1. Trang chủ
  2. » Đề thi

Rèn kỹ năng đọc đúng, đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5

18 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 312,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rèn kỹ năng đọc đúng, đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 được lời chỉ dẫn rõ ràng, nghĩa là GV phải nhắc HS: Cần đọc to lên, nhỏ đi, cao giọng lên, hạ giọng xuống, ngắt nghỉ ở chỗ này chỗ k[r]

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, tiếng nói dùng trong giao tiếp chính thức của cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam Bởi thế, dạy Tiếng Việt có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống của mỗi con người Những thay đổi trong đời sống kinh tế xã hội, văn hóa giáo dục, thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học nói chung đã dẫn tới những yêu cầu mới trong việc dạy Tiếng Việt ở nhà trường Chương trình môn Tiếng Việt trong hệ thống các chương trình môn học của chương trình mới ở tiểu học có mục tiêu là:

a Hình thành và phát triển ở học sinh (HS) các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi

Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt , góp phần rèn luyện các thao tác tư duy

b Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ

giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài

c Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,

giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ

nghĩa

Ở lớp 5, mục tiêu nói trên được cụ thể hóa ở phân môn Tập đọc là:

- Biết cách đọc các loại văn bản hành chính, khoa học, báo chí, văn học phù hợp thể loại và nội dung văn bản, thể hiện được tình cảm, thái độ của tác giả, giọng điệu của nhân vật (Đọc một màn kịch hoặc một vở kịch ngắn có giọng điệu phù hợp)

- Đọc thầm có tốc độ nhanh hơn lớp 4

- Biết cách xác định đại ý (nội dung) văn bản, chia đoạn văn bản, nhận ra mối quan hệ giữa các nhân vật, sự kiện, tình tiết trong bài, biết nhận xét về một số hình ảnh, nhân vật trong các bài tập đọc có giá trị văn chương

-Biết sử dụng từ điển học sinh Có thói quen và biết các ghi chép các thông tin đã học Học thuộc lòng các bài HTL trong SGK

Mục tiêu rèn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) là một trong những mục tiêu quan

trọng của của môn Tiếng Việt và trong mục tiêu rèn kỹ năng thì đọc là một trong bốn kỹ

năng mà học sinh được rèn luyện trong chương trình tiểu học Với học sinh lớp 5, đọc không chỉ dừng lại ở việc đọc đúng nữa mà các em phải đọc được rành mạch, lưu loát, đọc diễn cảm bài văn, bài thơ ngắn, hiểu nội dung, ý nghĩa bài học

Ở lớp 5 các em rèn luyện kỹ năng đọc thông qua hệ thống văn bản thuộc các loại hình nghệ thuật, báo chí, khoa học (văn bản nghệ thuật và phi nghệ thuật)

Việc rèn kỹ năng cho các em đọc đúng, đọc diễn cảm là một việc rất cần thiết trong giờ Tập đọc Để nhằm khắc phục phần nào hạn chế và tìm ra giải pháp dạy – học

Trang 2

đọc đúng, đọc diễn cảm tốt cho học sinh lớp 5 tôi đã có suy nghĩ và đưa ra một số giải

pháp về việc: “Rèn luyện kỹ năng đọc đúng, đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5”

Rất mong được các đồng nghiệp tham khảo và đóng góp thêm ý kiến để bài giải pháp của tôi thêm hoàn thiện và áp dụng vào thực tế được tốt hơn

II THỰC TRẠNG

Qua điều tra việc dạy - học đọc đúng, đọc diễn cảm của GV và HS ở một số trường trong huyện Lâm Hà, cụm Phúc Thọ và các lớp 5 ở trường Tiểu học Phúc Thọ III tôi nhận thấy như sau:

1 Giáo viên

Trong dạy học hằng ngày, phần nhiều giáo viên mới chỉ chú trọng rèn luyện cho các em đọc đúng, đọc lưu loát, chính vì vậy sau mỗi tiết tập đọc kết quả về rèn luyện kỹ năng đọc diễn cảm của các em là còn rất hạn chế

