KẾT LUẬN: Với việc dạy học bằng phương pháp trò chơi hay nói cách khác đây chính là phương pháp dạy học bằng tình huống thì giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức mà giáo viên cần t[r]
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂY NINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRUNG TRỰC
GIẢI PHÁP KHOA HỌC
DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 10 Ở
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRUNG TRỰC THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI
Người thực hiện: Lê Phan Thị Kiều Liên
Tây Ninh – Tháng 4/ 2011
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Nền giáo dục của đất nước Việt Nam ta trong những năm gần đây đã có những cải cách và tiến bộ vượt bậc so với thời điểm mười năm về trước Tuy nhiên, chất lượng giáo dục ở nước ta vẫn còn là một điều rất đáng quan tâm Đơn giản bởi vì hệ thống quản lí giáo dục chưa tốt, chương trình sách giáo khoa quá
ôm đồm về kiến thức, và đặc biệt là nhiều trường học chưa đạt được nhiều tiêu chuẩn Vấn đề trường học ở nước ta lâu nay gây khá nhiều bức xúc trong dư luận, đặc biệt là khi so sánh với những trường học quốc tế
Cùng với xu thế chung của nền giáo Việt Nam thì chất lượng giáo dục ở tỉnh Tây Ninh nói chung và ở Trường THPT Nguyễn Trung Trực nói riêng vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm Bản thân chúng tôi là giáo viên chứng kiến học sinh mình năm này sang năm khác chất lượng các em học tập ngày một “tệ hơn”,
“dở hơn” đặc biệt là các học sinh khối 10 Chúng tôi luôn tự hỏi tại sao? Tại sao trong điều kiện như hiện nay, công nghệ thông tin phát triển mạnh, học sinh được tiếp xúc với nhiều trang thiết bị hiện đại, việc cập nhật thông tin một cách dễ dàng và nhanh chóng,… thế mà việc học của các em ngày một sa sút hơn Qua lần khảo sát chất lượng đầu năm môn toán khối 10, chúng tôi nhận thấy ở một
lớp từ 35 – 40 học sinh thì có 1- 5 học sinh đạt điểm 5 trở lên (Bảng số liệu kèm theo).
TSHS Cộng dưới TB Cộng trên TB STT Lớp TS Nữ T.số Tỉ lệ T.số Tỉ lệ
2 10C2 45 21 40 88.9 5 11.1
3 10C3 48 20 43 89.6 5 10.4
Trang 37 10C7 48 22 42 87.5 6 12.5
8 10C8 48 17 43 89.6 5 10.4
10 10C10 48 18 42 87.5 6 12.5
11 10C11 47 19 44 93.6 3 6.4
12 10C12 42 26 36 85.7 6 14.3
Chúng tôi đã làm một quan khảo sát nhỏ đối với học sinh khối 10 trong vòng 3 tuần và nhận thấy được rằng: “ Học sinh khối 10 đang nằm ở lứa tuổi vui chơi, các em thích khẳng định mình, các game từ Internet thu hút rất nhiều học sinh, sau khi hoàn thành một game nào đó các em nhớ rất rõ trình tự các bước đều này chứng tỏ các em có trí nhớ rất tốt” Từ đó chúng tôi cho rằng nếu đặt các tri thức toán học vào trò chơi học sinh sẽ tiếp thu các tri thức đó một cách chủ động hơn và học sinh cũng nỗ lực hết mình – “chơi mà học” Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Dạy học bộ môn toán lớp 10 ở Trường THPT Nguyễn Trung Trực thông qua phương pháp trò chơi”
2.Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu:
a Khách thể nghiên cứu:
Giáo viên môn Toán và học sinh khối 10 ở Trường THPT Nguyễn Trung Trực
b Đối tượng nghiên cứu:
Việc dạy và học môn Toán 10 thông qua phương pháp trò chơi
3.Mục đích nghiên cứu:
Với đề tài “Dạy học bộ môn toán lớp 10 ở Trường THPT Nguyễn Trung Trực thông qua phương pháp trò chơi” chúng tôi muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Thông qua phương pháp trò chơi học sinh có tiếp thu được tri thức toán học không? Chất lượng bộ môn toán có tăng lên không?”
