Nghiên cứu đợt 1 tại huyện Lắk được thực hiện theo phương pháp định tính, chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu nhân học (quan sát tham gia, thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu), có sự [r]
Trang 11
VIỆN NGHIÊN CỨU XÃ HỘI, KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG
CÂY CA CAO Ở ĐẮK LẮK VÀ LÂM ĐỒNG:
Những thách thức trong phát triển bền vững ở Việt Nam
Hà Nội, tháng 01 năm 2014
Trang 2Tập thể tác giả
Ths Lê Quang Bình
TS Đào Thế Anh
TS Hoàng Cầm
Cn Hoàng Anh Dũng Ths Nguyễn Trung Dũng
TS Đào Thế Đức Ths Trần Hoài
KS Niê Y Hoàng Ths Phạm Công Nghiệp
TS Vũ Hồng Phong
TS Phạm Quỳnh Phương
TS Lê Kim Sa
TS Mai Thanh Sơn Ths Nguyễn Quang Thương
Trang 33
Danh mục các từ viết tắt
ACDI/VOCA Tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận của Hoa Kỳ
iSEE Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường
Mars Inc Nhà sản xuất Sô cô la lớn của Mỹ
NN & PTNN Nông nghiệp và Phát triển nôn thôn
USAID Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 6
A GIỚI THIỆU CHUNG 11
1 B ỐI CẢNH NGHIÊN CỨU 11
2 M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 13
3 K HUNG PHÂN TÍCH 13
4 Đ ỊA BÀN NGHIÊN CỨU 14
5 P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
B KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
PHẦN I: CÂY CA CAO Ở LĂK 20
1.1 Thực trạng cây cacao ở huyện Lăk 20
1.2 Các rào cản tộc người thiểu số tại chỗ tham gia vào sản xuất ca cao 22
1.2.1 Cây cacao không có lợi thế so sánh 22
1.2.2 “Cacao kén người trồng” - Kỹ thuật chăm sóc, chế biến khó và rủi ro cao 26
1.2.3 Thiếu sự tương thích với văn hóa tộc người 29
1.2.4 Thiếu niềm tin bởi lợi ích chưa được kiểm chứng 33
1.2.5 Địa phương chưa thực sự đầu tư nguồn lực 37
PHẦN II: CÂY CA CAO Ở EA KAR VÀ ĐẠ HUOAI 39
2.1 Thực trạng cây ca cao ở Ea Kar và Đại Huoai 39
2.2 Các nguyên nhân dẫn đến việc suy giảm diện tích cacao 47
2.2.1 Sự yếu thế về hiệu quả kinh tế 47
2.2.2 Là cây trồng mới và thứ yếu trong cơ cấu sản xuất và thu nhập của người dân 49
2.2.3 Ca cao được phát cho các hộ không có đất phù hợp 50
2.2.4 Thiếu cơ chế hỗ trợ nông dân về giá và vốn 51
2.2.5 Chú trọng đến việc mở rộng diện tích và bỏ qua chất lượng chăm sóc 54
2.2.6 Là cây 'nhạy cảm', 'khó tính' và vượt qua tầm kiểm soát về kỹ thuật của người dân 55
2.2.7 Thiếu hiểu biết tâm lý nông dân trong sản xuất nông nghiệp 60
PHẦN III VAI TRÒ CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN 63
1 Nhà nước và các chính sách phát triển cacao 63
2 Vai trò của các tổ chức tư nhân 63
3 Sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ và nhà tài trợ quốc tế 66
4 Vai trò của các cơ quan khoa học 66
3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 55
Trang 6Lời nói đầu
Nghiên cứu này do Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) tổ chức thực
hiện hai đợt trong giai đoạn từ nửa cuối 2011 đến nửa đầu năm 2013 Đây là một nghiên cứu liên ngành, với sự tham gia của các nghiên cứu viên đến từ Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (Lê Quang Bình, Hoàng Anh Dũng, Vũ Hồng Phong, Nguyễn Quang Thương), Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lắk (KS Niê Y Hoàng), Trung tâm nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp, thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Đào Thế Anh, Phạm Công Nghiệp), và các viện thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam như Viện Nghiên cứu Văn hóa (Đào Thế Đức, Phạm Quỳnh Phương, Hoàng Cầm, Trần Hoài, Nguyễn Trung Dũng), Trung tâm Thông tin - Dự báo (Lê Kim Sa),
