1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Ảnh hưởng vitamin C lên tăng trưởng và một số chỉ tiêu miễn dịch của cá lóc nuôi thương phẩm trong vèo

6 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 158,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với cá nuôi cho ăn thức ăn bổ sung vitamin C được trộn bằng tay mỗi ngày, lượng thức ăn ăn vào của cá, hệ số thức ăn, hiệu quả sử dụng protein giữa các nghiệm thức khác biệt không[r]

Trang 1

Protein requirement of Orange-fin loach fingerling

Nguyen Thanh Hieu, Duong Nhut Long, Lam My Lan, Lam van Hieu and Tran Minh Phu

Abstract

The study was to determine dietary protein requirement of orange-fin loach (Botia modesta) fingerlings The

experiment was randomly set up with 7 treatments of protein levels 25%, 30%, 35%, 40%, 45%, 50%, and 55% with the same energy (4 Kcal/g) and lipid levels (6%) and 3 replications Orange-fin loach (4.47 ± 0.13 g) was nursed

in 50 L plastic tanks with the density of 1 fish/L (50 fish/tank) for the duration of 8 weeks The results showed that the specific growth rates (SGR) of orange-fin loach increased and feed conversion ratio (FCR) decreased with the increase of protein levels from 25% to 45% in diets However, in the treatment 50% and 55% protein SGR of fish decreased and FCR increased Dietary protein requirement of orange-fin loach fingerlings (4.47 g) was 45.3%

Keywords: Orange-fin loach, Botia modesta, protein requirement, fingerling rearing

Ngày nhận bài: 14/12/2018

Ngày phản biện: 20/12/2018 Người phản biện: TS Châu Tài TảoNgày duyệt đăng: 19/1/2018

1 Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ

ẢNH HƯỞNG VITAMIN C LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU

MIỄN DỊCH CỦA CÁ LÓC NUÔI THƯƠNG PHẨM TRONG VÈO

Mai Thanh Lâm1, Phạm Minh Đức1 và Trần Thị Thanh Hiền1

TÓM TẮT

Nghiên cứu nhằm xác định phương pháp bổ sung tối ưu và hàm lượng vitamin C thích hợp vào thức ăn giúp kích

thích tăng trưởng và sức khỏe cá lóc (Channa striata) nuôi thương phẩm Nghiên cứu được thực hiện trong 5 tháng

gồm 2 thí nghiệm: Thí nghiệm 1 gồm 4 nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên (4 lần lặp lại) với loại thức

ăn A được bổ sung các mức vitamin C trước khi ép viên (0, 500, 750 và 1000 mg/kg thức ăn) và thí nghiệm 2 gồm 4 nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên (4 lần lặp lại) với loại thức ăn B được trộn vitamin C bằng phương pháp truyền thống mỗi ngày với hàm lượng tương tự thức ăn A Kết quả nghiên cứu cho thấy việc bổ sung vitamin C vào thức ăn trước khi ép viên mang lại hiệu quả tốt hơn trộn vitamin C bằng phương pháp truyền thống mỗi ngày thông qua các chỉ số về tăng trưởng, tỷ lệ sống và miễn dịch Thức ăn công nghiệp cho cá lóc bổ sung vitamin C với hàm lượng từ 500 mg/kg thức ăn đã cải thiện tăng trưởng, tỷ lệ sống, cải thiện sức khỏe cá tăng lợi nhuận

Từ khóa: Cá lóc đen, vitamin C, miễn dịch

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Cá lóc (Channa striata) được nuôi phổ biến

ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bởi chất

lượng thịt thơm ngon và giá thành hợp lý Mô hình

nuôi cá lóc đa dạng như nuôi thâm canh trong ao

đất, nuôi vèo trong ao và nuôi trong bể lót bạt Số

liệu thống kê năm 2017 từ Chi cục Thủy sản của

5 tỉnh nuôi cá lóc chủ yếu ở ĐBSCL (An Giang,

Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh Long và Cần Thơ) cho

thấy diện tích (chủ yếu nuôi trong ao đất) và sản

lượng cá lóc nuôi tăng mạnh trong thập niên 2006

- 2016 từ 132,2 ha tăng lên 552,9 ha và từ 15,9 ngàn

tấn tăng lên 85,6 ngàn tấn; dẫn đến nhu cầu về sản

lượng thức ăn công nghiệp cho cá lóc tăng theo từ 22,3 ngàn tấn tăng lên 119,9 ngàn tấn trong cùng thời gian Tuy nhiên, nuôi cá lóc còn một số trở ngại về bệnh do ký sinh trùng, vi nấm và vi khuẩn

(Phạm Minh Đức và ctv., 2012); thực tế cho thấy

cá lóc nuôi ngày càng tăng trưởng chậm và tỉ lệ cá lóc bị gù tăng Nuôi cá lóc an toàn và phát triển bền vững thông qua việc bổ sung Vitamin C vào thức ăn phù hợp (lượng và phương pháp bổ sung VTMC) giúp tăng cường sức khỏe cho cá lóc, tăng cường hệ thống miễn dịch, cá lóc khỏe, ít bị bệnh

và hạn chế sử dụng kháng sinh

Trang 2

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Nguồn cá lóc giống thí nghiệm được sản xuất

ở tỉnh Đồng Tháp, khối lượng ban đầu 9 g/cá lóc

giống, cá khỏe và không có dấu hiệu bệnh lý Nguồn

vitamin C (L-Ascorbate-Polyphosphate), hàm lượng

AA 35%, bền nhiệt, sử dụng phổ biến trong nuôi

trồng thủy sản, xuất xứ từ Hebei Welcome Pharm,

Trung Quốc Nguồn thức ăn gồm 2 loại thức ăn

công nghiệp sau (i) Thức ăn A (TAA): thức ăn được

sản xuất tại Công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi Việt

Thắng dựa theo công thức thức ăn cho cá lóc có hàm

lượng protein 45%; lipid 9% và năng lượng 4,2 Kcal/g

(Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2016) và (ii) Thức ăn

B (TAB): thức ăn cá lóc công nghiệp (có hàm lượng

protein, lipid và năng lượng tương tự như thức

ăn A), đang được sử dụng phổ biến trên thị trường

hiện nay Ao nuôi thực nghiệm có diện tích 3000 m2,

mức nước 3 m, hệ thống cấp nước nổi và thoát nước

chìm Hệ thống vèo thí nghiệm có thể tích 12 m3

(2 ˟ 2 ˟ 3), vèo có mắc lưới 2 ly Bốn vèo nhỏ được

đặt trong 1 vèo lớn có kích thước mắc lưới 3 phân

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm nhằm đánh giá ảnh hưởng của vitamin

C với nồng độ khác nhau được bổ sung vào thức ăn:

Thí nghiệm 1 (TN1), phương pháp phối trộn trực

tiếp vào nguyên liệu trong quá trình chế biến thức

ăn, gồm 4 nghiệm thức (NT) sau TN1: (TAA không

có VTMC); NT2: (TAA + 500 mg VTMC/kg); NT3:

(TAA + 750 mg VTMC/kg) và NT4 (TAA + 1000

mg VTMC/kg) và Thí nghiệm 2 (TN2), phương

pháp truyền thống là hòa tan rồi trộn vào thức

ăn công nghiệp (phương pháp này được áp dụng

phổ biến trong thực tế), thí nghiệm 2 (TN2) gồm

4 nghiệm thức sau NT1: (TAB không có VTMC);

NT2: (TAB + 500 mg VTMC/kg; NT3: (TAB + 750

mg VTMC/kg) và NT4 (TAB + 1000 mg VTMC/kg),

tất cả NT được lặp lại 4 lần, thời gian thí nghiệm

là 5 tháng Mật độ cá lóc thí nghiệm 50 con/m2

(600 con/vèo)

