Nền văn học Trung Quốc đương đại có những thành tựu rực rỡ với sự xuất hiện của một loạt tác giả nỗi tiếng: Giả Bình Ao, Vệ Tuệ, Mạc Ngôn,Tào Đình, Lưu Quốc Phương, Ngô Huyền,.... Với nhận thức mới về thời đại, những tác giả Trung Quốc đương đại đã đưa hiện thực cuộc sống xã hội vào trong tác phẩm của mình một cách tự nhiên và chân thật........
Trang 1a +2 KOS Oe
LUAN VAN TOT NGHIEP
DE TAI: “TIM HIEU TIEU THUYET
“BAU VAT CUA DOT” CUA MAC
Trang 2NGUYỄN TRUNG NAM
LỚP ĐH6C2 LUẬN VĂN TÓT NGHIỆP TIM HIỂU TIỂU THUYÉT “BÁU VẬT CỦA ĐỜI? CỦA MẠC NGÔN
Giảng viên hướng dẫn
Trang 3PHAN NOI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 Nhân vật trong tác phẩm văn
2 Quan niệm nghệ thuật về con người — phạm trù trung tâm của
thi pháp học hiện
CHƯƠNG 2: VÀI NÉT VÈ TIỂU THUYÉT TRUNG QUỐC
Trang 4CHUONG 3: TÌM HIỂU TIỂU THUYET “BAU VAT CUA ĐỜI?
CỦA NHÀ VĂN MẠC NGÔN
1 Hình tượng người mẹ vĩ đại và đau thương
1.1 Đứa con dâu của xã hội phong kiến Trung QuỐc cv 16
1.2 Người mẹ Lỗ thị - thân phận đất nước Trung Hoa vĩ đại và đau thương 18
1 Hình tượng những cô gái biết ước mơ, khao khát sống và hành động 22
2 Hình tượng đám con rể gia đình Thượng Quan — những quyền lực chỉ phối
vùng Cao
38
minh thời
3.1.1 Sa Nguyệt Lượng, từ du kích đến Hán ĐĨAN coi 40
3.1.2 Tư Mã Khố và Lỗ Lập Nhân, hai thế lực đại diện cho
GUỐCHODCHIỂN: 22220666056 0n n0 0Á nh Van An An thiet 0u n0 E0 uence rence i
41
Trang 53.2 Đất nước trong thời kì mới, những thế lực mới và sự thác loạn
Nền văn học Trung Quốc đương đại có những thành tựu rực rỡ với sự xuất hiện của một
loạt tác giả nỗi tiếng: Giả Bình Ao, Vệ Tuệ, Mạc Ngôn, Tào Đình, Lưu Quốc Phương, Ngô Huyền, Với nhận thức mới về thời đại, những tác giả Trung Quốc đương đại đã
đưa hiện thực Cuộc sống xã hội vào trong tác phẩm của mình một cách tự nhiên và chân
thật, họ đã đưa văn học về đúng với chức năng cơ bản của nó, tức là phản ánh số phận
Trang 6con người Tiểu thuyết “Báu vật của đời” của nhà văn Mạc Ngôn là một tác phẩm thể
hiện rõ nét quan điểm sáng tác ấy
“Báu vật của đò?” đã khái quát cả một giai đoạn lịch sử hiện đại đầy bị tráng của đất nước Trung Hoa thông qua các thế hệ trong gia đình Thượng Quan Gia đình Thượng
Quan là một hình ảnh thu nhỏ của đất nước Trung Quốc qua các thời kì lịch sử (Phạm
Xuân Nguyên, tanvien.net)
Doc “Bau vat cua doi” chúng ta thấy được một xã hội trần trụi được Mạc Ngôn mô tả rất
tỉ mi Trong xã hội ấy, chiến tranh, tệ nạn xã hội mà điền hình là cái xấu cái ác luôn đè
nặng lên mỗi con người
Hiện thực trong “Báu vật của đời” khái quát rộng lớn nhưng cụ thé Cái nhìn của tác giả
dựa trên quan điển của nhân dân vì vậy những sự kiện lịch sử không hề có điểm gãy, đồng thời soi rọi vào tận cùng những góc khuất từ đó trả lại ý nghĩa thật sự cho lịch sử
“Báu vật của đời” có một kết cầu chằng chịt, dày đặc các hình ảnh chỉ tiết nghệ thuật
nhưng vẫn giữa được nét truyền thống qua hình thức biên niên sử; một hệ thống hình
tượng nhân vật đa hình đa dạng, sâu sắc và mang nhiều ý nghĩa; phương thức “lạ” hóa
độc đáo mới lạ; điểm nhìn trần thuật sáng tạo thể hiện sự quan sát tỉnh tường và khéo léo
của nhà văn; cùng với một lối viết tỉnh táo lạ thường khi đứng trước các vấn đề lịch sử
Một phong cách độc đáo, sự tổng hòa của văn học phương Đông và phượng Tây, sự dung
hòa giữa truyền thống và hiện đại Đó là những gì chúng ta có thê cảm nhận được khi
đọc “Báu vật của đời” của nhà văn Mạc Ngôn
“Bau vat cua đời” đưa người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, từ nỗi xót xa này
đến nỗi xót xa khác, từ thú vị này đến thú vị khác, từ thái cực tình cảm này đến thái cực
tình cảm khác — đó là sức hút mà tiểu thuyết này tạo ra được đối với độc giả Đó cũng là
tài văn của nhà văn
Từ những điều nêu trên, chúng tôi cảm nhận rằng “Tìm hiểu tiểu thuyết Bau vat cia do”
của Mạc Ngôn” là một vấn đề rất thú vị
Chúng tôi muốn đi sâu khám phá để có những hiểu biết đúng đắn về một số giá trị độc
đáo của tiểu thuyết “Báu vật của đời” Hi vọng rằng đề tài này cũng sẽ giúp bạn đọc
Trang 7quan tâm tới tiểu thuyết đương đại Trung Quốc có thể tiếp cận tác phẩm một cách dễ
dàng và trọn vẹn hơn
2, Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu tiểu thuyết Báu vật của đời của Mạc Ngôn”, chúng tôi
hướng vào những mục tiêu sau:
- Nghiên cứu các hình tượng nhân vật từ đó làm sáng tỏ tư tưởng
của nhà văn
- Tìm hiểu một kết cấu độc đáo vừa hiện đại vừa truyền thống
- Phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu văn học Trung Quốc, đặc
biệt là văn học Trung Quốc đương đại trong nhà trường và công tác giảng dạy sau này
3 Lịch sử vấn đề
Tiểu thuyết “Báu vật của đời” của Mạc Ngôn là một bộ tiểu thuyết đương đại đang tạo
được sức hút mạnh mẽ đối với độc giả và giới nghiên cứu bởi tính hiện thực và những nét nghệ thuật đặc sắc của nó Nhưng vì là một tác phẩm đương đại nên số lượng những bài nghiên cứu về “Báu vật của đời” tương đối ít ỏi Đồng thời những bài nghiên cứu ấy cũng
chỉ tiếp cận sơ lược tác phẩm dưới góc độ xã hội hoặc xoay quanh các yếu tố lịch sử, chính trị mà chưa có công trình nào chuyên đi sâu nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng
nhân vật và tìm hiểu kết cấu trong “Báu vật của đời”
3.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc, Nhật và Đức đã đứng dưới góc độ xã hội hoặc dựa trên
các yếu tố chính trị, lịch sử để đánh giá về nội dung và nghệ thuật của ““Bứu vật của
đời” Từ quan điểm xuất phát đó, họ chỉ ra những điểm tiến bộ và hạn chế của nhà văn
Có thể chia thành hai nhóm quan điểm như sau:
Thứ nhất, nhóm các nhà nghiên cứu Trung Quốc đứng trên phương diện chính trị đã lên
tiếng bài trừ “Báu vật của đời” ngay khi tác phẩm này được xuất bản tại Trung Quốc
(Tác gia xuất bản xã, 9/1995) với lí do tác phẩm đã vi phạm vào “vùng cắm” của văn học
(Mạc Ngôn và những lời tự bạch, 2004) Thứ hai, nhóm các nhà văn nghiên cứu dưới góc
độ xã hội để tìm ra những nét độc đáo trong “Báu vật của đời” Trong các bài viết này,
Trang 8họ đã chỉ ra những sự sáng tạo trong việc tạo ra một thủ pháp “lạ hoá
những huyền thoại mới bên cạnh những huyền thoại cổ xưa (Trương Thành, Chu Ân, Ta-
độc đáo, sáng tạo
chi-gang) Có người lại tìm sự ảnh hưởng của văn học phương Tây và Mĩ Latin đối với
Mạc Ngôn thông qua tiểu thuyết“ Báu vật của đời” (Wolfgan Kunbim, GS Các Hồng Binh, Ths Tống Hồng Lĩnh)
Bản thân tác giả Mạc Ngôn cũng viết cuốn “Tự bạch” để giãi bày thêm về việc viết văn
của mình
3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Nhà văn Mạc Ngôn được độc giả Việt Nambiết nhiều khi “Bớu vật của đời” được dịch
giả Trần Đình Hiến dịch và xuất bản tháng 2 năm 2001 Các nhà nghiên cứu Việt Nam
cũng dựa trên nhiều góc độ đề đưa ra những quan điểm, những nhận xét riêng của mình
về tiểu thuyết “Báu vật của đời” Nhà văn Nguyễn Khắc Phê đào sâu vào thủ pháp lạ
hoá của Mạc Ngôn bằng cái nhìn tổng quát toàn bộ những tác phẩm đã được dịch sang
tiếng Việt (Tài “phù phép” của Mạc Ngôn, Báo Tiền Phong online) Trong bài “Sự sinh,
sự chết, sự sống: Đọc “Báu vật của đời” của Mạc Ngôn” đăng trên trang tanviet.net ngày 04/08/2005, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã tóm lược những điểm chính trong “Báu
vật của đời” và đưa ra những nhận định về tác giả, tác phẩm Có người lại dựa vào “Báu
vật của đời” để tìm ra sự sáng tạo của Mạc Ngôn trong việc đưa hơi thở hiện đại vào đề
tài lịch sử (Vương Trí Nhàn, Lê Huy Tiêu, Trần Trung Hy) Trong Tiểu luận “Mội số vấn
đề văn học Trung Quốc đương đại” (2007), PGS.TS Hồ Sĩ Hiệp cũng đã điểm qua những
nét đặc sắc của Mạc Ngôn thông qua những tác phẩm đã được dịch
Trên đây là sơ lược một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết “Báu vật của đời ”của
các nhà nghiên cứu nước ngoài và ViệtNam Chúng tôi chưa đọc thấy công trình nào đi
sâu nghiên cứu phương diện hình tượng nhân vật và kết cấu của tiểu thuyết làm thấy được những giá trị đáng ghi nhận của các sáng tác cũng như những sáng tạo độc đáo của
các nhà văn Mạc Ngôn
Với tỉnh thần học tập không ngừng, chúng tôi sẽ kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu, những ý kiến bổ ích từ người đi trước để đi sâu tìm hiểu các hình
Trang 9tượng nhân vật và kết cấu của tiểu thuyết “Báu vật của đời” một cách cụ thể, có hệ
thống
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là bộ tiểu thuyết ““Báu vật của đời” của nhà văn Mạc Ngôn,
trong đó đi sâu vào các hình tượng nhân vật nỗi bật và kết cấu của tiểu thuyết
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu toàn bộ những đặc điểm của một tiểu thuyết Cũng như chưa có điều kiện tìm hiểu nguyên tác do
hạn chế về mặt ngôn ngữ Đề tài của chúng tôi chủ yếu dựa trên bản dịch của dịch giả
Trần Đình Hiến do Nhà xuất bản Văn nghệ Hà Nội ấn hành năm 2001 có độ dài 860
trang
5 Đóng góp của đề tài
Đến với đề tài này, chúng tôi muốn bước đầu nghiên cứu các hình tượng nhân vật và tìm
hiểu nét đặc sắc của kết cầu, từ đó thấy được tài năng độc đáo của nhà văn Mạc Ngôn
Nghiên cứu đề tài này sẽ giúp cho người đọc nói chung và người làm khóa luận nói riêng
có được cái nhìn đúng đắn, sâu sắc và toàn diện hơn về nội dung tư tưởng cũng như
phong cách nghệ thuật của nhà văn Mạc Ngôn
Ở một phạm vi nhất định, đề tài hi vọng sẽ cung cấp một số tài liệu tham khảo cho những
ai yêu thích tác phẩm này, phục vụ cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu “Báu vật
của đời” nói riêng, văn học Trung Quốc đương đại nói chung
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp hệ thống
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tuyển chọn các loại hình tượng nhân vật người trong
tác phẩm và đồng thời tìm hiểu kết cấu cực hiện đại của “Báu vật của đời” Do đó, để
việc nghiên cứu được thuận lợi, chúng tôi đã chọn phương pháp hệ thống Phương pháp
này giúp chúng tôi hiểu bao quát tác phẩm để thấy được sự gắn kết của các hình tượng,
đồng thời thấy được đặc điểm nỗi bật và mối liên hệ của các nhân vật và kết cấu của tiểu
thuyết
Trang 106.2 Phương pháp liệt kê
Chúng tôi tiễn hành liệt kê, ghi lại những dẫn chứng cần thiết trong các bản dịch và nhiều
tài liệu khác có liên quan đề dẫn chứng phù hợp với từng đề mục của khoá luận
6.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
Chúng tôi tiến hành phân tích các dẫn chứng nhằm làm nỗi bật các luận điểm cần triển
khai Sau đó thâu tóm, khái quát chúng lại
7 Dàn ý của khóa luận
Tên khóa luận “Tìm hiểu tiểu thuyết “Báu vật của đời?” của Mạc Ngôn”
6 Phương pháp nghiên cứu
7 Dàn ý của khóa luận
PHAN NOI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận
1 Nhân vật trong tác phẩm văn học
2 Quan niệm nghệ thuật về con người — phạm trù trung tâm của thi pháp học hiện đại
Chương 2: Vài nét về tiểu thuyết Trung Quốc và nhà văn Mạc Ngôn
1 Tiểu thuyết Trung Quốc
` 1.1 Tiểu thuyết Trung Quốc cổ điển
1.2 Tiểu thuyết Trung Quốc thời kì đổi mới
1 Tác giả Mạc Ngôn
Chương 3: Tìm hiểu tiểu thuyết “Báu vật của đời” của
nhà văn Mạc Ngôn
1 Hình tượng người mẹ vĩ đại và đau thương
1.1 _ Đứa con dâu của xã hội phong kiến Trung Quốc
Trang 111⁄2 Người mẹ Lỗ thị - thân phan dat nước Trung Hoa vĩ đại và đau thương
1 Hình tượng những cô gái biết mơ ước, khao khát sống và hành động
2 Hình tượng đám con rể gia đình Thượng Quan — những quyền lực chỉ phối vùng Cao
Mật
3:1 Kháng chiến chống Nhật, nội chiến và những lực lượng chính trị trong buổi
bình minh thời đại
3.1.1 Sa Nguyệt Lượng, từ du kích đến Hán gian
3.1.2 Tư Mã Khố và Lỗ Lập Nhân, hai thế lực đại diện cho cuộc nội chiến
3.2 Đất nước trong thời đại mới, những thế lực mới và sự thác loạn
1 Một kết cấu độc đáo được xây dựng thông qua đôi mắt của Kim Đồng
1 NHÂN VẬT TRONG TAC PHAM VAN HQC
“Nhân vật văn học” là một thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người, một (rong những dấu hiệu về sự tồn tại của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con
người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường
được gán cho những đặc điểm giống với con người
Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ, không thể bị đồng
nhất với con người có thật, ngay cả khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần
với nguyên mẫu có thật Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà
văn về con người; nó có thể được xây dựng chỉ dựa trên quan niệm Ấy % nghĩa của nhân
vật văn học chủ có được trong hệ thống một tác phẩm cụ thể.
