Tuy nhiên, do Nghị định thư này (cùng những quy định pháp luật có liên quan của Việt Nam) đã được phân tích một cách toàn diện và chi tiết trong một dự án của Bộ Tư pháp với sự tài tr[r]
Trang 1BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DI TRÚ PHÁP LUẬT & THỰC TIỄN QUỐC TẾ, KHU VỰC
VÀ QUỐC GIA
(This publication has been produced with the financial
assistance of CIDA/SEARCH)
Trang 2HỘI LUẬT GIA VIỆT NAM
-
BẢO VỆ QUYỀN CỦA
NGƯỜI LAO ĐỘNG DI TRÚ
PHÁP LUẬT & THỰC TIỄN QUỐC TẾ,
KHU VỰC VÀ QUỐC GIA
(SÁCH THAM KHẢO)
NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC
HÀ NỘI - 2008
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tên/cụm từ đầy đủ
ILO Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour
Organization)
IOM Tổ chức Di cư Quốc tế (International
Organization on Migration)
ECOSOC Hội đồng Kinh tế-Xã hội Liên hợp quốc (The UN
Economic and Social Council)
ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á (Association of
Southeast Asian Nations)
XHCN Xã hội Chủ nghĩa UBND Uỷ ban Nhân dân HĐND Hội đồng Nhân dân
Bộ LĐ,TB&XH Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Ấn phẩm này có nguồn gốc là một báo cáo nghiên cứu
được thực hiện bởi một nhóm chuyên gia của Hội Luật gia Việt
Nam, Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội (Bộ LĐ-TB-XH), Bộ
Ngoại giao, Viện Nghiên cứu Quyền con người và Viện Nhà
nước và Pháp luật trực thuộc Học viện Chính trị - Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh Báo cáo này là một trong các kết quả
của dự án nghiên cứu về các quy định pháp luật và các cơ chế
quốc tế, khu vực và quốc gia về bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của người lao động ở nước ngoài của Hội Luật gia Việt
Nam, với sự trợ giúp của CIDA Canađa (tài trợ thông qua
Chương trình Hợp tác về Phát triển con người ở khu vực Đông
Nam Á của Canađa - SEARCH)
Việc nghiên cứu và soạn thảo báo cáo này được tiến hành
từ tháng 10/2007 Từng phần trong bản thảo của báo cáo đã
được trình bày tóm tắt tại Hội thảo về “Bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người lao động ở nước ngoài” do Hội Luật gia
Việt Nam tổ chức tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, Hà Nội, trong
các ngày 11-12/02/2008 và trong Hội thảo tư vấn về bảo vệ và
thúc đẩy các quyền của người lao động ở nước ngoài cũng do
Hội Luật gia Việt Nam tổ chức ở Khách sạn Bảo Sơn, Hà Nội,
trong các ngày 3-4/03/2008 Báo cáo sau đó đã được chỉnh sửa,
bổ sung trên cơ sở tiếp thu những ý kiến góp ý, các quan điểm, ý
tưởng mới của các đại biểu, thông qua các tham luận và quá
trình thảo luận tại hai Hội thảo kể trên
Mục đích của báo cáo cũng như của cả dự án kể trên là
nhằm hỗ trợ các cơ quan nhà nước hữu quan trong việc hoàn thiện cơ chế pháp luật quốc gia cũng như để vận dụng các cơ chế và quy định pháp luật quốc tế và khu vực để bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam ở nước ngoài Xuất phát từ mục đích đó, báo cáo cố gắng đưa ra một cái nhìn toàn diện về hệ thống các quy định pháp luật và cơ chế quốc tế, khu vực về quyền và bảo vệ quyền của người lao động di trú, đồng thời đề cập một cách khái quát về khuôn khổ pháp luật có liên quan đến vấn đề quyền của nhóm xã hội này của Việt Nam và của một số nước tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam
Các đánh giá và khuyến nghị nêu ra trong báo cáo này chỉ
