1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Rèn kỹ năng viết đoạn văn ngắn cho học sinh lớp 2

18 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 213,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình giảng dạy, GV phải kiên nhẫn luôn tái hiện và lặp lại kiến thức cho HS trong suốt năm học, giúp HS có được nền móng tốt cho việc học tập môn Tập làm văn ở các lớp trên Câ[r]

Trang 1

RẩN KỸ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGẮN

CHO HỌC SINH LỚP 2

A - Đặt Vấn đề

I LỜI NểI ĐẦU

Trong cỏc phõn mụn của tiếng việt, phõn mụn tập làm văn cú một vị trớ đặc biệt quan trọng Nú là phõn mụn hội tụ đầy đủ nhất cỏc yếu tố của quỳa trỡnh giao tiếp đồng thời là thước đo đỏnh giỏ kết quả học tập và giảng dạy cỏc phõn mụn khỏc.Học làm văn, học sinh phải phỏt huy vốn kiến thức văn học qua cỏc bài tập đọc, học thuộc lũng, vốn hiểu biết xó hội, vận dụng những kiến thức luyện từ và cõu, kể chuyện… đó học để trỡnh bày, diễn đạt một vấn đề theo núi hoặc viết Qua đú cỏc em nờu lờn những suy nghĩ, tỡnh cảm của mỡnh theo yờu cầu bài ra

Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ Dạy học Tiếng Việt giỳp cỏc em hỡnh thành 4 kỹ năng cơ bản: nghe, núi, đọc, viết Phõn mụn Tập làm văn trong mụn Tiếng Việt hội đủ 4 kỹ năng trờn Đối với HS lớp 2 thỡ đõy là một phõn mụn khú Bởi ở lứa tuổi của cỏc em, vốn kiến thức và hiểu biết cũn hạn hẹp Bờn cạnh đú cũn cú một số khú khăn khỏch quan như điều kiện hoàn cảnh sống của HS ở địa bàn dõn cư lao động nghốo, gia đỡnh khụng cú điều kiện để quan tõm đến cỏc em, việc diễn đạt ngụn ngữ kộm, việc tiếp thu kiến thức khỏ chậm, HS nghốo vốn từ ngữ…Điều này ảnh hưởng nhiều đến việc học tập núi chung, học phõn mụn Tậplàm văn núi riờng

Trong chương trỡnh Tiếng Việt lớp 2, ngay từ đầu năm học, cỏc em đựơc làm quen với đoạn văn và được rốn kỹ năng viết đoạn văn từ 3 đến 5 cõu Trong quỏ trỡnh làm bài, tụi nhận thấy cỏc em cũn lỳng tỳng, nhiều HS làm bài chưa đạt yờu cầu Cỏc em thường lặp lại cõu đó viết, dựng từ sai, cú em viết khụng đỳng yờu cầu của đề bài hoặc cú những bài làm đảm bảo về số cõu nhưng viết khụng đủ ý

Trang 2

Là một giáo viên giảng dạy ở lớp 2, tôi rất băn khoăn và trăn trở: Làm thế nào để giúp các em thực hiện được mục tiêu đã đề ra? Bản thân tôi luôn cố gắng để tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng học tập cho HS của lớp mình Đây là lý do tôi chọn và áp dụng một số giải pháp để “Giúp học sinh lớp 2 rèn kỹ năng viết đoạn văn” Sau đây, tôi xin trình bày một số giải pháp mà bản thân đã đúc kết được trong thời gian qua

II THỰC TRẠNG CUẢ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1, Thực trạng

Trong môn Tiếng Việt lớp 2, phân môn Tập Làm Văn là một phân môn khó đối với học sinh vì các em mới ở lớp 1, chỉ dừng lại ở việc đọc thông viết thạo.Qua thực tế giảng dạy tôi thấy việc học và giảng dạy môn Tập Làm Văn lớp 2 đang còn gặp một số vấn đề sau:

Về phía học sinh:Trong thực tế giảng dạy, tôi thấy học sinh lớp 2 viết câu còn lủng củng, chưa biết sắp xếp câu theo thứ tự trong bài Câu chưa đủ bộ phận, dung từ ngữ chưa chính xác với nội dung yêu cầu, dẫn tới các em viết bài một cách khô khan rườm

rà Bởi vì Kĩ năng nói của các em chưa lưu loát, bí từ, dẫn tới bài biết hay là rất khó Có chăng, giáo viên gợi ý thì học sinh viết được đôi ba câu rời rạc Đây là một vấn đề khó khăn trong việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2 Một phần do trí tưởng tượng của học sinh chưa phong phú, còn nghèo nàn nên viết văn chưa có hình ảnh đặc biệt khi dùng biện pháp so sánh, nhân hoá để viết văn còn vụng, chưa hay Chính vì thế, dẫn tới kết quả chưa cao

Về phía giáo viên: Giáo viện giảng bài còn lệ thuộc vào sách dù rằng giàn ý mẫu, câu văn mẫu không phù hợp với quan sát của học sinh Vì thế làm giảm khả năng tư duy sáng tạo và tăng tính lười suy nghĩ, tìm tòi của học sinh Trong giảng dạy, nhiều khi giáo viên còn áp đặt học sinh làm theo tư duy khuôn mẫu của giáo viên, yêu cầu học sinh nhớ nhiều để bắt chước làm văn Hầu hết giáo viên chưa tạo được đối tượng giao tiếp và tình huống giao tiếp khi rèn kĩ năng nói để thu hút sự chú ý của các em, khơi dậy hứng thú

Trang 3

khi học văn Phần lớn các đề bài tập làm văn ở tiểu học dường như đối tượng giao tiếp không được nhắc đến, dẫn đến giọng văn của các em khô cứng, dập khuôn, lời lẽ trong bài viết của học sinh sẽ na ná như nhau Bên cạnh đó, để đối phó với học sinh làm bài kém nhưng để đảm bảo chất lượng khi kiểm tra, thi cử,…nhiều giáo viên cho học sinh học thuộc một số bài mẫu để các em khi gặp một đề bài tương tự cứ thế mà chép Tình trạng trên, cả cô và trò lệ thuộc vào mẫu, không thoát khỏi bài mẫu, Chính vì thế, tỉ lệ học sinh yêu thích môn Tập làm văn còn quá ít ỏi

II HIỆU QUẢ CỦA THỰC TRẠNG TRÊN

Tôi đã ra đề kiểm tra học sinh làm bài Tuần 10 thu được kết quả như sau:

- Tổng số học sinh lớp 2D: 28 em

- Số học sinh đạt điểm giỏi: 2 em

- Số học sinh đạt điểm khá: 7 em

- Số học sinh đạt điểm trung bình: 13 em

- Số học sinh đạt điểm yếu: 6 em

Từ thực trạng trên, để học sinh diễn đạt được tốt hơn, viết văn hay, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Rèn kỹ năng viết đoạn văn cho HS lớp 2”

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

Kiểu bài nói theo đề tài có nhiệm vụ rèn luyện cho hS kĩ năng độc thoại trước một tập thể một đề tài được xác định Tuy nhiên có thể thống nhất đó là những thông tin về nét nổi bật, nét riêng biệt, nét đặc sắc về đề tài rèn kĩ năng nói trong phân môn Tập làm văn Làm kiểu bài này các em cần lưu ý những vấn đề sau:

1 Chọn chi tiết:

Hướng dẫn học sinh chọn các chi tiết dựa theo yêu cầu đề bài và câu hỏi gợi ý

2 Thứ tự cách thức làm bài

HDHS cách làm theo trình tự hợp lý:

Trang 4

- Câu mở, câu kết

3 Trọng tâm

HDHS xác địn trọng tâm của đề bài để viết đúng theo yêu cầu không bị lạc đề

4 Rèn kĩ năng dùng từ đặt câu

5 Rèn kĩ năng diễn đạt

6 Rèn kĩ năng cảm thụ văn học

7 Hướng dẫn thực hiện một số đề bài

II CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Các em được rèn luyện cả 4 kĩ năng nghe nói, đọc, viết ở hầu hết các tiết học, HS đều được rèn luyện cả hình thức nói và viết, thường là tập nói trước, tập viết sau Ở học

kỳ 2, có nhiều tiết rèn kĩ năng nghe cho HSthông qua các hình thức nghe kể chuyện rồi trả lời các câu hỏi

