Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, các quốcgia trên Thế giới đang ra sức mở cửa nền kinh tế thị trường Việt Nam củachúng ta cũng không nằm ngoài xu thế ấy Muốn phát triển tất yếu phải hộinhập và như vậy hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoạithương nói riêng ngày càng có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển nềnkinh tế đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đang trong quátrình tiến hành sự nghiệp CNH_ HĐH đất nước Muốn đẩy nhanh quá trình hộinhập với quy mô ngày càng rộng hơn, với một trình độ cao hơn thì càng phảiđẩy mạnh hơn nữa hoạt động thanh toán quốc tế vì nó được coi là công cụ, làcầu nối quan trọng trong quan hệ kinh tế và thương mại giữa các nước trên thếgiới Giữa các chủ thể tham gia hoạt động thanh toán quốc tế bao giờ cũng có sựkhác biệt khá lớn về địa lý cũng như chế độ chính trị, kinh tế và xã hội Do đóviệc tìm ra một phương thức thanh toán thuận tiện, nhanh chóng và hiệu quảnhất nhằm giảm tới mức tối thiểu những rủi ro xảy ra trong hoạt động thanhtoán quốc tế giữa các bên tham gia là một đòi hỏi vô cùng bức thiết Và phươngthức tín dụng chứng từ ra đời như một tất yếu khách quan, nó được lựa chọn và
sử dụng vì đã đáp ứng được những yêu cầu từ cả hai phía người xuất khẩu vàngười nhập khẩu Với những ưu điểm vượt trội của mình, ngày nay phươngthức tín dụng chứng từ đã được sử dụng một cách rất rộng rãi và phổ biến trêntoàn thế giới
Là một sinh viên khoa Ngân hàng_Tài chính, nhận thức được tầm quantrọng của vấn đề trên, sau một thời gian thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Công
thương Ba Đình, em đã quyết định chọn đề tài “ Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình ” làm chuyên đề thực tập của mình để hiểu rõ hơn nữa
về hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ cũng nhưnhững hạn chế và những vướng mắc trong việc áp dụng phương thức thanh toán
Trang 2này tại Việt Nam.
Do kiến thức tích lũy chưa đầy đủ, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều nênchuyên đề tốt nghiệp của em không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rấtmong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để chuyên đềnày có ý nghĩa thiết thực hơn
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của GS.TS Vũ Duy Hào –Giáo viên trực tiếp hướng dẫn, cùng chị Cao Thị Minh Nghĩa – Phó phòngThanh toán XNK, và các anh chị công tác tại Chi nhánh Ngân hàng Côngthương Ba Đình đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho hoàn thành chuyên đề này
Về kết cấu , nội dung chính của chuyên đề gồm 3 chương như sau :
Chương 1 : Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ của Ngân hàng thương mại
Chương 2 : Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình
Chương 3 : Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình
Trang 3
NỘI DUNG Chương 1 : Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ của Ngân hàng thương mại
1.1 Ngân hàng thương mại trong hoạt động ngoại thương
1.1.1 Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
Mô hình hệ thống mà các nước trên Thế giới hiện nay đang duy trì là hệthống ngân hàng hai cấp : ngân hàng trung ương có nhiệm vụ phát hành tiền vàquản lý các NHTM, còn hệ thống các NHTM thực hiện kinh doanh như mộtdoanh nghiệp với nguyên liệu đặc biệt là “tiền tệ” Hệ thống ngân hàng ViệtNam cũng không nằm ngoài qui luật trên Đứng đầu là Ngân hàng nhà nướcViệt Nam, có chức năng phát hành tiền và đưa ra chính sách quản lý vĩ mô đốivới toàn hệ thống ngân hàng Sau đó là hệ thống các NHTM gồm có NHTM đôthị, NHTM nông thôn, NHTM cổ phần, NHTM liên doanh và chi nhánh ngânhàng nước ngoài
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức kinh tế hoạt động kinhdoanh trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chủ yếu và nhận tiền gửi của kháchhàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư, thựchiện các nghiệp vụ thanh toán và các nghiệp vụ trung gian khác nhằm thu lợinhuận tối đa trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh toán Ngày nay các hoạt động
cơ bản của NHTM không chỉ dừng lại ở các hoạt động nhận tiền gửi, hoạt độngtín dụng đầu tư, hoạt động thanh toán nữa mà đã mở rộng thêm nhiều nghiệp vụmới phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế và nhu cầu của khách hàngnhư : cho vay tiêu dùng, cho vay trả góp, cho vay đi du học nước ngoài, chothuê tài chính, cho vay đầu tư chứng khoán và rất nhiều các hoạt động khác
1.1.2 Ngân hàng thương mại với hoạt động xuất nhập khẩu
Xuất nhập khẩu (XNK) là hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các nước vớicác nước khác thông qua hoạt động mua bán vượt ra khỏi phạm vi biên giới củamột nước Nếu như hoạt động xuất khẩu là hoạt động khai thác triệt để lợi thế
Trang 4so sánh của mỗi quốc gia , đạt quy mô tối đa cho ngành sản xuất, tạo điều kiệnxây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn, nầng cao năng xuất lao động và hạ giáthành sản phẩm, thúc đẩy các nhân tố phát triển theo chiều sâu thì hoạt độngxuất nhập khẩu lại tạo cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thếgiới thành nơi cung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ các yếu tố đầu ra cho nềnkinh tế quốc dân trong hệ thống kinh tế quốc tế Hoạt động XNK phần nào giảiquyết được mâu thuẫn giữa quy mô sản xuất với ranh giới có hạn của thị trườngnội địa, giữa tốc độ phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật với khả năng có hạn
về sức lao động và trình độ của thị trường nội địa.Trong điều kiện hội nhập vàphát triển kinh tế thế giới, tăng cường và mở rộng quan hệ XNK sẽ thúc đẩy sựtăng trưởng và tạo sự cân đối cho nền kinh tế trong nước
Ngày nay chiến lược kinh tế đối ngoại của nhiều nước đang phát triển,trong đó có Việt Nam, là sản xuất thay nhập khẩu và sản xuất hướng tới xuấtkhẩu Để đáp ứng nhu cầu này đòi hỏi các NHTM tham gia vào hoạt động ngoạithương với chức năng tài trợ ngoại thương thể hiện ở các loại hình dịch vụ như:cung cấp các khoản bảo lãnh hoặc tín dụng, trung gian thanh toán, tư vấn, quản
lý rủi ro tín dụng, cung cấp các phương thức đảm bảo cho khả năng thanh toán
Do mỗi nước có hệ thống tiền tệ riêng, năng lực tài chính của người mua vàngười bán ở mỗi nước có đặc điểm riêng, ngoài ra còn hạn chế về ngôn ngữ,môi trường văn hóa, phong tục tập quán, môi trường pháp lý của các quốc giakhác nhau…nên dịch vụ thanh toán quốc tế của NHTM ra đời làm cho quá trìnhthanh toán diễn ra suôn sẻ và thuận lợi hơn
1.2 Hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế
1.2.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế (TTQT) là một hoạt động chi trả bằng tiền (ngoại tệthoả thuận) liên quan tới hàng hoá, dịch vụ, tư bản của cá nhân, tổ chức, chínhphủ nước này đối với đối tác của mình trên thế giới bằng các hình thức chuyểntiền hoặc bù trừ trên các tài khoản tại ngân hàng
Trang 5Sự ra đời của hoạt động TTQT như một tất yếu khách quan trong quátrình phát triển của nền kinh tế Thế giới Các quan hệ TTQT được chia làm baloại bao gồm thanh toán mậu dịch, thanh toán phi mậu dịch và thanh toán nợ cũ.TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ là một hình thức của thanh toán mậudịch, một hình thức thanh toán phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Hiện nay, trong hệ thống Ngân hàng Công thương Việt Nam (NHCTVN),TTQT được hiểu là quá trình thực hiện các nghiệp vụ như: chuyển tiền, thanhtoán thẻ, nhờ thu, thanh toán L/C và các nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế khácbằng ngoại tệ trong nội bộ hệ thống NHCTVN, giữa NHCT với các tổ chức tàichính khác ở trong và ngoài nước thông qua mạng IBS (hệ thống nghiệp vụngân hàng quốc tế của NHCTVN), mạng SWIFT (mạng tài chính viễn thôngliên ngân hàng toàn cầu) hoặc các hệ thống khác
1.2.1.2 Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế
a Đối với hoạt động kinh tế đối ngoại
Thanh toán quốc tế (TTQT) là khâu then chốt, khâu cuối cùng để khépkín một chu trình mua bán hàng hoá hoặc trao đổi dịch vụ giữa các tổ chức, cánhân thuộc các quốc gia khác nhau trên toàn Thế giới
TTQT là cầu nối trong mối quan hệ kinh tế đối ngoại, có thể nói nếukhông có hoạt động TTQT thì không có hoạt động kinh tế đối ngoại TTQT thúcđẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển Vì vậy, việc tổ chức TTQT được tiếnhành nhanh chóng, chính xác sẽ làm cho các nhà sản xuất yên tâm và đẩy mạnhhoạt động XNK của mình, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại pháttriển, đặc biệt là hoạt động ngoại thương
Đồng thời, hoạt động TTQT góp phần hạn chế rủi ro trong quá trình thựchiện hợp đồng ngoại thương Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí địa lýcủa các đối tác thường là xa nhau nên việc tìm hiểu các khả năng tài chính, khảnăng thanh toán của người mua gặp nhiều khó khăn Nếu tổ chức tốt công tácTTQT thì sẽ giúp cho các nhà kinh doanh hàng hoá XNK hạn chế được rủi ro,
Trang 6giảm bớt chi phí trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại, nhờ đóthúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển
Vì thế, có thể nói rằng kinh tế đối ngoại có mở rộng được hay không mộtphần nhờ vào hoạt động TTQT có tốt hay không TTQT tốt sẽ đẩy mạnh hoạtđộng xuất nhập khẩu, qua đó phát triển sản xuất trong nước, khuyến khích cácdoanh nghiệp mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hang hóa
b Đối với hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại
Đối với hoạt động của Ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt độngTTQT mà nhất là hình thức tín dụng chứng từ có vị trí đặc biệt quan trọng Nókhông chỉ thuần tuý là dịch vụ mà còn được coi là một hoạt động không thểthiếu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
+ Trước hết, hoạt động TTQT tế giúp Ngân hàng thu hút thêm đượckhách hàng có nhu cầu giao dịch quốc tế Trên cơ sở đó, Ngân hàng phát triểnthêm quy mô, tăng thêm nguồn thu nhập, tăng khả năng cạnh tranh trong cơ chếthị trường
+ Thứ hai, thông qua hoạt động TTQT, Ngân hàng có thể đẩy mạnh hoạtđộng tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng được nguồn vốn huy động tạm thời
do quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân có quan hệ TTQTvới Ngân hàng
+ Thứ ba, TTQT sẽ giúp Ngân hàng thu được một nguồn ngoại tệ lớn từ
đó tạo tiền đề cho Ngân hàng có thể phát triển tốt các nghiệp vụ kinh doanhngoại hối, bảo lãnh và nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế khác
+ Thứ tư, hoạt động TTQT giúp Ngân hàng tăng tính thanh khoản thôngqua lượng tiền ký quỹ Mức ký quỹ phụ thuộc vào độ tin cậy, an toàn của từngkhách hàng cụ thể Tuy nhiên xét về tổng thể thì các khoản ký quỹ này phát sinhmột cách thường xuyên và ổn định.Vì vậy trong thời gian chờ đợi thanh toán,Ngân hàng có thể sử dụng các khoản này để hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết,thậm chí có thể sử dụng để kinh doanh, đầu tư ngắn hạn để kiếm lời
Trang 7+ Ngoài ra, hoạt động TTQT còn giúp Ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhucầu của khách hàng trên cơ sở nâng cao uy tín của Ngân hàng.
