1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của tỉ lệ cho ăn khác nhau đến chất lượng nước và hiệu quả sử dụng thức ăn của tôm sú (Penaeus monodon) nuôi kết hợp với rong nho (Caulerpa lentillifera)

5 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 184,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tốc độ tăng trưởng, năng suất, hệ số tiêu tốn thức ăn, màu sắc của tôm sau khi luộc chín và thành phần hóa học của thịt tôm ở nghiệm thức nuôi kết hợp cho ăn 50% nhu cầu đạt kết quả tố[r]

Trang 1

Nguyễn Văn Toản, 2011 Điều tiết quá trình sinh tổng

hợp etylen nhằm kéo dài thời gian chín sau thu hoạch

của quả chuối tiêu Luận án tiến sĩ kỹ thuật, Đà Nẵng

Nguyễn Văn Toản, Tống Thị Quỳnh Anh, Trần Thanh

Quỳnh Anh, Nguyễn Thị Diễm Hương, Nguyễn

Văn Huế, 2017 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ

thấp đến tỷ lệ nảy mầm và chất lượng củ gừng tươi

(Zingiber-Officinaleroscoe) sau thu hoạch Tạp chí

Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Tháng 3/2017,

62-67

Abubacker ATN., 2011 Ginger: a rhizome with high

export value Department of Economics Facts For

You pp 25.

Barker, L.R., 2002 Postharvest technical training

handbook Industries Queensland Department of

primary Industries BRISBANE QLD

Chung H.S and Kwang-Deog Moon., 2011 Sprouting

and Quality Control of Fresh Ginger Rhizomes

by Modified Atmosphere Packaging with Film

Perforation Food science and Biotechnology, 20(3):

621-627

Ding Zhanshengs., Shiping Tian., Yousheng Wang., Bogiang Li., Zhulong Chan., Jin Han, Yong Xu., 2006 Physiological response of loquat fruit

to different storage conditions and its storability

Postharvest Biology and Technology, 41: 143-150

Jeong M.C., Bae Nahmgung., Dong Man Kim., 1999

Effects of film thichkness and moisture absorbing material on Ginger quality during MA storage

Korean J Postharvest SCL technol, 6(3): 264-269.

Policegoudra R.S and AradhyaS.M., 2007

Biochemical changes and antioxidant activity of mango ginger (Curcuma amada Roxb.) rhizomes during postharvest storage at differenttemperatures

Postharvest Biology and Technology, 46: 189-194.

Effects of different thicknesses of LDPE (low density polyethylene)

films on storage time of fresh ginger (Zingiber officinale Roscoe)

after harvesting under low temperature

Nguyen Van Toan, Ho Dac Nhan Abstract

This paper indicated the effects of LDPE packaging at different thicknesses (30 μm, 40 μm, 60 μm and without packaging

as control) under the low temperature (12oC) on storage time of the fresh ginger after harvesting The results showed that the ginger wrapped by LDPE film at 40 μm and stored at 12oC created a suitable modified atmosphere packaging (MAP) in order to inhibit respiration rate, to maintain quality, and to extend the shelf life of ginger up to 100 days,

20 days longer than the control Besides, the study also determined some quality parameters of ginger after 100 days (wrapped with LDPE at 40 μm, the storage temperature at 12oC, the humidity at 80 - 85%): total sugar content 3.48%; the content of dissolved dry matter 5.76%, firmness 57.45 N, and respiration rate 5.03 (ml CO2.kg-1.h-1)

Keywords: Ginger, LDPE, thickness packaging, low temperature

Ngày nhận bài: 5/9/2017

1 Khoa Thủy Sản, Đại Học Cần Thơ

ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ LỆ CHO ĂN KHÁC NHAU ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC

VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA TÔM SÚ (Penaeus monodon)

NUÔI KẾT HỢP VỚI RONG NHO (Caulerpa lentillifera)