và viện Phát triển Bền vững vùng Trung Bộ (Mai Thanh Sơn)
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn sự hợp tác của UBND Tỉnh Đắk Lắk, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng, Ban Dân tộc, Trung tâm Khuyến nông và chính quyền huyện Lắk; Ủy Ban nhân dân huyện Ea Kar (Đắk Lắk), Ủy ban nhân dân huyện Đạ Huoai (Lâm Đồng), chính quyền
và nhân dân các xã Yang Tao và Đắk Phơi (huyện Lắk, Đắk Lắk), Ủy Ban nhân dân các xã
Cư Huê, Cư Ni và Ea Sar (Ea Kar, Đắk Lắk), Ủy ban nhân dân các xã Đoàn Kết, Phước Lộc
và Đọa Ploa (Đạ Huoai, Lâm Đồng), các cán bộ dự án của ACDI/VOCA và Mars Inc tại các địa bàn nghiên cứu, những cán bộ địa phương và những người nông dân trồng ca cao thuộc các tộc người khác nhau vì đã nhiệt tình hợp tác và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thu thập thông tin
Kinh phí để thực hiện dự án nghiên cứu này do Oxfam Novbid (Văn phòng Hà Nội) tài trợ Các kết quả của nghiên cứu có thể được xem như những đóng góp của iSEE và Oxfam Novbid vào việc tìm hiểu khả năng phát triển bền vững ngành ca cao ở Việt Nam Nói cách khác, chúng tôi hy vọng rằng những phát hiện của nghiên cứu này sẽ góp phần đảm bảo rằng những người nông dân trồng ca cao ở Việt Nam, nhất là những người thuộc các tộc người thiểu số và những người nghèo, sẽ được hưởng lợi, và không phải chịu những hậu quả không mong muốn, từ các dự án thúc đẩy loại cây trồng này
Chúng tôi xem những phát hiện trình bày trong báo cáo là một phần của một cuộc thảo luận mở, liên tục, và có tính xây dựng về việc phát triển ca cao bền vững ở Việt Nam Mặc
dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng nhưng báo cáo này không thể tránh khỏi những hạn chế
và thiếu sót nhất định Do vậy, chúng tôi mong muốn nhận được những ý kiến góp ý, phản biện, của tất cả các tổ chức hữu quan và những người quan tâm đến đề tài thú vị này Chúng tôi tiếp nhận các ý kiến phản hồi tại địa chỉ thư điện tử của Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường isee@isee.org.vn
Tập thể tác giả
Trang 77
Danh mục các bảng và biểu đồ
Bảng 1 Số người tham gia phỏng vấn sâu theo giới tính và tộc người 17
Bảng 2 Số người sản xuất ca cao trả lời bảng hỏi phân theo giới tính và tộc người 18
Bảng 3 Hiện trạng trồng cacao ở sáu thôn, buôn tại Đắc Lắc và Lâm Đồng 46
Bảng 4 Phân tích so sánh hiệu quả kinh tế của cacao, cà phê và tiêu ở Ea Kar, Đắk Lắk 48
Bảng 5 Đầu tư cho cacao ở giai đoạn thiết kế cơ bản (VND/ha) 48
Bảng 6 Đầu tư cho cacao ở giai đoạn kinh doanh ở Ea Kar, Đắk Lắk (VND/ha) 48
Bảng 7 Thu nhập từ một số cây trồng chính của các hộ nông dân ở Eakar, Đắk Lắk (triệu VND/năm) 49
Bảng 8 Tiêu chuẩn chất lượng ca cao Việt Nam (TCVN 7519) 59
Bảng 9 Diện tích trồng ca cao tại xã Ea Sar phân theo tộc người 62
Bảng 10 Một số đặc điểm đất canh tác của nông dân Eakar, Đắk Lắk 50
Biều đồ 1 Biến động giá ca cao thế giới từ 01/1995-11/2013 (USD/tấn hạt khô) 52
Trang 8Giá trị hiện tại thuần và tỷ lệ nội hoàn
Nghiên cứu này sử dụng giá trị hiện tại thuần (NPV) và tỷ lệ nội hoàn (IRR) để xác định hiệu quả kinh tế của các hệ thống sản xuất khác nhau NPV và IRR càng lớn thì việc đầu tư vào sản xuất của hệ thống đó càng hiệu quả
Trong đó:
Bt là thu nhập trên 1 ha trong năm thứ t
Ct là chi phí trên 1 ha trong năm thứ t
r là tỷ suất chiết khấu (12%)
n là vòng đời của cây trồng (20 năm)
t là năm thứ t trong vòng đời của cây trồng
Một số mặc định:
+ Giả thiết rằng, tới năm thứ 6 thì sản lượng, các dòng chi phí và doanh thu ở tình trạng ổn định của cây trồng nghiên cứu