Trang 12Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm dé xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc phong cách Những nét chung về
nhân vật văn học có thể cho phép nêu lên những hiện tượng văn học như : văn học về
“con người thừa” (ở văn học Nga thế ki XIX), văn học về “thế hệ vứt đi”(ở Mĩ thể ki
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra một kết luận : nhân vật trong tác phẩm văn học chính là con người hoặc các loài cây, các sinh thể hoang đường, đồ vật
nhưng mang những đặc điểm giống với con người Nhân vật ấy là đứa con tỉnh thần của
nhà văn, là máu thịt của nhà văn để thể hiện quan niệm thẩm mĩ và lí tưởng thâm mĩ của
nhà văn về cuộc đời và con người Các nhà lí luận cũng nhấn mạnh đến tính nghệ thuật, tính ước lệ của nhân vật văn học Nhân vật văn học có thể không hoàn toàn giống như
con người thật ngoài đời vì chúng có những đặc trưng nghệ thuật và được thể hiện trong
tác phẩm bằng các phương tiện văn học thông qua quan niệm và biện pháp nghệ thuật của
nhà văn, nhưng không vì thế mà chúng kém phần chân thật Đã là tác phẩm văn học thì
không thể thiếu nhân vật văn học
Như vậy nhân vật văn học là hình thức cơ ban dé qua đó nhà văn miêu tả đời sống một cách hình tượng Bản chất của văn học là có quan hệ mật thiết với đời sống, nó chỉ
tái hiện đời sống qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò tắm gương phản chiếu cuộc
sống Nhân vật văn học vì thế là đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất với con người có thật trong cuộc đời Tác phẩm văn học nào cũng là một hệ thống chỉnh thể của những hệ thống nhỏ hơn Các nhân vật trong các tác phẩm cũng thực sự tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh, chúng liên quan với nhau, móc nối với nhau không chỉ bằng tiến trình các sự kiên miêu tả, mà suy cho cùng còn bằng logic của nội dung nghệ thuật của nhà văn
Hệ thống nhân vật đem lại cho hệ thống nghệ thuật của tác phẩm một sự thống nhất,
đồng thời quan hệ giữa các nhân vật trong mỗi hệ thống ít hay nhiều đều phản ánh mối
quan hệ xã hội hiện thực của con người
1 2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VẺ CON NGƯỜI - PHẠM TRÙ TRUNG
TAM CUA THI PHAP HOC HIEN DAI
Trang 13Con người trong tác phẩm văn học là con người được thẻ hiện trong tác phẩm bằng
phương tiện văn học Một nhà văn không thể miêu tả hiện thực nếu không thông qua hình tượng nghệ thuật và không có quan niệm nghệ thuật của mình về con người Theo GS
Trần Đình Sử trong giáo trình “Dẫn luận thi pháp học” (ÑXB Giáo dục 1998) thì “Quan
niệm nghệ thuật vé con người là nguyên tắc lí giải, cảm thụ và miêu tả con người trong
nghệ thuật” Quan niệm nghệ thuật là cách cắt nghĩa, lí giải về con người trên cơ sở hấp
thu các yếu tố thế giới quan nhất định của thời đại, tạo ra một quan niệm của mình về thế
giới và con người
'Văn học là nhân học, là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người Con người là đối
tượng chủ yếu của văn học Dù miêu tả thần linh, ma qui, miêu tả đồ vật, hoặc giản đơn
là miêu tả các nhân vật, văn học đều thể hiện con người Mặt khác, người ta không thể
miêu tả về con người nếu như không hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện
pháp nhất định Mặt thứ hai này tạo thành chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con
người trong văn học
Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người
đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật trong đó
Quan niệm nghệ thuật về con người hướng cho người ta cách cảm thụ và biểu hiện
chủ quan sáng tạo của chủ thể, là nguyên tắc cảm thấy, hiểu và miêu tả con người trong
văn học và các nguyên tắc đó có cơ sở sâu xa trong thực tế lịch sử, nó là một sản phẩm
của lịch sử và cũng đồng thời là sản phẩm của văn hóa, tư tưởng và quan niệm nghệ thuật
về con người, cũng mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn nghệ
sĩ
Trong các thể loại văn học khác nhau, do chức năng và hệ thống phương tiện biểu
hiện khác nhau, quan niệm nghệ thuật cũng có sự khác nhau
Một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời cùng với quan niệm về con người mới Quan niệm con người tạo thành cơ sở, thành nhân tố vận động của nghệ thuật, thành bản
chất nội tại của hình tượng nghệ thuật Quả là sự vận động của thực tế làm nảy sinh
những con người mới và miêu tả những con người ấy sẽ làm cho văn học đổi mới Đổi
Trang 14mới cách giải thích và cảm nhận con người cũng làm cho văn học thay đổi căn bản Trong lịch sử văn học, việc sử dụng lại các đề tài, cốt truyện, nhân vật truyền thống là rất
phổ biến nhưng cách giải thích và cảm nhận của họ là mới, tạo thành tiếng nói nghệ thuật
mới Cũng vẫn là con người đã biết, nhưng hôm qua được nhìn ở một góc độ, hôm nay nhìn sang góc độ mới cũng tạo thành sáng tác văn học mới (GS Trần Đình Sử, 1998) Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu
của nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn của văn
học Nghệ sĩ là người suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng mới
để hiểu về con người, do đó càng khám phá nhiều quan niệm nghệ thuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh giá đúng thành tựu của họ
Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác phẩm
văn học, nhưng biểu hiện tập trung trước hết ở nhân vật, bởi nhân vật văn học là con
người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm, bằng phương tiện văn học Nhân vật biểu hiện cách hiểu của nhà văn về con người theo một quan điểm nhất định và các đặc điểm
mà anh ta lựa chọn Nhân vật văn học chính là mô hình về con người của tác giả Muốn
tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người phải xuất phát từ các biểu hiện của nhân vật,
thông qua các yếu tố tạo nên nó
Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người là cách cắt nghĩa, lí giải về con người trên cơ sở hấp thu các yếu tố thế giới nhất định của thời đại, tạo ra một quan niệm của nó
về thế giới và con người
CHƯƠNG 2
VÀI NÉT VÈ TIỂU THUYÉT TRUNG QUỐC
VÀ NHÀ VĂN MẠC NGÔN
1 1 TIỂU THUYẾT TRUNG QUOC
1.1 TIỂU THUYẾT TRUNG QUỐC CÔ ĐIÊN
Trang 15Mầm mông tiểu thuyết ở Trung Quốc xuắt hiện rất sớm, vào đời Ngụy Tắn (thế kỉ thứ III
—1V) dưới dạng “chí quái” — chuyện ghi chép lại những việc quái dị hoặc những việc
thuộc sinh hoạt cá nhân của các danh sĩ, ở ngoài giới hạn kinh sử Đến đời Đường, giai
cấp phân hóa, đối lập sâu sắc, lại thêm thành thị phát triển, tạo cơ sở cho loại văn học ngoài kinh sử phát triển Cũng như ở phương Tây, tiểu thuyết “truyền kì” đời Đường thể hiện những nhu cầu của đời sống cá nhân, phê phán các thói tục xấu xa hoặc sự bất bình
đẳng xã hội, khẳng định các phẩm chất tính cách cá nhân cao đẹp Tiểu thuyết “thoại
bản” đời Tống (thế kỉ X — XI) tiếp tục thể hiện vấn đề số phận và phẩm chất cá nhân
trong đời sống
Những truyện “giảng sử”, “giảng kinh” đời Tống, Nguyên — tức truyện kể từng đêm theo
sự tích lịch sử hoặc kinh truyện — đến đời Minh được liên kết, xâu chuỗi thành các tiểu
thuyết chương hồi nỗi tiếng như Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy
hử của Thi Nai Am, 7ây du kí của Ngô Thừa Ân Nhu cầu khẳng định nhà Hán chính thống trong 7m quốc chí diễn nghĩa, đề cao lí tưởng “thay trời hành đạo”, diệt trừ yêu
ma trong Thủy hử, Tây dụ kí làm cho các tiêu thuyết đậm chất sử thi anh hùng Sang đời
Thanh, xã hội trở nên thối nát, xuất hiện những tiểu thuyết xuất sắc kế về đời tư và đạo
đức thế sự như Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần,Chuyện làng Nho của Ngô Kính Tử Tiểu thuyết Minh — Thanh là thành tựu rực rỡ nhất của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc,
nó góp phần tạo một nền móng vững chắc về cả hình thức lẫn nghệ thuật cho lớp hậu bối
sau này đạt được nhiều kết quả to lớn lớn góp phần vào kho văn học đồ sộ của Trung
Quốc
1⁄2 TIỂU THUYẾT TRUNG QUỐC THỜI KÌ ĐÔI MỚI
Theo sự thống kê chưa đầy đủ, chỉ tính riêng năm 1978 đã xuất bản được hơn 55 bộ tiểu
thuyết, năm 1979 tăng lên 61 bộ và năm 1980 tăng lên 90 bộ Từ năm 1980 đến năm
1982 bình quân mỗi năm có hơn 200 bộ tiểu thuyết được xuất bản Mười bảy năm trước
“Cách mạng văn hóa” đỉnh cao của sáng tác tiểu thuyết là năm 1959, năm thứ 10 của
Trung Hoa mới ra đời (1949) cũng chỉ có 32 bộ Điều này chứng tỏ thê loại tiểu thuyết
của thời kì mới gặt hái nhiều kết quả rực rõ Không chỉ trên số lượng mà chất lượng của
Trang 16tiểu thuyết trong thời kì này cũng được nâng lên chưa từng thấy Chất lượng của tiểu
thuyết trong thời kì mới được thể hiện ở hai bình diện nghệ thuật và tư tưởng
-_ Mở rộng lĩnh vực đề tài:
Tiểu thuyết của “mười bảy năm” (mười bảy năm trước “Cách mạng văn hóa”) viết về lịch
sử cách mạng, chủ yếu tập trung miêu tả phong trào cách mạng quần chúng trong cuộc