2.2.2 Quản lý và chăm sóc thí nghiệm

Cá được cho ăn theo nhu cầu, 2 lần/ngày (vào

8 giờ và 16 giờ), sau 30 phút cho cá ăn, TA dư sẽ

được vớt ra và xác định khối lượng nhằm xác định

chính xác hệ số tiêu tốn TA Số lượng cá chết được

ghi nhận hằng ngày Yếu tố môi trường gồm nhiệt

độ, pH và oxy hòa tan được đo theo nhịp 1 lần/tuần

(mỗi lần đo gồm sáng vào lúc 7 giờ và chiều vào lúc

15 giờ) bằng máy YSI 556 (USA) và các yếu tố TAN,

NH3 và NO2 được đo 1 lần/tuần bằng test kit SERA (Germany), qui chuẩn hóa với phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

2.2.3 Chỉ tiêu đánh giá

a) Chỉ tiêu tăng trưởng

Khối lượng cá ban đầu (Wi) được xác định khi

bố trí thí nghiệm Tăng trưởng của cá được xác định bằng cách cân toàn bộ số cá trong mỗi vèo theo nghiệm thức khi kết thúc thí nghiệm và đếm số lượng cá còn lại Tăng trọng WG (g) = Wt – Wi; lượng thức ăn ăn vào FI (%/cá/ngày) = lượng thức ăn vào/ khối lượng cá/t; hệ số thức ăn FCR = Lượng thức

ăn ăn vào (khối lượng khô)/Khối lượng cá gia tăng; hiệu quả sử dụng protein PER = WG/Lượng đạm ăn

vào; tỷ lệ sống SR (%) = (Số cá sau thí nghiệm ˟ 100)/

Số cá ban đầu và tỉ lệ cá lóc gù được tính: cá gù (%)

= (số cá gù/tổng số cá còn lại) ˟ 100.

b) Chỉ tiêu đáp ứng miễn dịch

Chỉ tiêu huyết học (tế bào hồng cầu và bạch cầu)

và lysozyme được xác định vào tháng nuôi thứ 2

và 4, mỗi nghiệm thức thu ngẫu nhiên 9 mẫu cá để thu mẫu huyết học và phân tích lysozyme Tế bào hồng cầu được cố định theo phương pháp của Natt

và Herrick (1952) Tế bào bạch cầu cố định theo phương pháp của Hrubec và cộng tác viên (Hrubec

et al., 2000) Chỉ số lysozyme được phân tích theo

Ellis và cộng tác viên (1990)

2.2.4 Chỉ số đánh giá hiệu quả kinh tế

Lợi nhuận = Giá bán – Giá thành

2.2.5 Xử lý số liệu

Các giá trị trung bình được tính trên chương trình Excel So sánh trung bình giữa các nghiệm thức theo ANOVA một nhân tố và phép thử Duncan

với mức ý nghĩa P<0,05 bằng chương trình thống kê

SPSS 21.0

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thí nghiệm thực hiện từ tháng 3 đến tháng 8/2017 tại khu thực nghiệm của Công ty cổ phần Thức ăn chăn nuôi Việt Thắng, tỉnh Đồng Tháp

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện chất lượng môi trường nước ao nuôi thực nghiệm

Điều kiện chất lượng môi trường nước ao nuôi thực nghiệm được quản lý và kiểm soát chặt chẽ

Trang 3

nhằm đảm bảo môi trường nước nuôi tốt cho sự

tăng trưởng của cá lóc Nhiệt độ, pH và oxy hòa tan

môi trường nước lần lượt dao động là 29,2 ± 0,9 oC;

8,1 ± 0,1; 1,8 ± 0,3 mg/L vào buổi sáng và 31,3 ± 0,8 oC;

8,2 ± 0,2; 3,7 ± 0,4 mg/L vào buổi chiều Một số

yếu tố thủy hóa gồm TAN; NO2-; NH3 lần lượt

dao động là 0,55 ± 0,14 mg/L; 0,06 ± 0,01 mg/L;