Nguyễn Thị Ngọc Anh1, Phạm Thị Tuyết Ngân1

TÓM TẮT

Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra tỉ lệ cho ăn tối ưu trong nuôi kết hợp tôm sú (Penaeus monodon) với rong nho (Caulerpa lentillifera) gồm 4 nghiệm thức, 3 lần lặp lại Nghiệm thức đối chứng, tôm nuôi đơn và được cho

ăn thức ăn thương mại thỏa mãn, ba nghiệm thức nuôi kết hợp tôm-rong nho được cho ăn với các tỉ lệ khác nhau: 75%, 50% và 25% lượng thức ăn đối chứng Tôm sú có khối lượng trung bình 0,39 - 0,42 g được nuôi trong bể nhựa

200 L với mật độ 100 con/m3, độ mặn 30‰ Sau 60 ngày nuôi, các nghiệm thức nuôi kết hợp có chất lượng nước (TAN, NO2- và PO43-) tốt hơn và tỉ lệ sống (88,3 - 96,7%) cao hơn nghiệm thức nuôi đơn (78,3%) Tốc độ tăng trưởng, năng suất, hệ số tiêu tốn thức ăn, màu sắc của tôm sau khi luộc chín và thành phần hóa học của thịt tôm ở nghiệm thức nuôi kết hợp cho ăn 50% nhu cầu đạt kết quả tốt hơn so với nghiệm thức đối chứng, tương ứng với chi phí thức

ăn giảm đến 60,5% có thể được xem là tỉ lệ cho ăn thích hợp

Từ khóa: Penaneus monodon, Caulerpa lentillifera, chất lượng nước, tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Tôm sú (Penaeus monodon) là đối tượng nuôi

chủ lực ở nước ta nói chung và Đồng bằng sông Cửu

Long (ĐBSCL) nói riêng với nhiều mô hình nuôi

khác nhau như thâm canh, bán thâm canh, quảng

canh cải tiến,… Tuy nhiên, sự thâm canh hóa nghề

nuôi tôm sú đang gặp nhiều trở ngại như ô nhiễm

môi trường, giá thức ăn tăng cao, dịch bệnh gây thiệt

hại lớn cho người nuôi tôm Nguyễn Thanh Long và

cộng tác viên (2010) phân tích kỹ thuật mô hình nuôi

tôm sú ở tỉnh Sóc Trăng cho thấy phần lớn đạm (N)

và lân (P) thải ra môi trường thì tích lũy trong bùn

đáy ao và kế đến là trong nước và ước tính khi sản

xuất ra 1 tấn tôm sú thì thải ra môi trường khoảng

88 kg N và 30 kg P ở mô hình nuôi thâm canh và

68 kg N và 25 kg P ở mô hình nuôi bán thâm canh

điều này dễ dẫn đến ô nhiễm nguồn nước ở vùng

nuôi và chi phí thức ăn trong nuôi tôm chiếm hơn

50% tổng chi phí sản suất Để khắc phục vấn đề này,

mô hình nuôi kết hợp thủy sản với rong biển được

xem có tính khả thi cao đồng thời giúp giảm được

chi phí thức ăn (FAO, 2003; Nguyễn Thị Ngọc Anh

và ctv., 2014) Rong nho (Caulerpa lentillifera) thuộc

ngành rong lục, có giá trị dinh dưỡng cao rất tốt cho

sức khoẻ con người Bên cạnh đó, rong nho còn có

vai trò lọc sinh học giúp giúp xử lý môi trường nuôi

thủy sản (FAO, 2003; Nguyễn Hữu Đại và ctv., 2006)

Vì thế, nghiên cứu nhằm xác định được tỉ lệ giảm

lượng thức ăn viên thích hợp trong nuôi kết hợp tôm

sú với rong nho ở điều kiện trong bể làm cơ sở cho

các nghiên cứu tiếp theo góp phần phát triển nghề

nuôi tôm bền vững

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Rong nho giống được mua ở Trung Tâm