đấu tranh chống Nhật, cuộc đấu tranh giải phóng và cuộc đầu tranh phản dé, phản phong
của nhân dân Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo Tiểu thuyết của thời kì mới cũng
đề cập đến đề tài này nhưng lại không hạn chế về thời gian Dưới ngòi bút của nhà văn,
phong trào cách mạng sau cách mang Tân Hợi (1911) đến khi thành lập Đảng Cộng sản
Trung Quốc (1921) kéo dài thời kì đổi mới mở cửa đều được miêu tả chân thực, sống
động và đầy kịch tính Đó là sự phản kháng anh dũng và sự đàn áp tàn bạo, cuộc kình
chống kịch liệt giữa các lực lượng chính phủ và các giai cấp; sự tranh giành quyền lực
của chủ tế Trung Quốc; ghi chép lại những trang lịch sử cực kì quan trọng trong lịch sử
phát triển của Trung Quốc; các tác phẩm dựa trên những bình diện khác nhau biểu hiện
con đường trưởng thành của phần tử trí thức tiền bộ phản kháng lại sự gian ác, xấu xa để
đi tìm chân lí và ánh sáng; lột tả một cách hình tượng vận mệnh bi thảm của người phụ
nữ trong thời đại cũ và con đường sống mới của họ
- Tang cudng tình cảm lịch sử và tình cảm thời đại:
Tiểu thuyết miêu tả lịch sử cách mạng trong “mười bảy năm” (mười bảy năm trước
“Cách mạng văn hóa”) coi trọng ở việc theo đuổi tình tiết câu chuyện và sắc thái truyền
kì, còn rất nhiều tiểu thuyết thời kì mới viết về lịch sử cách mạng thì coi trọng việc bộc lộ
hoàn cảnh, phản ánh sự thay đổi, cuộc sống rộng lớn, đặc trưng bàn chất của thời đại và
sự phát triển lịch sử Thẻ hiện sự phát triển và bộ mặt thời đại của thời kì cách mạng dân
chủ cũ Trung Quốc từ cách mạng Tân Hợi đến trước cuộc chiến tranh Bắc phạt, miêu tả
sinh hoạt xã hội rộng lớn của thời đại đó: cuộc chiến tranh quân phiệt gay gắt; sự gian
khổ của phần tử nhân sĩ trí thức; sự tha hóa của con người trong thời đại mới; những góc
khuất của lịch sử cùng với sự chìm nổi của thân phận nhỏ bé
- Sự xuất hiện tác phẩm văn học có tính “sử truyện” tương đối nhiều:
Trang 17Tiểu thuyết có tính “sử truyện” là một thành tựu quan trọng của sáng tác tiểu thuyết thời
cổ đại Trong tiểu thuyết của thời kì “mười bảy năm”, loại tác phẩm này rất Ít Trong thời
kì mới, sự “đứt đoạn” của “dòng chảy” này lại được tiếp tục và càng “chảy” mạnh hơn
Chỉ may nam ngắn ngủi, tác phẩm mang tính “sử truyện” xuất hiện không ít Những tác
phẩm này không những tái hiện lại bộ mặt tinh thần của một số nhân vật mà còn lưu lại
rất nhiều sử liệu có liên quan đến những mặt chính trị, quân sự và văn hóa của thời đại
đó.Sự đột phá của tiểu thuyết lịch sử đã dành được thu hoạch to lớn mà văn học thời kì
mới đã đem đến cho độc giả
Trong tiểu thuyết của thời kì “mười bảy năm” ngay cả thời “Ngũ tứ”, tiểu thuyết lịch sử của Trung Quốc là vùng trống vắng trong sáng tác văn học Trung Quốc Nguyên nhân
này chủ yếu là do sự can thiệp của tư trào “tả” làm cho đề tài lịch sử trở thành “vùng cấm” không có ai dám vi phạm Trong văn học thời kì mới tình hình này có sự đổi khác
“Vùng cấm” được xóa bỏ, không còn ranh giới, không còn cắm kị, phân biệt Tiểu thuyết
lịch sử đã dám đột phá vào thể loại này, viết nên nhiều tác phẩm mang nhiều tính sử thi,
“sử truyện” được độc giả đón nhận nồng nhiệt
Tiểu thuyết mang tính sử truyện trong thời kì mới có mấy đặc điểm sau đây:
+ Phan ánh đời sống lịch sử rộng lớn mà sâu sắc
Có thể nói, những tác phẩm này đã phản ánh lịch sử lâu dài cuộc sống xã hội phức tạp và
phong phú của xã hội phong kiến Trung Quốc, đến cuộc cách mạng Tân Hợi và kéo dài
đến cả những năm Trung Quốc bước vào cải cách mở cửa Những tác phẩm này không
những chú ý dùng hình tượng sáng tạo trên cơ sở sử liệu tương đối chính xác, phản ánh
sự chân thật của phong trào lịch sử mà còn chú ý tái hiện bộ mặt chân thực của thời đại
Tắt cả đều không hạn chế ở việc miêu tả sự nghiệp và tinh thần của nhân vật chính mà từ
bối cảnh thời đại rộng lớn để miêu tả nhân vật, miêu tả thời đại
+ Đa dạng hóa đề tài lịch sử
Tiểu thuyết lịch sử của thời kì mới về phương diện đề tài có sự đột phá và mở rộng hơn
trước rất nhiều
Van dé mau chốt của sáng tác tiểu thuyết là xử lí như thé nào về mối quan hệ giữa chân
thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật Vấn đề này, do quan niệm văn học của các tác giả
Trang 18không giống nhau nên trên biểu hiện nghệ thuật cũng khác nhau Tuy vậy, đại thể có máy con đường sau đây:
» _ Loại thứ nhất là : lấy tài liệu lịch sử làm căn cứ đối chiếu với tình tiết câu chuyện và tính cách của số nhân vật nào đó và nhất định phải hư cấu
« Loại thứ hai: cũng là lấy tài liệu lịch sử làm căn cứ nhưng trên tình tiết câu chuyện có
sự hư cấu
« _ Loại thứ ba là: tôn trọng sự thực lịch sử, yếu tố hư cấu rất ít, đó tức là kiểu “bác khảo
văn hiến, ngôn tất hữu cứ” (uyên bác ở việc tham khảo văn hiến, lời nói tắt đều có căn
cứ) Ở đây không có sự phân biệt phải trái, cao thấp Bởi vì tiểu thuyết lịch sử không phải là sách sử đơn thuần mà là tác phẩm văn học lấy sử liệu làm căn cứ sáng tác
Tiểu thuyết của thời kì mới còn xuất hiện tác phẩm phản ánh cuộc sống của nước Trung Hoa mới
Các tác phẩm miêu tả “cuộc đại cách mạng văn hóa” là một lĩnh vực hoàn toàn mới, mở
ra một đề tài của tiểu thuyết thời kì mới Và không chỉ viết về “cách mạng văn hóa” mà
đối với lịch sử cũng có sự tìm tòi, suy nghĩ làm cho độc giả tiếp nhận một cách tích cực
Những tác phẩm này có đề tài mới, chủ đề mới và quan trọng hơn là sự lí giải, nắm vững,
đề xuất và biểu hiện của tác giả đối với cuộc sống cũng là mới loại tác phẩm này mang
đến dòng máu mới để mọi người đi vào thời kì mới
Qua sự trình bày có thể rút ra những thành tích đáng chú ý của tiểu thuyết thời kì mới:
-_ Trước hết, nhiều tác phẩm đã duy trì, ủng hộ và phát huy một số truyền thống ưu tú
của sáng tác tiểu thuyết truyền thống Từ trong dòng chảy mạnh mẻ của đời sống, các tác
giả đã chọn lựa chủ đề và đề tài có liên quan mật thiết đến vận mệnh của nhân dân và tình hình của đất nước Về mặt nghệ thuật, nhiều tác giả đã thể hiện nhiều hình thức thẻ hiện
mới, tỏ rõ phong cách, phong thái của người sáng tác văn học, làm cho mọi người phan
khởi sáng tạo ra cái mới, nhất là việc sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật mới Nhân vật
anh hùng mới được xây dựng đep đề, sáng tạo và có sức thuyết phục cao
Đề tài của tiểu thuyết thời kì mới tương đối rộng lớn, bao quát có tính khái quát cao
Trong thời kì mới, tầm nhìn của các nhà văn được mở rộng và được giải phóng Họ một
Trang 19mặt vẫn không từ bỏ việc miêu tả cuộc đấu tranh của giai đoạn cách mạng, mặt khác họ
đem tầm nhìn đó đặt vào đời sống với giá trị thâm mĩ mới
Tiểu thuyết của thời kì mới về mặt phương pháp nghệ thuật cũng dần dần có sự cách
tân sáng tao Ti iết tấu trần thuật, kể chuyện được tăng nhanh; phê phán, tran thuật cũng
dần dần đa dạng hóa Về mặt kết cấu, các nhà văn sử dụng phương pháp “từ đầu, nói đầu, nối tới”, đồng thời xuất hiện phương pháp kết cấu nhiều kiểu, nhiều dạng độc đáo Về
khắc họa tính cách nhân vật, các tác giả đã sử dụng đặc trưng tính cách từ hành động đặc
trưng đơn nhất dần dần đi sâu vào miêu tả thế giới nhân vật làm cho thủ pháp miêu tả
phong phú, mới mẻ, gây sự hấp dẫn cho người đọc (PSG.TS Hô Sĩ Hiệp, 2003)
1, 2, NHA VAN MAC NGON
Mạc Ngôn tên thật là Quản Mạc Nghiệp, người vùng Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung
Quốc Ông sinh ngày 17 tháng 02 năm 1955, xuất thân trong một gia đình nông dân Do
“Cách mạng Văn hóa”, ông phải nghỉ học khi đang học đở tiểu học và phải tham gia lao
động nhiều năm ở nông thôn Trong thời gian đó ông đã làm rất nhiều việc, từng làm
công nhân hợp đồng ở nhà máy chế biến bông, có cuộc sống gần gũi với người nông dân
"Tháng 02 năm 1976, ông nhập ngũ, từng làm chiến sĩ, rồi tiểu đội trưởng, giáo viên, rồi
sau đó chuyển sang làm sáng tác Năm 1984, trúng tuyên vào khoa văn thuộc Học viện nghệ thuật Quân Giải phóng và tốt nghiệp năm 1986 năm 1988, ông lại trúng tuyển lớp
nghiên cứu sinh sáng tác thuộc Học viện Văn học Lỗ Tắn, trường Đại học Sư phạm Bắc
Kinh, năm 1991 tốt nghiệp với học vị thạc sĩ Hiện nay, ông là sáng tác viên bậc Một của
Cục Chính trị - Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Từ năm 1980, Mạc Ngôn bắt tay vào sáng tác Những tác phẩm nổi tiếng của ông có: Giz
tộc Hồng Cao Lương, Báu vật của đời, Đàn hương hình, Tửu quốc, Sống đóa thác đày, Ngoài tiểu thuyết ra ông còn viết hai mươi bốn truyện vừa, trên sáu mươi truyện ngắn và
nhiều vở kịch cho sân khấu Nhà văn Mạc Ngôn từng được thế giới biết đến qua tác phẩm Cao lương đỏ Bộ phim cùng tên do đạo diễn nỗi tiếng Trương Nghệ Mưu chuyển thể từ tác phẩm này đã đoạt giải “Cành cọ vàng” tại Liên hoan phim Canne (Pháp) năm
1994 Mạc Ngôn đã đóng góp cho nền văn học Trung Quốc nhiều tác phẩm có giá trị và
được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.