Bên cạnh đó nhiều giáo viên chưa chú trọng vào phần luyện đọc diễn cảm Giáo viên chỉ cho học sinh luyện đọc, tìm hiểu bài rồi kết thúc tiết học Tập đọc Bởi vì giáo viên đang coi nhẹ phần luyện đọc diễn cảm cho học sinh và lại thời lượng của một tiết học là 35 - 40 phút Thời gian thường thiếu để dạy hoàn chỉnh một tiết Tập đọc đo đó giáo viên thường cắt phần luyện đọc lại (Luyện đọc diễn cảm)

Và một lý do nữa là giọng đọc của một số giáo viên chưa diễn cảm (do giọng địa phương) nên rất khó khăn cho việc hướng dẫn luyện đọc diễn cảm cho học sinh mình

2 Học sinh

Tình hình đọc bài của học sinh còn chưa đúng và diễn cảm Các em chỉ mới đọc đúng câu, từ và một số em thì đọc còn ngắc ngứ, chưa suôn sẻ câu văn Một số em còn chưa các định được ngắt giọng sau dấu chấm và nghỉ hơi sau dấu phẩy; các em không tự biết ngắt sau những câu dài hay là ngắt để thể hiện đúng nội dung nghĩa của câu văn Nhưng bên cạnh đó thì có một số học sinh đọc rất tốt và có giọng đọc hay Đã đọc được diễn cảm thể hiện đúng lời của từng nhân vật, đúng nội dung ý nghĩa của văn bản

Với tình hình chung trên thì người giáo viên cần phải có một kế hoạch để thay đổi chính quan niệm của mình và có biện pháp luyện đọc cho các đối tượng học sinh sao để mang lại kết quả giờ học cao

3 Khảo sát chất lượng đầu năm Đầu năm nhận lớp, tôi đã tiến hành khảo sát

chất lượng đọc và đọc diễn cảm của 21 học sinh như sau:

Trang 3

ĐẶC ĐIỂM ĐỌC CỦA HỌC SINH (HỌC SINH)SL phần trămSố Đọc chưa trôi chảy, ngắc ngứ, tốc độ chậm, phát âm sai 2 9.5

Đọc chưa trôi chảy, không ngắt nghỉ đúng sau dấu phẩy và

dấu chấm

5

23.8

Đọc trôi chảy, tốc độ vừa phải, đã ngắt nghỉ sau dấu phẩy và

dấu chấm

4

19.1

Đọc diễn cảm, biết thể hiện đúng lời thoại của từng nhân vật,

tự ngắt hơi đúng khi không có dấu phẩy ở câu dài để thể hiện

đúng nội dung ý nghĩa câu văn

0

B NỘI DUNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP RÈN KỸ NĂNG ĐỌC ĐÚNG, ĐỌC DIỄN CẢM CHO

HỌC SINH

Qua điều tra, khảo sát và thực tế giảng dạy, thấy được thực trạng dạy và học Luyện đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 như vậy, tôi đã suy nghĩ tìm tòi và mạnh dạn đưa ra một số giải pháp để giúp dạy và rèn kỹ năng đọc đúng, đọc diễn cảm (trong phân môn Tập đọc) ở lớp 5 được nâng cao và hiệu quả hơn.

1 Bản thân mỗi giáo viên phải có ý thức rèn luyện kỹ năng đọc diễn cảm của mình Vì mỗi giáo viên đọc được diễn cảm một văn bản phần lớn là do năng khiếu, còn

có được là nhờ quá trình luyện đọc của bản thân thì rất ít Khi giáo viên đọc tốt một văn bản thì đó chính là mẫu cho học sinh (trong các phương pháp dạy Tập đọc thì phương pháp đọc mẫu là rất quan trọng) Mẫu đọc của giáo viên giúp các em nhận thấy cách đọc của bài đọc như thế nào Giáo viên đọc tốt văn bản còn giúp chính giáo viên nhận ra cái được và chưa được trong quá trình luyện đọc diễn cảm của học sinh mình để uốn nắn, sửa chữa hay động viên, khuyến khích các em

2 GV cần cho học sinh thấy rõ đọc đúng và đọc diễn cảm khác nhau như thế nào? + Đọc đúng: là đọc một cách chính xác từ, câu, đoạn văn, ngắt nghỉ đúng ở các dấu câu, giọng đọc to, rõ, không ê a, ngắc ngứ…