có tính chất tham khảo, cần có sự góp ý, bổ sung của các chuyên gia, đặc biệt là các chuyên gia đang làm việc trên lĩnh vực này ở các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ và đặc biệt là CIDA Canađa và SEARCH đã hỗ trợ Hội Luật gia Việt Nam trong việc thực hiện dự án nói chung, cũng như trong việc nghiên cứu và soạn thảo báo cáo này nói riêng Chúng tôi cũng đánh giá cao những nỗ lực của nhóm nghiên cứu và chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các chuyên gia pháp lý và các quý vị đại biểu tham gia hai Hội thảo kể trên vì đã có những góp ý quý báu vào việc hoàn thành bản báo cáo này
Hà Nội, tháng 5 năm 2008
HỘI LUẬT GIA VIỆT NAM
Trang 4MỤC LỤC
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
LỜI GIỚI THIỆU
PHẦN I GIỚI THIỆU
1.1 Bối cảnh và sự cần thiết của nghiên cứu
1.2 Mục tiêu của nghiên cứu
1.3 Phương pháp và tiến trình nghiên cứu
1.4 Phạm vi và giới hạn của nghiên cứu
1.5 Các khái niệm/định nghĩa quan trọng
PHẦN II QUYỀN VÀ VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI
LAO ĐỘNG DI TRÚ TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
2.1.Khái quát những nỗ lực và văn kiện pháp luật
quốc tế trên lĩnh vực này
2.2 Công ước của Liên hợp quốc về quyền của
người lao động di trú và gia đình họ
2.3 Các tiêu chuẩn của ILO về bảo vệ quyền của
người lao động di trú
2.4 Nhận xét
PHẦN III TÌNH HÌNH NGƯỜI LAO ĐỘNG DI TRÚ VÀ VIỆC BẢO
VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DI TRÚ
Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
3.1.Khái quát về tình hình người lao động di trú ở khu vực Đông Nam Á
3.2 Những thách thức với việc bảo vệ quyền của người lao động di trú trong khu vực ASEAN
3.3 Tình hình tham gia các điều ước quốc tế về quyền của người lao động di trú ở khu vực ASEAN
3.4 Hợp tác bảo vệ người lao động di trú ở khu vực ASEAN
3.5 Hoạt động của các tổ chức công đoàn và tổ chức xã hội ở khu vực ASEAN về bảo vệ người lao động
di trú
3.6 Thỏa thuận song phương giữa các nước trong khu vực liên quan đến bảo vệ người lao động di trú
3.7 Một số kinh nghiệm về xuất khẩu lao động và bảo vệ người lao động di trú của một số nước châu Á
PHẦN IV BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC
Ở NƯỚC NGOÀI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
4.1.Khái quát 4.2.Tổng quan tình hình xuất khẩu lao động và
Trang 5pháp luật về quản lý xuất khẩu lao động của Việt Nam
4.3 Các quy định chủ yếu liên quan đến quyền
của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng
4.4 Nhận xét
PHẦN V CÁC KHUYẾN NGHỊ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC
BẢO VỆ CÁC QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC
Ở NƯỚC NGOÀI
5.1 Khuyến nghị của Cục quản lý lao động ngoài
nước, Bộ LĐ-TB-XH
5.2.Khuyến nghị của Cục Lãnh sự, Bộ ngoại giao
5.3.Khuyến nghị của Tổng Liên đoàn Lao động
Việt Nam
5.4 Khuyến nghị nêu ra tại Hội thảo tư vấn ngày
3-4/3/2008
PHỤ LỤC
I – Khái quát về pháp luật của một số nước và
vùng lãnh thổ ở châu Á tiếp nhận lao động Việt Nam
II- Các điều ước quốc tế quan trọng về quyền của
người lao động di trú
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6
Phần I
GIỚI THIỆU
1.1 Bối cảnh và sự cần thiết của nghiên cứu
Lao động di trú (migrant worker) không phải là vấn đề
mới nảy sinh mà đã diễn ra từ rất lâu trong lịch sử nhân loại
Tuy nhiên, thế kỷ XX là khoảng thời gian chứng kiến sự phát
triển tăng vọt của hiện tượng lao động di trú, và dự đoán vấn đề
này sẽ còn trở lên phổ biến hơn nữa trong thế kỷ XXI
Theo thống kê của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), hiện có
192 triệu người đang làm việc ở nước khác, chiếm 3% tổng dân
tế (ILO) trung bình cứ 25 người lao động trên thế giới thì có một
người là lao động di trú Số lượng người lao động di trú trên thế
giới ngày càng tăng nhanh Nếu như trong giai đoạn 1965 đến
1990 mức tăng này là 2,1%/năm thì hiện tại đã là 2,9% Ở nhiều