Trang 20Báu vật của đời, nguyên tác: Phong nhũ phì đồn (SEW,ERW), là một tác phẩm nỗi tiếng
của nhà văn Trung Quốc Mạc Ngôn Tác phẩm được xuất bản tháng 9 năm1995 đã trở
thành một hiện tượng, tác phẩm đã được trao giải cao nhất của Hội Nhà văn Trung
Quốc về truyện trong năm đó
Tiểu thuyết đã cung cấp cho bạn đọc một lượng thông tin lớn, khái quát cả giai đoạn lịch
sử hiện đại của Trung Quốc thông qua câu chuyện về các số phận của mỗi thế hệ gia đình
nhà Thượng Quan Bối cảnh chính của câu truyện là vùng Cao Mật, Trung Quốc
Có nhiều con đường để cảm thụ tác phẩm văn chương, vì vậy trước một “hiện tượng văn
học” xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau cũng là điều bình thường làm phong phú thêm đời
sống văn học Báu vật của đời của Mạc Ngôn, một trong những tác phẩm được đánh giá
là xuất sắc nhất của văn học Trung Quốc hiện đại
Trong nền văn học đương đại Trung Quốc, Mạc Ngôn cùng với Vương Mông, Giả Bình
Ao, Trương Hiền Lượng, Phùng Ký Tài, Lục Văn Phu, Trương Tử Long, Cao Hiểu
Thanh, Han Thiéu Công đã trở thành nhà văn có tên tuổi được bạn đọc trong và ngoài nước biết đến
Đề tài truyện của ông rat rộng Phản ánh sinh hoạt của quân đội thời hiện đại có Bấi cát đen, Đoạn Thú ; miêu tả phong tục tập quán nông thôn có Vét him trong dép co, Am nhạc dân gian ; “phản tư lịch sử”, suy ngẫm nhân sinh có Dòng sông khô cạn, Củ cà
rốt trong suốt, Thu thủy, Làm đường ; phản ánh hiện thực nông thôn, miêu tả sự xung
đột giữa ý thức cũ và mới trong công cuộc cải cách có Ánh chớp hình câu, Bùng nổ, Cây
du ché trang ; phản ánh cuộc kháng chiến chống quân xâm lược có Gia tộc Cao lương
đỏ (, gồm Cao Lương đỏ, Rượu Cao Luong, Nha quan Cao Luong, Cdu dao, Da chó), Báu
vật của đời (Mông to vú nở), Đàn hương hình
Nhiều người gọi những tác phẩm của Mạc Ngôn là tiểu thuyết “cảm giác mới” Cảm giác mới bắt nguồn từ nhận thức luận của chủ nghĩa biểu hiện và phương pháp biểu hiện tư
tưởng của chủ nghĩa đa đa Tiểu thuyết cảm giác mới đối lập với tiểu thuyết hiện thực
truyền thống, nó không đơn thuần miêu tả hiện thực bề ngoài, mà nhấn mạnh cảm thụ
trực giác, đưa cảm giác chủ quan vào trong khách thể đặng sáng tạo ra một hiện thực mới
mẻ Tiểu thuyết của Mạc Ngôn chịu ảnh hưởng của trường phái cảm giác mới của chủ
Trang 21nghĩa hiện đại phương Tây và của Nhật Bản những năm 20 - 30 Mạc Ngôn cho
rằng trạng thái sáng tác nhẹ nhàng thoải mái, tự do, muốn nói gì thì nói là trạng thái tốt
nhất đối với nhà văn Khi cánh cửa hồi ức được mở ra, ông thường dùng cảm tính để phê
phán, bình phẩm cuộc sống chứ không dùng lí tính để phê phán, bình phẩm cuộc sống Tiểu thuyết của Mạc Ngôn không còn là cốt truyện hoàn chỉnh như tiểu thuyết truyền thống mà nó chỉ còn là “cái khung truyện” mà thôi Nhưng trong cái khung truyện ấy
chứa đầy cảm giác, đó là linh hồn của tiểu thuyết Mạc Ngôn Ông có biệt tài nắm bắt cảm
giác Thế giới cảm giác trong tiểu thuyết Mạc Ngôn mang sắc thái chủ quan mãnh liệt Đứng trước khách thể, ông “rót” ấn tượng chủ quan của mình vào để tạo ra hiện trạng
khác lạ
Dường như khi sáng tác, Mạc Ngôn huy động mọi tế bào của cơ thể để khám phá hiện
thực Dù là một làn gió nhẹ, một nhánh cỏ, một cây cao lương, một giọt nước trong
cũng được tác giả miêu tả có hồn mang đậm chất chủ thẻ hóa Bằng bút pháp tả thực kết
hợp với bút pháp tượng trưng, biến hình, huyền ảo khoa trương tác giả đã khiến cho
một ánh mắt, một nụ cười, một tiếng thở dài, một cảm xúc nhỏ cũng trở thành hình ảnh
có hương có sắc có mùi có vị Nhờ có cảm giác mới lạ, làm cho bộ mặt cuộc sống ma tac giả mô tả không còn như nguyên dạng nữa Tác giả mượn nhân vật trong truyện Hong
hoàng nói lên ý đồ sáng tác của mình:
Sẽ có một ngày tôi soạn một vở kịch chân chính, trong đó mộng ảo và hiện thực, khoa
học và đồng thoại, thượng dé va ma quỷ, ái tình và mãi dâm, cao quý và tỉ tiện, mĩ nữ và đại tiện, quá khứ và hiện tại, huân chương và bao cao su đều đan xen với nhau, gan
chặt với nhau, cái nọ nối cái kia, tạo thành một thế giới hoàn chỉnh (Mạc Ngôn và
những lời tự bạch, Nguyễn Thi Thai dich, NXB Van Hoc, 2004)
Thể giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn còn chịu ảnh hưởng của học thuyết
phân tâm học của Ereud (tên đầy đủ là Sigmund Schlomo Freud; (1856 -1939) là một bác
sĩ về thần kinh và tâm lý người Áo Ông được công nhận là người đặt nền móng và phát
triển lĩnh vực nghiên cứu về phân tâm học), đồng thời hấp thụ cả thuyết dân tộc học, nhân
loại học của Frazer (1854-1941, người Anh) Mạc Ngôn từng nói ông dùng văn học để thể hiện sự tưởng tượng độc đáo Tiểu thuyết của ông đậm đà màu sắc nguyên sơ, man
Trang 22dại Những tác phẩm đầu tay như Dòng sông khô cạn, Thu thủy, Âm nhạc dân gian nói
nhiều đến bản năng sinh tồn, thể nghiệm nhân sinh mô tả cảnh vật nông thôn cổ xưa qua
lăng kính của tuổi thơ (Lê Huy Tiêu, 2003)
Chủ đề trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn thường biểu hiện về những vấn đề sinh tồn của
nhân loại: cái đói, cái rét, tính dục, thù oán, tôn giáo, cái sống cái chết, mê tín dị đoan,
chiến tranh
Trong một bài báo viết về ảnh hưởng của Marquez và Faulkner đối với mình, Mạc Ngôn
viết: “Trong vũ trụ bao la, vị trí của con người là vô cùng bé nhỏ, Lịch sử quá khứ và thế giới hiện tại liên quan mật thiết với nhau, máu của lịch sử lại chảy trong mạch máu của
người ẩương đại” (Mạc Ngôn và những tự bạch, Nguyễn Thị Thại dịch, NXB Văn Học, 2004) Dưới ngòi bút của Mạc Ngôn, vừa có sự vạch trần, phê phán thói dâm dục, quan liêu hách dịch của các ông “quan mới” ở nông thôn (Cây tỏi nồi giận), vừa có sự phẫn nộ
căm ghét những thói ác của con người (Tôi ác, Bỏ con tho) và có cả hiện tượng sa đọa về
luân lí đạo đức cùng sự xót thương sinh ménh bap bênh (Ánh chớp hình cầu, Bùng nô)
Mạc Ngôn vừa mô tả sự trỗi dậy của sinh mệnh trước mọi thế lực áp bức, đồng thời cũng
chứng minh sự trỗi dậy phản kháng là tốn công vô ích, do đầy tiểu thuyết của ông mang
màu sắc bỉ thương
Nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Mạc Ngôn khá độc đáo Tiểu thuyết truyền thống thường dùng ngôi thứ ba để thuật chuyện, còn ở tiểu thuyết Mạc Ngôn thường được kể theo ngôi thứ nhất “tôi” “Tôi” có khi là người, có khi là đồ vật hoặc động vật; có cái “tôi” là hiện
thực, có cái “tôi” là sự kết hợp giữa vật và người Trong Cao lương đỏ, “tôi” kể về câu
chuyện của “ông tôi” (Từ Chiếm Ngao), “bà tôi” (Phương Liên), “bố tôi” (Đậu Quan) Trong Báu vật của đời, — một truyện đề cao vai trò của nữ giới — nhân vật “tôi” (đứa con
trai thứ chín của Thượng Quan Lỗ thị) cũng dùng con mắt tuổi thơ để nhìn nhận những
chuyện của ông bà cha mẹ, anh chị của mình Ở đây nhân vật “tôi” dường như chỉ là giả thuyết (tuy vẫn có tính cách) nên ta có cảm giác hư hư thực thực Khi tả thực thì “tôi” là
hiện hữu, khi truyền kì biến hình “tôi” là lãng mạn
Người kể chuyện trong tiểu thuyết truyền thống là đứng ở góc nhìn biết tất cả, tầm nhìn
không bị hạn chế, còn người kể chuyện theo ngôi thứ ba của Mạc Ngôn có tầm nhìn hạn
Trang 23chế, sự hiểu biết của người kể chuyện ít hơn của nhân vật Người kể chuyện “bé” hơn
nhân vật, không phải cái gì anh ta cũng biết Nhờ có góc nhìn tự thuật đa dạng, luôn thay
đổi đã tạo ra hiệu quả nghệ thuật: tác giả cỗ ý bảo lưu một số bí mật, gợi lên trí tò mò của
độc giả
Do điểm nhìn tự thuật luôn biến hóa, nên kết cấu truyện của Mạc Ngôn cũng xuất hiện
một hình thức tương xứng mới mẻ về không gian và thời gian Dựa vào sự tưởng tượng nhu “qui nhap trang”, “Con ma cam móng tay vào vỏ cây hòe không rút ra được, gà gáy
là biến thành xác chết” (“Báu vật của đời” — tr 381) ranh giới thời gian và không gian,
lịch sử và hiện tại, vật lí và tâm lí trở nên mơ hồ Nghệ thuật xử lí không gian và thời gian
trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn giống như trong phim của trường phái hiện đại chủ nghĩa, vừa tồn tại một kết cấu nội tại vừa có một kết cấu ngoại tại Bản thân cốt truyện có
thời gian tuyến tính, nhưng xuất phát từ điểm nhìn của “tôi”, “tôi” cắt cốt truyện ra thành
nhiều đoạn, sau đó dùng kí ức ảo mộng của “tôi” để tái tạo nên một thế giới hoàn toàn
mới Tiểu thuyết của ông là một loại kết cầu phức hợp, tuần hoàn, phi tuyến tính, phi
lôgic, rất “hỗn độn”, vô thủy vô chung
Trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn thường xuất hiện ba thế hệ nhân vật: ông bà, bố mẹ, ôi” và bạn bè cùng trang lứa với “tôi” Dựa vào ba thế hệ đó, tác giả tạo ra một hệ thống
ẩn dụ có ý nghĩa tượng trưng, một bức tranh nhân sinh biến ảo đa sắc màu Đó là đặc điểm nổi bật trong việc sáng tạo nhân vật của ông Nhân vật của ông có nhiều loại nhưng
chủ yếu vẫn là ba thế hệ đó, và ba thế hệ này có khi là quan hệ huyết thống là người thân
của “tôi”, nhưng cũng có khi chỉ là nhân vật tượng trưng an dụ có một nhân cách độc lập
có vốn sống văn hóa riêng có nội hàm sinh mệnh riêng “tôi” (tức Kim Đồng — con thứ chín của Thượng Quan Lỗ thị) trong Báu vật của đời là đứa con hoang, chú được mẹ quá nuông chiều, trở nên yếu hèn mắc bệnh “say mê
sinh
bầu vú Đó là sự thoái hóa của nhân
Do kí ức về tuổi thơ ở nông thôn quá sâu đậm nên mặc dù sau này lớn lên, Mạc Ngôn từ
giã làng quê đi làm thợ, đi lính, nhưng ngôn ngữ trong tiểu thuyết của ông vẫn đượm mùi
dân dã Ngôn ngữ tự thuật của ông là thiên biến vạn hóa, chen nhiều ca dao thành ngữ, có
hơi hướng cổ thi, danh ngôn biền ngẫu, có nhiều câu hay lời đẹp, có thanh có tục
Trang 24CHƯƠNG 3
TÌM HIẾU TIỂU THUYÉT “BAU VAT CUA DOT” CUA
NHA VAN MAC NGON
1 1 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI MẸ VĨ ĐẠI VÀ ĐAU THUONG
1.1 DUA CON DAU CUA XÃ HỘI PHONG KIÊN TRUNG QUỐC
Nói đến đất nước Trung Quốc là nói đến một lịch sử phát triển lâu dài với nhiều công trình kiến trúc vĩ đại, nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều phát minh sáng chế và cả những
phong tục tập quán lạc hậu trong thời phong kiến Mà nạn nhân trực tiếp của những
phong tục lạc hậu ấy chủ yếu là những người phụ nữ Những người phụ nữ trong xã hội phong kiến Trung Quốc luôn bị khinh khi, coi rẻ Họ là nạn nhân của rất nhiều quan niệm
hà khắc của một xã hội trọng nam khinh nữ, những người phụ nữ trong cái xã hội ấy bị
coi như những công cụ sản xuất không hơn không kém Trong xã hội ấy, phẩm giá của
người phụ nữ cũng chỉ là thứ vô giá trị Nhưng cho dù có bị khinh khi đến đâu chăng nữa, cho dù có bị chà đạp như thế nào đi nữa thì những người phụ nữ ấy vẫn tin tưởng vào
tương lai, vẫn cố gắng hòan thành thiên chức thiêng liêng của mình bằng một tắm lòng
chân thành thiết tha
Lỗ Toàn Nhi, cô gái ở vùng quê Cao Mật, xinh đẹp, dịu dàng và tràn đầy sức sống Cuộc
đời của Toàn Nhi gắn liền với những đau thương, những thăng trầm, cũng như những
biến cố của lịch sử ở vùng Cao Mật — Đại La Đó cũng là lịch sử phát triển của cả đất
nước Trung Quốc rộng lớn Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, cô bé Toàn
Nhi đã phải nếm trải sự tàn khốc của chiến tranh Cả gia đình cô đều bị quân Đức tàn sát
cùng với bốn trăm chín mươi hai người khác Đó là một ngày mùa thu năm Quang Tự thứ
26 tức năm 1900, khi quân Đức ð ạt tấn công vào thôn Sa Oa, quê của Toàn Nhi, và
chúng giết người một cách điên dại, lúc đó cô bé Toàn Nhi vừa tròn sáu tháng tuổi Là
người duy nhất sống sót trong đợt tàn sát ấy, bắt đầu một quãng đời đầy gian truân sau
này của Lỗ Toàn Nhi.