+ Đọc diễn cảm: là một yêu cầu đọc thành tiếng đặt ra khi đọc những văn bản văn chương hoặc có các yếu tố của ngôn ngữ văn chương Đó là khả năng làm chủ được ngữ điệu làm chủ được các thông số âm thanh như tốc độ, chỗ ngừng giọng, cường độ, cao độ

Trang 4

và giọng… để biểu đạt đúng ý nghĩa và tình cảm mà tác giả đã gửi gắm vào bài đọc, đồng thời thể hiện sự thông hiểu, cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc ở trình độ cao và chỉ thực hiện được trên cơ sở đọc đúng và đọc lưu loát

Luyện đọc thành tiếng không dừng lại ở luyện chính âm (phát đúng âm các tiếng)

mà cần đọc đúng ngữ điệu Để tạo ra ngữ điệu học sinh cần phải làm chủ các thông số âm thanh của giọng: tạo ra cường độ bằng cách đọc to, nhỏ, nhấn giọng Tạo ra tốc độ bằng cách điều khiển độ nhanh chậm, và chỗ ngắt nghỉ của lời Tạo ra cao độ bằng cách nâng giọng, hạ giọng Tạo ra trường độ bằng cách kéo dài giọng (ngân) hay không kéo dài

Những yếu tố này không tồn tại một cách cô lập mà thống nhất lại thành một tổ hợp phản ánh đúng thái độ, tình cảm, cảm xúc của tác giả khi mô tả mới tạo thành ngữ điệu Ngữ điệu chính là sự hòa đồng âm hưởng của bài học Nó có giá trị lớn để bộ lộ cảm xúc Vì vậy, để đọc diễn cảm, phải làm được ngữ điệu, nghĩa là có khả năng sử dụng phối hợp tổng hòa các yếu tố âm thanh ngôn ngữ và tái hiện được cảm xúc

3 Chú trọng luyện đọc đúng, đọc diễn cảm từ khi bắt đầu luyện đọc, chứ không chỉ chú trọng khi luyện đọc diễn cảm Khi học sinh đọc giáo viên cần sửa lỗi đọc từ, ngắt nghỉ giọng cho học sinh ngay

Đọc đúng ngữ điệu trước hết cần đọc đúng chỗ ngắt nghỉ và đọc đúng ngữ điệu câu Chỗ ngắt giọng mà chúng ta nói ở đây là chỗ ngắt giọng lôgic Có bài Luyện từ và câu đã dạy “Nói, đọc trước hết phải nghỉ hơi” Như vậy khi đọc nhìn thấy trên văn bản có dấu chấm câu phải nghỉ hơi Nhờ chỗ nghỉ hơi cùng một ngữ điệu của người đọc, người nghe mới có thể phân cách dòng ngữ lưu ra từng ý mà tiếp nhận Chỗ nghỉ ở giữa các câu quan trọng như vậy, nhưng trên thực tế HS và nhiều khi cả giáo viên không ý thức được tầm quan trọng này nên đã đọc không tách các câu, khiến người nghe rất khó theo dõi

Còn dấu phẩy văn bản được thể hiện bằng chỗ ngắt hơi Có thể định lượng: sau dấu chấm

nghỉ hơi lâu hơn hai lần so với chỗ ngừng sau dấu phẩy Sau dấu chấm xuống dòng phải nghỉ lâu hơn hai lần so với chỗ ngừng dấu chấm Như vậy thời gian ngừng sau mỗi dấu câu là khác nhau (người giáo viên phải biết điều này và nhắc cho học sinh để HS đọc đúng) Cần lưu ý là thời gian ngừng sau dấu phẩy cũng không phải lúc nào cũng bằng nhau: dấu phẩy phân cách hai vế của câu trong câu ghép đẳng lập ngừng lâu hơn, và dấu phẩy sau trạng ngữ dừng lâu hơn dấu phẩy phân cách các bộ phận đẳng lập

Ví dụ : Mới đầu xuân năm kia,/ 1 những hạt thảo quả gieo trên đất rừng,/ 2 qua một năm, / 2 đã lớn cao tới bụng người Một năm sau nữa, / 1 từ một thân lẻ, / 2 thảo quả đâm thêm hai nhánh mới Sự sinh sôi sao mà mạnh mẽ vậy Thoáng cái, / 1 dưới bóng râm của rừng già, / 2 thảo quả lan toả nơi tầng rừng thấp, / 2 vươn ngọn, / 2 xoè lá/ 2 lấn chiếm không gian… (Mùa thảo quả- TV5.T1)