Từ các hình thức này HS được hình thành từng bước kĩ năng tạo lập văn bản qua từng công đoạn, từ yêu cầu đơn giản như điền từ hoặc cụm từ vào chỗ trống, quan sát tranh và trả lời câu hỏi đền việc nói hay viết một đoạn văn theo một đề tài nhất định Một điều quan trọng đòi hỏi các em là bài làm không phải là sự lặp lại của người khác

mà đòi hỏi sự sang tạo của chính các em qua những kiểu bài tập cụ thể

1 Rèn kĩ năng chọn chi tiết:

Hướng dẫn học sinh chọn các chi tiết dựa theo yêu cầu đề bài và câu hỏi gợi ý

Ví dụ:

VD : Tập làm văn tuần 15, TV2 yêu cầu của bài tập là :

Quan sát tranh và trả lời câu hỏi:

a) Tranh vẽ cảnh gì ?

b) Sóng biển như thế nào ?

c) Trên mặt biển có gì?

d) Trên bầu trời có những gì?

Trang 5

Bài tập này có 4 câu hỏi đi từ kĩ năng quan sát chung bao quát toàn cảnh (câu hỏi a) đến kĩ năng quan sát những chi tiết cụ thể trong tranh 9 câu hỏi b, c, d) Đối với bài tập này, nếu các em trả lời đơn giản,

VD: a)Tranh vẽ cảnh;

b) Sóng biển đang dềnh lên

; c) Trên mặt biển có những cánh buồm và những con hải âu,

d) Trên bầu trời có ông trời và những đám mây thì đây mới chỉ là những câu hỏi

khô khan, sơ lược về nội dung bức tranh, chưa phải là những câu văn hay, có hình ảnh.GV cần hướng các em đến những câu trả lời mở rộng, sử dụng từ ngữ phong phú hơn

VD:

a) Tranh vẽ cảnh biển buổi sớm mai,/ Tranh vẽ cảnh biển buổi sang Khi mặt trời đỏ rực đang từ dưới biển đi lên bầu trời.

b) Sóng nhấp nhô trên mặt biển xanh./ Những con sóng lớn nhỏ xô vào bờ tung bọt trắng xoá.

c) Trên mặt biển, những cánh buồm nhiều màu sắc đang lướt song ra khơi /Trên mặt biển, những cánh buồm đang lướt song, những con hải âu đang chao lượn.

d) Ông mặt trời như quả bóng màu đỏ treo lơ lửng giữa không trung, những đám mây màu tím nhạt đang bồng bềnh trôi, đàn hải âu bay về phía chân trời,….

GV cần kịp thời khuyến kích, khen ngợi và giới thiệu những câu văn hay, hình ảnh đẹp để động viên học sinh Sau khi HS trả lời lần lượt các câu hỏi, GV có thể gọi một số

Hs khá, giỏi trình bày lại toàn bộ nội dung bức tranh

 Bài viết về một người thân:

- Người thân của em là ai?

- Năm nay người ấy bao nhiêu tuổi? Làm công việc gì?

- Tình cảm của người ấy đối với em ra sao?

- Em sẽ làm gì để đền đáp lại sự quan tâm của người ấy dành cho em?

Trang 6

Hướng dẫn: Để làm được đề bài này cần đọc kĩ đề mà nắm nội dung mà đềyêu cầu và ghi lại những nội dung chính có lien quan đến hệ thống câu hỏi gợi ý, trình tự trả lời câu hỏi Cuối cùng em lien kết nội dung các câu trả lời lại bằng những từ ngữ chuyển tiếp hình thành một bài văn hoàn chỉnh Nhớ là nói từng vấn đề được nêu trong câu hỏi gợi ý , chú không phải là trả lời từng câu hỏi