+ Giá công lao động trung bình là 120.000 đồng/công
+ Giá ca cao lên men: 44.000 đồng/kg
+ Giá hạt điều: 19.000 đồng/kg
+ Giá café nhân: 40.000 đồng/kg
+ Tỷ lệ chiết khấu là 12%
0
n
NPV = ∑Bt-Ct
(1+r)t
0
n
∑ =0 (Bt -Ct) (1+IRR)t
Trang 99
Vài lưu ý về các thông số kỹ thuật
Tỷ lệ che bóng cho cây từ 10 đến 18 tháng tuổi: 50%
Tỷ lệ cho bóng cho cây từ 19 tháng tuổi trở lên: 25%
Vận tốc gió cần phải chắn gió cho ca cao: >12 km/h (gió cấp 3)
TD14
lần
lần
Từ 19 đến 30 tháng tuổi, 1 cây cần được bón: 600 gram phân NPK, chia nhiều lần
Trang 1111
A GIỚI THIỆU CHUNG
1 Bối cảnh nghiên cứu
Tại Việt Nam, cacao không phải là loại cây trồng mới Trong khoảng hơn một thế kỷ qua,
sự phát triển của cây trồng này đã trải qua nhiều thăng trầm Ca cao đã được người Pháp đưa vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, ngay sau khi họ nắm được quyền kiểm soát bán đảo Đông dương Dường như do nhận thấy những khó khăn của việc phát triển ca cao ở Việt Nam, bắt đầu ngay từ năm 1890 chính quyền Pháp đã tổ chức một chương trình lớn nhằm trợ cấp cho nông dân trồng ca cao Tuy nhiên, sau 17 năm, chương trình này đã bị hủy bỏ
do người Pháp nhận thấy cây ca cao không đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, và điều này có
lẽ đã kéo theo sự đi xuống của ngành ca cao non trẻ của Việt Nam (Marou Chocolate Company, 2011)
Cây ca cao không được quan tâm trở lại cho đến cuối những năm 1950 thế kỷ thứ XX, khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tìm cách phát triển ngành nông nghiệp ở miền Nam Việt Nam Với việc Nha Canh nông tổ chức biên soạn và ấn hành sách hướng dẫn nông dân trồng ca cao, dường như cây trồng này lại một lần nữa được xem là có tiềm năng phát triển (Nha Canh Nông, 1959) Cho dù chúng tôi không tìm thấy tài liệu nào khác nói về việc phát triển ca cao ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975, song hướng đi này của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa rất có thể đã không thể đạt đến một kết quả đáng kể nào
do tình trạng xung đột kéo dài và khốc liệt với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở miền Bắc Sau khi Việt Nam trở thành một quốc gia thống nhất vào năm 1975, ca cao lại được khuyến khích trồng để xuất khẩu sang Liên Xô và các quốc gia Đông Âu thuộc khối xã hội chủ nghĩa vào những năm 1980 Sự sụp đổ nhanh chóng sau đó của Liên Xô và khối Đông
Âu vào đầu những năm 1990 có thể đã là nguyên nhân cơ bản khiến cho ca cao thêm một lần nữa lỡ cơ hội trở thành một cây trồng chính trong cơ cấu của ngành trồng trọt Việt Nam (Marou Chocolate Company, 2011)
Trong khoảng 10 năm gần đây, cây ca cao lại thu hút được sự chú ý mạnh mẽ ở Việt Nam
Sự suy giảm kéo dài trong giai đoạn 2000-2005 của giá cà phê, cây trồng chủ lực của Việt Nam với giá trị xuất khẩu đạt vài tỉ đô la Mỹ mỗi năm, có thể là lý do chính dẫn tới sự chú
ý này (Dang Thanh Hà & Shively, 2005) Tuy nhiên, các đánh giá về triển vọng của ca cao ở Việt Nam bao gồm cả các ý kiến lạc quan lẫn thận trọng Nhìn chung, đánh giá của các đại diện các công ty trong và ngoài nước có kinh doanh mặt hàng ca cao, hoặc các cán bộ trong ngành ca cao Việt Nam, thường là lạc quan Với họ, cây ca cao thường được cho là một hướng thoát nghèo mới cho nông dân (Lê Tuấn, 2012), hay là một cây trồng mà Việt Nam sẽ thành công giống như đã thành công đối với cây lúa và cây cà phê trong quá khứ (Ái Vân, 2011)
Bên cạnh những phát biểu lạc quan và những kế hoạch tham vọng, các ý kiến bày tỏ thái