Trang 5

Trong các câu trên chỗ dừng dấu phẩy thứ nhất (ký hiệu 1) sẽ dừng lâu hơn chỗ dừng dấu phẩy sau (ký hiệu 2)

Đặc biệt, dấu phẩy phân cách các bộ phận đẳng lập có tính chất liệt kê ngắn chỉ nên ngắt hơi ngắn, nhẹ, nếu không sẽ tạo ra cách đọc nhấn vào từng tiếng nghe rất không

tự nhiên, ví dụ không ngừng quá lâu sau dấu phẩy trong các câu sau:

+ Đền đài, /miếu mạo, /cung điện của họ lúp xúp dưới chân.

(Kỳ diệu rừng xanh –TV5.T1) + Người Tày từ khắp ngả

Đi gặt lúa,/ trồng rau Những người Giáy,/ người Dao

Đi tìm măng,/ hái nấm (Cổng trời trên mặt đất – TV5 T1)

+ Vì thế ở ven biển các tỉnh như Cà Mau,/ Bạc Liêu,/ Bến Tre,/ Trà Vinh,/ Sóc Trăng,/ Hà Tĩnh,/ Nghệ An,/ Thái Bình,/ Hải Phòng,/ Quảng Ninh,/… đều có phong trào trồng rừng ngập mặn (Trồng rừng ngập mặn – TV5 T1)

Chỗ ngắt giọng phản ánh các quan hệ ngữ pháp và các quan hệ ngữ pháp này có lúc được biểu hiện trên chữ viết bằng các dấu câu nhưng có lúc lại không biểu hiện gì trên chữ viết Lúc này muốn đọc đúng chỗ ngắt giọng cần nắm được các quan hệ ngữ pháp Và đây chính là chỗ chúng ta cần phải biết để xác định nội dung luyện ngắt giọng đúng cho từng bài đọc cụ thể Trong giáo án phần này là nội dung thứ 2 của mục đọc đúng

Khi đọc các bài văn xuôi, chỗ ngắt giọng phải trùng hợp với ranh giới ngữ đoạn Khi đọc một bài thơ, chỗ ngắt nhịp phải tương ứng với chỗ kết thúc một tiết đoạn Nhờ hiểu nghĩa và các quan hệ ngữ pháp, ta đọc đúng chỗ ngắt giọng và ngược lại, chỗ ngắt giọng cũng là một căn cứ để người nghe xác định được ý nghĩa từ vựng, ngữ pháp, nội dung của bài đọc

Đọc sai chỗ ngắt giọng phản ánh một cách hiểu sai nghĩa hoặc ít ra là một các đọc không để ý đến nghĩa Vì vậy, đọc đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng đúng nói riêng vừa là mục đích của dạy học thành tiếng, vừa là phương tiện giúp HS chiếm lĩnh nội

dung bài Chúng ta cần nắm cơ sở ngữ nghĩa, ngữ pháp của chỗ ngắt giọng, dự tính những chỗ HS hay ngắt giọng sai khi đọc, cũng là xác định những chỗ cần luyện ngắt giọng trong bài tập đọc cụ thể và hiểu đúng các bài tập đọc

+ Ví dụ: Sau 80 mươi năm giời nô lệ làm cho đất nước bị yếu hèn, ngày nay/

chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã dành cho chúng ta; nước nhà trông mong/ chờ đợi ở các em rất nhiều (Thư gửi các học sinh – TV5.T1)

Trang 6

Cô bé ngây thơ tin vào một truyền thuyết nói rằng / nếu gấp đủ một nghìn con sếu bằng giấy treo quanh phòng, em sẽ khỏi bệnh Nhưng Xa-xa-cô chết/ khi em mới gấp được 644 con (Những con sếu bằng giấy – TV5.T1)

Thế là/ A-lếch-xây đưa bàn tay vừa to / vừa chắc ra / nắm lấy bàn tay đầy dầu mỡ của tôi lắc mạnh và nói (Một chuyên gia máy xúc – TV5.T1)

+ Chiều/ đi học về

Chúng em qua ngôi nhà xây dở.