4.Phạm vi nghiên cứu:
Để để tài nghiên cứu có tính xác thực hơn chúng tôi xin giới hạn lại đề tài của mình là “Dạy học bộ môn toán lớp 10C12 ở Trường THPT Nguyễn Trung Trực thông qua phương pháp trò chơi”
Trang 45.Phương pháp nghiên cứu:
5.1.Đọc tài liệu để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài.
5.2.Thiết kế giáo án giảng dạy sử dụng phương pháp trò chơi.
5.3 So sánh đối chiếu kết quả
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
I.Cơ sở lí luận:
- Căn cứ theo Nghị Quyết 40/2000/QH10 của Quốc Hội, toàn quốc đang thực
hiện đổi mới giáo dục phổ thông
- Căn cứ theo Nghị Quyết Trung ương số 4 khóa VII (1- 1993), Nghị Quyết Trung ướng 2 khóa VIII (12 - 1996) về định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy, được thể chế hóa trong Luật Giáo Dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4- 1999)
- Căn cứ theo Luật Giáo dục, điểu 28.2, đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
- Theo tâm lý học tuổi từ 14, 15 -> 17,18 tuổi là tuổi thanh niên mới lớn Ở tuổi này sự phát triển của hệ thần kinh có sự phát triển mạnh Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Có sự thay đổi về tư duy: các em có khả năng tư duy độc lập, tư duy trừu tượng, nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách khách quan
Trang 6II Cơ sở thực tiễn:
“Theo một quan niệm rất phổ biến, thì việc chuyển từ dạy sang học chỉ là
một sự liên hệ chuyển giao đơn giản: học sinh ghi nhận những gì giáo viên
truyền thụ với ít nhiều mất mát thông tin” (Laborde, 1989)
Nhiều công trình nghiên cứu đã vạch ra sai sót của quan điểm đó việc học không phải là một quá trình chuyển giao đơn giản, cũng không phải là một quá trình tuyến tính liên tục
“Chủ thể học bằng cách tự thích nghi (đồng hóa và điều tiết) với môi trường gây ra mâu thuẫn, khó khăn, mất cân bằng.”Chẳng hạn, với một chiếc xe bốn bánh : 1 bánh phía trước và 2 bánh phía sau Trẻ em học đi lái xe đạp và quay ghi đông rất dễ dàng theo một mô hình
- Muốn rẽ phải, quay ghi đông về bên phải (P → P)
- Muốn rẽ trái thì quay ghi đông về bên trái (T → T) (Brousseau, 1988, tr.62)
Sau đó người ta tháo 2 bánh phía sau đi xe trở thành xe 2 bánh Trẻ muốn sang đi thẳng nhưng xe nghiêng về bên phải và như vậy chạy về bên phải Trẻ muốn trở sang trái bẻ ghi đông về trái và…ngã xoạch Và ngã nhiều lần như thế trẻ nhận ra được rằng không thể dùng cách điều khiển xe bốn bánh cho xe 2 bánh được Từ đó trẻ dùng một cách khác thích hợp hơn Để giữ thăng bằng trẻ phải bẻ ghi đông về phía nghiêng của xe và thực hiện điều khiển xe theo mô hình ngược lại