Khuyến Nông, tỉnh Ninh Thuận Chọn rong nho

có tản to, màu xanh tươi và không có rong tạp bám

Tôm sú giai đoạn PL15 được mua từ trại giống Cần

3 tuần khi tôm đạt kích cỡ khoảng 0,4 g/con để

bố trí thí nghiệm Nước ót có độ mặn 90‰ thu từ

ruộng muối Bạc Liêu, được xử lý 30 ppm clorine,

sục khí 3 - 4 ngày, pha với nước máy để đạt độ mặn

thí nghiệm 30‰

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm nuôi kết hợp tôm sú với rong nho

gồm 4 nghiệm thức, được bố trí hoàn toàn ngẫu

nhiên và được lặp lại 3 lần Nghiệm thức đối chứng

là nuôi tôm đơn và được cho ăn thỏa mãn (% khối lượng thân/ngày) Ba nghiệm thức còn lại, tôm sú được nuôi kết hợp với rong nho và lượng thức ăn được cho ăn theo tỉ lệ giảm dần là 75%, 50% và 25% lượng thức ăn của nghiệm thức đối chứng Thời gian nuôi là 60 ngày

- Nghiệm thức 1: Đối chứng (tôm nuôi đơn_cho

ăn thỏa mãn theo % khối lượng thân)

- Nghiệm thức 2: Tôm + rong nho_cho ăn 75% đối chứng (RN + 75% ĐC)

- Nghiệm thức 3: Tôm + rong nho_cho ăn 50% đối chứng (RN + 50% ĐC)

- Nghiệm thức 4: Tôm + rong nho _cho ăn 25% đối chứng (RN + 25% ĐC)

2.2.2 Hệ thống thí nghiệm và quản lý

- Hệ thống thí nghiệm được bố tại trại rong biển phía trên có mái tole sáng, bể nuôi được sục khí liên tục Tôm sú giống có khối lượng trung bình 0,39-0,42 g, được nuôi trong bể 250 L, thể tích nước 200

L, ở độ mặn 30‰ (cùng độ mặn thu với rong nho)

được rãi đều trong khay (45 cm ˟ 25 cm ˟ 15 cm) với

nền đáy cát (dày 5 cm) Sau đó đặt khay rong nho trên đáy bể nuôi

- Tôm được cho ăn 4 lần/ngày vào 7 h, 11 h, 15 h

và 19 h, sử dụng thức ăn thương mại (GROWBEST) dùng cho tôm sú theo từng giai đoạn với hàm lượng protein 40% Bể nuôi được thay nước 2 tuần/lần, khoảng 30% lượng nước trong bể nuôi

- Các yếu tố môi trường trong bể nuôi gồm nhiệt

độ và pH được đo bằng máy đo pH-nhiệt độ 3 ngày/ lần vào lúc 7 h và 14 h Độ kiềm được đo 1 lần/tuần bằng test sera của Đức sản xuất Hàm lượng TAN (NH4 + /NH3), NO2- và PO43- được xác định 15 ngày/ lần theo phương pháp APHA (1998)

2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá tôm thí nghiệm

- Tăng trưởng về khối lượng của tôm được xác định 15 ngày/lần, mỗi lần thu ngẫu nhiên 10 con/

bể để điều chỉnh lượng thức ăn Khi kết thúc thí nghiệm, số tôm còn lại trong bể được cân từng cá thể để tính khối lượng cuối và tỉ lệ sống

Tỉ lệ sống (%) = (số tôm còn lại/số tôm ban đầu)

˟ 100

Tăng trưởng theo ngày (DWG, g/ngày) = [Khối lượng cuối (Wc) – Khối lượng đầu (Wđ)]/Thời gian nuôi

Tăng trưởng đặc biệt (SGR, %/ngày) = [100 ˟

(LnWc – LnWđ)]/Thời gian nuôi

Trang 3

Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) = Tổng lượng thức

ăn sử dụng/Tăng trọng

Chi phí thức ăn cho tôm tăng trọng (đồng/kg) =

Giá thức ăn ˟ FCR

- Chất lượng tôm thí nghiệm: Màu sắc của tôm

được xác định khi kết thúc thí nghiệm bằng phương

pháp cảm quan Bắt ngẫu nhiên 3 - 4 con tôm ở mỗi

nghiệm thức, luộc trong nước 3 phút Mẫu tôm được

chụp ảnh để so sánh màu sắc Thành phần hóa học

của thịt tôm được gởi phân tích các chỉ tiêu protein,

lipid và tro theo phương pháp AOAC (2000)

