BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYỄN HỮU LÊ CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CỦA CHA MẸ VỀ PHÒNG CHỐNG TẬT KHÚC XẠ CHO HỌC SINH T
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN HỮU LÊ
CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CỦA CHA MẸ VỀ PHÒNG CHỐNG TẬT KHÚC XẠ CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC
HÀ HUY TẬP II, THÀNH PHỐ VINH, NGHỆ AN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Hà Nội, 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN HỮU LÊ
CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CỦA CHA MẸ VỀ PHÒNG CHỐNG TẬT KHÚC XẠ CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC
HÀ HUY TẬP II, THÀNH PHỐ VINH, NGHỆ AN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học nghiên cứu khoa học của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được công bố
Nguyễn Hữu Lê
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, quan tâm của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp của tôi tại Bệnh viện Mắt Nghệ An và gia đình
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc với hai giáo viên hướng dẫn của tôi là PGS.TS Vũ Thị Hoàng Lan và GS TS Bùi Thị Thu Hà Trong quá trình thực hiện luận án đã giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức
và kinh nghiệm quý báu, khuyến khích để tôi hoàn thành được luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giáo hiệu cùng các thầy cô tại trường Đại học Y tế Công cộng đã giúp tôi có những kiến thức bổ ích và hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án tại trường
Xin trân trọng cám ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Định nghĩa các tật khúc xạ 4
1.1.1 Định nghĩa 4
1.1.2 Phân loại tật khúc xạ 4
1.2 Thực trạng tật khúc xạ ở trẻ em trên thế giới và tại Việt Nam 6
1.2.1 Thực trạng tật khúc xạ ở trẻ em trên thế giới 6
1.2.2 Thực trạng tật khúc xạ ở trẻ em tại Việt Nam 11
1.2.3 Thực trạng về kiến thức, thực hành của cha mẹ trong việc phòng chống tật khúc xạ cho học sinh 15
1.3 Các yếu tố liên quan đến tật khúc xạ và các bệnh về mắt ở trẻ em 22
1.3.1 Yếu tố hành vi cá nhân 22
1.3.2 Yếu tố liên quan có tính chất di truyền và gia đình 25
1.3.3 Các yếu tố về kiến thức- thực hành của cha mẹ có liên quan việc phòng tránh tật khúc xạ ở trẻ em 28
1.3.4 Từ phía nhà trường 31
1.3.5 Từ phía hệ thống y tế 33
1.4 Mô hình can thiệp cộng đồng nhằm thay đổi kiến thức, thực hành của cha mẹ trong việc phòng chống tật khúc xạ cho học sinh 34
1.5 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu 37
1.6 Khung logic triển khai can thiệp và mô hình thay đổi hành vi 38
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Đối tượng và thời gian nghiên cứu 40
2.1.1 Cấu phần định lượng 40
Trang 62.1.2 Cấu phần định tính 40
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 40
2.3 Thiết kế nghiên cứu 41
2.4 Cỡ mẫu 41
2.4.1 Cấu phần định lượng 41
2.4.2 Cấu phần định tính 43
2.5 Phương pháp chọn mẫu 43
2.5.1 Cấu phần định lượng 43
2.5.2 Cấu phần định tính 44
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 44
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu 44
2.6.2 Quy trình thu thập số liệu 44
2.7 Các hoạt động can thiệp truyền thông được triển khai 47
2.7.1 Các bước triển khai 47
2.7.2 Cơ sở xây dựng can thiệp 48
2.7.3 Các phương pháp can thiệp 48
2.7.4 Nội dung thông điệp truyền thông 49
2.7.5 Đối tượng truyền thông 49
2.7.6 Hình thức thông điệp truyền thông 49
2.8 Các biến số nghiên cứu 50
2.8.1 Cấu phần định lượng 50
2.8.2 Cấu phần định tính 51
2.9 Một số tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu 52
2.10 Phương pháp phân tích số liệu 52
2.10.1 Số liệu định lượng 52
2.10.2 Số liệu định tính 53
2.11 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 53
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 56
3.1.1 Đặc điểm của cha/mẹ học sinh tham gia nghiên cứu 56
3.1.2 Đặc điểm của học sinh tham gia nghiên cứu 57
Trang 73.2 Thực trạng kiến thức và thực hành về phòng chống tật khúc xạ cho học
sinh của cha/mẹ học sinh tại hai trường trước can thiệp 59
3.2.1 Thực trạng kiến thức của cha/mẹ học sinh trước can thiệp 59
3.2.2 Thực trạng thực hành phòng chống tật khúc xạ cho học sinh tiểu học của cha/mẹ học sinh trước can thiệp 64
3.2.3 Thực trạng và nhu cầu thông tin về phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh 65
3.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng chống tật khúc xạ cho học sinh tiểu học của cha/mẹ học sinh 69
3.4 Can thiệp truyền thông và các kết quả đạt được 71
3.4.1 Về phòng chống tật khúc xạ cho học sinh tiểu học của cha/mẹ học sinh 71
3.4.2 Sự thay đổi thực hành phòng chống tật khúc xạ cho học sinh tiểu học của cha/mẹ học sinh sau can thiệp 84
3.4.3 Hiệu quả can thiệp về phòng chống tật khúc xạ cho học sinh tiểu học của cha/mẹ học sinh 86
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 89
4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 89
1.6.1 Đặc điểm cha mẹ học sinh tham gia nghiên cứu 89
1.6.2 Đặc điểm học sinh tham gia nghiên cứu 90
4.2 Thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh tại hai trường tiểu học 92
4.2.1 Thực trạng kiến thức về phòng chống tật khúc xạ cha/mẹ học sinh 92 4.2.2 Thực trạng thực hành về phòng chống tật khúc xạ cha/mẹ học sinh 94 4.2.3 Thực trạng và nhu cầu thông tin về phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh 95
4.3 Các yếu tố liên quan tới kiến thức và thực hành phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh tại hai trường tiểu học 96
4.4 Can thiệp truyền thông và các kết quả đạt được 98
4.4.1 Thực trạng các hoạt động can thiệp 98
4.4.2 Sự thay đổi kiến thức về phòng chống tật khúc xạ cho học sinh tiểu học của cha mẹ học sinh sau can thiệp 102
Trang 84.4.3 Sự thay đổi thực hành phòng chống tật khúc xạ cho học sinh
tiểu học của cha mẹ học sinh sau can thiệp 103
4.4.4 Hiệu quả can thiệp về phòng chống tật khúc xạ cho học sinh tiểu học của cha/mẹ học sinh 105
4.5 Các hạn chế của nghiên cứu 108
KẾT LUẬN 111
1 Kiến thức và thực hành phòng chống tật khúc xạ cho học sinh tiểu học của cha mẹ học sinh tại trường tiểu học Hà Huy Tập II 111
2 Các yếu tố liên quan tới kiến thức và thực hành phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh 111
3 Hiệu quả của can thiệp truyền thông bằng các phương pháp đã triển khai 111
KHUYẾN NGHỊ 113
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KÉT QUẢ 0
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 10
Phụ lục 1 Bảng biên số định lượng 10
Phụ lục 2 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức và thực hành 26
Phụ lục 3 Bộ công cụ định lượng (trước can thiệp) 29
Phụ lục 4 Hướng dẫn phỏng vấn sâu cha/mẹ học sinh (trước can thiệp) 42
Phụ lục 5 Hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ y tế và giáo viên chủ nhiệm trường học (trước can thiệp) 45
Phụ lục 6 Hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ y tế (trước can thiệp) 48
Phụ lục 7 Phiếu định lượng (sau can thiệp) 50
Phụ lục 8 Hướng dẫn phỏng vấn sâu cha mẹ học sinh (sau can thiệp) 66
Phụ lục 9 Hướng dẫn phỏng vấn sâu giáo viên chủ nhiệm và cán bộ y tế trường học (sau can thiệp) 69
Phụ lục 10 Các chỉ số nghiên cứu 73
Phụ lục 11 Các bước triển khai nghiên cứu 76