Có học sinh viết

Kể về mẹ

“Mẹ em năm nay 28 tuổi, người dong dỏng cao Nước da trắng như trứng gà bóc, tóc ngắn ngang vai Mẹ thường đi xe máy tới trường Mẹ em là cô giáo trường làng Hằng ngày, mẹ phải lên lớp hai buổi, tối về mẹ soạn bài đến khuya mới đi ngủ Tuy bận công việc trường lớp nhưng mẹ vẫn dành thời gian dạy cho em học Mỗi lần em được điểm 10 mẹ vui lắm Thấy mẹ bận công việc, em giúp mẹ quét nhà rửa cốc chén và cố gắng học thật giỏi để không phụ lòng mong mỏi của mẹ”

* Nhận xét: Bài làm đã khéo chọn được một trình tự đủ nội dung các vấn đề gợi ý nêu ra các trình tiết gắn với nhau một cách chặt chẽ và nổi bật lên những nét riêng biệt

Như vậy, qua việc hướng dẫn HS quan sát tranh và trả lời câu hỏi, GV đã bước đầu hình thành cho HS năng lực quan sát ở mức độ đơn giản, tập dượt cánh quan sát có thứ

tự đi đôi với việc rèn luyện cho HS kĩ năng nghe-nói để có những câu miêu tả gãy gọn, sinh động

2 Thứ tự cách thức làm bài

HDHS cách làm theo trình tự hợp lý:

- Viết câu mở đầu: Giới thiệu đối tượng cần viết (Có thể diễn đạt bằng một câu )

- Phát triển đoạn văn : Kể về đối tượng: Có thể dựa theo gợi ý , mỗi gợi ý có thể diễn

đạt 2,3 câu tùy theo năng lực học sinh

- Câu kết thúc: Có thể viết một câu thường là nói về tình cảm, suy nghĩ, mong ước của

em về đối tượng được nêu trong bài hoặc nêu ý nghĩa, ích lợi

của đối tượng đó đối với cuộc sống, với mọi người

Trang 7

Ví dụ: Viết về một con vật:

- Con vật em định kể là con vật gì?

- Nó sống ở đâu? Hình dáng nó như thế nào?

- Hoạt động của nó có gì nổi bật?

- Vì sao em thích con vật đó?

Câu mở đầu:

Giới thiệu chim cánh cụt

“Trong thế giới loài chim, em thích nhất là chim cánh cụt”.

Phát triển: Kể về chim cánh cụt

“Cánh cụt sống ở những nơi lạnh giá, đầy băng tuyết Nó có đôi cánh giống như hai mái chèo Dáng đi của nó lũn chũn, trông rất buồn cười Là một loài chim nhưng em chẳng thấy nó bay bao giờ Thế nhưng nó lặn sâu dưới nước để bắt cá rất cừ”.

Câu kết thúc: Tình cảm của em đối với loài chim

“Em thích chim cánh cụt vì chúng là loài chim này những con vật hiền lành, dễ thương”.

Giáo viên cần giúp cho học sinh hiểu có nhiều cách diễn đạt để bài làm các em được phong phú, tránh tình trạng dạy học sinh làm văn mẫu Cần chủ động hình thành

kỹ năng từng bước ở từng thời điểm thích hợp Không nên áp đặt và đòi hỏi các em phải

thể hiện được ngay những kỹ năng mới được hình thành Trong quá trình giảng dạy, GV

phải kiên nhẫn luôn tái hiện và lặp lại kiến thức cho HS trong suốt năm học, giúp HS có được nền móng tốt cho việc học tập môn Tập làm văn ở các lớp trên Câu mở, câu kết

Mục đích của dạng bài tập Đọc văn bản - trả lời trong SGK TV2 là giúp HS biết cách trả lời các câu hỏi về cảnh vật, loài vật dựa trên văn bản đã đọc hiểu.Qua đó, hình thành cho HS một số hiểu biết về văn miêu tả Hệ thống câu hỏi trong SGK ngắn ngọn,

dễ hiểu, hướng đến nội dung miêu tả có trong văn bản Văn bản miêu tả trong SGK đều

là những văn bản hay, đặc sắc, có thể coi là những đoạn văn hay, bài văn miêu tả mẫu mực

Trang 8

Về cách tổ chức hoạt động dạy học, trước hết, GV giúp HS nắm được yêu cầu của bài tập Cụ thể:

- 2 HS nối tiếp nhau đọc yêu cấu của bài tập ( lệnh bài tập, đoạn văn và các câu hỏi).Cả lớp đọc nhẩm theo;

- GV có thể giới thiệu cho các em biết rõ hơn về đối tượng miêu tả qua tranh, ảnh hoặc vật thật( nếu có) VD: tranh, ảnh chim chích bông – TLV Tuần 21, TV2; tranh ảnh hoặc một quả măng cụt – TLC tuần 28, TV2,…)

- GV yêu cầu HS đọc kĩ văn bản và đọc kĩ các câu hỏi để hiểu đúng, hiểu đủ ý cần thiết

Sau đó, HS trả lời (miệng) lần lượt các câu hỏi: HS có thể hoạt động theo cặp (1 em hỏi – em kia trả lời rồi đổi vai), hoặc nhiều HS nối tiếp nhau trả lời câu hỏi GV nhắc các em khi trả lời phải dựa sát vào ý của bài, nhưng không nhất thiết phải đúng nguyên

xi từng câu chữ trong bài GV khuyến khích các em nói bằng ngôn ngữ của riêng mình

để rèn luyện cho các em nói những câu văn miêu tả hoàn chỉnh

VD: TLV Tuần 20, TV2 – Yêu cầu của bài tập là:

Đọc đoạn văn Xuân về và trả lời câu hỏi:

Những dấu hiệu nào báo mùa xuân đến?

Tác giả đã quan sát mùa xuân bằng những cách nào ( nhìn, nghe, hay ngửi,….)?

Đối với bài tập này, trước tiên, GV có thể hỏi khái quát về nội dung đoạn văn: Đoạn văn trên tả cảnh gì?

Tiếp theo, GV yêu cầu HS tập trung tìm những dấu hiệu biểu hiện của mùa xuân đang đến để trả lời câu hỏi (a) với cách dẫn dắt như sau: Dấu hiệu đầu tiên báo hiệu mùa xuân đến là gì? Các loại cây có sự thay đổi như thế nào khi mùa xuân đến?

Câu hỏi (b) yêu cầu HS tìm xem tác giả đã sử dụng những giác quan nào để nhận biết mùi vị, màu sắc, tiết trời thay đổi khi mùa xuân đến GV có thể hỏi: Mùa xuân đến, cảnh vật đều có sự thay đổi, em hãy cho biết tác giả đã quan sát mùa xuân bằng cách nào

để nhận ra sự thay đổi đó?

Trang 9

Sau khi trả lời các câu hỏi, cả lớp và GV nhận xét, góp ý GV nhắc lại những câu trả lời đúng Như vậy, qua việc trả lời câu hỏi, HS đã bước đầu nắm đuợc một số hiểu biết về đoạn văn miêu tả cảnh vật Cuối bài tâp, Gv có thể bình luận thêm: Để tả được quang cảnh đầu xuân, nhà văn Tô Hoài đã quan sát rất tinh tế, sử dụng rất nhiều giác quan để quan sát Nhờ vậy, ông đã viết được đoạn văn miêu tả rất ngắn gọn mà thú vị, độc đáo Các em muốn tả được cảnh vật xung quanh cũng phải quan sát thật kĩ và học cách quan sát

3 Trọng tâm

HDHS xác định trọng tâm của đề bài để viết đúng theo yêu cầu không bị lạc đề

Các dạng bài tập Quan sát tranh và trả lời câu hỏi, Đọc văn bản - trả lời câu hỏi nói trên thực chất không thể tách rời dạng bài tập Tả ngắn, bởi vì mục tiêu cuối cùng mà

việc dậy học văn miêu tả hướng tới là giúp HS biết cách tạo lạp một văn bản miêu tả Đối với HS lớp 2, yêu cầu rất đơn giản, HS không phải viết thành một bài văn miêu tả

có bố cục hoàn chỉnh Song, dù yêu cầu ở mức độ nào thì các dạng bài tập trên đều phải hướng tới mục tiêu trên Ngược lại, nhờ một số hiểu biết qua việc quan sát tranh, đọc và tìm hiểu văn bản miêu tả,…HS sẽ có khả năng sử dụng từ ngữ tạo thành câu văn miêu