Tóm lại, trong xu thế ngày nay hoạt động TTQT có vai trò hết sức quantrọng trong hoạt động ngân hàng nói riêng và hoạt động kinh tế đối ngoại nóichung Vì vậy, việc nghiên cứu thực trang để có biện pháp thực hiện nghiệp vụTTQT có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phục vụ tốt hơn cho công cuộcCNH_HĐH, đổi mới nền kinh tế Đất nước
1.2.2 Các điều kiện trong thanh toán quốc tế
Trong quan hệ thanh toán giữa các nước, các vấn đề có liên quan đếnquyền lợi và nghĩa vụ mà đôi bên phải đề ra để giải quyết và thực hiện được quyđịnh lại thành những điều kiện gọi là: Điều kiện thanh toán quốc tế
Mặt khác, nghiệp vụ TTQT là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện TTQT.Những điều kiện này được thể hiện ra trong các điều khoản thanh toán của cáchiệp định thương mại, các hiệp định trả tiền giữa các nước, của các hợp đồngmua bán ngoại thương ký kết giữa người mua và người bán
Các điều kiện thanh toán quốc tế bao gồm : Điều kiện tiền tệ, điều kiện
về địa điểm, điều kiện về thời gian, điều kiện về phương thức thanh toán
a Điều kiện về tiền tệ
Trong TTQT các bên tham gia phải sử dụng đơn vị tiền tệ nhất định củamột nước nào đó Vì vậy, trong các hiệp định và hợp đồng đều có quy định tiền
tệ Điều kiện này quy định việc sử dụng đồng tiền nào để thanh toán trong hợpđồng ngoại thương và hiệp định ký kết giữa các nước Đồng thời điều kiện nàycũng quy định cách xử lý khi giá trị đồng tiền đó biến động Người ta thườngchia thành hai loại tiền sau:
+ Đồng tiền tính toán (Account Currency): Là loại tiền được dùng để thểhiện giá cả và tính toán tổng giá trị hợp đồng
+ Đồng tiền thanh toán (Payment Currency): Là loại tiền để chi trả nợnần, hợp đồng mua bán ngoại thương Đồng tiền thanh toán có thể là đồng tiền
Trang 8của nước nhập khẩu, của nước xuất khẩu hoặc có thể là đồng tiền quy địnhthanh toán của nước thứ 3.
b Điều kiện về địa điểm thanh toán:
+ Địa điểm thanh toán được quy định rõ trong hợp đồng ký kết giữa cácbên Địa điểm thanh toán có thể là nước nhập khẩu hoặc nước người xuất khẩuhay có thể là một nước thứ 3
+ Tuy nhiên, trong TTQT giữa các nước, bên nào cũng muốn trả tiền tạinước mình, lấy nước mình làm địa điểm thanh toán Sở dĩ như vậy vì thanh toántại nước mình thì có nhiều điểm thuận lợi hơn.Ví dụ như có thể đến gần thờihạn thanh toán mới phải chi tiền, vì thế đỡ đọng vốn nếu là người nhập khẩu,hoặc có thể thu tiền về nhanh nên luân chuyển vốn nhanh nếu là người xuấtkhẩu, qua đó có thể tạo điều kiện nâng cao được địa vị của thị trường tiền tệnước mình trên Thế giới
+ Trong thực tế, việc xác định địa điểm thanh toán là sự so sánh lựclượng giữa hai bên quyết định, đồng thời còn thấy rằng dùng đồng tiền của nướcnào thì địa điểm thanh toán là nước ấy
c Điều kiền về thời gian thanh toán :
Điều kiện thời gian thanh toán có quan hệ chặt chẽ với việc luân chuyểnvốn, lợi tức, khả năng có thể tránh được những biến động về tiền tệ thanh toán
Do đó, nó là vấn đề quan trọng và thường xẩy ra tranh chấp giữa các bên trongđàm phán ký kết hợp đồng
Thông thường có 3 cách quy định về thời gian thanh toán:
+ Trả tiền trước là việc bên nhập khẩu trả cho bên xuất khẩu toàn bộ haymột phần tiền hàng sau khi hai bên ký kết hợp đồng hoặc sau khi bên xuất khẩuchấp nhận đơn đặt hàng của bên nhập khẩu
+ Trả tiền ngay là việc người nhập khẩu trả tiền sau khi người xuất khẩuhoàn thành nghĩa vụ giao hàng trên phương tiện vận tải tại nơi quy định hoặcsau khi người nhập khẩu nhận được hàng tại nơi quy định
Trang 9+ Trả tiền sau là việc người nhập khẩu trả tiền cho người xuất khẩu saumột khoảng thời gian nhất định kể từ khi giao hàng.
d Điều kiện về phương thức thanh toán:
Điều kiện về phương thức thanh toán là cách thức nhận trả tiền hàng
trong từng món giao dịch, mua bán giữa người mua và người bán Trong quan
hệ mua bán quốc tế có nhiều phương thức thanh toán khác nhau để thu tiền hoặc
để trả tiền như: chuyển tiền, nhờ thu, thư tín dụng
Có thể nói rằng TTQT là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện TTQT Trong các điều kiện trên, phương thức thanh toán là điều kiện quan trọng nhất Phương thức thanh toán là người bán dùng cách nào để thu tiền về, người mua dùng cách nào để trả tiền Trong quan hệ mua bán, người ta có thể chọn nhiều phương thức khác nhau để thu tiền hoặc trả tiền, nhưng xét cho cùng việc lựa chọn phương thức thanh toán nào cũng xuất phát từ yêu cầu của người bán là thu tiền đầy đủ và đúng hạn, người mua là nhận hàng đúng số lượng, chất lượng
và đúng hạn
1.2.3 Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu
Có rất nhiều phương thức thanh toán quốc tế nhưng hiện nay có baphương thức được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam là:chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ Việc lựa chọn sử dụng phương thứcnào tùy theo mức độ tin cậy giữa các đối tác
1.2.3.1 Phương thức thanh toán chuyển tiền
a Khái niệm:
Phương thức thanh toán chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn giảnnhất trong đó một khách hàng (người trả tiền, người mua, nhà nhập khẩu) yêucầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng
ở một địa điểm xác định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu
Nhà nhập khẩu có thể lựa chọn một trong hai hình thức chuyển tiền làchuyển tiền bằng thư (Mail transfer-M/T) hoặc chuyển tiền bằng điện
Trang 10(Telegraphic transfer – T/T) Ngày nay, phương thức chuyển tiền T/T được sửdụng nhiều hơn do thời gian nhanh hơn nhiều mặc dù chi phí chuyển tiền M/Tthấp hơn.
b Nhận xét
+ Trong phương thức này, Ngân hàng chỉ là trung gian thanh toán theo
ủy nhiệm để hưởng phí hoa hồng và về cơ bản không chịu ràng buộc gìthêm
+ Việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí của người mua, do vậy nếu dùngphương thức này thì quyền lợi của người bán không được đảm bảo
+ Rủi ro xảy ra với người mua trong trường hợp người mua áp dụngthanh toán trả tiền trước cho người bán mà không nhận được hàng theođúng hợp đồng
+ Rủi ro xảy ra với người bán khi người mua nhận hàng rồi nhưng khôngthanh toán tiền, hoặc từ chối thanh toán khi không muốn nhận hàng
Do có nhiều rủi ro khi áp dụng phương thức này nên nó ít được sử dụng.Người ta chỉ áp dụng phương thưc này khi thanh toán các khoản tương đối nhỏ(như thanh toán chi phí xuất nhập khẩu, vận chuyển, bảo hiểm, bồi thường thiệthại hoặc dùng trong thanh toán phi mậu dịch…) hoặc thanh toán giữa công ty
mẹ với công ty con, giữa các đối tác có quan hệ buôn bán lâu năm, biết rõ và có
sự tin cậy lẫn nhau
1.2.3.2 Phương thức ghi sổ
a Khái niệm
Phương thức ghi sổ (phương thức mở tài khoản) là phương thức TTQT
mà trong đó người bán mở một tài khoản (hoặc một quyển sổ) để ghi nợ ngườimua sau khi người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay dịch vụ Việcthanh toán các khoản nợ này được thực hiện theo định kỳ (tháng, quí, nửanăm )
Đây là hình thức cấp tín dụng thương mại của nhà xuất khẩu cho nhànhập khẩu Ưu điểm là phương thức rất thuận lợi nếu người mua có tín nhiệm
Trang 11thanh toán với người bán Bên mua sẽ được sử dụng hàng hóa thường xuyên,thậm chí cả lúc chưa đủ tiền còn người bán sẽ tiêu thụ được hàng hóa và giữđược thị trường truyền thống.