Phụ lục 12 Kế hoạch triển khai nghiên cứu 84
Phụ lục 13 Các hình ảnh, tài liệu truyền thông 89
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVMTW Bệnh viện Mắt Trung ương
BHVI Tổ chức BrienHolden Vision Institute
BVĐK Bệnh viện đa khoa
ECF Quỹ Eye Care Foundation
FHF Quỹ Fred Hollows Foundation
HKI Tổ chức Helen Keller International Việt Nam NGOs Các tổ chức Phi chính Phủ
TTPC Trung tâm phòng chống
TTYT Trung tâm y tế
WHO Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tỷ lệ rối loạn khúc xạ của nhóm tuổi trẻ em từ 5-14 tuổi 9
Bảng 1.2 So sánh tỉ lệ tật khúc xạ ở HS theo các nghiên cứu khác nhau 12
Bảng 1.3 Tỷ lệ trẻ em Việt Nam dưới 5-14 tuổi bị khiếm thị 14
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng tham gia phỏng vấn sâu 43
Bảng 3.1 Đặc điểm cha/mẹ học sinh tham gia nghiên cứu 56
Bảng 3.2 Đặc điểm học sinh trong nghiên cứu 57
Bảng 3.3 Đặc điểm tình trạng sức khỏe mắt của học sinh trước can thiệp 57
Bảng 3.4 Đặc điểm thời gian sử dụng mắt của học sinh trước can thiệp 58
Bảng 3.5 Đặc điểm kiến thức của cha mẹ học sinh trước can thiệp 59
Bảng 3.6 Kiến thức của phụ huynh học sinh về tật khúc xạ trước can thiệp 61 Bảng 3.7 Các hình thức truyền thông mà cha mẹ muốn nhận thông tin về phòng chống tật khúc xạ 67
Bảng 3.8 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh 69
Bảng 3.9 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh 70
Bảng 3.10 Kiến thức phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh trước-sau can thiệp 79
Bảng 3.11 Kiến thức của cha mẹ về tật khúc xạ trước-sau can thiệp 80
Bảng 3.12 Điểm trung bình kiến thức của về phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh trước-sau can thiệp 82
Bảng 3.13 Đặc điểm thời gian sử dụng mắt của học sinh trước-sau can thiệp 84
Bảng 3.14 Hiệu quả của chương trình can thiệp đến kiến thức của cha mẹ 86
Bảng 3.15 Hiệu quả của chương trình can thiệp đến thực hành của cha mẹ về phòng chống tật khúc xạ ở trẻ em 87
Bảng 3.16 Hiệu quả của chương trình can thiệp đến thực hành tư thế ngồi đúng để phòng chống tật khúc xạ ở trẻ em 87
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ kiến thức đúng về phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh trước can thiệp 63 Biểu đồ 3.2 Đặc điểm thực hành phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh trước can thiệp 64 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ thực hành đạt về phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh trước can thiệp 65 Biểu đồ 3.4 Thực trạng tiếp cận thông tin về phòng chống tật khúc xạ 65 Biểu đồ 3.5 Các chủ đề thông tin cha mẹ muốn nhận 68 Biểu đồ 3.6 Mức độ hài lòng của cha/mẹ học sinh tại nhóm can thiệp với các phương pháp truyền thông 72 Biểu đồ 3.7 Đánh giá chung của cha/mẹ học sinh tại nhóm can thiệp về các hình thức truyền thông mà họ nhận được 72 Biểu đồ 3.8 Kiến thức phòng chống tật khúc xạ của cha/mẹ học sinh trước-sau can thiệp 81
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay trên thế giới ước tính có khoảng 153 triệu người bị tật khúc
xạ trong đó có 13 triệu là trẻ em (1) (2) Dự báo đến năm 2050, ước tính có khoảng 49,8% dân số thế giới có thể mắc tật cận thị Tình trạng giảm thị lực
do cận thị cao dự báo sẽ tăng gấp bốn lần vào năm 2050 (3) Tỷ lệ tật khúc xạ đang gia tăng nhanh chóng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước Châu Á (4) Các tật khúc xạ không chỉ gây khó khăn trong học tập cũng như cuộc sống hàng ngày của trẻ em, mà đây còn là gánh nặng bệnh tật ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống nói chung
Nguyên nhân tật khúc xạ ở trẻ em, đặc biệt ở học sinh lứa tuổi tiểu học,
có thể do nhiều nguyên nhân như: yếu tố di truyền, hành vi cá nhân, từ phía
hệ thống y tế hoặc từ phía nhà trường, nhưng không thể không nhắc đến vai trò của cha mẹ trong việc phòng chống việc mắc phải căn bệnh này ở trẻ Các nghiên cứu khảo sát về kiến thức, thực hành phòng chống tật khúc xạ của trẻ
đã được thực thiện (93), nhưng vẫn chưa đánh giá được mối liên quan giữa kiến thức, thực hành với tình trạng mắt của trẻ Các báo cáo về mô hình can thiệp ở mức độ cộng đồng giúp nâng cao kiến thức, thái độ cha mẹ về phòng chống tật khúc xạ là rất ít Hiện nay, mới chỉ có một số mô hình can thiệp về kiến thức, thái độ, thực hành của cha mẹ về các nguy cơ sức khỏe (như sử dụng vaccin, hay phòng ngừa ung thư ác tính…(119), (120)), còn về phòng chống tật khúc xạ cho trẻ hầu như chưa có
Nghiên cứu “Can thiệp truyền thông nâng cao kiến thức và thực hành của cha mẹ về phòng chống tật khúc xạ cho học sinh tại trường tiểu học Hà Huy Tập II, thành phố Vinh, Nghệ An” được tiến hành với mục đích đánh giá
ban đầu kiến thức, thực hành và xác định một số yếu tố liên quan về phòng chống tật khúc xạ của cha mẹ học sinh tại hai trường tiểu học tại TP Vinh, Nghệ An, đồng thời thử nghiệm một mô hình can thiệp truyền thông cộng
Trang 13đồng, từ đó đánh giá sự thay đổi kiến thức cũng như thực hành trên đối tượng phụ huynh học sinh tại trường tiểu học nhận được can thiệp (trường TH Hà Huy Tập II) khi so sánh với một trường đối chứng (trường TH Lê Lợi) Hai trường tiểu học được lựa chọn đều có đặc điểm tương đồng với nhau như: cùng ở khu vực thành thị, số học sinh, số lớp mỗi khối, có cùng phương pháp thông tin giữa nhà trường và phụ huynh học sinh từ đó giúp việc so sánh kết
quả thuận lợi hơn Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài này bao gồm:
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức và thực hành của cha mẹ về phòng chống tật khúc xạ
ở học sinh lớp 1 tại trường tiểu học Hà Huy Tập II và trường tiểu học Lê Lợi,
TP Vinh, Nghệ An năm 2019
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của cha
mẹ về phòng chống tật khúc xạ ở học sinh lớp 1 tại 2 trường tiểu học được chọn trong nghiên cứu
3 Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thực hành của cha mẹ về phòng chống tật khúc xạ ở học sinh lớp 1 sau can thiệp truyền thông tại trường tiểu học Hà Huy Tập II, TP Vinh, Nghệ An năm 2019
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Định nghĩa các tật khúc xạ
1.1.1 Định nghĩa
Tật khúc xạ là các tật ở mắt do các môi trường quang học (giác mạc, thể thủy tinh, dịch kính) của mắt khúc xạ ánh sáng không đúng, do đó hình ảnh của vật mà ta nhìn thấy bị mờ Để phát hiện tật khúc xạ một cách sơ bộ khi thấy mắt nhìn kém, người ta dùng một phương pháp đơn giản là thử thị lực với kính lỗ, nếu qua kính lỗ mà thị lực của mắt tăng lên, thì có nghĩa mắt
đó có tật khúc xạ Thử kính lỗ sẽ làm giảm vòng mờ gây nên bởi tật khúc xạ (5), (6)
1.1.2 Phân loại tật khúc xạ
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) có 3 loại tật khúc xạ tương ứng với
vị trí hội tụ ảnh của vật trên võng mạc Nếu hội tụ trước võng mạc gọi là cận thị, ở phía sau gọi là viễn thị, nếu hình ảnh của vật không phải là một điểm mà
là một đoạn thẳng có thể ở trước ở sau hoặc nửa trước nửa sau gọi là loạn thị (7)
Cận thị: là mắt có trục trước sau dài hơn bình thường hoặc có lực khuất
triết quá mạnh, do đó các tia sáng sau khi bị khuất triết sẽ hội tụ ở trước võng mạc, bất kể khi mắt có điều tiết hay không Mắt cận thị có thể nhìn rõ các vật ở gần nhưng lại không nhìn rõ các vật ở xa (5) (9) Để khắc phục tật cận thị, dùng