nước, xu hướng ra nước ngoài tìm việc làm rất phổ biến, đặc
biệt trong thanh, thiếu niên Theo một số nghiên cứu, 51% thanh
niên các nước A-rập muốn ra nước ngoài tìm việc làm; tỷ lệ này
ở Bosnia là 63%, ở khu vực Viễn Đông của Nga là 60%, ở Pê-ru
1 IOM, Global Statistics 2007
2 Dẫn theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc UNFPA, Tình trạng dân số thế giới năm 2006,
Phụ lục về thanh niên, tr vi
thấy, phần lớn số người lao động di trú là từ các nước đang phát triển hoặc các nước quá độ sang các nước phát triển3 Tuy nhiên, cũng có một phần dòng người lao động di trú từ các nước đang phát triển nghèo tới các nước láng giềng cũng thuộc dạng đang phát triển nhưng giàu có hơn Nói cách khác, đích đến của những người lao động di trú là các nước mà họ tin rằng có nhiều
cơ hội việc làm và cải thiện cuộc sống hơn so với nước mình Cùng với sự ra tăng của làn sóng người lao động di trú, lực lượng này ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở cả nước đến và nước gốc Đối với nước gốc, tiền (thu nhập) gửi về nước của người lao động di trú chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong tổng thu nhập quốc dân của nhiều quốc gia Đơn cử, ở khu vực châu Á, số tiền hàng năm những người lao động di trú gửi về nước hiện lên tới 80 tỷ đô la
Mỹ Ở hai trong số những nước có nhiều lao động di trú nhất của khu vực này là Phi-líp-pin và Sri Lan-ka, tiền gửi về của người lao động di trú chiếm hơn 10% tổng thu nhập quốc dân hàng năm Các nước đến, đặc biệt là những nước có dân số ngày càng già đi, cũng đang được hưởng lợi rất nhiều từ những người lao động di trú, bởi lực lượng lao động này sẵn sàng đảm nhiệm những công việc lương thấp, nguy hiểm, độc hại, những công việc lao động chân tay hay trong các ngành bị coi là ‘thấp kém’ như nông nghiệp, xây dựng mà lao động bản địa không muốn làm, từ đó góp phần duy trì và phát triển nền kinh tế của nước đến
Xét về cách thức, dòng chảy người lao động di trú ra nước ngoài rất đa dạng Một số người đi theo các con đường hợp pháp (ký kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động nước
3 Tài liệu trên, tr.vi
Trang 7ngoài một cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua các công ty xuất
khẩu lao động) nhưng cũng có rất nhiều người khác đi theo con
đường bất hợp pháp (tự mình hoặc trả tiền cho các băng buôn
lậu người để được đưa ra nước ngoài làm việc bằng cách vượt
biên bằng đường bộ, đường không, đường biển; hay giả dạng
khách du lịch, đi thăm nhân thân ở nước đến rồi tìm cách ở
lại ) Trong trường hợp ra đi bằng con đường bất hợp pháp, rủi
ro và nguy cơ với người lao động di trú lớn hơn rất nhiều lần so
với ra đi bằng con đường hợp pháp Đã có vô số câu chuyện đau
lòng về số phận bi thảm của những người lao động ra nước
ngoài làm việc theo con đường bất hợp pháp như bị cướp, giết,
hãm hiếp hoặc bị bỏ mặc ở dọc đường, bị bán vào nhà chứa (với
phụ nữ và trẻ em gái), bị bắt làm việc như nô lệ mà không được
trả công Bên cạnh đó, cũng có vô số câu chuyện cho thấy sự
tháo vát, kiên cường và sức chịu đựng bền bỉ đến kinh ngạc của
những người lao động di trú trên con đường tìm đến ‘vùng đất
khát vọng mãnh liệt và chính đáng của con người về một cuộc
sống tốt đẹp hơn cho bản thân và cho những người thân của họ;
tuy nhiên, ở góc độ pháp lý, đây là hành động bất hợp pháp,
không được khuyến khích, do nó tạo ra gánh nặng với lực lượng
biên phòng, an ninh và nhiều cơ quan khác của các quốc gia
Trong rất nhiều trường hợp, tình trạng di trú lao động bất hợp
pháp thường gắn liền với các băng nhóm tội phạm buôn người
Ngay cả khi ra đi theo con đường hợp pháp, những người