Ngôi nhà/ như trẻ nhỏ

Lớn lên/ với trời xanh… (Về ngôi nhà đang xây – TV5.T1)

+ Lãn Ông biết tin/ bèn đến thăm (Thầy thuốc như mẹ hiền)

4 Cần thấy rõ mỗi bài (mỗi văn bản) đều có những nét đặc trưng riêng, có bài phải chú trọng hơn phần ngắt nhịp nhưng có bài chú ý hơn về các từ gợi cảm, gợi tả trong bài… ngay cả những văn bản phi nghệ thuật cũng cần phải đọc diễn cảm thì người nghe mới hiểu biết nội dung văn bản muốn thông báo điều gì? Tức là cần đọc đúng các loại kiểu câu

Trong phát ngôn, ngữ điệu có chức năng phân biệt các loại thông báo và phân biệt các bộ phận của phát ngôn Dựa vào chức năng của ngôn ngữ thì có thể chia ngữ điệu thành ngữ điệu cảm thán (ngữ điệu than), ngữ điệu cầu khiến, ngữ điệu mệnh lệnh, ngữ điệu chưa kết thúc, ngữ điệu hỏi, ngữ điệu liệt kê Ở ngữ điệu cản thán, từ được tách ra phát âm cao giọng hơn so với trong câu tường thuật nhưng lại thấp giọng hơn so với câu hỏi Ta có thể chia ngữ điệu câu thành ngữ điệu xuống (hạ giọng), ngữ điệu lên giọng, ngữ điệu mạnh và ngữ điệu yếu

* Ngữ điệu yếu (đọc nhỏ và lơi giọng) thường xuất hiện ở cuối đoạn thì có nghĩa là

lời nói chưa kết thúc, còn bỏ lửng Trên chữ viết nếu nhìn thấy dấu “…” chỉ sự ngập ngừng chưa nói hết thì đọc với ngữ điệu yếu

Ví dụ ngữ điệu yếu xuất hiện ở các ví dụ sau trong:

+ Ê-mi-li, con đi cùng cha.

Sau khôn lớn, con thuộc đường, khỏi lạc…

Ê-mi-li con ôi!

Trời sắp tối rồi…

Cha không bế con về được nữa! (Ê-mi-li, con…- TV5.T1) + Có lời mẹ hát

Ngọt bùi đắng cay … Cua ngoi lên bờ

Mẹ em xuống cấy…

Bát cơm mùa gặt Thơm hào giao thông…

Em vui em hát Hạt vàng làng ta… (Hạt gạo làng ta - TV5.T1)

Trang 7

+ Ngôi nhà như trẻ nhỏ Lớn lên với trời xanh… (Về ngôi nhà đang xây – TV5.T1)

* Ngữ điệu mạnh (đọc to hoặc nhấn giọng) Trong ngữ đoạn, ngữ điệu mạnh nêu

bật những từ người ta muốn nhấn mạnh đặc biệt và lúc này ngữ điệu mạnh trùng với

trọng âm Ví dụ trong bài Đất Cà Mau nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, gợi cảm làm

nổi bật sự khắc nghiệt của thiên nhiên ở Cà Mau và tính cách kiên cường của người Cà Mau

+ (Đoạn 1: giọng hơi nhanh, mạnh, nhấn giọng ở những từ ngữ tả sự khác thường của

mưa ở Cà Mau: sớm nắng chiều mưa, nắng đó, đổ ngay xuống, hối hả, rất phũ,…)

+ (Đoạn 2: nhấn giọng các từ ngữ miêu tả tính cách khắc nghiệt ở thiên nhiên ở Cà Mau,

sức sống mãnh liệt của cây cối ở đất CM: nẻ chân chim, rạn nứt, phập phều, lắm gió, dông, cơn thịnh nộ… thẳng đuột, hằng hà sa số…)

+ (Đoạn 3: giọng thể hiện niềm tự hào, khâm phục, nhấn mạnh các từ ngữ về tính cách

con người Cà Mau: thông minh, giàu nghị lực, huyền thoại, thượng võ, lưu truyền…)

Câu cảm, câu cầu khiến yêu cầu mạnh mà trên chữ viết được biểu thị bằng dấu chấm cảm sẽ có ngữ điệu mạnh Còn câu cầu khiến mời mọc, đề nghị nhẹ nhàng mà trên chữ viết thường ghi dấu chấm sẽ được đọc với giọng nhẹ hơn Những câu có hình thức là cảm mà đích thông báo thực chất là câu mệnh lệnh cũng được đọc với ngữ điệu mạnh

Ví dụ: + Anh chị kia!