kính cầu phân kỳ (10) Theo lâm sàng, nguyên nhân có thể chia ra cận thị học
đường và cận thị bệnh lý, còn nếu phân loại theo cơ chế bệnh sinh thì có cận thị khúc xạ và cận thị trục
Trang 16Hình 1 Sơ đồ quang học mắt cận thị Viễn thị: là mắt có các tia sáng hội tụ sau võng mạc khi mắt không
điều tiết vì nó có trục nhãn cầu trước sau ngắn hơn bình thường hoặc có lực khuất triết quá yếu, vì vậy ảnh hiện trên võng mạc bị mờ không rõ nét Tật viễn thị khiến cho mắt không thể nhìn rõ các vật ở gần (9)
Hình 2 Sơ đồ quang học mắt viễn thị Loạn thị: Là mắt có công suất khúc xạ không đều nhau ở các kinh
tuyến do độ cong của giác mạc hoặc thể thủy tinh ở các kinh tuyến khác nhau làm cho các tia sáng song song từ vô cực không hội tụ ở một điểm duy nhất
mà hội tụ theo hai tiêu tuyến Loạn thị cũng có thể do thủy tinh thể bị nghiêng trong nhãn cầu Do vậy, ảnh của vật mà mắt nhìn thấy sẽ bị méo hình hoặc bị
Trang 17mờ cả khi nhìn xa và nhìn gần Khi có loạn thị, mắt có lực khúc xạ khác nhau
ở các kinh tuyến khác nhau (11), (9)
1.2 Thực trạng tật khúc xạ ở trẻ em trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1 Thực trạng tật khúc xạ ở trẻ em trên thế giới
Hiện nay trên thế giới ước tính có khoảng 153 triệu người bị tật khúc
xạ trong đó có 13 triệu là trẻ em (1) (2) Các nghiên cứu khác dự báo đến năm
2050, ước tính có khoảng 49,8% dân số thế giới có thể mắc tật cận thị Tình trạng giảm thị lực do cận thị cao dự báo sẽ tăng gấp bốn lần vào năm 2050 (3) Tỷ lệ tật khúc xạ đang gia tăng nhanh chóng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước Châu Á (4) Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ mắc tật khúc xạ ở trẻ em trên toàn cầu của tác giả Rudnicka (2016) cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ ở các quốc gia Châu Âu thường chỉ khoảng từ 3% - 5% ở trẻ em
10 tuổi và tăng lên 20% ở lứa tuổi 12 - 13 tuổi, trong khi đó ở các quốc gia Châu Á thì có tỷ lệ tật khúc xạ rất cao, có nơi tỷ lệ tật khúc xạ chiếm tới 80% đến 90% ở học sinh trung học phổ thông (9)
Hiện nay Châu Á là nơi có tỷ lệ tật khúc xạ cao nhất thế giới, tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh Trung học Cơ sở đứng đầu là Singapore chiếm tỷ lệ 86%, tiếp đến là Hồng Kông, Đài Loan khoảng 80%, Trung Quốc là 59% và Australia là 41% (9) (4) Một số nghiên cứu của các tác giả trên thế giới cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ thấp nhất ở các dân tộc da đen và các nước Châu Phi Tại Ấn Độ, Deshpande Jayant (2011) công bố tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh vùng nông thôn phía Bắc Maharashtra, Ấn Độ là 10,12% (12) Trong khi đó Hemalatha Krisnamurthy (2014), công bố tỷ lệ tật khúc xạ của học sinh Trung học cơ sở khu vực nông thôn quận Mysore, Ấn Độ là 10,28% (13) Tại Nigeria, Okoye (2013) nghiên cứu tình hình các bệnh về mắt ở học sinh nông thôn phía Đông nam Niegria cho kết quả tỷ lệ tật khúc xạ là 11% (14) Ở Ethiopia, Sintayehu Aweke Sewunet (2014) điều tra tình hình tật khúc xạ
Trang 18chưa được điều trị ở học sinh từ 7-15 tuổi tại quận Markos, phía Tây Bắc Ethiopia, cho tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh là 10,2% (7) Tại Saudi Arabia tác giả Fahd Abdullah Al Wadaani (2013) nghiên cứu tỷ lệ tật khúc xạ của học sinh từ 6-14 tuổi tại Al Hassa, Saudi Arabia, cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ của học sinh là 13,7%, trong đó nhóm tuổi từ 12-14 là 40,9% (2) Châu Âu được xem là khu vực có tỷ lệ tật khúc xạ cao hơn Châu Phi và Châu Mỹ nhưng thấp hơn rất nhiều so với Châu Á Tại Phần Lan, tác giả Olavi Parssinen (2012) công bố tỷ lệ tật khúc xạ học sinh từ 14-15 tuổi là 21% (15, 16) Nghiên cứu
về tỷ lệ tật khúc xạ và các yếu tố nguy cơ trên toàn thế giới của tác giả Chen – Wei Pan (2012) cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ của học sinh Trung học Cơ sở ở Anh là 29,4% (16)
Tỷ lệ mắc tật khúc xạ của học sinh được tăng dần theo lứa tuổi, tuổi càng lớn tỷ lệ mắc tật khúc xạ càng cao Kết quả nghiên cứu của tác giả May
O Lwin (2007) tại Singapore công bố tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh tăng dần theo lứa tuổi, theo đó ở học sinh nhóm 7 tuổi tỷ lệ tật khúc xạ là 25%, nhóm 9 tuổi là 33%, nhóm 12 tuổi là 50% và cao nhất là nhóm học sinh ở lứa tuổi 18
là 80% (17) Tác giả Katie M Williams (2015), công bố tỷ lệ tật khúc xạ của học sinh cuối cấp Tiểu học là 25,4%, cuối cấp Trung học Cơ sở là 29,1% và cuối cấp Trung học phổ thông là 36,6% (18) Mohammad Khalai (2014), nghiên cứu tình hình tật khúc xạ ở học sinh từ 7-18 tuổi ở Quazvin, Iran, cho thấy tật khúc xạ ở nhóm học sinh 7 tuổi là 32,96%, ở nhóm học sinh từ 8-10 tuổi là 58,74%, nhóm học sinh từ 11-14 tuổi là 67,9% và nhóm tuổi từ 15-18
là 79,2% (19) Kết quả của các nghiên cứu nói trên cho thấy rằng tật khúc xạ
đã tăng cao ở mức báo động, tuổi càng cao tỷ lệ tật khúc xạ càng nhiều và năm sau có tỷ lệ tật khúc xạ cao hơn năm trước
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự khác biệt về chủng tộc cũng dẫn đến tỷ lệ mắc tật khúc xạ khác nhau Tác giả Sandra Jobke (2008) nghiên cứu tình hình tật khúc xạ ở học sinh Trung học Cơ sở cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ ở
Trang 19Đức là 21,0 (20) Ở Australia, Jenny và Huynh SC (2008), nghiên cứu sự phân bố tỷ lệ tật khúc xạ ở 2353 học sinh từ 11- 15 tuổi của 21 trường Trung học Cơ sở ở thành phố Sydney, Australia, cho thấy học sinh có nguồn gốc da trắng ở Châu Âu có tỷ lệ tật khúc xạ thấp nhất là 4,6%, tiếp theo là các học sinh có nguồn gốc Trung Đông chiếm tỷ lệ 6,1% và cao nhất là các học sinh
có nguồn gốc Nam Á là 31,5% và Đông Á chiếm tỷ lệ 39,5% (21)
Học sinh có cùng nhóm tuổi và cùng nguồn gốc nhưng học tập và sinh hoạt ở các môi trường khác nhau thì có tỷ lệ tật khúc xạ khác nhau Một nghiên cứu khác được tác giả Amanda N Frencb (2012), nghiên cứu tỷ lệ tật khúc xạ ở trẻ em từ 12-13 tuổi có nguồn gốc da trắng Châu Âu sống ở Bắc Ireland và Sydney Australia, cho thấy học sinh có nguồn gốc da trắng Châu
Âu sống ở Bắc Ireland có tỷ lệ tật khúc xạ là 46,5%, trong khi đó học sinh có nguồn gốc da trắng Châu Âu sống ở Sydney Australia có tỷ lệ tật khúc xạ là 14,6% (22)
Năm 2010, tại hai thành phố lớn của Thái Lan là Bangkok và Nakhonpathom, một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 2340 học sinh tiểu học, bao gồm 1100 trẻ ở Bangkok và 1240 trẻ ở Nakhonpathom được kiểm tra tỷ lệ mắc tật khúc xạ ở Bangkok và Nakhornpathom lần lượt là 12,7% và 5,7% Tật khúc xạ là nguyên nhân dẫn đến 97,6% mắt giảm thị lực, 0,5% nhược thị, 0,8% nguyên nhân khác và không rõ nguyên nhân 1,1% Tỷ
lệ này cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ còn khá cao tại Thái Lan, điều này dẫn tới những khuyến nghị giáo dục sức khỏe về mắt được chú trọng (23)
Nigeria cũng tiến hành tầm soát 1242 học sinh tiểu học năm 2012, Khoảng 97,7% số mắt có thị lực 6/6 bình thường trong khi 49 trong số 56 mắt
có thị lực từ 6/9 trở xuống được cải thiện khi thử qua kính lỗ Hai mươi bảy học sinh bị tật khúc xạ, chiếm tỷ lệ 2,2% Tật khúc xạ cả hai mắt ở 22 học sinh (81,5%), lứa tuổi 8–10 chiếm tỷ lệ cao nhất (40,7%) (24)
Bảng số liệu về tỷ lệ rối loạn khúc xạ của nhóm tuổi trẻ em từ 5-14