Nhược điểm của phương thức này là quyền lợi của người xuất khẩukhông được bảo đảm còn người nhập khẩu phải mua hàng với giá cao
Cũng giống như phương thức chuyển tiền, phương thức này chỉ áp dụngvới những đối tác có quan hệ lâu dài, tin cậy lẫn nhau như:
+ Thanh toán nội địa
+ Dùng cho phương thức hàng đổi hàng, nhiều lần, thường xuyên trongmột thời kì nhất định (6 tháng hoặc 1 năm)
+ Thanh toán tiền cước phí vận tải, tiền phí bảo hiểm, tiền hoa hồngtrong nghiệp vụ môi giới, ủy thác, tiền lãi cho vay và đầu tư
1.2.3.3 Phương thức thanh toán nhờ thu
a Khái niệm
Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức thanh toán mà nhà xuấtkhẩu sau khi giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ nào đó cho nhà nhập khẩu sẽ tiếnhành ủy thác cho Ngân hàng phục vụ thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu hoặc cácchứng từ do nhà xuất khẩu lập
b Có hai hình thức nhờ thu
+ Nhờ thu trơn (Clean Collection)
Bộ chứng từ hàng hóa sẽ được gửi thẳng đến người mua, không qua Ngânhàng Người bán ủy thác cho Ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người muacăn cứ vào hối phiếu do chính người bán lập ra Phương thức này không được
áp dụng nhiều do mức độ rủi ro lớn, vì việc nhận hàng của người bán hoàn toànđộc lập với việc thanh toán Cả người mua và người bán đều chịu rủi ro Ngườimua chịu rủi ro khi hối phiếu đến trước chứng từ hàng hóa, họ phải thanh toánngay mà không được đảm bảo sẽ nhận hàng đúng chất lượng, qui cách và mẫu
mã Người bán gặp rủi ro khi người mua nhận hàng nhưng chây ỳ không thanhtoán, chiếm dụng vốn của người bán
Trang 12+ Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection)
Khác với nhờ thu trơn, trong trường hợp này bộ chứng từ hàng hóa đượcngười bán gửi đến ngân hàng nhận ủy thác thu Ngân hàng này tiến hành thu hộtiền ở người mua không chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng
từ hàng hóa với điều kiện người mua phải thanh toán ngay hoặc chấp nhận trảtiền (nếu là hối phiếu có kì hạn) thì mới được nhận bộ chứng từ để nhận hàng
Phương thức này đảm bảo an toàn cho người bán hơn vì họ đã nhờ Ngânhàng khống chế bộ chứng từ Tuy vậy, người bán vẫn phải đối mặt với rủi ro khingười mua thay đổi ý định hoặc khi tình hình kinh doanh sa sút, người muakhông nhận hàng và không chịu thanh toán Rủi ro mà người bán không nhậnđược tiền là do NHTM trong trường hợp này chỉ đóng vai trò trung gian thu tiền
hộ và nhận trách nhiệm giữ chứng từ, ngoài ra không chịu trách nhiệm gì khác
1.2.3.4 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Phương thức L/C là một phương thức thanh toán quốc tế được sử dụngrộng rãi nhất và ưu việt hơn cả trong TTQT, chiếm khoảng 70 % giá trị thanhtoán Lý do là nó đảm bảo quyền lợi một cách tương đối cho cả người mua vàngười bán
b Nhận xét
- Ưu điểm của phương thức L/C
+ Đối với nhà nhập khẩu:
Chắc chắn nhà xuất khẩu phải đáp ứng các qui định của L/C, người muachỉ phải thanh toán khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện vàđiều khoản của LC để nhận hàng Người mua được sự trợ giúp của ngân hàng
Trang 13trong việc bảo đảm các điều kiện của LC được tuân thủ, dễ dàng được ngânhàng tài trợ vốn, được các điều khoản UCP500 bảo vệ.
+ Đối với nhà xuất khẩu
Được bảo đảm thanh toán khi tuân thủ các điều khoản và điều kiện của L/
C ngay cả khi nhà nhập khẩu cố tình không thanh toán và nhận được thanh toánnhanh nhất Được Ngân hàng giúp đỡ và tư vấn, giảm thiểu được các rủi ro.Ngoài ra, người bán có thể sử dụng L/C như là một phương thức tài trợ cho xuấtkhẩu như: chiết khấu bộ chứng từ, bán bộ chứng từ cho ngân hàng hay vay vốnngân hàng bằng thế chấp bộ chứng từ…
+ Đối với ngân hàng
Khi thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng cũng thu được lợi ích khá lớn từcác khoản thu phí dịch vụ, tạo điều kiện mở rộng tín dụng, bảo lãnh quốc tếkinh doanh ngoại tệ
- Nhược điểm của phương thức L/C
Nhược điểm lớn nhất của phương thức L/C là phải thanh toán theo mộtqui trình tỉ mỉ, máy móc, đòi hỏi các bên phải tiến hành cẩn thận, nhất là khâulập và kiểm tra chứng từ Chỉ cần một sơ xuất nhỏ cũng trở thành nguyên nhânbác bỏ việc thanh toán
Ngân hàng chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ nên buộc phải thanh toán bất
kể hàng hóa tốt hay xấu, rủi ro thuộc về phía người mua Nếu người bán cố ýlập một bộ chứng từ hàng hóa giả tạo nhưng hoàn hảo theo các điều kiện vàđiều khoản của L/C thì ngân hàng vẫn sẽ phải thanh toán cho người bán và rủi
ro sẽ thuộc về người mua do họ đã chọn nhầm đối tác lừa đảo
Ngoài ra, Ngân hàng còn bị ràng buộc bởi trách nhiệm của mình đối vớingười mua và người bán với tư cách là một thành viên tham gia vào phươngthức này
Tín dụng chứng từ là một kỹ thuật thanh toán chắc chắn nhưng nặng nề.Chi phí cho người nhập khẩu tương đối tốn kém Mặt khác, thủ tục hành chínhnghiêm ngặt đôi khi gây khó khăn cho người xuất khẩu trong quá trình lập
Trang 141.2.4 Những rủi ro thường gặp trong thanh toán quốc tế
a Khái niệm rủi ro trong thanh toán quốc tế
Rủi ro trong TTQT là những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiệnTTQT liên quan đến các giao dịch quốc tế, nguyên nhân phát sinh từ quan hệgiữa các bên tham gia TTQT như: nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, các Ngânhàng, tổ chức, tác nhân trung gian…hoặc do những yếu tố khách quan khác gây
ra như thiên tai, chiến tranh, chính trị…
Rủi ro trong TTQT cũng giống như rủi ro trong giao dịch thương mạitrong nước, nhưng khoảng cách về địa lý, những khác biệt về văn hóa, luậtpháp…làm tăng thêm khó khăn liên quan đến giao dịch quốc tế
b Phân loại rủi ro
Để đánh giá được rủi ro và đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm phòngngừa và hạn chế, chúng ta có thể phân loại rủi ro theo những nguyên nhân phátsinh ra nó
+ Rủi ro thương mại
Loại rủi ro này hiện diện trong tất cả giao dịch giữa các thương gia Rủi
ro này xảy ra với nhà xuất khẩu khi gặp phải những khuyết tật trong khâu thanh
Trang 15toán, khi con nợ rơi vào tình trạng suy yếu tài chính hay gặp những rắc rối vìqui định pháp lý Còn đối với nhà nhập khẩu thì rủi ro xảy ra khi vi phạm cácđiều khoản của hợp đồng thương mại như: thời hạn gửi hàng, số lượng hàng,chất lượng hàng, giá cả, những thay đổi trong điều kiện vận chuyển hàng hóa…
+ Rủi ro trong thanh toán
Là những bất ngờ, gây hậu quả tổn thất cho các bên tham gia thanh toán,đặc biệt đối với các ngân hàng khi thực hiện cung ứng dịch vụ thanh toán chocác bên tham gia kinh doanh, giao dịch quốc tế
Rủi ro đạo đức của nhà nhập khẩu là khi nhà nhập khẩu có hành vi lừangười bán xếp hàng lên tàu rồi trì hoãn, từ chối thanh toán bằng những thủ đoạnnghiệp vụ bắt lỗi sai sót chứng từ, ép giá người bán để thu lợi hoặc khi giá cả
Trang 16hàng hóa nhập khẩu giảm người mua sợ thua lỗ trong kinh doanh cố tình khôngnhận bộ chứng từ để lấy hàng.