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được tính giá trị trung bình và độ

lệch chuẩn bằng chương trình Excel và phân tích

ANOVA một nhân tố để tìm sự khác biệt giữa các

trung bình nghiệm thức bằng phép thử Tukey ở

mức ý nghĩa (p<0,05) sử dụng phần mềm SPSS

version 16.0

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu nuôi kết hợp tôm sú - rong nho được

thực hiện từ 27/06/2016 đến 27/08/2017 tại Khoa

Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Các yếu tố môi trường

Các yếu tố môi trường được trình bày trong bảng

1 Ở điều kiện nuôi trong bể, nhiệt độ, pH và độ kiềm giữa các nghiệm thức không khác nhau nhiều, dao động trung bình lần lượt là 28,8 - 31,9oC; 7,9 - 8,3

khoảng thích hợp cho tôm sú sinh trưởng (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009) và rong

nho phát triển tốt (Nguyễn Hữu Đại và ctv., 2006).

Hàm lượng TAN, NO2- và PO43- trung bình là 0,14

- 0,75 mg/L; 0,21 - 1,21 mg/L và 0,24 - 0,67 mg/L, theo thứ tự Nghiệm thức nuôi đơn (đối chứng) có giá trị cao nhất và có sự khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức nuôi kết hợp (p<0,05) Qua đó cho thấy rong nho khả năng hấp thu các hợp chất đạm

và lân trong bể nuôi giúp chất lượng nước tốt hơn so với nuôi đơn Ngoài ra, hàm lượng các hợp chất này

có khuynh hướng giảm theo sự giảm dần lượng thức

ăn cung cấp cho tôm Kết quả này phù hợp với nhận định của FAO (2003); Nguyễn Hữu Đại và cộng tác viên (2006), rong nho có khả năng hấp thụ N và P từ nước thải nuôi thủy sản, có thể áp dụng như lọc sinh học trong các hệ thống nuôi kết hợp với tôm, cá để cải thiện chất lượng nước

3.2 Tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm sú sau 60

ngày nuôi

Sau 60 ngày nuôi, tỉ lệ sống của tôm dao động từ

78,3 - 96,7%, trong đó nghiệm thức đối chứng đạt

thấp nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

so với nghiệm thức RN + 75% ĐC và RN + 50% ĐC Tuy nhiên, nghiệm thức RN + 25% ĐC không khác biệt thông kê (p>0,05) so với nghiệm thức đối chứng (Bảng 2)

Bảng 1 Các yếu tố môi trường

Bảng 2 Tăng trưởng của tôm sú sau 60 ngày nuôi

Ghi chú: Các giá trị trung bình trên cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Ghi chú: Các giá trị trung bình trên cùng một cột có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05); NT1: ĐC; NT2: RN + 75% ĐC; NT3: RN + 50% ĐC; NT4: RN + 25% ĐC.

Nghiệm

3-(mg/L)

NT1 28,9 ± 1,3 31,1 ± 2,1 7,9 ± 0,1 8,1 ± 0,2 125 ± 12 0,75 ± 0,41c 1,21 ± 0,56b 0,67 ± 0,32c NT2 29,4 ± 1,2 31,9 ± 1,5 7,9 ± 0,1 8,3 ± 0,2 116 ± 11 0,29 ± 0,16b 0,35 ± 0,14a 0,43 ± 0,10b NT3 29,0 ± 1,2 31,0 ± 1,6 8,0 ± 0,1 8,3 ± 0,2 117 ± 12 0,22 ± 0,10ab 0,28 ± 0,14a 0,30 ± 0,13a NT4 28,8 ± 1,2 30,7 ± 1,5 8,0 ± 0,1 8,3 ± 0,1 120 ± 9 0,14 ± 0,08a 0,21 ± 0,12a 0,24 ± 0,12a