Ngồi xuống !

Có thế chớ! Nào! Nói lẹ đi!

Thằng ranh! Giấy tờ đâu, đưa coi! (Lòng dân)

(Ở những câu này đều đọc với ngữ điệu mạnh)

* Ngữ điệu xuống (hạ giọng) dùng để kết thúc câu tường thuật Như vậy, đường

ranh giới câu không chỉ thể hiện chỗ ngừng mà còn ở ngữ điệu kết thúc đi xuống Nếu khi đọc một đoạn những câu tường thuật, ta không hạ giọng ở cuối câu thì sẽ không tạo ra được sự luân chuyển nhịp nhàng cao độ của các câu, vì vậy sẽ chóng bị mệt và làm người nghe khó theo dõi các ý Những câu cầu khiến với lời đề nghị nhẹ nhàng, những câu hỏi

tu từ mà thực chất là những câu khẳng định cũng được đọc với ngữ điệu xuống

+ Ví dụ: Có gió thoảng mây trôi

Cổng trời trên mặt đất? (Trước cổng trời – TV5.T)

Ừ, đúng rồi! Đất lành chim đậu, có gì lạ đâu hả cháu?

(Chuyện một khu vườn nhỏ - TV5.T1) + Ôi những linh hồn

Còn, mất? (Ê-mi-li, con…)

Trang 8

* Ngữ điệu lên (còn gọi là ngữ điệu treo) là ngữ điệu có giọng đọc cao ở cuối câu

Ngữ điệu này thường dùng trong câu hỏi, nhất là câu hỏi không có từ để hỏi, những câu cảm thán, những câu mệnh lệnh có yêu cầu mạnh

Ví dụ: +Đi đâu cha?

+ Phải đấy! Cô giáo cho lũ làng xem cái chữ nào! (Buôn Chư Lênh đón cô giáo)

Thường khi đọc, nhiều giáo viên và cả học sinh không chú ý đến dấu câu nên không đọc đúng kiểu câu, vì vậy không thể hiện đúng ý nghĩa, cảm xúc cần có Giáo viên

và học sinh cũng cần tránh việc quá chú ý vào dấu câu nên đã đọc quá mạnh, quá yếu, hay quá thấp gây ra những chỗ gấp khúc, gãy về đường nét âm thanh nên nghe không tự nhiên, không hợp với cảm xúc

5 Để đọc đúng kiểu văn bản thì người GV cần phải biết một điều đơn giản rằng, giọng đọc một văn bản công vụ, hành chính, một mẩu tin khác với giọng đọc một văn bản nghệ thuật, giọng đọc truyện khác giọng đọc kịch, đọc thơ, giọng đọc của một đoạn văn miêu tả khác giọng đọc một bài tường thuật… như vậy xác định ngữ điệu đọc không thể tách rời với phong cách văn bản GV biết điều này để khi đọc mẫu cho đúng và để hướng dẫn cho HS cách đọc Đọc diễn cảm là việc đọc thể hiện ở kĩ năng làm chủ ngữ điệu để biểu đạt ý nghĩa, tình cảm mà tác giả đã gửi gắm trong văn bản được đọc, đồng thời cũng biểu hiện sự thông hiểu, cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm Đọc diễn cảm ở đây phản ánh cách hiểu bài văn, bài thơ và việc hiểu là cơ sở của đọc diễn cảm

Như vậy: Đọc và hiểu là hai quá trình gắn bó với nhau Nếu đọc “đúng”, đọc

“hay” thì sẽ hiểu văn bản một các dễ dàng và ngược lại nếu “hiểu” thì việc đọc sẽ hay hơn, diễn cảm hơn Nên điều này bắt buộc giáo viên phải có cách giảng bài văn thật loâi cuoán để học sinh hiểu bài tốt và học sinh phải tích cực học tập tìm hiểu nội dung