Rủi ro đạo đức của nhà chuyên chở: người bán hàng giao hàng cho ngườichuyên chở nhưng bị họ lừa đảo, nhận hàng lấy tiền rồi biến mất hoặc bán mấthàng
Nguyên nhân sâu xa của vấn đề này là thông tin không cân xứng Sự táchbiệt giữa thanh toán theo hồ sơ và hàng hóa đã tạo ra khe hở cho một số tổ chức,
cá nhân tiến hành lừa đảo
+ Rủi ro quốc gia
Rủi ro quốc gia là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi về chính trị,kinh tế, về chính sách quản lý ngoại hối-ngoại thương của một quốc gia khiếncho nhà xuất khẩu không nhận được tiền hàng, nhà nhập khẩu không nhận đượchàng hóa
+ Rủi ro ngoại hối
Là rủi ro xảy ra khi việc thanh toán được ấn định bằng một loại ngoại tệnào đó Khi tỷ giá biến động sẽ gây tổn thất cho một trong hai phía đối tác thamgia thanh toán
+ Rủi ro tác nghiệp
Là những rủi ro sai sót kỹ thuật do chính các bên tham gia gây nên, thểhiện trong việc lập các hồ sơ chứng từ không hoàn hảo, không đáp ứng đầy đủcác điều khoản về thanh toán theo qui định Nguyên nhân là do trình độ ngoạithương và TTQT của các bên tham gia còn yếu nên chưa nắm bắt được các yêucầu khắt khe của L/C
Trang 171.3 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Đây là phương thức thanh toán quan trọng và chủ yếu tại Ngân hàngthương mại hiện nay Tín dụng chứng từ được gọi với nhiều tên khác nhau như:Letter of Credit, Credit, Document Credit ở Việt Nam ngoài tên là tín dụngchứng từ còn có các tên khác như L /C, thư tín dụng Trước đây, thư tín dụngcòn được gọi là tín dụng thương mại nhưng nay thì từ này không còn được dụngnữa mà thông dụng nhất là “ tín dụng chứng từ” vì nó thể hiện đúng nhất ýnghĩa tín dụng kèm chứng từ
1.3.1 Khái niệm phương thức tín dụng chứng từ
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một Ngânhàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu
mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởnglợi số tiền thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trongphạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho Ngân hàng một bộ chứng từthanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng
1.3.2 Các bên tham gia
Qua khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ ta thấy phương thứcnày gồm có bốn bên tham gia như sau
+ Người yêu cầu mở L/C (Applicant) : Là người mua, nhà nhập khẩu
hoặc là người do người mua ủy thác Khi hợp đồng mua bán áp dụng phươngthức tín dụng chứng từ thì việc mở L/C của nguời mua là điều kiện cần đầu tiên
để người bán thực hiện hợp đồng
+ Người hưởng lợi (Beneficiary) : Là nhà xuất khẩu hàng hóa, người
bán, hay người được người xuất khẩu chỉ định Nhà xuất khẩu chỉ thực hiệngiao hàng khi nào biết được rằng người mở L/C đúng với nội dung hợp đồngmua bán
+ Ngân hàng mở L/C ( Issuing Bank) : Là ngân hàng phục vụ nhà nhập
khẩu, ở bên nước người nhập khẩu, ngân hàng này cung cấp tín dụng cho nhànhập khẩu và là ngân hàng thường được hai bên nhập khẩu và xuất khẩu thỏa
Trang 18thuận, lựa chọn và được quy định trong hợp đồng, nếu chưa yêu cầu trước thìnhà nhập khẩu có quyền lựa chọn.
+ Ngân hàng thông báo L/C (Advising Bank ) Là ngân hàng phục vụ
nhà xuất khẩu, ở nước nhà xuất khẩu và thông báo cho nhà xuất khẩu biết là L/
C đã được mở Đây có thể la ngân hàng chi nhánh hoặc ngân hàng đại lý củaNgân hàng phát hành
Trong thực tế vận dụng phương thức tín dụng chứng từ, tuỳ theo từngđiều kiện cụ thể còn có sự tham gia của một số Ngân hàng khác như: Ngân hàngxác nhận (Congiring Bank), Ngân hàng chỉ định (Nominated Bank), Ngân hànghoàn trả (Reimbursing Bank)
1.3.3 Quy trình nghiệp vụ thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
Sơ đồ 1 : Quy trình thanh toán L/C
Người xuất khẩu
(8)
(4)
(3)(9)
(1)
(5)(6)
(2)
(5) L/
C
Trang 194 Nhà xuất khẩu nhận và kiểm tra lại L/C, nếu chấp nhận thì tiến hành giaohàng, nếu chưa chấp nhận thì yêu cầu bên mua sửa đổi lại L/C, sau khi chấpnhận nội dung sửa đổi thì tiến hành giao hàng
5 Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo qui định của thư tíndụng xuất trình chứng từ qua ngân hàng thông báo đòi tiền ngân hàng phát hànhL/C Ngân hàng thông báo kiểm tra bộ chứng từ và chuyển cho ngân hàng pháthành
6 Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ và thông báo cho người nhậpkhẩu
7 Nhà nhập khẩu kiểm tra lần nữa, nếu thấy phù hợp thì chấp nhận thanh toán
8 Ngân hàng phát hành chấp nhận thanh toán hoặc trả tiền cho người xuất khẩuthông qua ngân hàng thông báo
9 Nhà nhập khẩu mua hoàn trả tiền cho ngân hàng phát hành, ngân hàng pháthành giao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu để đi nhận hàng
1.3.4 Nội dung chủ yếu của L/C
1.3.4.1 Khái niệm, đặc điểm, tính chất của L/C
a Khái niệm L/C
Thư tín dụng là một văn kiện của ngân hàng được viết ra theo yêu cầu củanhà nhập khẩu (người xin mở L/C) nhằm cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu(người thụ hưởng) một số tiền nhất định trong một thời gian nhất định với điềukiện người này thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định trong L/C
Trang 20+ Ngân hàng phát hành có một khoảng thời gian hợp lý không quá 7ngày làm việc sau khi nhận được chứng từ để kiểm tra chứng từ và xácđịnh chứng từ phù hợp hay không phù hợp, nếu quá thời gian ngân hàngphát hành không có quyền thông báo sai sót.
+ Ngân hàng không chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ không quiđịnh trong L/C
+ Nếu ngân hàng quyết định từ chối chứng từ nó phải thông báo bằngphương tiện truyền thống trước lúc đóng cửa ngày làm việc thứ 7
+ Ngân hàng không chịu trách nhiệm về sự chậm trễ do truyền tin, về lỗichính tả phát sinh trong quá trình chuyển giao hoặc truyền tin
c Tính chất và ý nghĩa của L/C
+ L/C là cốt lõi, là phương tiện chủ yếu của phương thức tín dụng chứng
từ Do đó nếu L/C hết thời hạn hiệu lực thì phương thức tín dụng chứng từ cũngkhông còn ý nghĩa nữa
+ L/C là văn bản thể hiện sự cam kết của ngân hàng mỏ L/C đối với nhàxuất khẩu để thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo điều khoản thanh toán của hợpđồng mua bán ngoại thương Do đó nó được soạn thảo trên cơ sở hợp đồngngoại thương đã được ký kết, tuy nhiên sau khi mở L/C lại hoàn toàn độc lậpvới hợp đồng mua bán
+ L/C là cơ sở pháp lý chính của việc thanh toán, nó ràng buộc các bênhữu quan tham gia vào phuơng thức thanh toán tín dụng chứng từ như : Nhànhập khẩu, nhà xuất khẩu, ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo L/C … + Ngoài những ý nghĩa trên, nhà xuất khẩu còn sử dụng L/C để cụ thểhóa, chi tiết hóa hoặc để bổ sung một cách đầy đủ hơn vào điều khoản của hợpđồng và cũng có thế dùng L/C để đính chính, sửa chữa những nội dung đã ký
mà gây bất lợi cho nhà xuất khẩu
+ Trong trường hợp L/C không có ký kết hợp đồng, bên mua dựa vàohóa đơn chào hàng của bên bán, tự mình xin mở L/C và được bên bán chấpnhận thì L/C cũng được coi là một hợp đồng
Trang 211.3.4.2 Nội dung chủ yếu của L/C
a Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C.
+ Số hiệu:
Mỗi thư tín dụng đều có số hiệu riêng của nó, nhằm tạo thuận tiện trongviệc trao đổi thông tin giữa các bên có liên quan trong quá trình giao dịch thanhtoán Số hiệu này cũng được dùng để ghi vào các chứng từ liên quan trong bộchứng từ thanh toán
+ Địa điểm mở L/C: Là nơi mà ngân hàng mở L/C viết cam kết trả chongười xuất khẩu Địa điểm này có ý nghĩa trong việc chọn luật áp dụng khi xảy
ra tranh chấp nếu có xung đột pháp luật về L/C đó
+ Ngày mở L/C: Là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân hàng mỏ L/
C với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và cuốicùng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện việc
mở L/C có đụng hạn như đã qui định trong hợp đồng không
b Tên, địa chỉ của người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ.