Khối lượng cuối (g) 4,13 ± 0,73b 5,27 ± 0,76c 5,85 ± 0,71d 3,56 ± 0,67a DWG_KL (g/ngày) 0,062 ± 0,012a 0,081 ± 0,013b 0,091 ± 0,012c 0,052 ± 0,011a SGR_KL (%/ngày) 3,84 ± 0,31b 4,27 ± 0,24c 4,50 ± 0,21d 3,55 ± 0,32a

Trang 4

Khối lượng cuối của tôm khác nhau có ý nghĩa

thống kê (p<0,05) giữa các nghiệm thức, dao động

trung bình từ 3,56 - 5,58 g/con Tốc độ tăng trưởng

tuyệt đối (DWG) và tốc độ tăng trưởng đặc biệt

(SGR) của tôm dao động trung bình từ 0,052 - 0,091

g/ngày và 3,55 - 4,5%/ngày, trong đó đạt cao nhất ở

nghiệm thức RN + 50% ĐC và thấp nhất ở thức RN

+ 25% ĐC Tốc độ tăng trưởng của tôm có thể được

sắp xếp theo thứ tự giảm dần như sau: RN + 50% ĐC

> RN + 75% ĐC > ĐC > RN + 25% ĐC Tuy nhiên,

kết quả thống kê cho thấy nghiệm thức ĐC và RN

+ 25% ĐC không khác biệt nhau về mặt thống kê (p>0,05)

3.3 Năng suất và hiệu quả sử dụng thức ăn

Bảng 3 cho thấy năng suất của tôm sú trung bình đạt

và cao nhất là nghiệm thức RN + 50% ĐC (870,6 g/m3) Kết quả thống kê cho thấy nghiệm thức RN + 50% ĐC

và RN + 75% ĐC không khác biệt thống kê (p>0,05) nhưng cao hơn có ý nghĩa (p<0,05) so với nghiệm thức ĐC và RN + 25% ĐC

Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) dao động trung

bình 0,75 - 1,97, trong đó nghiệm thức nuôi đơn

(ĐC) có giá trị cao nhất và khác biệt có nghĩa thống

kê (p<0,05) so với các nghiệm thức nuôi kết hợp

(Bảng 3) FCR giảm theo tỉ lệ giảm thức ăn cho tôm,

tuy nhiên, FCR ở nghiệm thức RN + 50% ĐC và RN

+ 25% ĐC không khác biệt thống kê (p>0,05)

Chi phí thức ăn thương mại cho 1 kg tôm tăng

trọng có cùng khuynh hướng với FCR Nghiệm thức

ĐC (nuôi đơn cho ăn thỏa mãn) có chi phí thức ăn

cao nhất 71.001 đ/kg, trong khi các nghiệm thức

nuôi kết hợp tôm - rong nho với chế độ giảm lượng

thức ăn cung cấp thì chi phí thức ăn cho tôm tăng

trọng chỉ từ 27.090 đến 42.743 đ/kg tương ứng với

mức giảm từ 39,8% đến 61,8% so với nghiệm thức

nuôi đơn (Bảng 3) Nghiệm thức RN + 25% ĐC có

chi phí thức ăn giảm nhiều nhất nhưng tôm có khối

lượng nhỏ nhất nên cần thời gian nuôi dài hơn sẽ

làm tăng chi phí quản lý

Một số nghiên cứu cho biết trong hệ thống nuôi

kết hợp tôm, cá và rong biển, các chất đạm từ nước

thải của đối tượng nuôi được rong biển hấp thụ, đồng

thời rong biển cũng được dùng làm thức ăn cho tôm,

cá giúp cân bằng hệ sinh thái và giảm chi phí thức

ăn (FAO, 2003; Kang et al., 2011) Kết quả tương

tự được báo cáo bởi Cruz - Suarez và cộng tác viên

(2008), nuôi kết hợp tôm thẻ chân trắng Litopenaeus

vannamei với loài rong bún Ulva clathrata, đã cải

thiện được tốc độ tăng trưởng của tôm đến 60% và

lượng thức ăn công nghiệp sử dụng ít hơn từ 10 đến

45% so với đối chứng nuôi đơn Tương tự, tôm thẻ

chân trắng nuôi kết hợp với rong bún (Enteromorpha sp.) và rong mền (Cladophoraceae) với mức cho ăn