Trang 20tuổi: Dữ liệu lấy từ GBD (gánh nặng bệnh tật toàn cầu), một số quốc gia có tỷ
lệ rối loạn khúc xạ cao nhất thế giới là: Singapore, Hàn Quốc và Quata và quốc gia có tỷ lệ thấp nhất về rối loạn khúc xạ là Burundi Tỷ lệ rối loạn khúc
xạ càng cao gây ra gánh nặng về kinh tế ngày càng nhiều
Bảng 1.1 Tỷ lệ rối loạn khúc xạ của nhóm tuổi trẻ em từ 5-14 tuổi
Nguồn: Số liệu Gánh nặng bệnh tật toàn cầu – GBD (25)
Quốc
tuổi Giới Đơn vị đo Giá trị
Cận dưới Cận trên
Burundi 2017 5-14
tuổi
Cả hai
% trên tổng DALYs 0.00149 0.000943 0.002198 Central
% trên tổng DALYs 0.00195 0.001177 0.003011
Barbados 2017 5-14
tuổi
Cả hai
% trên tổng DALYs 0.00294 0.007947 0.017445 Burkina
5-14 tuổi
Cả hai
% trên tổng DALYs 0.00296 0.001934 0.004365
China 2017 5-14
tuổi
Cả hai
% trên tổng DALYs 0.01072 0.001877 0.004312
Vietnam 2017 5-14
tuổi
Cả hai
% trên tổng DALYs 0.01094 0.013554 0.027438
Samoa 2017 5-14
tuổi
Cả hai
% trên tổng DALYs 0.01115 0.007445 0.015793 American
Samoa 2017
5-14 tuổi
Cả hai
% trên tổng DALYs 0.01180 0.01441 0.028645
Lebanon 2017 5-14
tuổi
Cả hai
% trên tổng DALYs 0.01191 0.008081 0.017061
Trang 21Quốc
tuổi Giới Đơn vị đo Giá trị
Cận dưới Cận trên
Algeria 2017 5-14
tuổi
Cả hai
% trên tổng DALYs 0.01191 0.011328 0.026156
Egypt 2017 5-14
tuổi
Cả hai
% trên tổng DALYs 0.01270 0.011414 0.023918 Northern
% trên tổng DALYs 0.01318 0.007906 0.017
Serbia 2017 5-14
years
Cả hai
% trên tổng DALYs 0.0167 0.00855 0.018341
Qatar 2017 5-14
years
Cả hai
% trên tổng DALYs 0.01758 0.007378 0.015346 South
Korea 2017
5-14 years
Cả hai
% trên tổng DALYs 0.01954 0.007379 0.016527
Singapore 2017 5-14
years
Cả hai
% trên tổng DALYs 0.02081 0.008636 0.018988
Cận thị là một vấn đề sức khỏe cộng đồng toàn cầu với tỷ lệ phổ biến trên toàn thế giới là khoảng 30% và ước tính sẽ tăng lên 50% vào năm 2050 Ngoài gánh nặng liên quan đến việc kiểm soát tình trạng thường xuyên, tỷ lệ cận thị cao còn dẫn đến các biến chứng đe dọa thị giác như như bệnh đa hồng cầu và bệnh tăng nhãn áp trong cuộc sống trưởng thành Kiểm soát khởi phát
và tiến triển của cận thị khi còn trẻ có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh liên quan đến cận thị (26)
Trước đây cận thị được cho là vấn đề sức khỏe của khu vực Đông Á, tuy nhiên tỷ lệ mới mắc và hiện mắc của cận thì càng ngày càng tăng trên
Trang 22toàn cầu Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ cận thị đã tăng gần gấp đôi chỉ sau hơn 30 năm từ 25% năm 1972 đến 41,6% năm 2004 Thậm chí còn cao hơn tỷ lệ lưu hành ở nhiều nước Đông Á như Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và Hàn Quốc, nơi có tỷ lệ cận thị lên tới 42,4% đến 96,5% ở trẻ em trong độ tuổi
từ 6 đến 19 Quan trọng hơn là, tỷ lệ mắc bệnh cận thị (cao hơn -5,00D) cũng cao với 2,8% dân số thế giới bị ảnh hưởng trong năm 2010 Đây trở thành một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng hàng đầu của thời đại chúng ta, với ước tính chỉ ra rằng cận thị sẽ ảnh hưởng từ 23% đến 66% dân số toàn cầu vào năm 2050 (26)
1.2.2 Thực trạng tật khúc xạ ở trẻ em tại Việt Nam
Tật khúc xạ là nguyên nhân gây ra suy giảm thị lực và gây ra mù lòa đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng học tập, lao động và làm việc Hiện nay Việt Nam được xem là một trong những nước có tỷ lệ tật khúc xạ rất cao, theo số liệu điều tra của các nhà nghiên cứu tại nhiều tỉnh thành phố thì trong những năm gần đây tỷ lệ tật khúc xạ gia tăng rất nhanh, đặc biệt là ở khu vực thành thị (27, 28) Năm 2014, tại Hội nghị Nhãn khoa toàn quốc tổ chức tại thành phố Buôn Mê Thuột, báo cáo công tác phòng chống mù lòa cho thấy tỷ
lệ mắc tật khúc xạ ở nước ta là từ 10% -15% ở học sinh nông thôn và từ 40%
- 50% ở học sinh thành thị (29) Tính đến năm 2015, Việt Nam đã có hơn 14 triệu người mắc tật khúc xạ Trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 15 có tỉ lệ mắc tật khúc xạ từ 25% đến 40% ở các khu vực thành thị, từ 10 đến 15% tại khu vực nông thôn và con số này ngày càng tăng (3)
Trang 23Bảng 1.2 So sánh tỉ lệ tật khúc xạ ở HS theo các nghiên cứu khác nhau
Tác giả
Năm nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu
Số lượng khách thể
Tỉ lệ tật khúc xạ
Vũ Quang Dũng (30) 2013 Thái
Nguyễn Thanh Triết (31) 2012 Bình Định 2086 29,5 Nguyễn Viết Giáp (32) 2013 Vũng Tàu 2238 25,2
Ở Việt Nam, vào năm 2012, kết quả điều tra về tình hình mù lòa của Viện mắt Trung ương đã cho biết, hiện có khoảng 900.000 người khiếm thị, trong đó có khoảng hơn 600.000 người bị mù, chiếm khoảng 1,2% dân số cả nước Theo tính toán của các nhà chuyên môn thì số người mù trên thế giới sẽ tăng gấp 2 lần vào năm 2020 nếu như không có những biện pháp hữu hiệu để phòng chống giảm thị lực Ở Việt Nam tính đến năm 2020 sẽ có khoảng hơn một triệu người mù và hơn ba triệu người khiếm thị Đây là một trở ngại lớn trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn đổi mới đất nước (34) Theo dữ liệu từ gánh nặng bệnh tật toàn cầu (GBD) tỷ lệ trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi bị khiếm thị đều có biến động qua các năm như sau:
Tỷ lệ mắc tật khúc xạ của học sinh tăng dần theo lứa tuổi, thấp nhất là ở Tiểu học, sau đó là Trung học Cơ sở và cao nhất là ở Trung học Phổ thông (35) Tại Vũng Tàu, Nguyễn Viết Giáp (2013), nghiên cứu tình hình tật khúc
xạ ở học sinh THCS thành phố Vũng Tàu, kết quả có 25,2% học sinh bị tật khúc xạ (32) Kết quả nghiên cứu của Hoàng Hữu Khôi (2017) tại Đà Nẵng
Trang 24cho thấy học sinh khối lớp 6 và lớp 7 có tỷ lệ tật khúc xạ thấp hơn so với học sinh khối lớp 8 và lớp 9 (33)
Trong nghiên cứu của Đỗ Thị Phượng tỷ lệ mắc các tật khúc xạ ở giới
nữ cao hơn ở giới nam Cụ thể: Ở nữ mắc tật khúc xạ 50,0% thì ở nam chỉ có 39,9%, cao hơn 10,1%; cận thị: ở nữ 46,2%, ở nam 36,4%, cao hơn 9,8%; viễn thị: ở nữ 3% ở nam 2,3%, cao hơn 0,6%; loạn thị: ở nữ 32,8%, ở nam 23,3%, cao hơn 9,5%; sự sai khác về tỉ lệ mắc tật khúc xạ ở nam và nữ đều có
xa nếu không được điều chỉnh, đó là một hạn chế trong lựa chọn nghề nghiệp Ngoài ra, các thay đổi ở phần sau của mắt cận thị là nguy cơ gây ra các tình trạng bệnh lý khác của cơ quan thị giác (3, 33)
Trang 25Bảng 1.3 Tỷ lệ trẻ em Việt Nam dưới 5-14 tuổi bị khiếm thị
Nguồn: Dữ liệu từ gánh nặng bệnh tật toàn cầu (GBD) (25)
Đơn vị đo: % trên tổng DALYs
và hoạt động của trẻ mà còn tác động đến yếu tố tâm, sinh lý và cơ hội phát triển, hội nhập cộng đồng của trẻ Bệnh không những ảnh hưởng trực tiếp đến
Trang 26những trẻ hiện mắc mà còn ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội và sự phát triển vững mạnh của mọi quốc gia Các bệnh về mắt đều có những ảnh hưởng tác động lẫn nhau và hậu quả nghiêm trọng nhất là có thể dẫn tới mù lòa (36-38)
Vũ Hạnh và cộng sự (2014) tiến hành nghiên cứu định tính đánh giá thực trạng chăm sóc mắt ở trẻ em Việt Nam Nghiên cứu này gồm 102 cuộc phỏng vấn sâu, 81 cuộc thảo luận nhóm với các đối tượng có liên quan tại cơ
sở chăm sóc mắt tuyến trung ương và 8 tỉnh thành trên cả nước (gồm 4 tỉnh chưa có TT CSMTE và 4 tỉnh có) Nghiên cứu chỉ ra rằng ước tính có khoảng
3 triệu trẻ mắc tật khúc xạ và nguyên nhân chính gây mù ở trẻ gồm tật khúc