0,005 ± 0,001 mg/L

3.2 Tăng trưởng của cá lóc sau 5 tháng nuôi

thực nghiệm

Kết quả cho thấy sau 5 tháng nuôi được bổ sung

vitamin C ở thí nghiệm 1 cá có tốc độ tăng trưởng

cao nhất (573,5 ± 34,3 g/con) ở nghiệm thức A500

(bổ sung 500 mg vitamin C/kg thức ăn), khác biệt

có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng

(P<0,05) (Bảng 1); thấp nhất (461,6 ± 40,1 g/con) ở

nghiệm thức đối chứng (A0) và khác biệt có ý nghĩa

thống kê so với các nghiệm thức còn lại (P<0,05)

Mặt khác, tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức cho ăn

thức ăn có bổ sung vitamin C cao hơn và khác biệt

có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng

(P<0,05) Kết quả nghiên cứu phù hợp với nghiên

cứu trong phòng thí nghiệm của Nguyễn Tường

Khanh (2017) khi nuôi cá lóc trong bể composite có

bổ sung 500 mg vitamin C/kg thức ăn cá đạt tăng

trưởng tốt nhất

Đối với cá nuôi cho ăn thức ăn bổ sung vitamin

C theo phương thức của hộ nuôi, trộn bằng tay mỗi

ngày (TAB) với các hàm lượng khác nhau, cá đạt

khối lượng trung bình từ 375,9 ± 22,6 đến 399,8 ±

28,1 g/con (Bảng 1) Kết quả cho thấy tăng trưởng và

tỷ lệ sống của cá có hay không có bổ sung vitamin C

đều khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Vì vậy, trộn vitamin C bằng tay mỗi ngày theo cách

người nuôi đã không mang lại hiệu quả khi sử dụng

vitamin C làm thức ăn cho cá Vitamin C rất dễ

tan trong nước và rất dễ bị oxy hóa trong điều kiện

ánh sáng mặt trời và không khí (Linster and Van

Schaftingen, 2007) Trong thí nghiệm này, vitamin

C được sử dụng là loại ascorbate-2-poly phosphate

(APP) giảm khả năng tan trong nước và bị oxy hóa

của vitamin C (Halver et al., 2002; D’ Abramo et al.,

1997) Tuy nhiên, do phương thức trộn vitamin C

truyền thống, lượng vitamin C bị tan vào nước trước

khi cá ăn vào nên không thể hiện hiệu quả

3.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn

Đối với TAA, khi hàm lượng vitamin C trong

thức ăn tăng, lượng thức ăn ăn vào của cá (FI) tăng (Bảng 1) FI của nghiệm thức A1000 cao hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức

đối chứng (P<0,05) Tuy nhiên, hệ số thức ăn (FCR)

của nghiệm thức A500 là thấp nhất và khác biệt có

ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng và

nghiệm thức A1000 (P<0,05) Hiệu quả sử dụng

protein (PER) của nghiệm thức A500 là cao nhất nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với

các nghiệm thức còn lại (P>0,05)

Đối với cá nuôi cho ăn thức ăn bổ sung vitamin C được trộn bằng tay mỗi ngày, lượng thức ăn ăn vào của cá, hệ số thức ăn, hiệu quả sử dụng protein giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống

kê (P>0,05).