50% nhu cầu có tốc độ tăng trưởng tương đương so với tôm nuôi đơn, chi phí thức ăn có thể được giảm đến 53% và chất lượng nước được cải thiện (Nguyễn

Thị Ngọc Anh và ctv., 2014)

3.4 Thành phần hóa học của thịt tôm sú và màu sắc tôm sau 60 ngày nuôi

Bảng 4 cho thấy ẩm độ, protein và tro của thịt tôm sú ở các nghiệm thức dao động lần lượt là 75,8 - 76,88%; 15,49 - 16,67% và 1,76 - 2,11% khối lượng tươi, trong đó các nghiệm thức nuôi kết hợp

có hàm lượng protein và tro khá cao hơn so với nghiệm thức đối chứng nuôi đơn, tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Hàm lượng lipid của thịt tôm dao động trung bình 0,44 - 0,59%; trong đó nghiệm thức đối chứng

có giá trị cao nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với nghiệm thức RN + 25% ĐC Ngoài

ra, hàm lượng lipid giảm theo sự giảm lượng thức

ăn cung cấp cho tôm với giá trị thấp nhất là nghiệm thức RN + 25% ĐC Điều này cho thấy khi nuôi kết hợp tôm sú với rong nho và cho ăn 75%, 50% và 25%

so với đối chứng không những làm tăng hàm lượng protein và tro trong thịt tôm mà còn giúp tôm tăng trưởng rất tốt ở nghiệm thức cho ăn 50% và 75% Như vậy rong nho có thể là nguồn thức ăn bổ sung tốt cho tôm sú có thể thay thế một phần thức ăn viên đồng thời còn giúp cải thiện môi trường nuôi

Bảng 3 Năng suất, hệ số tiêu tốn thức ăn và chi phí thức ăn của tôm ở 60 ngày nuôi

Ghi chú: Các giá trị trung bình trên cùng một cột có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05); giá thức ăn thương mại (Growbest): 36.000 đ/kg

Nghiệm thức Năng suất (g/m 3 ) thức ăn (FCR) Hệ số tiêu tốn cho tôm tăng trọng Chi phí thức ăn

(đ/kg)

Mức giảm chi phí thức ăn so với đối chứng (%)

-RN + 75% ĐC 770,8 ± 45,2b 1,19 ± 0,04b 42.743 ± 1.611b - 39,8 ± 2,3

RN + 50% ĐC 870,6 ± 16,4b 0,78 ± 0,03a 28.074 ± 1.116a - 60,5 ± 1,6

RN + 25% ĐC 484,0 ± 22,1a 0,75 ± 0,05a 27.090 ± 1.638a - 61,8 ± 2,4

Trang 5

Bảng 4 Thành phần hóa học của thịt tôm sú (% khối lượng tươi)

ĐC RN + 75%ĐC RN + 50%ĐC RN + 25%ĐC

Hình 1 Màu sắc tôm sú thí nghiệm sau khi luộc chín

Ghi chú: Các giá trị trung bình trên cùng một cột có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Hình 1 cho thấy khi tôm được luộc chín, các

nghiệm thức nuôi kết hợp tôm rong nho có màu

cam đậm hơn tôm nuôi đơn Trong đó, tôm có màu

đỏ đậm nhất là ở nghiệm thức cho ăn 75% và 50%,

nghiệm thức nuôi kết hợp cho ăn 25% thì có màu

nhạt hơn hai nghiệm thức này Khi nuôi kết hợp tôm

sú - rong nho và giảm lượng thức ăn giúp cải thiện

màu sắc của tôm đậm hơn

Một số nghiên cứu cho rằng rong biển thuộc ngành

rong lục (Enteromorpha, Cladophora, Caulerpa…) có

giá trị dinh dưỡng cao, giàu các acid amin thiết yếu,

khoáng, vi lượng, chứa nhiều sắc tố gồm fucoxathin,

fucosterol, chlorophyll a, phlorotanin, carotenoid;