tả, đoạn văn miêu tả với những yêu cầu riêng Mối quan hệ chặt chẽ đó thể hiện rõ ở hệ thống bài tập TLV trong SGK VD: TLV Tuần 20, TV2, sau khi HS được đọc và tìm hiểu một đoạn văn tả mùa xuân, các em được luyện viết một đoạn văn tả mùa hè Các bài tập TLV Tuần 21, 25, 26, 28, 31 cũng được sắp xếp theo trình tự như vậy Rõ ràng, cách trình bày nội dung các bài tập như trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy học

văn miêu tả nói chung, dạy học dạng bài tập Tả ngắn nói riêng.

Mục đích của dạng bài tập Tả ngắn là rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả cho HS ở

mức độ đơn giản Đối tượng miêu tả là người, vật, cảnh vật xung quanh các em - những đối tượng gần gũi quen biết, thậm chí gắn bó than thiết với HS

Yêu cầu đặt ra đối với HS là:

- Về nội dung: Bước đầu biết cách tả ngắn theo một đề tài cho trước hoặc tự chọn

Trang 10

- Về hình thức: Viết câu đủ ý, đúng ngữ pháp, chính tả, cố gắng diễn đạt hay, sinh động.

Đối với dạng bài tập này, GV có thể tổ chức HS hoạt động như sau:

- Hướng dẫn HS nắm vững yêu cầu của bài tập (bằng cách để 1, 2HS đọc yêu cầu của đề bài và các câu hỏi gợi ý (nếu có); cả lớp đọc thầm theo

- Nhắc nhở HS:

+ Có thể viết đoạn văn tả ngắn với số lượng câu văn nhiều hơn yêu cầu nêu trong đề bài, nếu có khả năng

+ Cần viết một cách chân thực, đủ ý, đặt câu đúng, biết nối kết các câu thành một đoạn văn ngắn (bài TLV viết vì thế có yêu cầu cao hơn bài TLV nói)

- GV yêu cầu HS làm việc độc lập bởi yêu cầu của bài tập rất cụ thể, các em có thể tự giải quyết và cận tự nghĩ ra những câu văn của mình

Không cần có bước làm mẫu vì HS đã được đọc kĩ đề bài và phần gợi ý, đã học cách tạo câu trong giờ luyện từ và câu Nếu đề bài có câu hỏi gợi ý, GV nhắc HS viết đoạn văn bằng cách bám sát theo các câu hỏi, nhưng có thể bổ sung thêm những ý mới Nếu đề bài không có câu hỏi gợi ý, GV cần gợi ý sơ qua về đối tượng miêu tả mà đề bài yêu cầu Tuy nhiên, hướng dẫn của GV cũng chỉ nên mang tính gợi mở để HS tham

khảo chứ không buộc các em phải tuân thủ một cách máy móc Cần lưu ý: Tuyệt đối

không được yêu cầu HS viết thành một bài văn miêu tả có bố cục đầy đủ, hoàn chỉnh.

VD: TLV Tuần 21, TV2 – Sau khi được đọc văn bản và trả lời câu hỏi về Chim chích bông, SGK có bài tập: Viết 2, 3 câu về một loài chim mà em thích

Đây là một bài tập mở HS có thể tuỳ ý lựa chọn một loài chim mà em đã từng nhìn thấy, từng gặp Với bài tập này, trước hết, GV yêu cầu HS nói tên một loài chim mà

em thích, sau đó có thể gợi ý:

- Muốn viết 2, 3 câu về một loài chim mà em thích, em cần giới thiệu về loài chim đó

- Có thể viết nhiều hơn 2, 3 câu, nhưng không cần viết quá 5 câu

Sau khi HS làm bài, GV tổ chức cho HS trình bày kết quả làm việc Nhiều HS nối tiếp nhau đọc đoạn viết Cả lớp và GV nhận xét HS có thể đổi vở cho bạn ngồi cạnh để

Ngày đăng: 30/03/2021, 04:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w