Đọc diễn cảm phải xác định nội dung, ý nghĩa của bài đọc, sắc thái tình cảm, cảm xúc, giọng điệu chung của bài Đây là nhiệm vụ của quá trình đọc hiểu Kết thúc quá trình đọc hiểu HS phải xác định được cảm xúc của bài: vui, buồn, tự họa, thiết tha, nghiêm trang, sâu lắng, ca ngợi …Có biết bao nhiêu trạng thái cảm xúc Ngay trong một bài cũng có thể hoà trộn nhiều cảm xúc nhưng tóm lại giọng chủ yếu trong chương trình lớp 5 là: vui tươi nhẹ nhàng, tự hào yêu mến, tha thiết, ngợi ca, trầm hùng mạnh mẽ Bên cạnh những giọng này còn có giọng điệu tiêu biểu là tâm trạng nhẹ nhàng

Điều quan trọng và rất khó khăn là sử dụng những yếu tố âm thanh của ngữ điệu

để thế nào làm thể hiện cho đúng cảm xúc đã xác định Phương pháp làm việc với HS nhỏ là: HS nhỏ không thể đọc diễn cảm khi chúng ta chỉ dừng lại ở những chỉ dẫn: “Em

cố gắng đọc cho hay hơn, cố gắng đọc cho diễn cảm hơn” hay là: “Em cố gắng đọc cho vui hơn, đọc cho thiết tha hơn” HS chỉ có thể làm chủ được giọng đọc khi chúng ta có

Trang 9

được lời chỉ dẫn rõ ràng, nghĩa là GV phải nhắc HS: Cần đọc to lên, nhỏ đi, cao giọng lên, hạ giọng xuống, ngắt nghỉ ở chỗ này chỗ kia, kéo dài tiếng này, lớn giọng tiếng kia…

Để đọc diễn cảm, người đọc phải làm chủ được chỗ ngắt giọng, là ngắt giọng biểu cảm, làm chủ được tốc độ đọc (đọc nhanh, chậm, chỗ ngân hay là việc giãn nhịp đọc), làm chủ được cường độ giọng (đọc to hay nhỏ, nhấn giọng hay lơi giọng), và làm chủ cao

độ (độ cao của giọng đọc, lên giọng hay hạ giọng) Ở tiểu học (Lớp 5) khi đọc diễn cảm thường phải đạt được một số kỹ thuật như: ngắt giọng biểu cảm, sử dụng tốc độ, cường

độ, và cao độ

* Ngắt giọng biểu cảm: Bên cạnh việc dạy HS ngắt giọng thể hiện đúng quan hệ

ngữ nghĩa – ngữ pháp còn cần phải dạy ngắt giọng biểu cảm Đó là chỗ ngừng lâu hơn bình thường hoặc chỗ ngừng không do lôgic ngữ nghĩa mà do dụng ý của người đọc nhằm gây ấn tượng về cảm xúc Ngắt giọng biểu cảm đối lập với ngắt giọng lôgic Ngắt giọng lôgic là chỗ dừng để tách các nhóm từ trong câu Ngắt giọng lôgic hoàn toàn phụ thuộc vào ý nghĩa và quan hệ giữa các từ Ngắt giọng đúng và hay là đích của dạy đọc và cũng là một trong những phương tiện để dạy tiếp nhận, chiếm lĩnh văn bản được đọc

* Tốc độ: Tốc độ đọc chi phối sự diễn cảm, có ảnh hưởng đến việc thể hiện, ý

nghĩa cảm xúc Để HS làm chủ tốc độ đọc diễn cảm thì cần luyện cho HS kỹ năng đọc nhanh Đọc nhanh (còn gọi là đọc lưu loát, trôi chảy) là một phẩm chất của đọc về mặt tốc độ, là việc đọc không ê a, ngắc ngứ Ví dụ: đọc một bản ngắn, một lời nhắn, đọc một bản tự thuật, một mục lục sách thì tốc độ đọc phải nhanh hơn đọc một văn bản văn chương Tốc độ đọc truyện phải nhanh hơn đọc thơ trữ tình vì đọc thơ trữ tình cần thời gian để bộc lộ cảm xúc Khi đọc văn bản có nội dung miêu tả một công việc dồn dập, khẩn trương phải đọc nhịp nhanh Cảm xúc vui cũng với nhịp nhanh Cảm xúc phấn khởi

tự hào cũng thể hiện tốc độ không quá chậm

* Cường độ: Trước khi nói đến sử dụng cường độ trong đọc diễn cảm cần phải nói

đến dạy đọc to Khi đọc trước nhiều người, HS phải tính đến người nghe Các em phải hiểu rằng không chỉ đọc cho mình nghe mà phải đọc sao cho cả tập thể này nghe rõ Nghĩa là phải đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe được mới thôi Nhưng như thế không có nghĩa là đọc quá to hoặc gào lên để gây sự chú ý của các bạn