T → P, P → T
Do đó giáo viên tìm cách đưa ra một tình huống sao cho học sinh xây dựng mối quan hệ của chúng với đối tượng kiến thức hay thay đổi quan hệ ấy để đáp ứng đòi hỏi của môi trường chứ không phải là đòi hỏi của giáo viên Nhưng cũng cần chú ý tình huống giáo viên đưa ra phải cho học sinh thật sự cảm thấy có nhu cầu, hứng thú và tự nguyện nhận trách nhiệm giải quyết vấn đề như là đòi hỏi của môi trường Kết quả của hoạt động giải quyết vấn đề là học sinh lĩnh hội
Trang 7được kiến thức mà giáo viên mong muốn truyền thụ Tuy nhiên ý đồ dạy học kiến thức này của giáo viên không bộc lộ một cách rõ ràng mà được che dấu đằng sau môi trường mà giáo viên cố ý xây dựng
Hay nói một cách khác, tình huống này chính là tình huống dạy học đối với giáo viên (nó được giáo viên tổ chức với mục đích dạy học một kiến thức nào đó) nhưng trên một phương diện khác đối với học sinh nó lại xuất hiện như một tình huống ngoài sư phạm vì chủ thể học sinh hứng thú giải quyết vấn đề từ đòi hỏi môi trường, độc lập với ý đồ dạy học của giáo viên Mối quan hệ này có thể
sơ đồ hóa như sau:
Ví dụ minh họa:
Có hai tấm vải kẻ sọc vuông (vải ca rô) Mỗi ô caro hình vuông có cạnh
là 1cm
Tấm vải thứ nhất màu vàng, hình chữ nhật kích thước là 20cm và 28cm Tấm vải thứ nhất màu xanh, hình chữ nhật kích thước là 138cm và 186cm
Để trang hoàng cho một lễ hội, người ta cầm cắt tấm vải màu vàng theo các sọc kẻ thành các tấm vải nhỏ, thõa mãn các điều kiện sau:
- Các tấm vải nhỏ đều bằng nhau, dạng hình vuông và có kích thước lớn nhất có thể
- Tấm vải màu vàng đã cho phải được cắt hết, không còn dư mảnh nào
Kiến thức
Giáo viên
Tình huống dạy học
Hành động
Thông tin phản hồi
Tình huống ngoài dạy học
Trang 8- Tấm vải xanh cũng được cắt tương tự thành các tấm vải nhỏ hình vuông bằng nhau, có kích thước lớn nhất có thể
Hãy tính số đo cạnh của tấm vải nhỏ cần cắt ra từ tấm vải màu vàng và số
đo cạnh của tấm vải cần cắt ra từ tấm vải màu xanh
Cách thức hoạt động: Học sinh làm việc theo nhóm, mỗi nhóm được phát chỉ một tấm vải như tấm vải màu vàng nêu trên
Mỗi nhóm viết lời giải của mình trên tờ giấy khổ rộng Các lời giải này sẽ được đưa ra trưng bày và thảo luận giữa các nhóm
Bình luận: Thoạt tiên ít nhất học sinh nghĩ đến ít nhất một phương án sau đây.