độ thận trọng đối với việc phát triển ca cao cũng đã xuất hiện không ít Vào năm 2008, Agrifood Consulting International đã có một báo cáo trình bày những nhận định tích cực
về triển vọng của cây ca cao ở Việt Nam nhưng cũng đồng thời cảnh báo về nguy cơ sâu bệnh làm ảnh hưởng đến sự phát triển cây ca cao Theo báo cáo này, ‘mặc dù hiện nay sâu
Trang 12bệnh vẫn chưa ở mức đáng báo động, sự bùng phát sâu bệnh là một rủi ro nghiêm trọng
mà ngay bây giờ, trong thời kỳ vẫn còn sơ khai của ngành sản xuất ca cao, Việt Nam cần có
sự chuẩn bị để đối phó’ (Agrifood Consulting International, 2008: 3) Trong một hội thảo quốc tế về ca cao ở Việt Nam, một Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, sau khi lắng nghe nhiều báo cáo về thực trạng phát triển cây ca cao ở nhiều địa phương, đã không đề cập đến việc mở rộng diện tích, mà nhấn mạnh rằng “trong thời gian tới, việc phát triển cây ca cao cần phải theo hướng bền vững trên cơ sở thâm canh nhằm tăng khối lượng sản phẩm hàng hóa, tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích đất, nâng cao thu nhập cho người dân và bảo vệ môi trường” (Bộ NN&PTNT, 2011) Cũng đã có cảnh báo rằng sau gần mười năm tham gia vào thị trường ca cao thế giới, Việt Nam vẫn chưa phát triển được công nghiệp chế biến ca cao thành phẩm (bánh, kẹo làm từ cacao), vốn đem lại lợi ích lớn gấp nhiều lần so với việc bán ca cao thô (hạt lên men) Các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ thu được lợi nhuận khiêm tốn từ việc thu mua ca cao tươi từ nông dân rồi sơ chế, lên men, và bán lại cho các công ty lớn như Cargill (thu mua đến 80% sản lượng ca cao Việt Nam) và ED & Man (Phan
Lê, 2012)
Những khoản hỗ trợ có giá trị hàng triệu đô la của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ và Cơ quan Phát triển Hoa Kỳ, sự tăng liên tục của giá ca cao thế giới giai đoạn 2005-2007 và sự thành công ban đầu của các dự án do SUCCESS Alliance hỗ trợ từ năm 2003 ở một số tỉnh thuộc Tây Nam Bộ có thể được xem là những yếu tố thúc đẩy nhà nước Việt Nam ban hành các chính sách lớn về ca cao trong một thời gian tương đối ngắn Cụ thể, Bộ NN&PTNN đã thành lập ra Ban điều phối Ca cao Việt Nam (VCCC) vào năm 2005 nhằm hỗ trợ việc xây dựng và thực hiện cách chính sách liên quan tới việc phát triển ngành ca cao Cũng trong năm 2005, bộ tiêu chuẩn về chất lượng ca cao đã được xây dựng và ban hành (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2005) với sự tư vấn, giúp đỡ của SUCCESS Alliance Chỉ hai năm sau, khi những bằng chứng về sự thành công của cây ca cao mới chỉ dừng lại ở các dự án do SUCCESS Alliance hỗ trợ, Bộ NN&PTNN đã ban hành quyết định số
2678/2007/QĐ-BNN-KH, trong đó đặt ra mục tiêu đạt được 60,000 ha ca cao vào năm 2015 và 80,000 ha vào năm 2020
Nếu những mục tiêu nói trên trở thành hiện thực, thì Việt Nam sẽ đứng vào hàng ngũ năm quốc gia xuất khẩu ca cao nhiều nhất thế giới, xếp sau Bờ Biển Ngà, Ghana, Brazil và Cameron Tuy nhiên, cho đến nay, diện tích ca cao của Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 25 ngàn ha (hơn 1/3 mục tiêu đặt ra), trải rộng trên 15 tỉnh, nhưng tập trung chủ yếu ở Tây Nam Bộ và Tây Nguyên Trên phương diện lý thuyết, để chuẩn bị cho việc phát triển cây cacao, ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau Những năm
1990, các nhóm cán bộ Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Cần Thơ đã tiến hành nhiều đợt đánh giá về triển vọng phát triển cây cacao tại các tỉnh miền Tây Nam