Những người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ nói chungchia làm hai loại: một là các thương nhân, hai là các ngân hàng
Các thương nhân chỉ bao gồm những người nhập khẩu, là người yêu cầu
mở L/C, người xuất khẩu là người hưởng lợi L/C
Các ngân hàng tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ gồm cóngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo, ngân hàng trả tiền, ngân hàng xácnhận
c Ngân hàng mở L/C (Opening Bank hay Issuing Bank)
Là ngân hàng thường được hai bên mua bán thoả thuận lựa chọn và quiđịnh trong hợp đồng, nếu chưa có sự qui định trước, người nhập khẩu có quyềnlựa chọn,
Quyền lợi và nghĩa vụ chủ yếu của ngân hàng này như sau:
+ Căn cứ vào đơn xin mở L/C của người nhập khẩu để phát hành L/C vàtìm cách thông báo L/C đó cùng với việc gửi bản gốc L/C cho người xuất khẩu
Trang 22Thông thường, việc thông báo và gửi L/C cho người xuất khẩu phải thôngqua một ngân hàng đại lý của nó ở nước người xuất khẩu (trường hợp này ítdùng)
+ Sửa đổi, bổ sung những yêu cầu của người xin mở L/C của người xuấtkhẩu đối với L/C đã được mở nếu có sự đồng ý của họ
+ Kiểm tra chứng từ của người xuất khẩu gửi đến, nếu xét thấy cácchứng từ đó phù hợp với những điều qui định trong L/C và không mâu thuẫnnhau thì trả tiền cho người xuất khẩu và đòi tiền lại người nhập khẩu, ngược lạithì từ chối thanh toán Khi kiểm tra chứng từ của người xuất khẩu gửi đến, ngânhàng chỉ chịu trách nhiệm kiểm tra "bề ngoài" của chứng từ xem có phù hợp vớiL/C hay không, chứ không chịu trách nhiệm về kiểm tra tính chất pháp lí củachứng từ, tính chất xác thực của chứng từ Mọi sự tranh chấp về tính chất "bêntrong" của chứng từ là do người nhập khẩu và người xuất khẩu tự giải quyết
+ Ngân hàng được miễn trách trong trường hợp ngân hàng rơi vào đúngcác bất khả kháng như chiến tranh, đình công, nổi loạn, khởi nghĩa, lụt lội, độngđất, hoả hoạn Nếu L/C hết hạn giữa lúc đó, ngân hàng cũng không chịu tráchnhiệm thanh toán những bộ chứng từ gửi đến vào dịp đó, trừ khi đã có nhữngqui định dự phòng
+ Mọi hậu quả sinh ra do lỗi của mình, ngân hàng mở L/C phải chịutrách nhiệm Ngân hàng được hưởng một khoản thủ tục phí mở L/C từ 0,125%đến 0,5% trị giá L/C
d Ngân hàng thông báo (Advising Bank)
Thường là ngân hàng đại lý của ngân hàng mở L/C ở nước người xuấtkhẩu Quyền lợi và nghĩa vụ chủ yếu của ngân hàng thông báo như sau:
+ Khi nhận được điện thông báo L/C của ngân hàng mở L/C, ngân hàngnày sẽ chuyển toàn bộ nội dung L/C đã nhận được của người xuất khẩu dướihình thức vân bản
Trang 23+ Ngân hàng thông báo chỉ chịu trách nhiệm chuyển nguyên văn bức điện
đó, chứ không chịu trách nhiệm phải dịch, diễn giải các từ chuyên môn ra tiếngđịa phương Nếu ngân hàng thông báo sai những nội dung điện đã nhận được thìngân hàng phải chịu trách nhiệm Chính vì vậy, trong cuối bức thư thông báo L/
C, bao giờ cũng có câu "Please note we assume no responsibility for any errorand/or omission in the transmision and/or translation of the cable", tức là "Xinlưu ý, chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ một lỗi lầm hay thiếu sóttrong chuyển và dịch bức điện này"
+ Khi nhận được bộ chứng từ của người xuất khẩu chuyển tới, ngân hàngphải chuyển ngay và nguyên vẹn bộ chứng từ đó tới ngânhàng mở L/C
Ngân hàng không chịu trách nhiệm về những hậu quả phát sinh ra do sựchậm trễ và/hoặc mất mát chứng từ trên đường đi đến ngân hàng mở L/C, miễn
là chứng minh rằng mình đã gửi nguyên vẹn và đúng hạn bộ chứng từ đó quabưu điện
e Ngân hàng trả tiền (Negotiating Bank hoặc Paying Bank)
Là ngân hàng mở L/C và có thể là một ngân hàng khác do ngân hàng mở
L/C uỷ nhiệm
Nếu địa điểm trả tiền qui định tại nước người xuất khẩu thì ngân hàng trảtiền thường là ngân hàng thông báo Trách nhiệm của ngân hàng trả tiền giốngnhư ngân hàng mở L/C khi nhận được bộ chứng từ của người xuất khẩu gửiđến
f Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank)
Là ngân hàng đứng ra xác nhận cho ngân hàng mở L/C theo yêu cầu của
nó Ngân hàng xác nhận thường là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trườngtín dụng và tài chính quốc tế Ngân hàng mở L/C phải yêu cầu một ngân hàngkhác xác nhận cho mình sẽ làm giảm uy tín của ngân hàng mở L/C Muốn xácnhận, ngân hàng mở L/C phải trả thủ tục phí (confirming charges) rất cao và đôikhi còn phải đặt trước (cash cover), mức đặt tiền trước có thể đạt tới 100% trịgiá của thư tín dụng (full cash cover)
Trang 24g Số tiền của thư tín dụng
Số tiền của L/C vừa được ghi bằng số, vừa được ghi bằng chữ và thốngnhất với nhau Không thể chấp nhận một thư tín dụng có số tiền bằng số và chữmâu thuẫn nhau
Tên của đơn vị tiền tệ phải rõ ràng, vì cùng một tên gọi là đồng Đôlanhưng trên thế giới có nhiều loại đồng Đôla khác nhau như: đô la Mỹ, đô la úc,
đô la Hồng Kông
Theo bản "Qui tắc và cách thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ1993" qui định thì những từ "khoảng chừng" (about), "độ khoảng" (circa) hoặcnhững từ ngữ tương tự được dùng để chỉ mức độ số tiền của thư tín dụng nênhiểu là cho phép xê dịch hơn kém không quá 10% của tổng số tiền đó
Ngoài ra, bản qui tắc còn qui định "trừ khi thư tín dụng qui định số lượnghàng giao không được hơn kém, còn lại thì sẽ được phép có một khoản dung saitrong phạm vi hơn kém 5%, miễn là tổng số tiền chi trả luôn luôn không đượcvượt quá số tiền của thư tín dụng Không được áp dụng dung sai này khi thư tíndụng qui định số lượng tính bằng đơn vị bao, kiện đã được nói rõ hoặc tính bằngđơn vị chiếc"
h Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong thư tín dụng.
- Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng là thời hạn mà ngân hàng mở L/C camkết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từtrong thời hạn đó và phù hợp với những điều qui định trong L/C Thời hạnhiệulực của L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C (date of issue) đến ngày hết hiệulực L/C (expiry date)
Cần phải chú ý là, có nước qui định rằng nếu thời hạn hiệu lực L/C dưới 3tháng, thì phí thông báo L/C chỉ phải chịu là 0,1%; còn trên 3 tháng đến 6 thángthì là 0,2% Vì vậy cần phải xác định một thời hạn hiệu lực của L/C cho hợp lý,
có nghĩa là nó vừa tránh đọng vốn cho người nhập khẩu vừa không gây khó
Trang 25khăn cho việc xuất trình chứng từ của người nhập khẩu Việc xác định này cầnthoả mãn các nguyên tắc sau đây:
+ Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C và khôngđược trùng với ngày hết hạn hiệu lực của L/C
+ Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một thời gian hợp lí, khôngđược trùng với ngày giao hàng Thời gian hợp lý này được tính tối thiểu bằngtổng số của từng ngày cần phải có để thông báo mở L/C, số ngày lưu L/C ởngân hàng thông báo, số ngày chuẩn bị hàng để giao cho người nhập Nếu hàngxuất là mặt hàng phức tạp, phải điều động từ xa ra cảng và phải tái chế biến lạitrước khi giao, nếu thời điểm giao hàng xuất là hàng sản phẩm công nghiệp thìkhông cần thiết đòi hỏi số ngày chuẩn bị quá lớn
+ Ngày hết hạn hiệu lực L/C phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp
lý Thời gian này bao gồm số ngày chuyển chứng từ nơi giao hàng đến có quancủa người xuất khẩu, số ngày lập bộ chứng từ, ố ngày vận chuyển chứng đếnngân hàng mở L/C (hay ngân hàng trả tiền), số ngày lưu giữ chứng từ tại ngânhàng thông báo và 7 ngày làm việc để ngân hàng thể hiện ý chí chấp nhận hay
từ chối trả tiền
- Thời hạn trả tiền của L/C (date of payment) là thời hạn trả tiền ngay haytrả tiền sau Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào qui định của hợp đồng Nếu việcđòi tiền bằng hối phiếu thì thời hạn trả tiền được qui định ở yêu cầu ký phát hốiphiếu
Thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C, nếu như trảtiền ngay hoặc có thề là nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C, nếu như trả tiền
có ký hạn Song điều quan trọng là, những hối phiếu có kỳ hạn phải đựơc xuấttrình để chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của L/C
- Thời hạn giao hàng (date of delivery) cũng được ghi trong L/C và dohợp đồng mua bán qui định như đã phân tích ở trên, thời hạn giao hàng có quan
hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C
Trang 26Những nội dung về hàng hoá như tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả,qui cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu cũng được ghi trong thư tín dụng
1.3.4.3 Các loại thư tín dụng chủ yếu
a Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C)
Là loại thư tín dụng mà người yêu cầu mở có toàn quyền đề nghị ngânhàng mở thư tín dụng sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ nó mà không cần báo trướccho người hưởng lợi biết (đương nhiên việc đó phải diễn ra trước khi thư tíndụng được thanh toán).Như vậy loại thư tín dụng có thể huỷ ngang thuộc loạicam kết không bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý Đứng trên giác độ quyền lợicủa bên bán, loại thư tín dụng này không đảm bảo quyền lợi cho họ; do đó ngàynay nó ít được sử dụng trong thương mại quốc tế
b Thư tín dụng không thể huỷ ngang ( Irrevocable L/C )
Đây là loại thư tín dụng mà sau khi nó đã được mở ra thì mọi việc liênquan tới sửa đổi bổ sung hoặc huỷ bỏ nó ngân hàng mở chỉ có thể được tiếnhành trên cơ sở sự thoả thuận của các bên có liên quan
Như vậy, nếu không có sự nhất trí của người hưởng lợi về những nộidung cần tu chỉnh trong thư tín dụng thì ngân hàng mở không được phép thựchiện theo yêu cầu đơn phương của người yêu cầu mở Do đó, quyền lợi của bênbán được đảm bảo
Thư tín dụng không thể huỷ ngang là loại được áp dụng rất phổ biếntrong thương mại quốc tế ngày nay
Theo qui định trong bản “ Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụngchứng từ ” : Nếu không có ghi chú đặc biệt gì khác về loại thư tín dụng muốn
mở thì ngân hàng được quyền hiểu đó là thư tín dụng không thể huỷ ngang
c Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirm irrevocable L/C).
Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, được một ngân hàng khácđảm bảo trả tiền cho người thụ hưởng theo yêu cầu của ngân hàng mở thư tíndụng đó
Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người hưởng lợi cho
Trang 27nên loại thư tín dụng này được coi là rất đảm bảo quyền lợi cho bên bán.
Tuy nhiên, cũng cần lưu là để có sự xác nhận như vậy đương nhiên phải thanhtoán một khoản phí (phí xác nhận) nhất định đối với ngân hàng xác nhận Trênthực tế, nhu cầu xác nhận thư tín dụng này phụ thuộc nhiều yếu tố song chủ yếutuỳ thuộc vào mức độ tín nhiệm và tình hình tài chính của ngân hàng mở thư tíndụng
d Thư tín dụng không thể huỷ ngang, miễn truy đòi (Irrevocable without recourse L/C).
Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang mà sau khi người thụhưởng đã được trả tiền thì ngân hàng mở không có quyền đòi lại tiền trong bất
kỳ tình huống nào
Khi sử dụng loại thư tín dụng này, người xuất khẩu phải ghi trên hối phiếu
“miễn truy hồi người ký phát“ Đồng thời trong thư tín dụng cũng phải ghi nhưvậy
e Thư tín dụng chuyển nhượng (Irrevocable transferable L/C).
Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang mà ngân hàng trả tiền đượcphép trả toàn bộ hay một phần số tiền của thư tín dụng cho một hay nhiều ngườitheo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên
Một thư tín dụng muốn được chuyển nhượng phải có lệnh đặc biệt củangân hàng mở và trên thư tín dụng phải ghi “có thể chuyển nhượng được“ Lưu
ý rằng việc chuyển nhượng chỉ được thực hiện một lần cho thư tín dụng đó
f Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C).
Là loại thư tín dụng mà sau khi đã sử dụng xong hoặc đã hết thời hạnhiệu lực lại tự động có giá trị như cũ và được tiếp tục sử dụng sau một thời giannhất định
Thư tín dụng tuần hoàn cần được chỉ rõ, ngày hết hạn hiệu lực cuối cùng,
số lần tuần hoàn và giá trị mỗi lần đó Đồng thời, cũng phải qui định rõ số dưcủa hạn ngạch L/C dùng chưa hết lần trước được hay không được cộng đồn vàohạn ngạch L/C sử dụng lần kế tiế
Trang 28g Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C)
Là loại thư tín dụng được mở ra dựa trên cơ sở số tiền của một thư tíndụng khác đã được mở trước đó Loại thư tín dụng này thường được sử dụngnhiều trong phương thức giao dịch mua bán qua trung gian, chuyển khẩu Việcvận hành quá trình thanh toán theo loại thư tín dụng này nói chung khá phứctạp; đặc biệt là những điều kiện về thời hạn, về bộ chứng từ …
h Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C).
Là loại thư tín dụng chỉ có giá trị hiệu lực khi thư tín dụng của bên đốitác cũng đã được mở ra
Trong hai thư tín dụng có liên quan sẽ có một thư tín dụng được mởtrước, nó thường được ghi như sau: “ Tín dụng này chỉ có giá trị khi ngườihưởng lợi đã mở ra một thư tín dụng đối ứng cho người mở tín dụng này …”Đồng thời, bên mở tín dụng đối ứng cũng sẽ ghi: “ Tín dụng này đối ứng vớithư tín dụng số…mở ngày…tại ngân hàng… “ và thông báo kịp thời cho bênđối tác biết
k Thư tín dụng thanh toán dần (Deferred L/C )
Là loại thư tín dụng mà ngân hàng mở sẽ thanh toán dần dần trị giá thư
tín dụng cho người hưởng lợi theo tiến trình chuyển giao hàng hoá của họ vớibên mua Loại thư tín dụng này thích ứng với các hợp đồng giao hàng nhiều lần
l Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C).
Là loại thư tín dụng có một điều khoản đặc biệt, thể hiện ở chỗ: người yêucầu mở cho phép người thụ hưởng được nhận một số tiền nhất định trong tổng
số tiền của thư tín dụng đã mở, ngay cả khi người này còn chưa thực hiện nghĩa
vụ xuất chuyển hàng hoá cho người mua
Trang 29đồng thương mại đã ký kết gây thiệt hại cho họ thì ngân hàng mở thư tín dụng
dự phòng sẽ thanh toán tiền đền bù những thiệt hại đó
1.3.5 Những tham chiếu áp dụng khi sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Một trong những phương thức thanh toán quốc tế hiện nay được sử dụng
phổ biến nhất là phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Nội dung phươngthức thanh toán tín dụng chứng từ được thực hiện theo bản “ Quy tắc và thựchành thống nhất về tín dụng chứng từ ” (Uniform Customs and practice fordocumentary credits) do phòng thương mại quốc tế (ICC) ban hành Văn bảnđầu tiên được xuất bản là năm 1993 sau đó được sửa đổi, bổ sung qua các năm
1951, 1962, 1974, và tiếp theo là bản sửa đổi bổ sung năm 1983 (số 400-ICC).Phòng thương mại quốc tế đã ban hành văn bản mới nhất ICC-UCP-500 có giátrị hiệu lực từ ngày 1/1/1994 đã được các giới kinh doanh thương mại và ngânhàng ở hầu hết các nước áp dụng phổ biến
Nếu như UCP500 là văn bản quy tắc áp dụng chung cho các bên thamgia và phương thức tín dụng chứng từ thì URR (Unỉom Rules For BankReimbusement under Documentary Credit) (N-525,1995,ICC) chỉ giúp riêngđối với công việc trả tiền của ngân hàng
Trong URR chủ yếu bàn về mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành vàngân hàng hoàn trả Nếu các điều khoản của URR được quy định trong “Ủyquyền hoàn trả tiền” chỉ thị của ngân hàng phát hành đối với ngân hàng hoàn trả
sẽ được tuân thủ theo bản quy tắc này
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế khi áp dụng phương thức tín dụng chứng từ
1.4.1 Các nhân tố chủ quan
a Hành lang pháp lý cho hoạt động TTQT theo phương thức TDCT
Hiện nay, UCP 500 được tất cả các NHTM nước ta vận dụng mà không
Trang 30có bất kỳ sự điều chỉnh nào Thực chất UCP 500 chỉ là một thông lệ quốc tế,không có giá trị bắt buộc Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa luật phápquốc gia và UCP thì luật pháp quốc gia vượt lên trên tất cả Do vậy, một sự thayđổi dù nhỏ trong các nghị định của Chính phủ, quyết định của Thống đốcNHNN cũng tác động mạnh mẽ đến hoạt động TTQT theo phương thức tíndụng chứng từ Để giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng TTQT cần phải thiếtlập hành lang pháp lý chặt chẽ, đồng bộ hơn nữa.
b Sự ổn định các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chính sách kinh tế vĩ mô có tác dụng điều tiết các hoạt động kinh tế
Sự ổn định và tính đúng đắn của các chính sách này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đếnhoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và TTQT Ví dụ như trong chínhsách thuế, khi thuế nhập khẩu cao, hàng hóa nhập khẩu giảm làm cho doanh thuTTQT hàng nhập cũng giảm hay khi chính phủ thay đổi hạn ngạch xuất nhậpkhẩu đối với một số loại hàng hóa cũng khiến các nhà xuất nhập khẩu đang thựchiện việc giao hàng gặp khó khăn khi phải giải quyết số hàng hóa ngoài hạnngạch nhưng đã được ký kết cung cấp theo hợp đồng Ngoài ra chính sách ngoạihối của Chính phủ nếu không theo sát cung cầu trên thị trường sẽ tác động xấutới các ngân hàng trong việc cân đối ngoại tệ đáp ứng nhu cầu TTQT Do vậy,
để hoạt động TTQT phát triển thì các quốc gia phải chú ý đến sự ổn định củacác chính sách kinh tế vĩ mô
c Năng lực kinh doanh của NHTM
Khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì các khâu trong hoạtđộng TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ được rút ngắn và đơn giản hóabởi vì hoạt động TTQT diễn ra giữa các đối tác ở các quốc gia khác nhau nênvấn đề mà họ quan tâm là thời gian, sự chính xác và độ an toàn trong thanhtoán Việc mở rộng hoạt động TTQT chịu sự tác động của việc đổi mới côngnghệ ngân hàng chính là cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hệ thống phần mềm sử dụngtrong thanh toán và nối kết với các ngân hàng khác trên thế giới
d Uy tín và tiềm lực tài chính của ngân hàng
Trang 31Đối với hoạt động TTQT thì uy tín của ngân hàng là yếu tố quan trọnghàng đầu Có thể thấy rõ điều này trong trường hợp L/C xác nhận, các ngânhàng qui mô nhỏ, uy tín thấp khi đứng ra mở LC đều phải có ngân hàng nổitiếng trên thị trường tài chính xác nhận để đảm bảo quyền lợi cho người xuấtkhẩu.