xạ, sẹo giác mạc, bệnh lý đáy mắt và dị tật nhãn cầu (38) Theo báo cáo của Bệnh viện Mắt trung ương: Tật khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị) đang ngày càng phổ biến trong thanh thiếu niên, với tỷ lệ mắc khoảng 15-20% ở học sinh nông thôn, và 30-40% ở thành phố Nếu tính riêng nhóm trẻ từ 6 - 15 tuổi (lứa tuổi cần ưu tiên được chỉnh kính) cả nước có khoảng gần 15 triệu
em, với tỷ lệ mắc các tật khúc xạ khoảng 20%, thì Việt Nam ước tính gần 3 triệu em mắc tật khúc xạ cần chỉnh kính, trong đó có tới 2/3 bị cận thị (39)
Năm 2014, Trà Vinh đã thực hiện báo cáo tìm hiểu về thực trạng mắc tật khúc xạ tạ của học sinh với 1431 học sinh tiểu học, THCS và THPT Trong đó 21,87% học sinh mắc cận thị, trong số học sinh tiểu học tỷ lệ này là 16,03% (40)
1.2.3 Thực trạng về kiến thức, thực hành của cha mẹ trong việc phòng
chống tật khúc xạ cho học sinh
Trên thế giới có rất ít các nghiên cứu về kiến thức cũng như thực hành của cha mẹ trong việc phòng chống tật khúc xạ cho học sinh Tuy nhiên các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của cha mẹ đối với các bệnh về tật khúc xạ của học sinh đã được công bố đều cho thấy phần lớn cha mẹ chưa
có đầy đủ những kiến thức về tật khúc xạ cũng như về phòng chống tật khúc
xạ cho học sinh
Trang 271.2.3.1 Kiến thức của cha mẹ về cách phòng tránh tật khúc xạ cho học sinh
Nghiên cứu của McCrann và cộng sự (2018) đã cho thấy trước tiên là hiểu biết về nguyên nhân gây ra tật khúc xạ - cận thị còn hạn chế Họ không nhận ra các nguy cơ sức khỏe có thể có đối với các bệnh về mắt nói chung liên quan đến cận thị bên cạnh đó mặc dù có quan tâm và có động lực để tránh cho con khỏi bị cận thị nhưng họ thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về cách phòng chống (76) Tại Ấn Độ, Senthilkumar chỉ ra rằng nhiều phụ huynh mặc
dù đã có nhận thức về những bệnh tật liên quan đến thị giác, trong đó có tật khúc xạ, nhưng chưa hiểu rõ về yếu tố gây ra những căn bệnh này (91) Một
số cha mẹ ở nghiên cứu của Li (2010) chưa bao giờ biết được con mình cần đeo kính hay không bởi họ chưa bao giờ đưa con họ đi khám thị lực (74)
Những nghiên cứu về nhận thức tình trạng mắt đã được thực hiện ở các nước phát triển và đang phát triển kết luận rằng nhiều người tìm đến chăm sóc mắt kịp thời để giảm gánh nặng mù lòa, ngay cả ở trẻ em Tại Swaziland, 60,1% phụ huynh cho biết họ chưa bao giờ cho con đi kiểm tra mắt và 31,7% cảm thấy rằng thị lực của con họ vẫn ổn 53,1% cha mẹ cho biết không có kiến thức về các tình trạng mắt của trẻ em và không tìm thấy mối liên hệ đáng
kể giữa trình độ học vấn và kiến thức về các tình trạng mắt ảnh hưởng đến trẻ
em (p = 0,112) Việc có một thành viên trong gia đình đeo kính cận làm tăng khả năng trẻ được đưa đi kiểm tra mắt (p = 0,001), nhưng làm giảm khả năng được thông báo đầy đủ về sức khỏe của mắt (p = 0,218) Trong số các bậc cha
mẹ cho biết đã đưa con đi kiểm tra mắt, 49,3% cho biết họ đã được nhỏ mắt
và 44,9% nói rằng con họ được chỉ định đeo kính 50,3% cha mẹ chấp nhận ý kiến cho con cái của họ đeo kính (92)
Trong một nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuyên và cộng sự (93) tại thành phố Hồ Chí Minh (2009), tiến hành khảo sát kiến thức, thái độ và hành
vi về tật khúc xạ trên 1967 cha mẹ học sinh có: 10% cha mẹ học sinh có kiến
Trang 28thức tốt, 34,7% có kiến thức khá, 44% kiến thức trung bình và 11,4% có kiến thức yếu về tật khúc xạ Kết quả về kiến thức của các vùng ngoại ô cho thấy hầu hết chỉ đạt mức khá và trung bình Tỷ lệ kiến thức đạt khá, tốt còn thấp và
sự khác biệt giữa các vùng dân cư có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Yếu tố thu nhập và tiền sử gia đình có ảnh hưởng đến kiến thức, cụ thể: thu nhập > 1 triệu đồng/tháng cho kết quả tốt và khá cao hơn (có ý nghĩa thống kê) Các cha mẹ trên 40 tuổi cho thấy kết quả thái độ – hành vi tốt hơn các cha mẹ dưới 40 tuổi Người có tiền sử gia đình có thái độ – hành vi tốt hơn người không có tiền sử gia đình và người không rõ tiền sử gia đình có thái độ – hành
vi là kém nhất Đặc biệt, không có sự khác biệt về thái độ – hành vi giữa cha
và mẹ của học sinh (93)
Còn tồn tại nhiều quan niệm lệch lạc, sai lầm về tật khúc xạ, kiến thức cũng như thái độ và hành vi về tật khúc xạ còn chưa tốt Cụ thể, trong 3 nhóm học sinh, cha mẹ học sinh và giáo viên có tới 22,8% cha mẹ học sinh được thăm dò cho biết đeo kính điều chỉnh cận thị sẽ làm tăng độ cận thị; 13% cha
mẹ học sinh trả lời không biết về tật khúc xạ; 15,8% cha mẹ học sinh không biết tật khúc xạ có thể gây nhược thị và tật về mắt Trong số đối tượng biết về tật khúc xạ thì 72,6% cha mẹ học sinh không biết tật khúc xạ có thể là nguyên nhân gây tật về mắt 30,5% cha mẹ học sinh không biết tật khúc xạ có thể là nguyên nhân gây nhược thị và 29% cha mẹ học sinh không biết 6 tháng đến 1 năm phải kiểm tra thị lực và mắt (93)
Phần lớn các cha mẹ học sinh tiếp nhận thông tin về tật khúc xạ qua các phương tiện truyền thông (72,8%) và một số ít cha mẹ chưa từng nghe các thông tin về tật khúc xạ (6,9%) Cho thấy vai trò cực kỳ quan trọng của phương tiện truyền thông trong phòng chống tật khúc xạ học đường Các hình thức phóng sự, quảng cáo, nói chuyện chuyên đề là hình thức được chọn lựa
Cả 2 nhóm cha mẹ học sinh và giáo viên đều lựa chọn thông tin từ CBYT là 59,4%, do đó hình thức nói chuyện chuyên đề qua báo đài, truyền hình, câu
Trang 29sự bất tiện về thẩm mỹ và đối với 1 số cha mẹ thì cận thị lại là một dấu hiệu thể hiện cho sự thông minh (4%) 76% số cha mẹ nhận ra tác động của công nghệ kỹ thuật số ảnh hưởng tới mắt, đặc biệt là nguyên nhân gây mỏi mắt cần đeo kính Chỉ 14% cha mẹ quan tâm cho rằng con mình cần phải chẩn đoán xem có bị mắc bệnh cận thị hay không So với những cha mẹ không bị cận thị thì những cha mẹ bị cận thị có khả năng cao hơn coi cận thị là một bất tiện trong việc nhìn (p<0,001), coi đó là một chi phí (p<0,005) và coi đó là một sự bất tiện về mặt thẩm mỹ (p<0,001) Đã có 1 xu hướng là những bố mẹ mắc cận thị thì thường hạn chế thời gian hoạt động trong nhà hơn là những cha mẹ không bị cận thị (p=0,05) (76) Nhiều bố mẹ cho rằng lác mắt là dấu hiệu của
sự may mắn (94, 95) Một nghiên cứu khác của tác giả Li (2010) cũng chỉ ra rằng cha mẹ có quan niệm không cho con đeo kính quá sớm (bởi cận thị khi còn trẻ có thể chữa hoàn toàn) và giáo viên cho rằng trẻ em không nên đeo kính trước 18 tuổi (74)
Một số ít những phụ huynh (22,9%) mong muốn nhà trường có đợt khám mắt thường niên vào đầu năm học Còn có những phụ huynh khác
Trang 30(14,3%) mong muốn khám mắt tại nhà (91) Tuy nhiên, giống với nghiên cứu trên, nhiều bố mẹ cho rằng những bệnh về mắt có thể được đối phó bằng việc cho trẻ ăn những đồ ăn như trứng hoặc cà rốt và cho trẻ tập luyện (94) Nghiên cứu tại Nigeria cũng cho kết quả tương tự rằng đa phần phụ huynh (62,9%) ở nghiên cứu này nghĩ đồ ăn chứa nhiều vitamin A sẽ khiến cho mắt trẻ sáng hơn (96) Và nhiều cha mẹ cho rằng yếu tố di truyền; thời gian hoạt động trong nhà nhiều và thường xuyên sử dụng đồ công nghệ (tiếp xúc với màn hình kỹ thuật số) là nguyên nhân gây ra cận thị (76)
Có sự khác biệt đáng kể về thời gian chú ý đến hoạt động của trẻ, đặc biệt có gây ảnh hưởng đến thị lực Khi các cha mẹ học sinh được hỏi liệu có ngăn con mình sử dụng các thiết bị màn hình điện tử trong điều kiện ánh sáng