Trang 25Lên năm tuổi, Lỗ Toàn Nhi phải bó chân, một phong tục tàn khốc đã gây ra cho những
người phụ nữ Trung Quốc những thương tích tật nguyên suốt đời, họ chịu nhiều đau đớn
với chỉ một lý do phụ nữ không bó chân sẽ thành chân bàn cuốc, không ai thèm lấy! (Tr
763) Với lý do như vật, biết bao bậc bề trên ở Trung Quốc đã ép con ép cháu phải chịu những nỗi đau đớn về thể xác cũng như những dày vò về tỉnh thần trong tục bó chân Với sự miêu tả chân xác, Mạc Ngôn đã giúp cho người đọc thấu hiểu được nỗi đau khôn
cùng của những người phụ nữ trong cái tập tục bó chân tàn khốc ay:
Ba ding nep tre cố định chân mẹ lại, khiến mẹ gào lên như lợn bị chọc tiết, phải kẹp chặt
vì tạo hình cho bàn chân nhỏ là rất quan trọng Sau đó quấn thật chặt hết lớp này đến
lớp khác những đoạn vải đã tẫm nước muối phơi khô, rồi lấy dài gỗ vỗ một lượt Mẹ kể
rằng, buốt đến tận óc (Tr 764)
Mãi đến năm mười sáu tuổi, Toàn Nhi mới được giải thoát khỏi tục bó chân Năm mười
bảy tuổi thì được gả vào nhà Thượng Quan Lúc bước vào nhà Thượng Quan, cuộc đời
của cô gái Lỗ Toàn Nhi càng đau khổ, tủi nhục hơn Là vợ của Thượng Quan Thọ Hỷ, là
con dâu trong gia đình khá giả nhưng thực chất, Toàn Nhi chẳng khác gì một kẻ tôi tớ
Lấy một người chồng bất tài, vũ phu lại bắt lực, không có khả năng truyền giống, nên mọi sự hành hạ, mọi sự oán trách từ niềm khao khát có cháu nói doi tông đường đều bị đỗ dồn lên người Toàn Nhi Cô phải thường xuyên chịu những cơn mắng nhiéc cay nghiét:
“Chỉ biết ăn mà không biết đẻ, nuôi cái đồ vô tích sự ấy làm gì!” (Tr 713) và những trận đòn roi không thương tiếc từ mẹ chồng: “Nhà Thượng Quan tiền oan nghiệp chướng làm
sao cưới phải quả mít đực, tuyệt tự đến nơi rồi” (Tr 747)
Trước nỗi khát khao có cháu của mẹ chồng cũng như những thành kiến của xã hội, Lỗ
Toàn Nhi phải mang thân mình đi “xin giống” của những người đàn ông xa lạ Cuối cùng Toàn Nhi đã sinh cho gia đình Thượng Quan một đàn con chín đứa gồm tám gái một trai,
trong đó Lai Đệ và Chiêu Đệ là giống của ông chú dượng Vu Bàn Vả; Lãnh Đệ là con
của anh chàng bán vịt đạo; Tưởng Đệ là con của một thầy lang bán rong; Phán Đệ là của
lão Béo bán thịt chó ở thôn Sa Tử; Niệm Đệ là giống của Hoà thượng Trí Thông ở chùa
Thiên Tề; Cầu Đệ là kết quả của lần Lỗ Toàn Nhi bị bốn tên lính thất trận cưỡng hiếp ở
bờ bắc sông Thuồng Luồng; sau cùng là cặp song sinh Kim Đồng, Ngọc Nữ của mục sư
Trang 26Malôa Nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời của Lỗ Toàn Nhi không phải là cái chết của cha mnẹ, không phải là sự hành hạ thân xác của tục bó chân, cũng không phải do sự vũ phu của người chồng mà đó chính là tập tục nghiệt ngã buộc phải có con trai Đây chính là
điều đã buộc Lỗ Toàn Nhi phải ngủ với những người đàn ông không mong muốn, phải
đem tiết hạnh, đem tắm thân của mình đánh đổi lấy sự bình yên trong cuộc sống Lỗ thị,
trước hết là thân phận của người phụ nữ Trung Quốc bị khinh khi, coi rẻ phẩm chất giá tri
trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ Việc ăn nằm, sinh nở của Lỗ thị trước hết là sự thách
thức với xã hội, là tiếng cười ngạo nghễ, chống lại những tập tục phi nghĩa lí của xã hội
Sinh được đứa con gái đầu lòng, cứ tưởng rằng sẽ được như lời của mẹ chồng khấn
vái: Tạ ơn trời đất, cuối cùng thì nẻ đít ra rồi! Xin Bồ Tát phù hộ sang năm cho gia đình
con xin đứa con trai! Dù phải đi “xin giống” của sáu người đàn ông, nhưng rồi bảy đứa con ra đời đều là bảy cô con gái cả Bảy đứa con toàn gái làm cho cuộc sống của Lỗ thị
trong gia đình chồng càng thêm khốn khổ: “7ừ khi sinh đứa con gái thứ tư, bâu trời nhà
Thượng Quan lúc nào cũng mây đen vẫn vũ, mặt bà nội như lưỡi hái vừa lấy ra khỏi nước tôi, sẵn sàng đâm chém ai đó bất cứ lúc nào ”(Tr 790)
Bị đối xử thua một con vật, vừa mới sinh con xong, Toàn Nhi phải phơi mình giữa cái nắng trưa để lật rơm trong khi “bung van dau quặn, dạ con vừa trút được gánh nặng co bóp dữ dội, mô hôi lạnh chảy cùng mình, từng dòng âm ấm từ của mình chảy ra ướt đẫm
hai đùi” (Tt 792); phải sinh con trên một cái giường đầy đất đá đã nhão ra vì máu, “vượt
cạn” trong sự lo lắng, sq hai, ban thỉu và cô đơn trong khi cả nhà đang lo lắng, nâng niu một con lừa cũng đang đau đẻ
Người phụ nữ ấy nhận ra một chân lí nghiệt ngã: “Là đàn bà, không lấy chồng không
được, lấy chồng mà không sinh con không được, sinh con toàn con gái cũng không được Muốn có địa vị trong gia đình, dứt khodt phai sinh con trai” (Tr 783) Cái xã hội mà tính
mạng con người bị khinh khi vì không có con trai “không có con trai thì suốt đời cô chỉ
là nô lệ; đẻ con trai, cô lập tức thành chủ nhà” Chính cái xã hội đó đã làm thay đổi con người của Lỗ Toàn Nhi, từ một cô gái hiền lành chịu đựng đến nhẫn nhục cô đã trở nên liều lĩnh, mang trong lòng sự thù hận, căm ghét xã hội cùng những tập tục phi lí và căm
thù nhà Thượng Quan vô nhân đạo Lỗ Toàn Nhi từ đó luôn nuôi ý định trả thù và xem
Trang 27việc ăn nằm với những người đàn ông khác là cách trả thù tốt nhất: “Toàn Nhỉ này có đẻ
thêm một ngàn đứa nữa, cũng không phải là giống nha Thuong Quan” (Tr 785)
Với giọng gào thét hả hê, nhưng cũng đầy chua chát nghẹn ngào, xót xa cho thân phận
của mình: Các người nghe thấy rồi chứ! Các người cứ cười đi! Chú ơi, đời là thế, cháu
muốn làm chính chuyên liệt nữ thì bị đánh, bị mắng, bị trả về nha me đẻ; cháu ấi xin
trộm giống của người khác thì lại trở thành chính nhân quân tử! Chú ơi, con thuyén cua cháu sớm muộn cũng chìm, không chìm ở rãnh nước nhà chú Kèo thì cũng chìm trong
rãnh nước nhà chú Cột, chú ơi! (Tr.793), Toàn Nhi đồng thời cũng vạch trần những
nghịch lí bắt công mà người phụ nữ trong xã hội phong kiến Trung Quốc phải gánh chịu
Tuy nhiên, bên trong người phụ nữ ấy, luôn có một sức sống mãnh liệt, không chỉ ở khả
năng thiên phú mà còn là có một niềm tin vào tương lai, là khát khao được sống, khát khao tìm được tình yêu, hạnh phúc gia đình đích thực:
Đứng trước dòng nước trong xanh, mẹ nảy ra ý định nhảy xuống sông tự vẫn Nhưng khi vén áo chuẩn bị nhảy, mẹ bỗng trông thấy bâu trời xanh biếc của vùng đông bắc Cao Mật in bóng dưới lòng sông Mấy cụm mây trắng như bông bay ngang trời, những con chim sơn ca cất tiếng hót véo von dưới cụm mây trắng Những con cá nhỏ, trong suốt bơi trong bóng mây in dưới lòng sông Hình như chẳng có chuyện gì xảy ra, trời vẫn trong xanh, mây vấn nhởn nhơ, lười nhác và trắng muốt như thế Chim chóc không vì có điều hâu mà ngừng ca hát, con cá nhỏ không vì có chìm bói cá mà ngừng bơi lội Mẹ cảm thấy một làn gió tươi mát xua tan mọi uất ức trong long (Tr 802)
Mang trong minh niềm tỉn vào cuộc sống, đi tìm sự công bằng cho thân phận người phụ
nữ, mặc dù in dấu trên hình hài và trong tận sâu tâm hồn nhiều vết thương do xã hội gây
ra, nên không đơn thuần chỉ là nạn nhân của xã hội phong kiến Trung Quốc mà Lỗ thị còn chính là nhân chứng tố cáo sự cay nghiệt của xã hội ấy Và cũng là người đưa nhát
búa đầu tiên đập vào nền móng vốn khập khiéng của những tập tục lạc hậu, là sự chống
đối phản kháng lại chế độ xã hội phong kiến hà khắc Từ khi sinh ra đã được tạo hóa giao
phó thiên chức thiêng liêng — làm me, suốt đời bám víu vào thiên chức Ấy, sức mạnh cuộc sống của bà là từ sự bảo bọc những đứa con mà ra Với khả năng thiên phú ay, dù cho có
bị chà đạp bị tiêu diệt đến đâu thì nó vẫn trường tồn bằng một sức mạnh kì diệu, một
Trang 28niềm tin tuyệt đối, vì bà biết rằng nếu đánh mắt thiên chức làm mẹ thì cũng là đánh mắt
luôn cả sự sống Lỗ thị là một bà mẹ vĩ đại
1.2 NGUOI ME LO THI - THAN PHẬN ĐẤT NƯỚC TRUNG HOA VĨ ĐẠI VÀ
ĐAU THƯƠNG
Với thiên chức làm mẹ, Lỗ thị đảm đương nhiệm vụ đó với tất cả tình thương yêu và sự
hi sinh cao ca nhất Dù đã phải đi “xin giống dạo” của nhiều người đàn ông xa lạ vì xuất
phát từ mục đích duy nhất là có con trai để thỏa nỗi khát khao hẳn học của mẹ chồng,
nhưng hơn thế nữa là thoát khỏi sự dày vò của những quan niệm cổ hủ khắc nghiệt Tuy
nhiên kết quả của hành động ấy là bảy cô con gái, điều đó làm cho cuộc sống của Lỗ thị trong gia đình chồng càng thêm khốn đồn, nhưng không vì thế mà bà căm ghét, ghẻ lạnh
những đứa con của mình mà ngược lại bà luôn dành trọn vẹn tình thương cho chúng:
Niệm Đệ vừa lọt lòng oe oe khóc, mẹ chẳng thấy vấn là con gái, liền chẳng nói chẳng rằng tám lấy hai chân định đem đìm chết trong chum nước Mẹ nhào xuống đất ôm chặt
hai chân mẹ chong, van xin: — Mẹ ơi mẹ, xin mẹ mở lượng từ bị, thương con hau ha me
nửa năm nay ma tha cho chdu bé! (Tr 801)
Trong bất cứ hoàn cảnh nào, bà cũng sẵn sàng dang tay che chở, bảo bọc cho đàn con
Nói cách khác, những đứa con thân yêu của bà chính là chỗ dựa duy nhất để bà tiếp tục
sống Đối với bà chúng như những thiên thần ngây thơ, trong sáng; vừa như những sinh linh nhỏ bé dễ tổn thương nhất: “Xm xít quanh mẹ là ba sinh vật bé bỏng, đó là Lai Đệ, Chiêu Đệ và Lãnh Đệ của mẹ” (T 798)
Khi cả nhà chồng bị bọn Nhật tàn sát, cuộc đời của Lỗ Toàn Nhi bước sang một trang
mới, kết thúc kiếp làm dâu đau khổ chuyển sang vai trò làm chủ gia đình, làm mẹ, làm
bà Lỗ thị gánh trên vai trách nhiệm là người chủ là trụ cột của gia đình, từ khi chứng kiến cái chết của người tình, mục sư Malôa, và bị bọn “đội hỏa mai lừa đen” hãm hiếp thì
tình yêu và cuộc sống của bà đều hướng đến và dâng trọn cho những đứa con thân yêu của mình
Mạc Ngôn đã dựng nên hình ảnh người mẹ Trung Quốc vĩ đại suốt cuộc đời hi sinh cho
con cháu Lỗ thị là hình ảnh của những bà mẹ Trung Quốc tràn đầy niềm tin yêu vào cuộc
sống và sự hi sinh, sự yêu thương vô hạn với thế hệ tương lai của gia đình, của đất nước.