đặc biệt chứa hàm lượng astaxanthin rất cao, khi tôm

ăn các loài rong này giúp tôm tăng trưởng tốt hơn và

có màu sắc đậm hơn (Nguyễn Hữu Đại và ctv., 2006;

Banerjee et al., 2009)

IV KẾT LUẬN

Hàm lượng TAN, NO2 - và PO43 - trong các bể nuôi

kết hợp tôm sú (Penaeus monodon) với rong nho

(Caulerpa lentillifera) thấp hơn có ý nghĩa thống kê

so với nuôi đơn Tôm sú nuôi ghép với rong nho cho

ăn 50% nhu cầu có tốc độ tăng trưởng cao hơn có ý

nghĩa so với tôm nuôi đơn cho ăn thỏa mãn, và chi

phí thức ăn viên có thể giảm đến 60,5% được xem

là mức giảm phù hợp giúp rút ngắn thời gian nuôi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Thị Ngọc Anh, Đinh Thị Kim Nhung và Trần

Ngọc Hải, 2014 Hiệu quả sử dụng thức ăn của tôm

thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) trong nuôi

kết hợp với rong bún (Enteromrpha sp.) và rong mền

(Cladophoraceae) Tạp chí Khoa học, Trường Đại học

Cần Thơ, 31b: 98-105.

Nguyễn Hữu Đại, Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Xuân

Vỵ, Phạm Hữu Trí và Nguyễn Thị Lĩnh, 2006

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đối với sự phát triển của rong nho biển

(Caulerpa lentillifera) Tuyển tập nghiên cứu biển,

tập XV, 146-155

Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009 Nguyên

lý và kỹ thuật nuôi tôm sú (Penaeus monodon) Nhà

xuất bản Nông Nghiệp, 203 trang

Nguyễn Thanh Long, Dương Vĩnh Hảo và Lê Xuân Sinh, 2010 Phân tích các khía cạnh kinh tế và kỹ

thuật của mô hình nuôi tôm sú (Penaeus monodon) thâm canh ở tỉnh Sóc Trăng Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, 14: 119-127

APHA, 1998 Standard methods for the examination of

water and wastewater, 19th edition American Public Health Association, Washington D.C

AOAC, 2000 Official Methods of Analysis Association

of Official Analytical Chemists Arlington, 252 pp

Banerjee, K, R Ghosh, S., Homechaudhuri, and A Mitra, 2009 Biochemical Composition of Marine

Macroalgae from Gangetic Delta at the Apex of Bay

of Bengal African Journal of Basic & Applied Sciences

1 (5 - 6): 96-104

Cruz - Suarez, L.E., A A Leon, A Pena - Rodriguez,

G Rodriguez - Pena, B Moll, and D Marie Ricque,

2008 Shrimp and green co - culture to optimize

commercial feed utilization ISNF XIII International Symposium on Nutrition and Feeding in Fish

Florianopolis, June 1 - 5, Brazil

FAO, 2003 A guide to the seaweed industry Fisheries

Technical paper 441

Kang, Y H, S R Park, and I K Chung, 2011

Biofiltration efficiency and biochemical composition

of three seaweed species cultivated in a fish - seaweed

integrated culture Algae 26 (1): 97-108.

RN + 75%ĐC 75,80 ± 0,54a 16,58 ± 0,43a 1,87 ± 0,08a 0,51 ± 0,04ab

RN + 50%ĐC 76,71 ± 0,42a 16,67 ± 0,36a 2,01 ± 0,04a 0,46 ± 0,02ab

Ngày đăng: 30/03/2021, 05:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w