mờ không thì có tới 69,8% cha mẹ trong nhóm có con bị cận thị thường chọn cách không ngăn con mình sử dụng các thiết bị màn hình điện tử trong điều kiện ánh sáng mờ, điều này ngược lại với 79,1% cha mẹ trong nhóm có con
không cận thị, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (χ2 = 9,890, p = 0,002) Khi
trả lời câu hỏi họ có thường xuyên chỉnh sửa tư thế ngồi và cầm bút của con mình khi chúng làm bài tập về nhà không thì có 53,8% tỷ lệ phụ huynh trong nhóm có con bị cận thị cho biết họ luôn chú ý đến điều đó - khác biệt đáng kể
so phụ huynh trong nhóm có con không bị cận thị (64,2%) ( χ2 = 9,428, p =
0,002) Nhiều cha mẹ thường đưa con mình tham gia các hoạt động ngoài trời Nhóm phụ huynh có con không cận thị thì tỷ lệ này là 54,9% cao hơn nhiều so với nhóm có con bị cận thị (34,0%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(χ2 = 36,625, p < 0,001) Có 96,2% phụ huynh trong nhóm có con không bị
cận thị đảm bảo rằng họ luôn quản lý con cái ngủ đủ giấc, so với 87,6% ở
nhóm phụ huynh có con bị cận thị, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (χ2 = 24.006, p < 0,001) (59)
1.2.3.3 Thực hành của cha mẹ phòng tránh tật khúc xạ cho học sinh
Kết quả các nghiên cứu đã công bố cho thấy cha mẹ cũng có rất nhiều
Trang 31cách phòng chống các bệnh về mắt nói chung cũng như tật khúc xạ cho học sinh như thay đổi về dinh dưỡng, về thay đổi thời gian hoạt động trong nhà cũng như ngoài trời cho con cho phù hợp, hạn chế thời gian để trẻ tiếp xúc với các thiết bị điện tử…
Một số cha mẹ đã cho con ăn các đồ chứa nhiều Vitamin A để phòng chống tật khúc xạ cho con mình (91, 96) Kết quả của một nghiên cứu tại Nigeria đã chỉ ra rằng đa phần phụ huynh (62,9%) ở nghiên cứu này nghĩ đồ
ăn chứa nhiều vitamin A sẽ khiến cho mắt trẻ sáng hơn (96) Ngoài ra, nhiều phụ huynh cũng ủng hộ việc không cho trẻ xem quá nhiều TV (51,4%) Phụ huynh ở nghiên cứu này cũng khuyến khích con trẻ nên thực hiện nhiều hoạt động ngoài trời (vì đây là việc có lợi cho sức khỏe), không cho trẻ nô đùa quá
đà nhằm tránh những tổn thương về mắt và nghiêm cấm trẻ ném cát, đá hoặc gậy trong khi chơi đùa
Nghiên cứu của McCrann và cs (2018) đã chỉ ra những cha mẹ cho rằng cận thị là một nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe thì thường hạn chế thời gian trẻ tiếp xúc với màn hình kỹ thuật số điện tử hơn là những bố mẹ không cho rằng cận thị là nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe con của họ (p=0,01) Trẻ em đặc biệt dành nhiều thời gian trong nhà hơn với ngoài trời (p<0,001) Những trẻ lớn tuổi hơn (p=0,001), trẻ em thành thị (p=0,0005) và trẻ bị cận thị (p=0,04) dành nhiều thời gian sử dụng màn hình kỹ thuật số hơn là trẻ em ở nông thôn Một số nghiên cứu đã chỉ ra sự thiếu hiểu biết về cận thị và nguy
cơ của nó và sự kiểm soát cận thị của các nhân viên chăm sóc mắt cũng như cha mẹ và giáo viên, học sinh Tầm quan trọng của việc tạo ra nhận thức xung quanh các nguyên nhân gây ra cận thị và lợi ích của việc kiểm soát cận thị có thể đã bị đánh giá thấp (74, 97) Cha mẹ có thể là người đóng vai trò không thể thiếu được trong việc lựa chọn lối sống của trẻ, sự thành công của bất kỳ chiến lược nào đòi hỏi phải điều chỉnh hành vi hoặc chấp nhận các chế độ điều trị mới cho trẻ em có thể sẽ phụ thuộc vào nhận thức của cha mẹ về tình
Trang 32trạng bệnh và sự chấp nhận các biện pháp can thiệp được đề xuất như một lựa chọn điều trị cần thiết (98) Các biện pháp can thiệp hiệu quả nhất là những biện pháp nhắm đến cha mẹ, trung gian chính của sự thay đổi trong hành vi ăn uống và hoạt động thể chất của trẻ (99) Các cách tiếp cận dựa trên gia đình này nhận ra cha mẹ là mục tiêu không thể thiếu của can thiệp và bao gồm các chiến lược để thực hiện các khía cạnh khác nhau của việc nuôi dạy con cái, bao gồm cả môi trường (99) Những đứa trẻ tiếp xúc, cách thức và cách nuôi dạy con cái và các hành vi của trẻ có thể phản ánh thói quen của cha mẹ, tất
cả những điều đó có vẻ quan trọng liên quan đến các chiến lược quản lý rủi ro cận thị trong tương lai (100) Thúc đẩy nhận thức về cận thị, nguyên nhân và các lựa chọn điều trị sẽ giúp thúc đẩy cha mẹ (và tất cả các bên liên quan khác) tích cực ngăn ngừa và điều trị cận thị thay vì chỉ làm giảm bớt các triệu chứng mà nó tạo ra (17)
Nghiên cứu của Cheung và cs (2014) cho thấy trong 196 cha mẹ tham gia trả lời thì có 56% cha mẹ có quan điểm cho con sử dụng kính áp tròng cứng (kính tiếp xúc cứng) và 44% sử dụng kính áp tròng mềm là những người
mẹ độ tuổi từ 36 đến 45 Việc lựa chọn kính áp tròng cứng là lựa chọn của đa
số cha mẹ nhằm kiểm soát cận thị cho con mình (86%) Cha mẹ trong nhóm chọn kính cứng thì có 49% lựa chọn sử dụng kính áp tròng cứng và 45% lựa chọn phương pháp đeo kính thường để nhằm kiểm soát cận thị cho con (p < 0,001) trong khi những cha mẹ trong nhóm sử dụng kính mềm lại không có
ưu tiên gì (p = 0,57) Quyết định trong việc sử dụng phương pháp nào để kiểm soát cận thị cho con bị ảnh hưởng bởi kiến thức của cha mẹ Phần lớn họ cân nhắc tới sự thuận tiện, bất tiện và sự an toàn khi lựa chọn sử dụng kính áp tròng hay kính đeo thông thường Và bởi vì thiếu tự tin về sự an toàn của kính tiếp xúc mà phần lớn cha mẹ (75%) cho rằng kính áp tròng để điều trị cận thị chỉ nên sử dụng cho trẻ trên 14 tuổi (53%) và không chỉ định cho trẻ dưới 8 tuổi (101)
Trang 33Kiến thức và thực hành của cha mẹ là một trong những yếu tố liên quan tới tình trạng mắt của trẻ Việc tìm hiểu các yếu tố liên quan tới kiến thức của cha mẹ về phòng chống tật khúc xạ của trẻ chưa được chú trọng Nhận thức của cha mẹ về các vấn đề về mắt là điều quan trọng để hiểu lý do tại sao một
số cha mẹ tìm kiếm sự chăm sóc cho con cái của họ trong khi những người khác thì không
Tại London, một cuộc khảo sát nhằm tìm hiểu về khả năng tiếp cận đến kiến thức và khả năng tiếp cận dịch vụ phòng chống tật khúc xạ của cha mẹ học sinh tiểu học (4-6 tuổi) Tổng số 384 bảng câu hỏi đã hoàn thành được phân tích (tỷ lệ trả lời 27%) Ba trăm ba mươi tám phụ huynh (24%) đã hoàn thành phần 'kiến thức của phụ huynh' của bảng câu hỏi Trong số tất cả các câu trả lời, 65% (n = 249) là từ các bậc cha mẹ có con em học tại một trường học nơi diễn ra chương trình kiểm tra thị lực đầu vào trường Trong số này, 15% (n = 36) phụ huynh cho biết họ biết về chương trình sàng lọc Các rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc mắt cho con cái của họ được báo cáo bởi 38% (n = 153) phụ huynh / người chăm sóc trả lời 12% (n = 47) cho biết không biết cách kiểm tra mắt cho con mình và 12% (n = 47) cho biết họ lo ngại con mình sẽ được đeo kính không cần thiết Khi so sánh với các bậc cha
mẹ từ các dân tộc da trắng, các bậc cha mẹ từ các nhóm dân tộc Phi / ri-bê có nhiều khả năng cho biết con họ không biết cách kiểm tra mắt phù hợp với lứa tuổi (p = 0,001) Cha mẹ có nguồn gốc dân tộc Phi / Phi-Caribê có nhiều khả năng báo cáo về các rào cản đối với chăm sóc mắt hơn về mặt thống kê (p = 0,001) (102)
Phi-Ca-1.3 Các yếu tố liên quan đến tật khúc xạ và các bệnh về mắt ở trẻ em
1.3.1 Yếu tố hành vi cá nhân
Do thiếu sự quan tâm của gia đình và ý thức tự chăm sóc sức khỏe của học sinh, thực tế cho thấy nhiều em học sinh bị tật khúc xạ nhưng không biết