Trang 29Người mẹ ấy luôn dang rộng đôi tay che chở cho đàn con trước nanh vuốt của kẻ thù
Giặc ngoại xâm, các thế lực chính trị thay nhau đến rồi đi, bao biến thiên, bao bi kịch xảy
Ta với vùng đất Cao Mật, với gia đình Thượng Quan, nhưng rồi người mẹ Lỗ thị với sức
mạnh kiên cường, tình yêu bao la và niềm tin mạnh mẽ cùng đàn con đã bươn chải vượt
qua tất cả
Mỗi người con của Lỗ thị đều lớn lên trong vòng tay yêu thương của bà, họ được người
mẹ vĩ đại ấy sinh ra và nuôi lớn đúng vào lúc đất nước Trung Quốc có nhiều biến động
Mỗi đứa con lớn lên, mỗi người họ đều chọn một con đường, một cách sống, và một cách
chết trên cuộc đời đầy gian truân khổ ải Họ thậm chí còn xung khắc, thù ghét nhau bởi
sự đối lập trong chính kiến, lí tưởng, nhưng điểm tựa duy nhất, nguồn an ủi duy nhất của
họ chính là người mẹ Lỗ thị Đối với các con, bà sẵn sàng làm ngọn gió, chap thém strc mạnh cho các con vươn đôi cánh bay thật xa, thật lâu và khi những đôi cánh ấy mệt mỏi,
thì bà mẹ Lỗ thị lại là nguồn an ủi, là chốn quay về bình yên và an toàn nhất
Nỗi đau lớn nhất của bà là phải xa lìa con cái và không cho chúng được một cuộc sống tốt đẹp hơn Với tình yêu của một người mẹ, Lỗ thị luôn nỗ lực để sinh tồn, vì chỉ có sinh
tồn mới có thể nuôi dưỡng chăm lo cho các con Hai nạn đói kinh hoàng năm 1941 và
1960 đã tác động mạnh mẽ đến Lỗ thị và gia đình Thượng Quan Năm 1941, để cứu lầy
đàn con, Lỗ thị phải đứt ruột đưa đàn con đi “bán”, bán mà không cần tiền, chỉ cần xin
đối xử tốt với cháu! Vì Lỗ thị biết rằng nếu chúng được nhận làm con của những gia đình
giàu sang trong hoàn cảnh này, những đứa con của bà chắc chắn sẽ được sống sót Cũng
trong năm đó, Lỗ thị phải bàng hoàng, ray rút mặt trắng nhọt, lảo đảo rồi ngã sóng soài
ra nhà khi nhận được tiền bán thân của đứa con gái thứ tư ~ Tưởng Đệ Vì muốn chữa
bệnh cho mẹ và cứu lấy chị em trong cơn đói, Tưởng Đệ đã bằng lòng bán thân vào nhà
chứa với giá ba trăm đồng Năm 1960, Lỗ thị đã biến bao tử của mình thành một chiếc túi
chứa đậu Bà trộm đậu trong hợp tác xã rồi nuốt vào, về đến nhà lại nôn ra, lấy đậu để
nuôi con nuôi cháu: “lần đâu tiên muốn nôn thì phải lấy đũa ngoáy cổ họng, cảnh đó thì
bây giờ quen rồi, cúi xuỐng là nôn ra Bụng mẹ bây giờ chẳng khác cái bao lương
thực” (Tr 584) Sức mạnh sinh tồn của Lỗ thị thật mãnh liệt, chính niềm tin vào tương
Trang 30lai và tình yêu thương vô bờ đối với đàn con là động lực nuôi dưỡng ý chí sinh tồn của
người mẹ vĩ đại ấy
Bao thế lực chính trị đến rồi lại đi, vinh quang rồi tàn lụi, đem đến cho vùng đất Cao Mật
biết bao biến đổi, Lỗ thị và gia đình Thượng Quan cũng chịu ảnh hưởng của những lần
thay ngôi đổi chúa ấy Lỗ thị nhìn các thế lực chính trị không phải bằng đôi mắt của một
đảng viên Cộng sản Đảng hay Quốc dân Đảng, bà nhìn hành động, nhìn cách cư xử, nhìn
bộ mặt của các thế lực ấy bằng con mắt của một người lao động — người mẹ Điểm nhìn
đó không hề có một điểm gẫy, một góc khuất nào Ở góc nhìn đó, bà nhìn thấy được
những cái hay cái đở, những mặt tốt mặt xấu của các lực lượng nắm quyền Nạn nhân
trực tiếp của các thế lực ấy vẫn là người dân
Hết quân Đức, quân Nhật, Quốc dân Đảng rồi đến Cộng sản Đảng, mỗi lần thay chủ đổi
ngôi là mỗi lần nhân dân chứng kiến cảnh li loạn, cảnh chạy giặc, cảnh tang tóc Lỗ thị
đã bao lần phải mắt con mat cháu trong những đợt biến loạn ấy, mà Tư Mã Phượng, Tư
Mã Hoàng, Chiêu Đệ rồi đến Câm anh, Câm em đều là nạn nhân Các thế lực cầm quyền
đem đến cho Lỗ thị biết bao tai họa, biết bao mắt mát, biết bao khổ đau thé nhưng bà vẫn
dang rộng đôi tay, mở rộng tắm lòng cưu mang che chở, nuôi dưỡng những đứa con rơi
của chúng (ở đây nói đến con cái của các thế lực chính trị ấy khi thất thế đã bỏ lại cho bà
ngoại Lỗ thị nuôi dưỡng) Ngoài việc nuôi dưỡng đàn con tám gái một trai của mình
trưởng thành, trong suốt cuộc đời của mình, Lỗ thị còn cưu mang thêm tám đứa cháu gọi
bà bằng ngoại Tám đứa cháu mỗi đứa một hoàng cảnh, mỗi đứa một xuất thân Có đứa cha mẹ là đảng viên Cộng sản Đảng (Lỗ Chiến Thắng, Câm anh, Câm em), có đứa là con
của đảng viên Quốc dân Đảng (Tư Mã Lương, Tư Mã Phượng, Tư Mã Hoàng), có đứa là
con của Hán gian (Sa Tảo Hoa), có đứa chỉ là con của thường dân (Hàn Vẹt) Dù cha mẹ
chúng là ai, thuộc đảng phái nào, tư tưởng chính trị ra sao thì Lỗ thị vẫn dành cho chúng
tình thương yêu, tình người thân thiết nhất:
Chiếc áo da báo của Lai Đệ chỉ có thể bọc con của Lai Đệ mẹ bỏ lại con bé bọc trong
chiếc áo da báo ở cổng nhà thờ, rồi chạy về nhà như bị ma đuổi Nhưng chỉ chạy được
hơn chục bước, chân mẹ đã cắt không nổi nữa Con bé khóc như lợn bị chọc tiết, tiếng khóc như sợi dây vô hình giữ chân mẹ lại (Tt 172)
Trang 31Tám đứa cháu, tám sinh linh nhỏ bé trong tay bà đều được bà yêu thương, chăm sóc, bà
không cần biết cha chúng là ai, là người của đảng phái nào, đối với bà chúng là những
đứa cháu ngoại Bà luôn đưa tay nâng đỡ chúng, che chở chúng trước mọi nguy hiểm dù việc làm ấy của bà có thé nguy hiểm đến tính mạng:
Mẹ ưỡn ngực, thét lên chói tai: ~ Thằng súc sinh giết tao trước di! Me xông tới mặt thằng câm cào vào mặt hắn Mặt hắn xuất hiện bốn rãnh màu trắng, sau đó máu từ trong rãnh tứa ra lát sau hắn “âu âu” lên mấy tiếng, đấm mẹ một quả, mẹ ngã bay về phía chúng tôi Chúng tôi vừa khóc, vừa phủ phục trên me (Tr 347)
Những sinh linh bé bỏng ấy được chăm sóc, nuôi dưỡng bằng bàn tay đầy yêu thương của
bà ngoại Lỗ thị Cuộc sống của chúng thật sự đã gắn chặt với bà, chúng là sức mạnh là động lực là lí do giúp bà luôn kiên cường chiến đấu cho mục tiêu sinh tồn Vì vậy khi
chúng mắt đi, bà cũng đau đớn như mất đi “núm ruột” của chính mình:
Mẹ bốc một nắm đất nhét vào lỗ thủng, nhưng máu và ruột cứ day dat ra ngoài, mẹ bóc nắm nữa rồi nắm nữa nhét vào mà vẫn không bịt được, ruột thằng Cam em din ra day nửa sọt mẹ buông xuôi hai tay do đẫn nhìn đồng ruột roi đột nhiên mẹ nôn ra mật xanh mật vàng, sau đó mẹ òa khóc nức nở (Tr 389)
Trái tim dào dạt tình yêu của Lỗ thị luôn rộng mở đón đàn cháu nhỏ Thiên chức làm mẹ được vận dụng một cách triệt để chỉ vì một mục đích duy nhất: nuôi sống đàn con Vòng
tay bà luôn ôm ấp chở che cho mọi đứa con không phân biệt quan điểm chính trị, bảo bọc
uốn nắn cho những đứa cháu — những tương lai được sống Tất cả họ đều được bà mẹ Lỗ
thị sinh ra và nuôi đưỡng đúng vào lúc đất nước Trung Quéc cũng đang trong cơn đau đẻ
— một con đường, một xã hội phù hợp
Dù những đứa con có xung khắc, có thù ghét nhau vì quan điểm chính trị thì Lỗ thị vẫn là điểm tựa vững vàng, là điểm kết nối duy nhất của họ Đắt nước cũng vật vã thăng tram
như đời mẹ Đó không còn là thân phận của người phụ nữ nữa Đó là thân phận của đất
nước Trung Hoa vĩ đại và đau thương Đau thương và vĩ đại như cơn lốc tràn qua lục địa Trung Hoa mênh mông, xoáy quật thân phận người phụ nữ như Lỗ thị đến chết vẫn chưa
yên
Trang 32Người ta nói sữa là sức sống là máu của người phụ nữ Do vậy suốt đời, Lỗ thị đem
nguồn sống quí giá ấy nuôi dưỡng một hoài bão mang tên Kim Đồng Đặt trọn niềm hi vọng vào đứa con trai duy nhất trong chuỗi sinh nở dằn đặt của mình, Lỗ thị đã cho Kim Đồng tất cả nguồn sống của mình thông qua nguồn sữa Nguồn sữa ấy chỉ dành riêng cho Kim Đồng, ngay cả chị em song sinh của Kim Đồng là Ngọc Nữ cũng không được nếm
qua dù chỉ một lần Ở đây ta lờ mờ thấy được di căn của căn bệnh chế độ phong kiến — sự trọng nam khinh nữ trong con người Lỗ thị Đây là hạn chế của Lỗ thị và những người phụ nữ khác trên lục địa Trung Quốc trong buổi giao thời: “Phong kiến — Dân chủ -
Cộng sản” Bà cũng từng ép Lai Đệ bỏ Sa Nguyệt Lượng lấy Tôn Bắt Ngôn làm cho Lai
Đệ phải bỏ nhà theo người yêu, và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến kết thúc bi kịch của
Lai Đệ; Lỗ thị từng cắm đoán Lãnh Đệ quan hệ với Hàn Chim khiến Lãnh Đệ trở nên
điên dại chính hạn chế này đã khiến Lỗ thị có một số hành động sai về lí nêu trên
nhưng nếu xét về tình (tình yêu của một người mẹ đối với con) thì ta có thể hoàn toàn
cảm thông được
Lỗ thị là một nhân vật rat hiện thực và cũng rất tượng trưng Sự biến chuyển vận động
của cuộc đời Lỗ thị với đầy gian truân, vật vã thăng trầm nhưng vô cùng vĩ đại cũng là