Cường độ đọc có giá trị diễn cảm Cường độ phối hợp với cao độ sẽ tạo ra giọng vang (cường độ lớn: đọc to, hoặc nhấn giọng, cao độ: cao) hay giọng lắng (cường độ yếu,

cao độ thấp)

Ví dụ: Trên sông Đà

Một đêm trăng chơivơi Tôi đã nghe tiếng ba-la-lai-ca Một cô gái Nga mái tóc màu hạt dẻ

Trang 10

Ngĩn tay đan trên những sợi dây đồng.

(Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sơng Đà – TV5.T1)

Đọc giọng lắng để thể hiện niềm xúc động của tác giả khi nghe tiếng đàn trong đêm trăng,…

Khi đọc khơng ngắt bằng những phách mạnh mà dùng trường độ hơi kéo dài giọng

để tạo đường ranh giới ngắt nhịp, đồng thời phải đọc với giọng nhẹ nhàng tha thiết như lời ru

* Cao độ: Cao độ để đọc diễn cảm là những chỗ lên giọng, xuống giọng cĩ dụng ý

nghệ thuật Kết hợp với cao độ trong giọng để phân biệt lời tác giả và lời nhân vật: trong SGK cĩ rất nhiều văn bản kể chuyện, ở đĩ luơn cĩ sự xen kẽ lời nhân vật với lời tác giả - lời dẫn chuyện Khi đọc những lời dẫn chuyện cần đọc với giọng nhỏ hơn, thấp hơn những lời nĩi trực tiếp của nhân vật Ở đây cĩ sự chuyển giọng mà những lời dẫn như nền thấp cho những lời thoại nổi lên Đọc văn bản kịch (Ví dụ như bài LỊNG DÂN)

Như vậy “đọc diễn cảm” khơng phải là đọc sao cho “điệu”, thiếu tự nhiên, dựa vào

ý thức chủ quan của người đọc Mà đọc diễn cảm là sử dụng ngữ điệu để thể hiện cho được cảm xúc của bài đọc Vì vậy phải hịa nhập được với câu chuyện, bài văn, bài thơ,

cĩ cảm xúc mới tìm thấy ngữ điệu thích hợp Chính tác phẩm quy định ngữ điệu cho chúng ta chứ khơng phải chúng ta tự đặt ra ngữ điệu

6 Trước khi đọc mẫu cho học sinh nghe, giáo viên cần nĩi rõ giọng đọc của bài như thế nào, của từng đoạn, từng câu, từng nhân vật, nhấn giọng ở những từ ngữ nào…tất

cả điều đĩ giúp cho học sinh xác định được các đọc của bài Với những câu dài giáo viên hướng dẫn mẫu nơi nghỉ hơi và cho học sinh luyện đọc câu đĩ

VD: Bài: “Bài ca về trái đất”

Trước khi đọc GV hướng dẫn giọng đọc của bài: Bài thơ đọc với giọng vui, hồn nhiên, nhấn giọng vào từ gợi tả, gợi cảm HS chú ý nghỉ hơi đúng nhịp thơ

Trái đất này/ là của chúng mình Quả bĩng xanh/ bay giữa trời xanh Trái đất trẻ /của bạn trẻ năm châu Vàng, trắng, đen…/ dù da khác màu Bom H, bom A / khơng phải bạn ta Tiếng hát vui/ giữ bình yên trái đất Tiếng cười ran/ cho trái đất khơng già (Bài ca về trái đất – TV5.T1)

Ví dụ: Đọc đúng văn bản khoa học thường thức cĩ bảng thống kê:

GV đọc mẫu bài văn- giọng đọc thể hiện tình cảm trân trọng, tự hào; đọc rõ ràng, rành mạch bảng thống kê theo trình tự cột ngang như sau:

Ngày đăng: 30/03/2021, 04:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w