Trang 34mình bị từ khi nào, đặc biệt là những em bị tật khúc xạ ở một mắt Mặt khác cũng có nhiều em biết mình bị nhìn mờ nhưng không nói với gia đình để đi khám và luôn phải sử dụng đôi mắt không đảm bảo thị lực để học tập, điều này sẽ gây cho mắt phải điều tiết nhiều, nhức mỏi, đau dầu, nhìn mờ và gây ra mức độ tật khúc xạ ngày càng cao Sự thiếu hiểu biết của học sinh về cận thị học đường, không đeo kính hoặc đeo kính không thường xuyên cùng với thiếu sự quan tâm nhắc nhở của cha mẹ, giáo viên và không được đưa đi khám mắt và chỉnh kính định kỳ dẫn đến tỷ lệ cận thị học đường cao và làm cho mức độ cận thị ngày càng tǎng
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh về các yếu tố liên quan đến tật khúc
xạ, tuy vậy vẫn chưa hệ thống một cách đầy đủ và chính xác về các yếu tố này Các hành vi nguy cơ của học sinh, sinh viên cần được xác định như nhìn gần nhìn lâu (đọc sách liên tục, xem truyện, chơi game, điện thoại di động) trong điều kiện thiếu ánh sáng, tư thế ngồi học (nằm, ngồi), điều kiện học tập (phòng học, bàn ghế, chiếu sáng không phù hợp), có đeo kính không, đeo kính đúng độ (41, 42)
Năm 2014, tỉnh Trà Vinh đã thực hiện báo cáo tìm hiểu về thực trạng mắc tật khúc xạ tạ của học sinh với 1431 học sinh tiểu học, THCS và THPT Trong đó ánh sáng phòng học được chỉ ra là có liên quan đến tật cận thị ở học sinh cấp THCS (p=0,00; p=0,02) Mặc khác, kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan giữa cận thị với kích thước và cách bố trí bàn ghế học sinh Cận thị ở học sinh cũng liên quan đến thói quen vệ sinh trong học tập, hoạt động giải trí và nghỉ ngơi Tỷ lệ cận thị cao hơn ở những học sinh có thói quen ngồi học không đúng tư thế (28,51%; p=0,00), có thời gian học hàng ngày ≥9 giờ (43,78%; p=0,00) và thời gian học thêm >=11 giờ/tuần (57,20%; p=0,00) Thời gian sử dụng máy vi tính trung bình hàng ngày ở các học sinh cận thị cao hơn học sinh không cận thị (p=0,00) Học sinh cận thị có thời gian vui chơi, thể thao và thời gian ngủ trong ngày thấp hơn nhóm học sinh không
Trang 35cận thị (p=0,00; p=0,00) (40)
Hoạt động nhìn gần như đọc sách kéo dài, chơi điện tử, xem ti vi nhiều giờ liên tục là nguy cơ mắc tật khúc xạ cao (43) Hiện nay, thói quen giải trí bằng những trò chơi đòi hỏi mắt phải liên tục làm việc nhìn gần như trò chơi điện tử làm mắt phải điều tiết nhiều khiến tình trạng học sinh, sinh viên bị cận thị gia tăng Do hình ảnh di chuyển liên tục và các em phải ngồi gần màn hình máy tính nên độ cận thị càng tăng lên nhanh chóng Ngoài ra, nhiều loại sách như các loại truyện tranh, sách báo in chữ quá nhỏ cũng làm cho mắt phải điều tiết liên tục gây tăng gánh nặng cho mắt Việc quá tải trong các hoạt động cần nhìn gần như học tập, làm việc, giải trí, máy tính đã góp phần làm cho tỷ lệ cận thị trong sinh viên gia tăng nhanh chóng Việc xem ti vi, chơi điện tử hoặc làm việc trên máy vi tính hơn 2 giờ liên tục trong 1 ngày ảnh hưởng đến khúc xạ mắt Nghiên cứu đoàn hệ tại Tây Ban Nha (2014) trên 17.217 sinh viên năm 2014, nguy cơ phát triển cận thị ở nhóm tiếp xúc máy vi tính > 40 giờ/ tuần cao gấp 1,34 lần so với nhóm tiếp xúc dưới 10 giờ/tuần (44) Nghiên cứu của Đỗ Thị Phượng (2018) trên học sinh Trung học cơ sở cho kết quả thời gian xem ti vi của học sinh bị tật khúc xạ (2,12 giờ/ngày), cao hơn học sinh không bị tật khúc xạ (1,79 giờ/ngày) là 0,33 giờ/ngày Thời gian sử dụng máy tính, điện thoại của học sinh bị tật khúc xạ (2,87 giờ/ngày), cao hơn học sinh không bị tật khúc xạ (2,09 giờ/ngày) là 0,78 giờ/ngày Thời gian đọc sách, truyện của học sinh bị tật khúc xạ (1,91 giờ/ngày), cao hơn học sinh không bị tật khúc xạ (1,52 giờ/ngày) là 0,39 giờ/ngày (p<0,05) (45)
Tư thế ngồi học cũng là một trong những yếu tố nguy cơ của cận thị
học đường Những học sinh được giáo viên nhắc nhở ngồi học đúng tư thế thì
tỷ lệ cận thị học đường thấp hơn so với những học sinh ngồi học sai tư thế Học sinh có thói quen ngồi học không đúng mắc cận thị cao hơn so với ngồi
học đúng (OR= 2,6; 95%CI = 1,7 - 3,9) (46)
Thời gian hoạt động ngoài trời sẽ làm giảm nguy cơ mắc tật khúc xạ ở
Trang 36học sinh (47, 48) Nghiên cứu của Manbir Nagra (2014) thực hiện so sánh tỷ
lệ tật khúc xạ của hai nhóm học sinh có cùng nguồn gốc là người Trung Quốc sống ở hai môi trường khác nhau, một nhóm sinh sống tại tại Singapore và một nhóm sống tại Australia Nhóm học sinh sống tại Singapore dành thời gian 3,05 giờ mỗi tuần cho các hoạt động ngoài trời và nhóm học sinh sống tại Australia dành thời gian 13,75 giờ mỗi tuần cho các hoạt động ngoài trời Kết quả nhóm học sinh ở Singapore có tỷ lệ tật khúc xạ là 29,1% cao hơn rất nhiều so với nhóm học sinh có cùng độ tuổi, cùng nguồn gốc sống ở Australia
có tỷ lệ tật khúc xạ là 3,3% (49) Nghiên cứu của Đỗ Thị Phượng (2018) thực hiện trên đối tượng học sinh Trung học cơ sở Phạm Hồng Thái, Gia Lai, học sinh mắc tật khúc xạ có thời gian hoạt động thể dục thể thao ngoài trời (4,99 ± 0,97 giờ/ngày) ít hơn so với các học sinh không bị tật khúc xạ (5,76± 0,55 giờ/ngày) là 0,77 giờ/ngày (45)
1.3.2 Yếu tố liên quan có tính chất di truyền và gia đình
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh các bệnh về mắt có chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền (45, 50-52) Nghiên cứu của Đỗ Thị Phượng (2018) về
tìm hiểu thực trạng thị lực và các yếu tố ảnh hưởng đến thị lực của học sinh trường Trung học Cơ sở Phạm Hồng Thái, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai cho
thấy tình trạng mắc các tật khúc xạ ở học sinh có cha, mẹ bị tật khúc xạ cao hơn rất nhiều so với học sinh có cha, mẹ không bị tật khúc xạ, cao hơn 27,6%
Cụ thể: học sinh mắc tật khúc xạ ở trường hợp có cha, mẹ bị tật khúc xạ là 65,5%; học sinh mắc tật khúc xạ ở trường hợp có cha, mẹ không bị tật khúc
xạ là 37,8%, sự khác nhau này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Cha, mẹ bị tật khúc xạ thì con của họ có nguy cơ bị tật khúc xạ rất lớn (OR = 3,116) (45)
Theo Hoàng Ngọc Chương (2012), học sinh có bố mẹ bị tật khúc xạ thì trẻ có nguy cơ bị tật khúc xạ cao gấp 2,2 lần các học sinh khác (27) Nghiên cứu của Li Juan Wu (2015) về các yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh
ở Bắc Kinh Trung Quốc, cho thấy học sinh có cha mẹ bị tật khúc xạ thì khả
Trang 37năng mắc tật khúc xạ của các em cao gấp 2,28 lần những học sinh khác (53) Wilson Low (2010) nghiên cứu yếu tố liên quan tiền sử gia đình, hoạt động nhìn gần và hoạt động ngoài trời ảnh hưởng đến tật khúc xạ của 3009 học sinh Trung Quốc, thấy rằng học sinh có một hoặc cả hai bố mẹ bị tật khúc xạ thì có tỷ lệ mắc tật khúc xạ cao hơn các học sinh không có bố mẹ bị tật khúc
xạ (54)
Nghiên cứu của Trà Vinh cũng chỉ ra tiền sử mắc cận thị của người thân trong gia đình, trình độ học vấn và nghề nghiệp phụ huynh học sinh có liên quan đến cận thị ở học sinh (p=0,00; p=0,00; p=0,00) [25]
Cha mẹ, người thân hoặc người chăm sóc trẻ còn chưa có sự quan tâm đến con mình Mặc dù biểu hiện bệnh của trẻ rất dễ để người lớn có thể phát hiện được nhưng cha mẹ lại thường chủ quan, không đưa trẻ đi khám ngay và thường đưa trẻ đi khám nhãn khoa khi tình trạng bệnh đã ở mức độ nặng Khi