Trong hoạt động TTQT đòi hỏi các ngân hàng phải có một lượng dự trữngoại tệ đủ lớn để đảm bảo thanh toán cho người xuất khẩu Khi nguồn ngoại tệkhông đủ đảm bảo thanh toán thì ngân hàng phải đi vay trên thị trường liên ngânhàng với tỉ giá cao hơn Nếu nhu cầu vượt quá cả lượng ngoại tệ có thể vay sẽlàm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán, gây mất uy tín cho ngân hàng Vìvậy, các ngân hàng khi muốn mở rộng hoạt động TTQT cần có tiềm lực tàichính mạnh để đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng
e Năng lực của cán bộ nhân viên
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ nhân viên trực tiếp làmTTQT là nhân tố quan trọng quyết định tới hiệu quả công việc Nếu cán bộ nhânviên chưa thành thạo nghiệp vụ sẽ làm chậm quá trình thanh toán và tạo ranhiều sai sót, gây bất lợi cho khách hàng và giảm uy tín của ngân hàng
f Mối quan hệ với các ngân hàng đại lý
Một ngân hàng nếu có mối quan hệ ngân hàng đại lý với các ngân hànglớn, chi nhánh khắp các nước trên thế giới thì hoạt động thanh toán sẽ nhanhchóng, hiệu quả và tốn ít chi phí hơn
g Khả năng lập bộ chứng từ của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu
+ Đối với nhà nhập khẩu: Sự thận trọng , kinh nghiệm và trình độ củanhà nhập khẩu trong việc lập chứng từ đúng với các thông lệ quốc tế cũngnhư hiểu biết rõ đối tác ảnh hưởng đến tính chặt chẽ của LC, đảm bảoquyền lợi của mình và tạo uy tín cho ngân hàng phát hành
+ Đối với nhà xuất khẩu: sự nhanh chóng và chính xác trong việc hoànchỉnh bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện và điều khoản của UCP
500 làm giảm khả năng bị từ chối thanh toán, tăng tốc độ thanh toán LC đảm
Trang 32bảo quyền lợi của nhà xuất khẩu.
1.4.2 Các nhân tố khách quan
a Tỷ giá hối đoái
Sự biến động của tỷ giá hối đoái luôn có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động ngoại thương và do vậy mà tác động đến hoạt động TTQT theo phươngthức tín dụng chứng từ Việc thực hiện các hoạt động ngoại thương đòi hỏinhiều thời gian để hoàn tất và chính trong thời gian này, sự biến động tỷ giá sẽgây thiệt hại cho người xuất nhập khẩu
Các NHTM trong hoạt động TTQT cũng khó tránh khỏi rủi ro về ngoạihối Đây là loại rủi ro xảy ra khi việc thanh toán đã được ấn định bằng một loạingoại tệ nào đó (thường là các loại ngoại tệ mạnh như USD, EUR, CAD,CHF…) nhưng sự biến động của tỷ giá gây tổn thất cho bên nhập khẩu hoặcxuất khẩu NHTM cũng phải đối mặt với rủi ro này khi ngân hàng nằm trongtrạng thái “đoản” ngoại tệ đó mà ngoại tệ lại lên giá khiến cho ngân hàng phải
bỏ ra chi phí lớn để mua vào Ngược lại nếu ngân hàng trong trạng thái
“trường” về một loại ngoại tệ nào đó mà ngoại tệ đó mất giá thì ngân hàng phảigánh chịu tổn thất Do đó, sự ổn định trong tỷ giá hối đoái sẽ giúp ngân hàngtránh được rủi ro, nâng cao chất lượng TTQT
b Sự biến động chính trị của nước nhập khẩu và nước xuất khẩu
Các cuộc xung đột xã hội như biểu tình, bãi công, chiến tranh…đe dọa sự
ổn định của một quốc gia Khi nhà xuất khẩu thực hiện xuất hàng, chờ thanhtoán nhưng vì nước nhà nhập khẩu xảy ra chiến sự, phương tiện chở hàng hóakhông được vào vùng đó nên nhà nhập khẩu không nhận được hàng còn nhàxuất khẩu không được thanh toán và có rủi ro bị mất hàng Vì vậy, sự ổn địnhkinh tế chính trị của một quốc gia ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất nhậpkhẩu và TTQT
c Các qui định trong bảo hiểm hàng hóa vận tải
Khi ký kết hợp đồng ngoại thương, các nhà xuất nhập khẩu thường sửdụng giá có điều kiện bảo hiểm để tăng mức độ an toàn cho hàng hóa (ví dụ giá
Trang 33CIF, CIP…đã bao gồm cả bảo hiểm) Tuy nhiên, trong các điều kiện bảo hiểmthì nhà bảo hiểm không thực hiện bồi thường cho một số trường hợp bất khảkháng như: hàng hóa đi vào vùng chiến sự, gặp cướp biển…Điều đó làm chonhà nhập khẩu gặp khó khăn thậm chí không nhận được hàng, người xuất khẩu
vì thế cũng không được chấp nhận thanh toán
Trang 34Chương 2 : Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình 2.1 Khái quát về Chi nhánh NHCT Ba Đình
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Ba Đình – tiền thân là chiđiếm Ngân hàng Đội Cấn – được thành lập từ năm 1958, có trụ sở tại Phố ĐộiCấn, Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội, (Nay là 142 phố Đội Cấn) Lúc đầubiên chế cán bộ làm việc của Chi điếm chỉ có 18 người, trong đó có 2 đồng chí
là Lãnh đạo, còn lại là cán bộ nghiệp vụ, hành chính Bộ máy hoạt động gồm cóBan Lãnh đạo, Phòng tín dụng, Phòng kế toán giao dịch, Phòng hành chính và 2đại lý tiết kiệm số 6 và số 8 đặt tại phố Quán Thánh và phố Đội Cấn Ngay từnhững ngày đầu thành lập dưới sự lãnh đạo của Ngân hàng Nhà nước, Ngânhàng Thành phố, Chi điếm Ngân hàng Đội Cấn đã triển khai thực hiện 2 nhiệm
vụ vừa cấp bách vừa quan trọng, đó là vừa xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, vừacủng cố tổ chức và hoạt động của bộ máy Ngân hàng nhằm thực hiện nhiệm vụkhôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế Thủ đô trong các giai đoạn (Từ 1958đến nay) Mục tiêu hoạt động của Chi điếm lúc đó không mang tính lợi nhuận
mà chủ yếu mang tính bao cấp hoạt động theo mô hình quản lý một cấp
Ngày 01/07/1988, thực hiện Nghị định 53 của Hội đồng Bộ trưởng (Nay
là Chính phủ) ngành Ngân hàng chuyển hoạt động từ cơ chế quản lý hành chính,
kế hoạch hóa sang hạch toán kinh tế kinh doanh theo mô hình quản lý Ngânhàng 2 cấp (NHNN – NHTM) lấy lợi nhuận làm mục tiêu trong hoạt động kinhdoanh, các Ngân hàng Quốc doanh lần lượt ra đời Trong bối cảnh chuyển đổi
đó, Chi điếm Ngân hàng Ba Đình cũng đã được chuyển đổi thành một chi nhánhNHTM Quốc doanh với tên gọi là Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình(NHCT BD) trực thuộc Ngân hàng Tp Hà Nội Hoạt động của Chi nhánh mangtính kinh doanh thực sự thông qua việc đổi mới phong cách giao tiếp, phục vụ,lấy lợi nhuận làm mục tiêu kinh doanh, cùng với việc đa dạng hóa các loại hìnhkinh doanh dịch vụ, khai thác và mở rộng thị trường, đưa thêm các sản phẩm
Trang 35dịch vụ mới vào kinh doanh Lúc này NHCT BD hoạt đông theo mô hình quản
lý NHCT 3 cấp (Trung ương – Thành phố - Quận ) Với mô hình quản lý này,trong những năm thành lập (7/88 – 3/93) hoạt động kinh doanh của NHCT kémhiệu quả, không phát huy được ưu thế của một Chi nhánh NHTM trên địa bànThủ đô, do hoạt động kinh doanh phụ thuộc hoàn toàn vào NHCT Thành phố
Hà Nội,cùng với những khó khăn thử thách của những năm đầu chuyển đổi môhình kinh tế theo đường lối đổi mới của Đảng trước những khó khăn vướngmắc từ mô hình tổ chức quản lý cũng như từ cơ chế, bắt đầu từ 01/04/1993,NHCT VN thực hiện thí điểm mô hình tổ chức NHCT hai cấp (Trung ương –Quận ), cùng với việc đổi mới và tăng cường công tác cán bộ Ngay sau khinâng cấp quản lý cùng với việc đổi mới cơ chế hoạt động, tăng cường đội ngũcán bộ trẻ có năng lực thì hoạt động kinh doanh của NHCT BD đã có sức bậtmới, hoạt động kinh doanh theo mô hình một NHTM đa năng, có đầy đủ nănglực và uy tín để tham gia cạnh tranh một cách tích cực trên thị trường, nhanhchóng tiếp cận thị trường và không ngừng tự đổi mới, hoàn thiện mình để thíchnghi với môi trường kinh doanh trong cơ chế thị trường