hình ảnh đất nước Trung Hoa trên bước đường phát triển Điều ám ảnh tác giả và độc giả
đó là hình ảnh người mẹ với lòng khoan dung vô bờ bến chạy dọc suốt chiều dài tác phẩm Một phụ nữ tượng trưng cho một đất nước ở khả năng thiên phú mà cho dù có bị chà đạp, tiêu diệt đến đâu thì vẫn trường tồn, bởi vì khả năng đó cũng chính là sự sống và
Trang 33Quốc thu nhỏ Mỗi đứa con chọn cho mình một con đường, một cách sống và một cách
chết riêng trong hành trình cuộc sống Họ thậm chí còn đối đầu nhau, thù ghét nhau do sự lựa chọn chính kiến, lí tưởng khác nhau
Các cô gái nhà Thượng Quan chính là các luồng tư tưởng, các cách sống cách nghĩ của
người dân Trung Quốc trong lịch sử phát triển của đất nước Đông Á này Đó là sự vận
động, sự biến đổi của bộ mặt xã hội Trung Quốc trong lịch sử phát triển được Mạc Ngôn
khắc họa một cách tài tình, chân thật và sống động Qua số phận của những cô gái nhà
“Thượng Quan, ta phần nào thấy được những biến động trong xã hội Trung Quốc to lớn
đến mức nào; đồng thời cũng, thấy được những chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng của người dân Trung Quốc Biết bao sự kiện, biết bao biến động xảy đến với vùng Cao Mật
và gia đình Thượng Quan, tất cả những biến chuyển ấy làm cho sự nhập cuộc, dấn thân
của con cháu nhà Thượng Quan thêm sống động và chân thật Chín chị em nhà Thượng
Quan với những thăng trầm, những nỗi trần ai cùng cực, mỗi người cũng đã là một thiên
tiểu thuyết
Chín chị em nhà Thượng Quan gồm tám gái một trai, là kết quả của những lần mang
nặng đẻ đau của Lỗ thị Trong đó, Kim Đồng, đứa con trai duy nhất của Lỗ thị, chính là
niềm hi vọng, sự kì vọng của Lỗ thị về tương lai của gia đình Thượng Quan Nhưng đứa
con trai duy nhất trong chuỗi sinh nở dằng dặc một đời của người mẹ Lỗ thị ấy lại suốt
đời bám vào vú mẹ Trong khi các cô gái nhà Thượng Quan — những cô gái sống trong xã
hội phong kiến trọng nam khinh nữ - lại xông xáo, quyết liệt dẫn thân vào đời, ước mơ,
tìm kiếm tình yêu và hạnh phúc
Người đầu tiên đi vào cuộc dẫn thân vĩ đại ấy chính là chị cả Lai Đệ Lai Đệ là con của
Lỗ thị và ông chú dượng Vu Bàn Vả Từ nhỏ, Lai đệ đã phải chịu sự hành hạ của bà nội
vì chị là con gái Chứng kiến sự bất công và sự khổ nhục của mẹ trong gia đình, chị hết
mực thương yêu mẹ, thay mẹ chăm sóc đàn em nhỏ, chịu trăm nghìn khổ cực hoàn cảnh sống ấy đã rèn luyện cho chị một cá tính mạnh mẽ, kiên cường, sự căm thù những tập tục lạc hậu và ước mơ một cuộc sống tự do, hạnh phúc
Cuộc đời của Lai Đệ cũng thăng trầm như số phận của gia đình Thượng Quan Năm mười tám tuổi, cô cãi lời mẹ, bỏ nhà trốn theo Sa Nguyệt Lượng:
Trang 34Thượng Quan Lai Dé mười tám tuổi, mặc chiếc áo lông tử điêu, cỔ quàng khăn lông chôn, đã bỏ đi cùng với Đội trưởng Sa Nguyệt Lượng từ đêm Tám mươi tám con thỏ là
sính lễ nộp cho mẹ, và cũng là cách ra oai của Sa Nguyệt Lượng đối với me (Tr 119)
Đó là hành động phản kháng chống lại sự ép duyên của mẹ, hiểu rộng ra đó là sự vùng
dậy của những người phụ nữ Trung Hoa chống lại những tập tục lạc hậu trong xã hội
Làm vợ của kẻ bị xem là Hán gian — Sa Nguyệt Lượng, rồi quan hệ với Tư Mã Khó, sau
đó phải lấy Tôn Bất Ngôn để trả nợ cho gia đình, rồi ngoại tình với Hàn Chim Cuộc đời
của Lai Đệ cũng thật là li kì và đầy nước mắt
Cuộc đời Lai Đệ phang phat hình ảnh của người mẹ vị đại Lỗ thị, đầy vất vả và nhiều bi
thương cùng với tắm lòng hi sinh cho gia đình và con cái Tắm lòng ấy được thẻ hiện qua
các hành động cụ thể cao cả và cảm động
Một thân một mình xông vào trận địa của Lỗ Lập Nhân cứu đứa con nhỏ: “Cñhj Cả nói: —
Mẹ ơi, con về lần này là để cứu cháu để cho bọn thằng Lỗ mừng hụt! Mẹ ơi, công ơn của mẹ cao như núi, cho phép con được báo đáp sau này” (Tr 205) Chị từng lấy thân mình bảo vệ cho hai cháu Tư Mã Hoàng và Tư Mã Phượng ngay trước đầu súng của bọn
Tôn Bất Ngôn:
Một phụ nữ vừa chạy vừa gào thét như con gà mái chạy đến bảo vệ cho đàn con Chị chạy thẳng đến ven đầm, đứng chặn trước mặt hai đứa trẻ: — Bắn tôi ẩi, giết tôi di! — Chi gào thét điên cuông — Tôi chính là mẹ của chúng (Tr 394)
Người con gái ấy có lúc lại phải điên dại trong nỗi đau thương mất chồng: “Sø Nguyệt
Lượng treo cổ trên xà nhà Anh ta mặc bộ quân phục bằng dạ xanh, chân ấi ủng thúc ngựa bằng đa bò bong lodng” (Tr 221, 222)
Ngay từ nhỏ, cô gái Lai Đệ đã tỏ ra gan dạ, kiên cường, là chỗ dựa cho mẹ, cho cả đàn
Trang 35'Trên đường chạy loạn mùa đông năm 1947, Lai Đệ là trụ cột của cả gia đình Thượng Quan mẹ góa con côi Lúc thì là “con lừa” thồ hàng qua những đoạn đường gồ ghề khó
Mọi lúc mọi nơi, Lai Đệ luôn là một chỗ dựa vững chắc, đáng tin cậy, là một phụ nữ cúng ran, mạnh mẽ chị luôn luôn nỗ lực, kiên cường vượt qua mọi khó khăn thử thách và
không khuất phục trước mọi bat công phi lí Song song với tính cách cương nghị cứng cỏi
ấy là một tâm hồn lãng mạn, một trái tim rộn ràng, thôn thức nhưng cũng quyết liệt trong
tình yêu cùng với sự khát khao hạnh phúc đích thựcNhưng chị Cá thì rất kiên quyết nói: —
Mẹ cho con được làm theo ý mình Con cũng muốn cho gia đình mình được tốt dep (Tr
113)
Hanh dong dẫn thân vào cuộc đời để đi tìm hạnh phúc thật sự, đi theo tiếng gọi con tim
của Lai Đệ cũng là hình ảnh của những cô gái Trung Quốc trong buổi đầu giải phóng và
đổi mới tư tưởng Trong những ngày đầu của sự tự do Ấy, những cô gái Trung Quốc giàu
tình cảm với sự khát khao yêu và được yêu cũng gặp nhiều bo ngỡ khó khan Lan mò trong bóng tối ngột ngạc trong chế độ phong kiến bây lâu, nay bắt chợt đứng giữa ánh
sáng tự do của chế độ dân chủ, những cô gái như choáng ngộp nhưng cũng vô cùng sung sướng Họ hân hoan, mở rộng trái tim đón nhận những ngọt ngào của ngọn gió mới, dang đôi cánh bay lượn trên bầu trời rộng với những ước mơ, những hoài bão về một cuộc sống mới Tuy nhiên bầu trời mới không rộng, không cao và không rực rỡ ánh sáng như
họ nghĩ, những cánh chim ấy cảm thấy hụt hãng khi nhận ra rằng thứ “tự do” ấy chỉ là
Trang 36một chiếc lồng lớn hơn mang tên “dân chủ tư sản” (sau cách mạng Tân Hợi) Họ cảm thấy chán nản, mệt mỏi, cô đơn và cuối cùng là sự chấp nhận một bến đỗ không như mơ
ước Đây là một sự kết thúc cho cuộc hành trình tìm kiếm nhưng đồng thời cũng là sự khởi đầu cho chuỗi ngày bắt hạnh phía trước Chính sự không trọn vẹn ấy giải thích cho
việc tại sao các cô gái lại luôn khát khao vươn tới hạnh phúc và không nguôi kiếm tìm
thừa nước, chị là sóng thì tôi là thuyền, chị khô hạn thì tôi là mưa, tôi là cứu tỉnh của chị
đây! Hai người cuộn lấy nhau (Tr 284)
“Cơn khô hạn” chưa dứt hẳn thì “người cứu tỉnh” - Tư Mã Khó đã chết Lai Đệ lại rơi
vào trạng thái điên dại Chứng kiến những sự mất mát của gia đình, bị số phận bông đùa
trêu chọc nhưng trong chị luôn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt Phải hi sinh giải thắt nút oan nghiệt giữa gia đình Thượng Quan và Tôn Bất Ngôn, Lai Đệ gạt nước mắt chấp
nhận lấy Tôn Bất Ngôn — một tên câm hung tợn đi qua chiến tranh, trông hắn như một
con quái vật:
Hai cánh tay dài quá khổ, bàn tay deo găng trắng bằng vải bông lồng vào hai chiếc ghế nhỏ Một đệm da gắn dưới đít, như là một bộ phận của mông Hai ống quân rộng thùng thình buột lại với nhau trước bụng Hình như hai chân hắn cụt đến bẹn.(Tr 492, 493)
Tôn Bắt Ngôn hành hạ Lai Đệ về thân xác lẫn tỉnh thần Hắn ngấu nghiền thân thể chị
như để trả thù cho lần thất hôn mười sáu năm về trước
Sống trong cuộc sống đầy dày vò nhưng Lai Đệ vẫn không ngừng vươn lên, không ngừng tin tưởng, không ngừng ước ao và tìm kiếm tình yêu của mình Trong chính trong lúc vật
vả ấy, Lai Đệ đã tìm được tình yêu của mình Khi người đàn ông gương mặt đầy sẹo, hai
vành tai quăn queo như nắm mộc nhĩ bước vào nhà Thượng Quan với những lời lắp
Trang 37bắm Lãnh Đệ .Tôi là chẳng là Hàn Chim(Tr 310) và khi Con chim nhỏ xù lông
cổ, cắt tiếng hót réo rắt gọi bạn tình, tiếng hót đầm thắm đến nỗi làm rung lên sợi dây tình cảm của những người phụ nữ.(Tt 531) thì cũng là lúc bắt đầu cuộc tình kì lạ giữa
chị Cả và Han Chim
Cuộc tình “kì lạ” ấy đến như một tắt yếu, cái hay ở đây là Mạc Ngôn đã kịp “chộp” lấy những chuyền biến mạnh mẻ bên trong của Lai Đệ, tác giả đã cho chúng ta thấy được sự
khát khao tình yêu chân thành của Lai Đệ lớn và mạnh như thế nào Ở đây, lí trí không