Dựa vào tấm vải mà mỗi nhóm được phát, học sinh sẽ kiểm tra các phương án cắt lần lượt thành các tấm vải nhỏ, kích thước 1cm, 2cm, 3cm,…Việc
“thử sai” như vậy sẽ cho phép học sinh tìm ra kích thước tấm vải cần cắt là 4cm
Tuy nhiên, phương án này chỉ cho phép giải quyết một phần bài toán Cụ thể, nó không cho phép giải quyết trường hợp tấm vải màu xanh do kích thước quá lớn
Dù còn khiếm khuyết, nhưng nhiều khả năng qua phương án này, học sinh
sẽ phát hiện phương án tối ưu (tìm ước chung lớn nhất của số đo chiều dài và chiều rộng của hình chữ nhật)
(Tình huống này được gợi ra từ bài tập 145, SGK toán 6, Tập 1, NXBGD 2003,
sau khi học xong khái niệm ước chung lớn nhất)
III Nội dung vấn đề
1.Phương pháp trò chơi
Trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn đề hay thực hiện những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi nào đó
Cùng với học tập, giao lưu với bạn bè, vui chơi cũng là một nhu cầu của thanh thiếu niên học sinh Lí luận và thực tiễn đã chứng tỏ rằng: nếu biết tổ chức
Trang 9cho thanh thiếu niên vui chơi một cách hợp lí, lành mạnh thì đều mang lại hiệu quả giáo dục Qua trò chơi, lớp trẻ không những được phát triển về các mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ mà còn được hình thành nhiều phẩm chất và hành vi tích cực Chính vì vậy, trò chơi được sử dụng như là một phương pháp dạy học quan trọng
- Qua trò chơi, học sinh có cơ hội để thể nghiệm những thái độ, hành vi Chính nhờ sự thể nghiệm này, sẽ hình thành được ở các em niềm tin vào những thái độ, hành vi tích cực, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống
- Qua trò chơi, học sinh sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống
- Qua trò chơi, học sinh được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi
- Bằng trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động; không khô khan, nhàm chán Học sinh được lôi cuốn vào quá trình luyện tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải trừ được những mệt mỏi, căng thẳng trong học tập
- Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa học sinh với học sinh, giữa giáo viên với học sinh
2 Minh họa dạy học thông qua phương pháp trò chơi
Xây dựng tình huống dạy học về phương trình đường tròn - hình học 10
TRÒ CHƠI “HOÀNG TỬ CỨU CÔNG CHÚA”
1 Mô tả trò chơi:
a Trò chơi:
Trò chơi có thể tổ chức cho cá nhân hoặc một nhóm nhỏ (5 người) trên máy vi tính Mỗi cá nhân hoặc nhóm tham gia trang bị giấy
kẻ ô, compa, bút và máy tính
Trang 10Nội dung trò chơi như sau:
Người chơi đóng vai một hoàng tử đi giải cứu công chúa bị mụ phù thủy bắt giữ
Hoàng tử bắt đầu hành trình giải cứu công chúa từ hoàng cung
Để cứu được công chúa, hoàng tử phải có đủ 3 báu vật: kiếm thần, gương thần và chìa khóa vàng Ba báu vật được cất giữ trong ngôi nhà
cổ, con suối độc và hang động của mụ phù thủy, trong đó hoàng cung,
ngôi nhà cổ và con suối độc được xây dựng trên một đường tròn (C).
Để có được mỗi báu vật hoàng tử phải đổi 3 viên kim cương tìm được trên đường đi Tất cả các viên kim cương được cất dấu trên đường tròn (C) đi qua hoàng cung, ngôi nhà cổ, con suối độc Ngoài những viên kim cương thật, mụ phù thủy còn bố trí những viên kim cương giả (không nằm trên đường tròn (C)) chứa thuốc độc nếu chạm vào sẽ chết Nhiệm vụ của hoàng tử là tìm đủ 9 viên kim cương thật để dổi lấy báu vật tiêu diệt mụ phù thủy và giải cứu công chúa
Cách chơi:
Mở màn:
Màn hình Power Point sẽ hiện 3 điểm màu xanh có tọa độ (tương ứng vị trí của hoàng cung, ngôi nhà cổ và con suối độc) và 18 điểm màu đỏ (tượng trưng cho 18 viên kim cương, trong đó có 6 viên kim cương thật), đồng thời đường tròn (C) qua 3 điểm màu xanh cũng xuất hiện và biến đi một cách nhanh chóng, trên màn hình chỉ còn 3 điểm màu xanh và 18 điểm màu đỏ Sau đó 18 điểm màu đỏ cũng biến mất, chỉ còn lại 3 điểm màu xanh trên màn hình
Màn 1:
Người chơi đóng vai hoàng tử và bắt đầu hành trình tìm cứu công chúa từ hoàng cung – điểm xanh thứ nhất Trên màn hình xuất hiện 3 điểm màu đỏ có kèm theo tọa độ tượng trưng cho ba viên kim
Trang 11cương, trong đó có một viên kim cương thật Nhiệm vụ của người chơi
là phải chọn ra viên kim cương thật cho hoàng tử bằng cách click chuột vào điểm mình chọn Nếu chọn nhằm viên kim cương giả hoàng
tử sẽ chết và trò chơi kết thúc, nếu chọn viên kim cương thật trò chơi tiếp tục Khi hoàng từ tìm đủ 3 viên kim cương sẽ đổi lấy kiếm thần ở ngôi nhà cổ - điểm xanh thứ 2
Màn 2:
Hoàng tử tiếp tục đi tìm kim cương để đổi lấy gương thần tại con suối độc – điểm xanh thứ ba Quy tắc giống màn 1
Màn cuối:
Hoàng tử cũng phải tìm đủ 3 viên kim cương để đổi chìa khóa vàng ở của hang động của phù thủy và giải cứu công chúa Tuy nhiên, các viên kim cương trong màn này không được hiện ra sẵn cùng các viên kim cương giả để hoàng từ lựa chọn mà các viên kim cương được
mụ phù thủy giấu phía trên đường đi Nhiệm vụ của người chơi là giúp hoàng tử tìm ra đủ 3 viên kim cương thật bằng cách xác định tọa độ của các viên kim cương, biết rằng mụ phù thủy bố trí các viên kim
cương trên đường tròn (C) (bất kì điểm nào thuộc đường tròn cũng là kim cương thật) Ở đây, màn hình sẽ có chỉ dẫn để người chơi kích
hoạt textbox và nhập tọa độ của viên kim cương
b Đối tượng của tình huống:
Học sinh lớp 10, vừa học xong bài phương trình đường thẳng, chuẩn bị học bài phương trình đường tròn
c Mục tiêu tình huống:
- xây dựng kiến thức về phương trình đường tròn
- Học sinh hiểu được nghĩa của phương trình đường tròn
2 Kết quả quan sát được :
Trang 12Đầu tiên, người chơi dùng trực giác “đoán mò” đâu là viên kim cương thât – thuộc đường tròn (C).Tuy nhiên, đến màn 2 và màn cuối thì phương án
“đoán mò” khó thành công hoặc không thể tham gia
Tiếp theo, học sinh bắt đầu thay đổi không “đoán mò” mà bắt đầu dùng giấy nháp vẽ hệ trục tọa độ, vẽ đường tròn đi qua hoàng cung, con suối độc và ngôi nhà cổ.Học sinh nhìn hình vẽ và xác định những viên kim cương thật Đối với phương án này, chỉ đúng trong trường hợp tọa độ các điểm “tương đối chẳn” theo nghĩa của học sinh có thể vẽ hình chính xác và có thể kiểm chứng một cách rõ ràng và tin tưởng là điểm đó thuộc đường tròn hay không Nhưng đối với phương án này học sinh dần dần nhận thấy không còn chính xác nữa đặc biệt là đối với các điểm có tọa độ “lẽ” theo nghĩa việc học sinh biểu diễn các điểm đó lên trục tọa độ gặp khó khăn Việc xác định một điểm
có thuộc đường tròn không theo cảm tính như phương án trên là không chính xác
Từ việc bất cập trên, học sinh chuyển đến một phương án khác – phương án “khoảng cách” nghĩa:
- Tìm tọa độ tâm I của đường tròn
- Tính khoảng cách từ điểm A đến tâm I của đường tròn, so sánh IA
với bán kính của đường tròn kết luận A có thuộc đường tròn hay không?
Như vậy, lần lượt từ phương án này đến phương án khác học sinh đưa ra lựa chọn cuối cùng là phương án tối ưu – phương án “khoảng cách” mà từ đây học sinh tự tiếp thu được kiến thức mới là: điểm A thuộc đường tròn (C) thì
IA = R IA2 = R2 (x – x1)2 +(y – y1)2 = R2 (điều mà giáo viên mong đợi)