trước can thiệp
Tính tổng chung của 10 câu hỏi kiến thức, với mức chia điểm tốt
là 5 điểm thì có 62,5% cha mẹ đạt về kiến thức phòng chống tật khúc
xạ ở nhóm can thiệp và 61,7% cha mẹ đạt kiến thức tốt ở nhóm chứng
Trang 15Biểu đồ 3.5 trình bày tỷ lệ thực hành về phòng chống tật khúc xạ, trong đó có 35,1% cha mẹ có thực hành tốt Tỷ lệ này ở hai nhóm là khoảng 35%
3.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng chống tật khúc xạ cho học sinh tiểu học của cha/mẹ học sinh Bảng 3.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng chống tật
khúc xạ của cha/mẹ học sinh Yếu tố Phân nhóm yếu tố
Mô hình đơn biến
OR (95%CI)
Mô hình đa biến
OR (95%CI) Trình độ
Bảng 3.6 trình bày kết quả mô tả các yếu tố liên quan đến kiến thức
về phòng chống tật khúc xạ của cha mẹ Kết quả cho thấy có sự khác biệt về kiến thức ở nhóm bố và mẹ Cùng các yếu tố về thu nhập, trình độc học vấn, độ tuổi… thì mẹ có kiến thức tốt hơn so với bố, OR=1,7 (95%CI = 1,03-2,9)
Trang 16Bảng 3.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống tật
khúc xạ của cha/mẹ học sinh Yếu tố
Mô hình logistics đơn biến
OR (95%CI)
Mô hình logistics
đa biến
OR (95%CI) Trẻ mắc tật
3.4 Can thiệp truyền thông và các kết quả đạt được
3.4.1 Về phòng chống tật khúc xạ cho học sinh tiểu học của
cha/mẹ học sinh
Biểu đồ 3.3 Mức độ hài lòng của cha/mẹ học sinh tại nhóm can
thiệp với các phương pháp truyền thông
Truyền thông trực tiếp tại trường trên các khía cạnh
Trang 17Tỷ lệ cha mẹ học sinh hài lòng với phương pháp tin nhắn là 67,9%,
tờ rơi là 91,8% va truyền thông trực tiếp là 82,3%
Kênh tin nhắn là kênh được đánh giá là tiện lợi, dễ tiếp cận, dễ chia
sẻ nhưng còn đơn điệu, khó đọc do chữ không dấu
Kênh tờ rơi, sách nhỏ được đánh giá là thông tin chi tiết, dễ nhớ, nhưng chữ nhỏ, dễ mất
Kênh truyền thông trực tiếp được đánh giá dễ hiểu, dễ trao đổi nhưng khó tham gia do thời gian cha mẹ học sinh bận rộn
3.4.2 Sự thay đổi kiến thức, thực hành về phòng chống tật
khúc xạ của cha/mẹ học sinh sau can thiệp
Bảng 3.3 Điểm trung bình kiến thức của về phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh trước-sau can thiệp
Bảng 3.4 Điểm trung bình thực hành về phòng chống tật khúc
xạ của cha/mẹ học sinh trước-sau can thiệp
Điểm Thực hành chứng Nhóm can thiệp Nhóm Chung p
Trước can thiệp (TB
<0,001
Sau can thiệp (TB
Trang 18Điểm trung bình thực hành của cha mẹ nhóm can thiệp là 3,7 điểm sau can thiệp, cao hơn so với trước can thiệp (3,3 điểm), có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
3.4.3 Hiệu quả can thiệp về phòng chống tật khúc xạ cho học
sinh tiểu học của cha/mẹ học sinh
Bảng 3.5 Hiệu quả của chương trình can thiệp đến kiến thức của
cha mẹ về phòng chống tật khúc xạ ở trẻ em
Thời điểm can
thiệp
Nhóm chứng Nhóm can thiệp Tốt Chưa tốt Tốt Chưa tốt
Trước can thiệp 187(61,7) 116(38,3) 225(62,5) 135(37,5) Sau can thiệp 190(62,7) 113(37,3) 273(75,8) 87(24,2)
Kiểm định#
p=0,802
OR = 1,06 95%CI = 0,73-1,53
p<0,001
OR = 1,83 95%CI = 1,33-2,52 Kiểm định có điều kiện logistic (ghép cặp) hiệu chỉnh cho cả nhóm chứng và can thiệp cho thấy can thiệp có hiệu quả tăng kiến thức của cha mẹ tốt hơn gấp 1,83 lần (95%CI=1,33-2,52)
Bảng 3.6 Hiệu quả của chương trình can thiệp đến thực hành của cha mẹ về phòng chống tật khúc xạ ở trẻ em
Thời điểm can
thiệp
Nhóm chứng Nhóm can thiệp Tốt Chưa tốt Tốt Chưa tốt
Trước can thiệp 106(35,0) 197(65,0) 127(35,3) 233(63,7) Sau can thiệp 107(35,3) 196(64,7) 201(55,8) 159(44,2) Kiểm định#
95%CI =0,70-1,49 95%CI = 1,70-3,18 Hiệu quả can thiệp có hiệu quả tăng thực hành ở phụ huynh gấp 2,32 lần so với trước can thiệp (p<0,001; OR=2,32; 95%CI=2,32-3,18)
Bảng 3.7 Hiệu quả của chương trình can thiệp đến thực hành tư thế ngồi đúng để phòng chống tật khúc xạ ở trẻ em