còn tác dụng nữa, chỉ còn lại những tình cảm, những cảm xúc, những khát khao, những
nỗi uẫn khúc và tiếng nói của con tim:
Chị cảm thấy hình nhự con chim muon chuyén cho chị một thông điệp thân bí, một sự lôi cuốn vừa hứng khởi lại vừa dáng sợ Hàn Chim gật đâu với chị rồi ấi vào trong phòng, con chim bay theo anh Chi Lai Dé ngắn người, chạy vào phòng Hàn Chim, vừa chạy
vừa khóc không một chút xấu hổ (Tr 531, 532)
Không ngẫu nhiên mà tác giả gọi đây là một cuộc tình “kì lạ”, đó không chỉ đơn giản là
một cuộc tình với những thoả mãn về thể xác, đó còn là sự mở đường cho một con
“người” về lại với xã hội con người — Hàn Chim; đó còn là sự giải thoát cho một trái tim
yêu tha thiết và sự trả thù của cô với Thằng Câm - chồng cô:
Hàn Chim khiến chị hoàn toàn thỏa mãn sự ngốn ngắu trong ăn vụng trái cắm của
Hàn Chim khiến chị thỏa mãn về dục vọng, đông thời là sự trả thà Thằng Câm.(Tr 534)
Mạc Ngôn đã đưa nhân vật vào tận cùng của sự chán chường, đau khổ và lại khéo léo tạo
ra những tình huống giải quyết để nhân vật bộc được bộc lộ mình một cách toàn diện nhất Cái khéo của Mạc Ngôn đó chính là sự thể hiện tình huống một cách tất yếu, tự
nhiên và đa chiều
Cái tắt yếu, tự nhiên thì như đã nói ở trên, đó là sự giải thoát mãnh liệt của những nỗi
uấn khúc và sự khát khao được sống, được yêu, được hạnh phúc của Lai Đệ Còn cái đa chiều? Đó chính là cái hay, cái độc đáo của tình huống Hàn Chim là người xóa tan những nỗi uân khúc, là người xoa dịu “cơn khát” của Lai Đệ, sự xuất hiện của Hàn Chim trong cuộc đời của Lai Đệ đã chấm đứt cuộc sống nửa tỉnh nửa mê và thoả mãn khát khao
yêu thương của Chị Cả nhà Thượng Quan Nhưng đồng thời, nó lại mở ra một nút thắt
Trang 38mới, đó chính là sự bat chính trong tình yêu (một tình yêu vụng trộm, một mối tình loạn
luân), sự xuống cấp trong tình cảm gia đình và nó tạo nên những mâu thuẫn mới, những
bị kịch mới trong cuộc đời Lai Đệ: “Cuộc tình kỳ lạ giữa chị Cả và Hàn Chim như hoa
cây thuốc phiện, rực rỡ và cuông nhiệt nhưng độc” (Tr 531) Chính ngày bắt đầu cuộc
tình kỳ lạ ấy cũng là ngày ba con người — Lai Đệ, Hàn Chim, Tôn Bất Ngôn tự hủy hoại mình
Khi Tôn Bắt Ngôn phát hiện vợ mình ngoại tình: “Trong con kinh hoàng, Lai Đệ vớ lấy
chiếc ghế Chị nện lên đầu hắn ” (Tr 538)
Hành động bức bối, bồng bột ấy của Lai Đệ như là một sự tự giải thoát mình khỏi những
kìm nén, chịu đựng trong con người chị Hành động ấy đồng thời kết thúc luôn mạng
sống của chị (bị xử bắn), Han Chim (ty vẫn) và của đặc đẳng công thần Chí nguyện quân vừa câm vừa què vừa tàn bạo — Tôn Bat Ngôn:
Sau khi Lai Đệ bị hành quyết không lâu, gia đình Thượng Quan lại nhận được thông báo
về Hàn Chim: Trên đường di phát vãng, anh nháy tàu, bị bánh xe nghiễn thành hai đoạn
Cái chết của Lai Đệ khép lại cuộc đời nhiều bi kịch, thăng trầm của chị Nó kết thúc
những ngang trái mà Lai Đệ phải gánh trải trong cuộc đời Đó là hệ quả của mối tình
“đẹp” mà “độc” như hoa thuốc phiện rực rỡ Độc giả có thể chửi rủa, chê ghét Lai Đệ
trong tình yêu “kì lạ” này, nhưng Mạc Ngôn đã kịp níu kéo cảm xúc của người đọc lại,
giúp ta trấn tĩnh nhìn ra được nguồn cơn của mọi chuyện, những hành động của cô, những chuyện tình của cô, những ngang trái của cô đều là do xã hội gây ra Một xã hội
đầy những lọc lừa, dối trá Một xã hội chuyền giao với nhiều góc khuất và bắt cập Một
xã hội còn mang trong mình những tàn dư của phong kiến tất cả đã in hẳn lên tắm thân
của chị Cả nhà Thượng Quan khiến cho chị sống nữa cuộc đời trong những cơn điên dại
và một nữa còn lại là những chuỗi ngày vật vã đi tìm hạnh phúc trong tình yêu Lúc đó ta
chỉ thấy thương, thấy yêu Lai Đệ mà thôi Thương một cô gái suốt đời sống trong trái ngang, đau khổ, yêu một tâm hồn luôn khát khao tình yêu chân chính và một trái tim sống
nhiệt tình, sống hết mình trong tình yêu
Lai Đệ là người tiên phong, mở toang cánh cửa bước vào cuộc đời của những cô gái nhà
Thượng Quan Đó cũng chính là hình ảnh của những người Trung Quốc trong buổi đầu
Trang 39của cuộc chuyển giao tư tưởng Những con người bị chính ước mơ của họ và cuộc đời
đầy gian truân đưa đẩy và bi kịch của sự bế tắt Tuy nhiên dù có bị cuộc đời xô đầy thé
nào họ vẫn kiên cường bám trụ, kiên cường với niềm tin mạnh mẽ
Tiếp bước chị Cả Lai Đệ, con gái thứ hai nhà Thượng Quan, Thượng Quan Chiêu Đệ
cũng bước vào đời theo tiếng gọi của tình yêu:
Mẹ cũng nhận ra nổi lòng của Chiêu Đệ, dự cảm sẽ tái diễn chuyện như Lai Đệ Mẹ lo
lắng nhìn rất lâu vào ánh mắt háo hức đáng ngại trong con mắt đen láy cùng với cặp môi
đỏ mọng như thèm khát của chị Đâu phải là một cô gái mới mười bảy tuổi? Rõ ràng là một con bò cái tơ đang động đực (Tr 138, 139)
Giống như chị Cả của mình, chị Hai Chiêu Đệ cũng đến với tình yêu một cách mãnh liệt
và chân thành: “Chị Hai, chị Ba và chị Tư đều rất ngưỡng mộ Tư Mã Khó Do chị Cả đã
nêu gương, trong dau chị Hai một ý nghĩ thoáng qua: Lấy Tư Mã Khó! Hình như có tiếng
ai đó cảnh cáo chị: Tw Ma Khé da cé ba vol Vay thi chi lam vo thir tu!” (Tr 127) Những cô gái nhà Thượng Quan, khi yêu họ yêu bằng trọn con tim Trong tình yêu, trái
tim luôn có lí lẽ riêng của nó, và trái tìm Chiêu Đệ cũng vậy, khi đã gặp được người làm
chủ nó thì nó ngân lên những xúc động dạt dào và có những lí lẽ riêng của mình: “Con biết mẹ định nói anh ta đã có ba vợ Con sẽ làm vợ thư tư Con biết mẹ định nói anh ta nhiều tuổi hơn mẹ Con với anh ta không cùng họ, càng không phải đồng tông, chẳng
phải cái gì hết!” (Tr 139) Và với những lí lẽ ấy, Lỗ thị chỉ còn biết tự nhủ: “Me không
còn sức để ngăn chặn vì mẹ biết rằng bọn con gái nhà Thượng Quan một khi đã có cảm tình với người đàn ông nào thì dù có tám ngựa cũng không kéo lại” (Tr 531) Chang trai
lọt vào mắt xanh chị Hai nhà Thượng Quan đó chính là cậu hai của Phúc Sinh Đường —
Tư Mã Khó Tình yêu Chiêu Đệ dành cho Tư Mã Khó là thứ tình yêu “vĩnh kết đồng tâm” chứ không phải là thứ tình yêu của một cô bé mười bảy tuổi Điều đó được thể hiện
qua tắm lòng sắt son của cô trong những ngày cùng Tư Mã Khố lên voi xuống chó, và
đỉnh điểm là cái chết của cô trong bom đạn của bọn Lỗ Lập Nhân: “7 Mã Khó bề xác
chị Chiêu Đệ, cười như điên loạn, từ trong nhà xay ẩi ra” (Tt 307)
Tuy số lượng trang viết tác giả dành cho Chiêu Đệ là khá ít so với Lai Đệ, nhưng không
phải vì thế mà hình ảnh của chị bị mờ nhạt Chị là hình ảnh bổ sung cho những cô gái
Trang 40Trung Quốc luôn dạt dào yêu thương và mạnh mẽ trong tình yêu Dám sống, dám yêu và
dám hi sinh cho tình yêu mình — đó là phẩm chất của những cô gái Trung Quốc trong thời
Chiêu Đệ là vợ của Tư Mã Khó, là VỢ của người có quyền lực cao nhất ở vùng Cao Mật
nhưng Chiêu Đệ vẫn bình dị, vẫn gần gũi với gia đình và với mọi người Là một thành
viên của Quốc dân đảng nhưng gia đình Tư Mã mà đặc biệt là Chiêu Đệ lại được lòng
người dân bằng cách hành xửa của mình:
Người của chỉ đội Tư Mã không tiếc đạn bắn như vải trấu xuống lòng sông, khiến mặt sông như một cái chảo đang sôi Nếu họ định tiêu diệt đại đội bộc phá thì chắc chắn
không sót một móng, nhưng họ chỉ thi hành chiến thuật dọa dẫm, không bắn chết
ai (Tr.238)
Qua Lai Dé và Chiêu Đệ ta có thể thấy được phần nào cách nghĩ, cách làm và cách yêu
của những cô con gái nhà Thượng Quan mà nói rộng ra là những cô gái của đất nước Trung Quốc
Trong buổi đầu tự do, những cô gái Trung Quốc - những cánh chim nhỏ bé đang bươn
chải giữa một bầu trời tưởng chừng khoáng đãng nên càng bay càng mỏi Có cánh chim
thì lấy được thăng bằng đáp xuống mặt đắt như Chiêu Đệ, nhưng cũng có cánh chim thì
sợ hãi lạc xuống một vùng đất can cdi hoang vu như chị Ba Lãnh Đệ
Chị Ba Lãnh Đệ yêu tha thiết Hàn Chim, nguyện cùng Hàn Chim răng long đầu bạc, tình
yêu đẹp ấy đang được hai người chung tay vun đắp thì bỗng nhiên tai họa giáng xuống
Han Chim cing nhiều thanh niên Trung Quốc bị bắt sang Nhật làm nô lệ Đôi uyên ương
vì thế bị chia la mãi mãi — điều đó làm Lãnh Đệ lo buồn và sợ hãi đến nỗi điên dại
Cả ba chị em Chiêu Đệ, Lai Đệ, Lãnh Đệ đều là những người gặp ngang trái trong tình
yêu, đều có chung một kết cục bi kịch Tuy nhiên, khi dõi theo số phận của những cô gái nhà Thượng Quan, độc giả chưa bao giờ cảm thấy nhàm chán; ở mỗi con người ay, mỗi