đó mức độ bệnh ngày càng trầm trọng và còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ nguy hiểm khác
Cha mẹ tạo áp lực học tập đối với con cái, mong muốn con được học trước và tâm lý mong muốn con toàn diện Ngoài giờ học chính quy trên lớp còn bắt một số trẻ học thêm nhiều môn, gây căng thẳng tâm lý và sức ép với thị giác Tỷ lệ mắc tật khúc xạ ở học sinh thành thị cao hơn học sinh nông thôn có thể là do tác động của sự phát triển kinh tế xã hội, học sinh ở các thành phố có chế độ học tập quá căng thẳng, sự kỳ vọng của cha mẹ dẫn đến
áp lực học tập và cường độ học tập cao hơn học sinh ở các vùng nông thôn
Thói quen mang tính tập thể, truyền thống gia đình như nằm xem tivi,
sử dụng máy tính bảng gần mắt hay cho trẻ chơi điện tử trên máy tính và điện thoại kích thích nhìn lâu làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tật khúc xạ Thời gian xem ti vi của học sinh bị tật khúc xạ (2,12 giờ/ngày), cao hơn học sinh không bị tật khúc xạ (1,79 giờ/ngày) là 0,33 giờ/ngày Thời gian sử dụng máy tính, điện thoại của học sinh bị tật khúc xạ (2,87 giờ/ngày), cao hơn học sinh
Trang 38không bị tật khúc xạ (2,09 giờ/ngày) là 0,78 giờ/ngày (45)
Việc quan tâm lựa chọn các thiết bị đồ dùng học tập cho trẻ như bàn, ghế và đèn học cũng gây ảnh hưởng đến khả năng mắc các tật khúc xạ của trẻ Học sinh sử dụng loại đèn học là bóng đèn huỳnh quang thì có tỉ lệ mắc tật khúc xạ 46,7% cao hơn sử dụng đèn sợi đốt và bóng đèn led 42,3% Tỉ lệ học sinh mắc tật khúc xạ do sử dụng loại đèn học huỳnh quang cao (OR = 1,197) Đèn huỳnh quang hoạt động theo nguyên tắc phóng điện từ hai cực với tần số nhất định nên có độ “rung” và nhấp nháy mà mắt thường khó nhận biết, điều này gây tác hại cho thị lực của trẻ nhỏ, người làm việc liên tục, thường xuyên dưới ánh đèn Loại đèn này cũng là tác nhân giảm thiểu thị lực và gây cận thị bởi độ sáng và màu giảm theo thời gian Như vậy, đèn huỳnh quang (đèn tuyp, neon) không nên sử dụng cho đèn bàn học hay làm việc (45)
Cha, mẹ nên hạn chế cho trẻ chơi những trò chơi điện tử trên máy tính
và điện thoại có tính kích thích nhìn lâu Mỗi khi sử dụng máy tính khoảng 40 phút hãy cho trẻ nghỉ ngơi khoảng 5 phút, sau đó nhìn ra xa khoảng 2 phút, nghỉ tiếp 5 phút rồi lại nhìn xa 2 phút Giáo dục trẻ không nên quá chăm chú nhìn vào màn hình điện thoại, đọc sách lâu sẽ làm cho mắt mỏi và khô mắt, cần phải chớp mắt nhiều lần để giảm tình trạng khô mắt Cần giữ khoảng cách phù hợp giữa mắt với màn hình máy tính là 50-70 cm, khoảng cách với ti vi gấp 4-5 lần độ dài đường chéo của ti vi Cần đúng tư thế: tư thế ngồi đúng là hai chân đặt trên đất, lưng dựa vào ghế, hai bàn tay và cánh tay đặt trên bàn phím tạo thành góc 90 độ với bả vai Cần sử dụng đèn sợi đốt hoặc đèn led có công suất 40W cho trẻ học bài và không nên sử dụng đèn huỳnh quang Không nên nằm xem ti vi, sử dụng máy tính để gần mắt
Nhiều tác giả cho rằng dinh dưỡng có thể là một trong những yếu tố quan trọng gây ra tật khúc xạ ở học sinh, sinh viên (55) Theo Hội Nhãn khoa Hoa Kỳ, những vùng đói nghèo tại châu Phi, tỷ lệ cận thị ở học sinh, sinh viên cao hơn so với nơi khác Thiếu dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan
Trang 39trọng gây ra tật khúc xạ ở học sinh, sinh viên Điều này có liên quan tới điều kiện kinh tế gia đình và đặc biệt là sự quan tâm của cha, mẹ đối với đứa trẻ
Do đó, cha, mẹ nên cho trẻ ăn đầy đủ dinh dưỡng và các sản phẩm bổ mắt góp phần tăng sức khỏe thị lực của trẻ
1.3.3 Các yếu tố về kiến thức - thực hành của cha mẹ có liên quan việc
phòng tránh tật khúc xạ ở trẻ em
Các nghiên cứu đã báo cáo rằng sức khỏe của trẻ em có liên quan đáng
kể đến thái độ và hành vi của cha mẹ (56, 57) Thái độ có thể đóng góp vào ý định thực hiện hành vi và cuối cùng là thực hiện các hành vi có liên quan Bên cạnh đó, thái độ ổn định và dễ tiếp cận có mối liên hệ chặt chẽ với các hành vi trong tương lai (58) và thái độ tích cực của cha mẹ có thể dẫn đến những hành
vi hiệu quả đối với thị lực của con cái họ Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu chỉ
ra sự ảnh hưởng của thái độ và hành vi của cha mẹ đối với nguy cơ cận thị của trẻ em Nghiên cứu (59) đã phát hiện ra rằng thái độ và hành vi của cha
mẹ đối với việc chăm sóc thị giác của trẻ em có thể ảnh hưởng đến nguy cơ cận thị của trẻ em trong độ tuổi đến trường
Nghiên cứu (59) cho rằng nếu cha mẹ chú ý đến thị lực của trẻ sớm thì nguy cơ cận thị của trẻ sẽ giảm Đặc biệt, thời kỳ mẫu giáo rất quan trọng cho
sự phát triển của thị lực của trẻ, bên cạnh đó trẻ em có thể đạt được thị lực tốt nhất trước khi trẻ bước vào tuổi dậy thì (60) Cụ thể, so với trường mầm non, trẻ em có cha mẹ chỉ bắt đầu chú ý đến tầm nhìn của chúng khi chúng học cấp hai hoặc cấp ba có nguy cơ cận thị cao nhất (OR = 3.11, 95% CI =
1.28, p <0,05), sau đó là những trẻ khi bắt đầu học tiểu học (OR = 2,12, 95%
CI = 1,01, p <0,05) (59) Vì vậy, nếu cha mẹ có thể thực hiện những can thiệp
tích cực (47, 59, 61-64) trong giai đoạn mẫu giáo và trong độ tuổi đến trường thì trẻ sẽ có nguy cơ bị cận thị thấp hơn
Trẻ có nguy cơ bị cận thị thấp hơn nếu cha mẹ quản lý về khoảng cách tầm nhìn của trẻ đối với màn hình các thiết bị điện tử (ti vi, smart phone, máy
Trang 40tính bảng) phù hợp Cha mẹ có yêu cầu cao hơn về tầm nhìn của con cái họ có thể chú ý hơn đến tầm nhìn của con cái họ và thực hiện nhiều biện pháp hơn
để ngăn ngừa trẻ bị cận thị (65) Theo hiệu ứng mong đợi kỳ vọng của phụ huynh về tầm nhìn của trẻ em cũng có thể có ảnh hưởng đến thái độ và hành
vi liên quan của trẻ đối với việc chăm sóc thị giác Trẻ em có cha mẹ mong muốn con mình có thị lực ít nhất 1,5 đã giảm đáng kể nguy bị cơ cận thị (OR
= 0,49, 95%CI = 0,36, p <0,001), so với 1,0 và 0,5 hoặc thấp hơn (59) Từ đó,
trẻ có thể phát triển các thói quen lành mạnh để phòng chống hoặc ngăn ngừa cận thị tiến triển
Việc cha mẹ điều chỉnh các thông số của các thiết bị điện tử (độ sáng,
độ tương phản và hiệu ứng) sẽ có tác dụng bảo vệ trẻ trước các nguy cơ cận thị (59) Theo phát hiện của Shen (66) sự thoải mái về thị giác của con người
có liên quan đến tỷ lệ độ chói, độ tương phản nền của màn hình các thiết bị điện tử Việc thay đổi độ chói của nền màn hình một cách phù hợp sẽ tạo cảm giác thoải mái và hạn chế tác động xấu tới thị giác So với việc không bao giờ hoặc ít khi cha mẹ điều chỉnh các thông số của thiết bị điện tử của con cái họ
(OR = 0,49, 95% CI = 0,31, p = 0,003), thường (OR = 0,53, 95% CI = 0,33, p = 0,009) và luôn luôn (OR = 0,44, 95% CI = 0,26, p = 0,002) làm
giảm đáng kể nguy cơ trẻ bị cận thị (59) Vì vậy, khi trẻ em sử dụng các thiết
bị màn hình điện tử, cha mẹ cần chú ý không chỉ đến thời gian mà còn cả các thông số của thiết bị (67)
Cha mẹ đảm bảo thời gian cho con được ngủ đủ giấc có thể làm giảm nguy cơ cận thị của trẻ (59) Kết quả phù hợp với phát hiện của Gong (61) rằng những đứa trẻ ngủ trong thời gian ngắn có nhiều khả năng mắc các tật khúc xạ cao hơn đáng kể Nghiên cứu của Jee (65) cũng cho thấy cận thị có mối quan hệ nghịch đảo với thời gian ngủ Tỷ lệ cận thị thấp hơn 41% ở những đối tượng có nhiều hơn 9 giờ ngủ so với những người có ít hơn 5 giờ ngủ, sau khi điều chỉnh giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, tình trạng kinh tế,