lao động di trú vẫn phải đối mặt với nhiều nguy cơ và rủi ro
Mặc dù lao động di trú có vai trò ngày càng quan trọng và có
4 Tài liệu trên, tr.vi
những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế ở nước đến, nhưng họ vẫn là một trong những nhóm người dễ bị bóc lột và phân biệt đối xử nhất trên thế giới Do vị thế đặc biệt của họ, những người lao động di trú thường phải đối mặt với hàng loạt khó khăn như sự bấp bênh về việc làm, tình trạng thiếu nhà ở, không được chăm sóc y tế, bị loại trừ về giáo dục, bị trục xuất, thậm chí một số trường hợp còn bị bắt giữ, giam cầm một cách bất hợp pháp, bị tra tấn, đối xử tàn ác hay hạ nhục Về vấn đề này, các chuyên gia đã tổng hợp các nguy cơ và khó khăn chính mà người lao động di trú trên thế giới thường phải đối mặt, đó là:
- Không được chủ lao động nước ngoài trả lương hoặc không được trả lương theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng
- Thiếu những bảo đảm về an toàn và vệ sinh lao động dẫn đến tình trạng tỷ lệ bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cao
- Phải sống trong điều kiện thiếu vệ sinh khiến sức khỏe giảm sút và bị mắc bệnh tật
- Bị hành hạ và lạm dụng, kể cả lạm dụng tình dục, đặc biệt là với lao động di trú nữ làm việc trong các ngành nghề nhạy cảm như trong các cơ sở giải trí hoặc giúp việc gia đình
- Phải trả phí tuyển dụng cao cả ở nước mình và nước tiếp nhận, dẫn đến những khoản nợ đáng kể cho người lao động và làm gia đình họ trở lên bần cùng do người lao động không thể gửi thu nhập đầy đủ về cho gia đình
Trang 8- Hợp đồng lao động bị người sử dụng lao động đơn
phương thay đổi nhưng người lao động vẫn phải bồi
thường cho cơ quan tuyển dụng lao động hoặc bị cáo
buộc là "vi phạm hợp đồng lao động" nếu như vì việc
đó mà họ từ bỏ công việc;
- Tình trạng hộ chiếu và giấy tờ tuỳ thân thường bị người
sử dụng lao động hoặc nhân viên của họ thu giữ
- Nguy cơ người lao động bị buộc trở thành người lao
động di trú không có đăng ký, khiến họ dễ trở thành
nạn nhân của bọn buôn bán người
- Bị bỏ rơi khiến cho các quyền chính đáng của họ không
được bảo vệ hoặc bảo vệ không đầy đủ và hiệu quả
Ngoài các yếu tố kể trên, lao động di trú có nghĩa là xa gia
đình, bạn bè, cộng đồng, xa những người ủng hộ, bảo vệ, chỉ
bảo và phải làm quen với những người xa lạ, những phong tục,
tập quán, quy định pháp luật mới mà tiềm ẩn những xung đột,
mâu thuẫn hay nguy cơ mà không phải người lao động nào
cũng có thể biết trước và giải quyết chúng một cách hài hòa, tốt
đẹp Thêm vào đó, do nhiều người lao động di trú khi ra nước
ngoài làm việc đã mang theo hoặc lập gia đình với những người
lao động di trú khác ở nước ngoài nên vấn đề lao động di trú
không chỉ gắn với những người lao động, mà còn gắn với những
thành viên trong gia đình họ Cụ thể, ở đây còn xuất hiện những
vấn đề cần giải quyết trong quan hệ của những thành viên gia
đình họ với cộng đồng bản địa, trên một loạt khía cạnh như giáo
dục, y tế, nhà ở, bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Xét xu thế phát triển, thực trạng và những đóng góp của người lao động di trú cả cho nước gốc và nước tiếp nhận, việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động di trú
và các thành viên trong gia đình họ là rất cần thiết và cấp thiết Kinh nghiệm cho thấy, để giải quyết vấn đề này đòi hỏi những
nỗ lực cả ở ba cấp độ: quốc gia, khu vực và quốc tế, cả trong quan hệ đa phương và song phương Ở hai cấp độ quốc tế và khu vực, trong khoảng hơn nửa thế kỷ qua, đã có hàng trăm văn kiện pháp lý đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề quyền và bảo vệ quyền của người lao động di trú Bên cạnh đó, một số cơ chế mang tầm quốc tế và khu vực cũng đã được các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ quốc tế và khu vực lập ra nhằm thúc đẩy việc thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan
Di cư ra nước ngoài làm việc không phải là hiện tượng mới xuất hiện ở Việt Nam Nhìn lại lịch sử, có thể thấy ngay từ thời Bắc thuộc, ở một số thời điểm, một số thợ thủ công, thầy thuốc, thầy địa lý giỏi của nước ta đã bị bắt sang Trung Quốc làm việc, phục vụ cho các triều đình phương Bắc và một vài người trong số họ đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền kiến trúc và y học của nước này Trong thời kỳ thuộc Pháp, một số công nhân người Việt đã bị đưa sang làm việc ở các đồn điền ở một số nước thuộc địa khác của Pháp Đặc biệt, trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ nhất, hàng chục ngàn lính thợ và lính bộ binh người Việt đã bị chính quyền thuộc địa
ép buộc hoặc bị chiêu mộ gửi về Pháp chiến đấu với quân Đức
để ‘bảo vệ mẫu quốc’ Mặc dù có những khập khiễng nhất định khi đối chiếu với các khái niệm hiện đại về vấn đề này, song ở
Trang 9góc độ nhất định, những sự kiện đã nêu phần nào có thể coi là
hiện tượng lao động di trú5
Thập kỷ 1980-1990 đánh dấu sự bùng nổ trở lại vấn đề
lao động di trú của Việt Nam Theo thống kê, tính chung trong
giai đoạn này có khoảng 300.000 lao động Việt Nam làm việc ở
nước ngoài một cách chính thức (được Nhà nước Việt Nam gửi
đi theo các hiệp định song phương với các nước nhận) Phần lớn
trong số này (244.186 người) làm việc ở các nước thuộc Liên
Xô cũ và một số nước thuộc khối XHCN Đông Âu (CHDC Đức,
Tiệp Khắc, Bun-ga-ri ) với tư cách công nhân kỹ thuật Số ít
hơn làm việc ở một số nước châu Phi (chủ yếu dưới dạng
chuyên gia, khoảng 7.000 người), và một số nước Trung Đông
(chủ yếu là I-rắc, dưới dạng công nhân xây dựng, khoảng 18.000
người)
Sự tan rã của hệ thống XHCN Liên Xô-Đông Âu và chiến
tranh vùng Vịnh lần thứ nhất đầu những năm 1990 đã dẫn tới
việc hồi hương chính thức của hầu hết số lao động di cư ở hai
khu vực này, mặc dù nhiều người làm việc ở các nước Liên
Xô-Đông Âu đã tìm cách để được ở lại để làm việc cho đến hiện
nay Sau những biến cố đó, hoạt động xuất khẩu lao động tiếp
tục được Nhà nước khuyến khích, song hướng tới các thị trường
khác Hiện tại, lao động di trú của Việt Nam (cả hợp pháp và
không hợp pháp) đang có mặt ở khoảng 40 nước trên thế giới,
với tổng số vào khoảng 500.000 người, trong đó đáng kể là ở
Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, một số nước Trung
Đông (Cô-oét, Ả-rập Xê-út, Các Tiểu vương quốc Ả-rập thống
5 Xem Hội Luật gia Việt Nam, Pháp luật quốc gia và quốc tế về bảo vệ quyền của các
nhóm xã hội dễ bị tổn thương, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.201-202
nhất), Liên bang Nga, một số nước châu Âu (chủ yếu là Đông Âu) và một số nước châu Phi Theo kế hoạch của các cơ quan chức năng nhà nước, phấn đấu đến năm 2015 sẽ có khoảng một triệu lao động Việt Nam được gửi đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Điều này có nghĩa là đến thời điểm 2015, sẽ có hơn một triệu người lao động di trú Việt Nam (cả hợp pháp và bất hợp pháp) trên thế giới
Lao động di trú đang đóng góp ngày càng quan trọng vào tổng thu nhập quốc dân của đất nước Đơn cử, vào năm 2006, số tiền người lao động Việt Nam ở nước ngoài gửi về cho gia đình ước tính lên tới 1,6 tỷ đô la Mỹ (trong khi đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm là 10,2 tỷ đô la, ODA theo cam kết của các nhà tài trợ là 4,2 tỷ đô la)6 Tuy nhiên, do số lượng lao động ngày càng tăng và địa bàn làm việc ngày càng mở rộng, công tác quản lý ngày càng trở lên phức tạp, yêu cầu bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam ở nước ngoài ngày càng trở lên cấp thiết