Kể từ khi chuyển đổi mô hình quản lý mới cho đến nay, hoạt động kinhdoanh của Chi nhánh NHCT Khu vực Ba Đình không ngừng phát triển theođịnh hướng “ Ổn định – An toàn – Hiệu quả và Phát triển ” cả về quy mô tốc độtăng trưởng, địa bàn hoạt động, cũng như về cơ cấu mạng lưới, tổ chức bộ máy.Cho đến nay, bộ máy hoạt động của Chi nhánh NHCT Khu vực Ba Đình có trên
300 cán bộ công nhân viên (Trong đó 85% có trình độ Đại học và trên Đại học,10% có trình độ trung cấp và đang đào tạo ĐH, còn lại là lao động giản đơn )với 12 phòng nghiệp vụ, 1 phòng giao dịch, 11 quỹ tiết kiệm, hoạt động trênmột địa bàn rộng bao gồm các quận: Ba Đình – Hoàn Kiếm – Tây Hồ Dámnghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và quyết tâm đổi mới, nhờ đó mà hoạtđộng của NHCT BD trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng kể,trở thành một trong những Chi nhánh dẫn đầu của hệ thống NHCT Việt Nam,
có nhiều những đóng góp quan trọng cho hệ thống NHCT, nhiều cán bộ lãnh
Trang 36đạo của Chi nhánh đã trưởng thành đi lên, giữ những vị trí lãnh đạo chủ chốtcủa NHCT Việt Nam hiện nay Từ năm 1993 đến nay, NHCT Ba Đình liên tụcđược NHCT công nhận là một trong những Chi nhánh xuất sắc trong hệ thốngNHCT Uy tín của Chi nhánh NHCT BD với Xã hội, với ngành và các địaphương luôn được trân trọng, là địa chỉ đáng tin cậy của mọi khách hàng.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh NHCT Ba Đình
+ Căn cứ theo điều lệ Tổ chức và hoạt động của NHCT VN được Thốngđốc Ngân hàng Nhà nước phê chuẩn tại quyết định so 1325/QD - NHNN ngày28/11/2002
+ Căn cứ vào Quyết định số 090/QD – NHCT ngày 04/06/2003 của Hộiđồng quản trị về việc “ Phê duyệt mô hình tổ chức kinh doanh và mô hình hiệnđại hóa Chi nhánh ”
Thì cơ cấu tổ chức của Chi nhánh NHCT Ba Đình như sau :
+ Ban giám đốc : gồm một Giám đốc phụ trách các vấn đề chung và 4Phó giám đốc phụ trách riêng từng phòng ban và các vấn đề cụ thể
+ Các phòng ban nghiệp vụ : Gồm 12 phòng nghiệp vụ và các phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch trên địa bàn Quận Ba Đình
1.Phòng Kế Toán 7.Phòng Tiền Tệ Kho Quỹ
2.Phòng Thanh Toán XNK 8.Phòng Thông Tin Điện Toán
3.Phòng Khách Hàng Số 1 9.Phòng Tổ Chức Hành Chính
4.Phòng Khach Hàng Số 2 10.Phòng Kiểm Tra, Ksoát Nội Bộ 5.Phòng Khách Hàng Cá Nhân 11.Phòng Giao Dịch Tây Hồ
6.Phòng Tổng Hợp Tiếp Thị 12.Phòng Quản Lý RR&Nợ Có VĐ
2.1.3 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh qua các năm của Chi
Trang 37nhánh NHCT Ba Đình
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
Chi nhánh luôn xác định công tác huy động vốn là nhiệm vụ quan trọng
và tập trung mọi nguồn lực để tăng trưởng nguồn vốn huy động Trong nhữngnăm qua công tác huy động vốn của Chi nhánh luôn đứng trước nhiều khó khăn
do sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các NHTM cổ phần, sự tác động ngược của chínhsách thắt chặt tín dụng và sàng lọc khách hàng, sự thay đổi cơ chế, chính sáchcủa Chính phủ đối với một số ngành, tổ chức kinh doanh, xã hội Tuy nhiên,nhờ các biện pháp tích cực như đổi mới, chuẩn hoá phong cách giao dịch, đưa ranhiều hình thức huy động vốn hấp dẫn, đa dạng, chủ động tìm kiếm nguồn vốn
và thu hút nguồn tiền từ các dự án, duy trì mối quan hệ tốt đối với các kháchhàng truyền thống, tích cực thu hút thêm lượng khách hàng mở tài khoản tiềngửi bằng các chính sách lãi suất linh hoạt
Trong giai đoạn từ năm 2005 tới năm 2007 tổng nguồn vốn huy động củaNHCT BĐ liên tục tăng Điều ấy được thể hiện rõ qua bảng số liệu sau
Bảng 1 : Nguồn vốn huy động của NHCT BĐ từ năm 2005 đến 2007
Đơn vị : tỷ đồngn v : t ị : tỷ đồng ỷ đồng đồngng
Năm Nguồn vốn huy động Tăng so với năm kế tiếp So với kế hoạch
Tuyệt đối Tương đối (%)
đã tăng tới 14% chứng tỏ hoạt động huy động vốn của NHCT BĐ ngày càng tỏ
ra có hiệu quả Uy tín của Ngân hàng ngày càng cao trong con mắt của kháchhàng
2.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn
Trang 38Trên cơ sở tăng trưởng nguồn vốn huy động, hoạt động cho vay và đầu tưkinh doanh của NHCT BĐ liên tục phát triển qua các năm Tổng dư nợ đầu tư
và cho vay đến năm 2007 đạt 4902 tỷ đồng, so với kế hoạch năm đạt 186 %, sovới năm truớc tăng 55,37 %
Bảng 2 : Cơ cấu dư nợ cho vay của NHCT BĐ
Đơn vị : tỷ đồngn v : t ị : tỷ đồng ỷ đồng đồngng
Năm Tổng dư
nợ
Dư nợ NH
Dư nợ trung
và dài hạn
Dư nợ VNĐ
Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn của Chi nhánh có xu hướng tăng dần.Năm 2005 chiếm 30%, năm 2006 chiếm 31,8%, năm 2007 chiếm 32,7% Điềunày cho thấy nhu cầu của khách hàng về các khoản vay trung và dài hạn ngàycàng cao, và sự đáp ứng nhu cầu đó của Chi nhánh ngày càng tốt Các khoảnvay trung và dài hạn có độ rủi ro đối với khách hàng do đó xu hướng tăng cáckhoản vay này thể hiện mối quan hệ làm ăn khăng khít giữa Chi nhánh vớikhách hàng, uy tín của Chi nhánh ngày càng tăng cao
Ngoài ra chất lượng tín dụng cũng được Ngân hàng chú trọng và nângcao, thể hiện qua bảng sau :
Bảng 3 : Tình hình nợ quá hạn của NHCT BĐ từ năm 2005 đến 2007
Đơn vị : tỷ đồngn v : t ị : tỷ đồng ỷ đồng đồngng
Trang 39Năm Tổng dư nợ Nợ quá hạn Tỷ trọng nợ quá hạn
Đạt được kết quả này là do Chi nhánh đã chủ trương đầu tư tín dụng hợp
lý như : lựa chọn khách hàng làm ăn có hiệu quả, có tình hình tài chính lànhmạnh, có tín nhiệm đối với Ngân hàng, nâng cao điều kiện tín dụng, chấm dứtquan hệ với khách hàng có tình hình tài chính yếu kém, sản xuất kinh doanhthua lỗ
2.1.3.3 Hoạt động thanh toán
a Hoạt động thanh toán trong nước
Trong giai đoạn nghiên cứu, nhất là năm 2005, NHCT VN chuyển sanggiao dịch trên hệ thống INCAS, Chi nhánh đã giữ và thu hút thêm được nhiềukhách hàng đến giao dịch, mở tài khoản và ngày càng có xu hướng thu hẹpđược việc thanh toán bằng tiền mặt Doanh số thanh toán của Chi nhánh qua cácnăm như bảng sau:
Bảng 4 : Doanh số thanh toán trong nước của NHCT BĐ từ năm 2005 đến
năm 2007
n v : t ngĐơn vị : tỷ đồng ị : tỷ đồng ỷ đồng đồng
Năm Doanh số TT Thanh toán dùng TM Thanh toán ko dùng TM
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng
Trang 40b Hoạt động thanh toán quốc tế
Để nâng cao tỷ trọng thu dịch vụ phí và cung cấp các sản phẩm dịch vụ
đa dạng cho khách hàng, nâng cao sức cạnh tranh, Chi nhánh đã mở rộng vàphát triển các hoạt động mua bán ngoại tệ, chi trả kiều hối, phát hành và thanhtoán L/C Do đó doanh thu từ hoạt động TTQT qua các năm đều tăng, điều nàythể hiện rõ qua bảng sau
Bảng 5 : Thu từ hoạt động TTQT của NHCT BĐ từ năm 2005 đến 2007
Bảng 6 : Các chỉ tiêu TTQT của NHCT BĐ từ năm 2005 đến năm 2007
n v : 1000 USDĐơn vị : tỷ đồng ị : tỷ đồng