bộ và Tây Nguyên Sau khi thực hiện các mô hình thí điểm ở các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông, nhóm cán bộ khoa học thuộc Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã có báo cáo khuyến nghị giải pháp mở rộng diện tích cacao ở các địa phương này Trên phương diện thực tiễn, cây cacao được đánh giá là phát triển tương đối tốt ở các tỉnh miền Đông
và nhất là ở miền Tây Nam bộ Tuy nhiên, tại các tỉnh Tây Nguyên, tình hình không khả
Trang 1313
cacao được quy hoạch nằm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là 6,000ha) Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, lại được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế cũng như các cơ sở khoa học trong nước, nhưng đến năm 2010, diện tích cacao toàn tỉnh chỉ đạt 1,935ha, xấp xỉ 1/3 kế hoạch đề ra trong Quyết định số 821/QĐ-UB
Thực tế này tại Tây Nguyên đòi hỏi phải có những nghiên cứu lý giải Đặc biệt, việc tìm hiểu khả năng tham gia chuỗi giá trị cacao của các tộc người thiểu số tại chỗ cũng như những tộc người di cư, cho đến nay vẫn còn là mảng trống
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này do Viện Nghiên cứu Xã hội- Kinh tế và Môi trường (iSEE) khởi xướng với hai đợt nghiên cứu nhằm hai mục tiêu cụ thể:
Nghiên cứu đợt 1 (2011-2012) đặt mục tiêu tìm hiểu sự tham gia của người dân tộc thiểu số tại chỗ vào chuỗi sản xuất cacao; những nguyên nhân và rào cản (nếu có) cho sự tham gia của họ vào việc trồng một loại cây vốn đã được hậu thuẫn từ chính sách và các nhà tài trợ Nghiên cứu này được tiến hành tại cộng đồng người M'nông ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Nghiên cứu đợt 2 (2012-2013) đặt mục tiêu tìm hiểu thực trạng phát triển cây cacao ở các vùng được đánh giá là "thành công" tại Tây Nguyên Với sự gợi ý giới thiệu của cán bộ ACDI/VOCA cũng như phòng nông nghiệp địa phương, nghiên cứu đợt 2 được chọn tiến hành ở huyện Ea Kar tỉnh Đắk Lắk và huyện Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồng
Như vậy, nếu như nghiên cứu tiến hành năm 2011 tập trung khảo sát ở các tộc người thiểu số tại chỗ, thì nghiên cứu năm 2012-2013 của chúng tôi tìm hiểu cả các tộc người thiểu số di cư từ phía Bắc và người Kinh di cư vào Tây Nguyên Trên cơ sở này, chúng tôi mong muốn có cái nhìn so sánh để đưa ra một số đánh giá chung về việc phát triển cacao
ở Tây Nguyên nói riêng, ở Việt Nam nói chung Cuốn sách này là kết quả tổng hợp khái quát nghiên cứu của cả 2 đợt tại huyện Lăk, huyện Ea Kar (Đắk Lắk) và Đạ Huoai (Lâm Đồng)
3 Khung phân tích
Các nghiên cứu trước đây về cacao chủ yếu tập trung phân tích chuỗi giá trị ngành hàng
cacao: dịch vụ cung ứng đầu vào (đất đai, lao động, vườn ươm và cây giống, các dòng tiền đầu tư, phân bón, thuốc trừ sâu hại dịch bệnh, sự hỗ trợ kỹ thuật của các nhà khoa học trong nước và ủng hộ tài chính của các tổ chức quốc tế); sản xuất cacao (trồng, chăm sóc
và thu hái); dịch vụ đầu ra (thu mua trái tươi, lên men, phơi, sấy) và thị trường tiêu thụ Cách tiếp cận này giúp hình dung rõ ràng các mắt xích trong chuỗi sản phẩm, cũng như sự tham gia của người dân trong các mắt xích đó Tuy nhiên, việc tiếp cận theo chuỗi giá trị
có thể bỏ qua yếu tố văn hóa bản địa và những rào cản về văn hóa đối với sự chấp nhận cây cacao trong đời sống của tộc người thiểu số Là một cây trồng ngoại lai được du nhập
từ bên ngoài, cây cacao có chỗ đứng trong đời sống của người dân tộc thiểu số hay không, không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố môi trường và kinh tế, mà còn phụ thuộc rất lớn vào bối cảnh văn hóa