Thấy được vấn đề trên, ngày 29/11/2006, Quốc Hội đã thông qua Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng Luật này quy định về hoạt động đưa người
lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và các tổ chức, cá nhân có liên quan Việc ban hành Luật là một
6 Nguồn: Tham luận của ông Đào Công Hải, Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ
LĐ-TB-XH tại Hội thảo về Pháp luật và cơ chế quốc tế, khu vực và quốc gia về bảo
vệ người lao động ở nước ngoài do Hội Luật gia Việt Nam tổ chức trong các ngày
11-12/01/2008 tại Hà Nội
Trang 10bước tiến rất quan trọng, không chỉ trong việc thúc đẩy hoạt
động xuất khẩu lao động mà còn trong việc bảo vệ các quyền và
lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài Mặc dù vậy, thực tế thời gian qua vẫn diễn ra nhiều
vụ việc vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao
động chuẩn bị ra nước ngoài làm việc hoặc đang làm việc ở
nước ngoài Tình trạng này cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục
nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật trên lĩnh vực xuất
khẩu lao động, đặc biệt là các quy định liên quan đến việc quản
lý, giám sát các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Để làm được
điều đó, việc đầu tiên là phải có những nghiên cứu chuyên sâu
về các quy định pháp luật, cơ chế quốc gia, quốc tế và khu vực
về lao động di trú Tuy trong thời gian qua đã có một số công
trình nghiên cứu về vấn đề trên được tiến hành bởi một số cơ
quan nhà nước, tổ chức xã hội, trường đại học, viện nghiên cứu
của Việt Nam cũng như các tổ chức liên chính phủ, phi chính
phủ quốc tế và các cá nhân song hiện chưa có công trình nào tập
trung phân tích một cách toàn diện các quy định pháp luật, cơ
chế quốc gia, quốc tế và khu vực về lao động di trú Nghiên cứu
này nhằm góp phần khỏa lấp khoảng trống đó
1.2 Mục tiêu của nghiên cứu
Mục tiêu phát triển của nghiên cứu này là nhằm góp phần
bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam theo các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế và khu
vực trên lĩnh vực này
Để thực hiện được mục tiêu phát triển kể trên, những mục tiêu cụ thể của nghiên cứu này là:
- Tập hợp và phân tích những tiêu chuẩn pháp luật và cơ chế quốc tế có liên quan đến vấn đề quyền và bảo vệ quyền của người lao động di trú
- Tập hợp và phân tích những tiêu chuẩn pháp luật và cơ chế khu vực có liên quan đến vấn đề quyền và bảo vệ quyền của người lao động di trú
- Tập hợp và phân tích những tiêu chuẩn pháp luật và cơ chế quốc gia có liên quan đến vấn đề quyền và bảo vệ quyền của người lao động di trú
- Ở mức độ nhất định, so sánh giữa các quy định pháp luật Việt Nam và các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế, khu vực
có liên quan đến vấn đề quyền và bảo vệ quyền của người lao động di trú để đưa ra những khuyến nghị sửa đổi, bổ sung hệ thống quy định pháp luật quốc gia cho phù hợp hơn nữa với các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế và khu vực về vấn đề này, từ đó bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
1.3 Phương pháp và tiến trình nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng để xây dựng báo cáo này là tổng hợp, phân tích và so sánh Báo cáo này chủ yếu được thực hiện trên cơ sở khảo sát và phân tích văn bản
(desk review), tuy nhiên, trong một số nội dung, việc đưa ra các
nhận xét, kết luận và khuyến nghị còn dựa trên một số tình huống thực tế và kết quả của một số nghiên cứu khác có liên