Tương tự như kết quả về tăng trưởng, hiệu quả

sử dụng thức ăn của cá khi bổ sung vitamin C theo phương thức của hộ nuôi, trộn bằng tay mỗi ngày đã không thể hiện được hiệu quả Trong khi đó, thức

ăn trộn sẵn vitamin C đã cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn Điều này tương tự như thí nghiệm nuôi cá lóc trong bể composite có bổ sung vitamin C, sau 8 tuần thí nghiệm, FI đạt 4,29 %/ngày so với đối chứng 3,99 %/ngày và PER đạt 1,92 so với đối chứng 1,52 (Nguyễn Tường Khanh, 2017) Nghiên cứu trên cá

rô phi Oreochromis karongae cũng cho kết quả tương

tự, cho ăn thức ăn chứa vitamin C với hàm lượng

80 mg/kg thức ăn đã tăng hiệu quả sử dụng protein

PER 0,21 so với 0,03 của cá đối chứng (Nsonga et al.,

2009) Qua đó, chứng minh được rằng vitamin C đã tác động giúp cá tăng hiệu quả sử dụng thức ăn và khi bổ sung vitamin C ở mức 500 mg/kg thức ăn có hiệu quả tốt hơn

3.4 Tỉ lệ cá gù

Qua bảng 1 cho thấy ở loại TAA tỷ lệ cá gù dao động từ 5,38 - 6,76% và khác biệt không có ý nghĩa

thống kê (P>0,05) giữa các nghiệm thức Tuy nhiên,

đối với loại TAB thì tỷ lệ cá gù các nghiệm thức cao hơn so với đối chứng; đồng thời khác biệt có

ý nghĩa thống kê (P<0,05) giữa nghiệm thức B750

với nghiệm thức đối chứng Tỷ lệ cá gù có khả năng

do nguồn cá giống Vitamin C chưa thể hiện rõ ảnh hưởng làm giảm tỉ lệ gù ở cá lóc

3.5 Số lượng hồng cầu trong máu cá

Kết quả định lượng hồng cầu của loại TAA cho thấy số lượng hồng cầu ở các nghiệm thức khác biệt

không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) sau 2 tháng

Trang 4

và 4 tháng cho ăn thức ăn có bổ sung Vitamin C

(Bảng 2) Số lượng hồng cầu ở các nghiệm thức dao

động từ 41,0 - 50,6 ˟ 105 tb/mm3 Điều này chứng tỏ

bổ sung vitamin C đã không ảnh hưởng đến số lượng

hồng cầu trong máu cá Tương tự số lượng hồng cầu

của loại TAB sau 2 và 4 tháng nuôi dao động 38,5

- 47,9 ˟ 105 tb/mm3 Số lượng tế bào hồng cầu đạt

cao nhất ở nghiệm thức B500 (500 mg vitamin C/kg

thức ăn) sau 2 và 4 tháng nuôi lần lượt là

(38,5 ± 7,1 ˟ 105 tb/mm3; 47,9 ˟ 105 tb/mm3) và khác

biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (P<0,05)

(Bảng 2) Theo Lim và cộng tác viên (2010) khi

nghiên cứu trên cá rô phi vằn Oreochromis niloticus

cho thấy số lượng hồng cầu trong máu cá tăng lên

1,4 lần khi ăn thức ăn có bổ sung vitamin C với

hàm lượng 2000 mg vitamin C/kg thức ăn So với

nghiên cứu của Nguyễn Tường Khanh (2017), số

lượng hồng cầu của cá lóc nuôi trong bể composite

dao động 3,15 - 4,51 (106 tế bào/mm3) khi cho ăn

thức ăn có bổ sung vitamin C với hàm lượng từ

125 - 2.000 mg vitamin C/kg thức ăn

3.6 Số lượng tổng bạch cầu trong máu cá

Bổ sung vitamin C vào thức ăn cho cá lóc đã làm

tăng tổng bạch cầu trong máu cá Sau 2 tháng nuôi,

lượng bạch cầu trong máu cá ở nghiệm thức A500

(500 mg vitamin C/kg thức ăn) tăng cao và khác biệt

không có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (P>0,05)

(Bảng 2) Tương tự, sau 4 tháng bổ sung vitamin C,

tổng bạch cầu ở các nghiệm thức có sử dụng vitamin

C đều tăng cao và đạt cao nhất ở nghiệm thức A750

và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức

đối chứng (P<0,05) Đối với TAB, lượng bạch cầu

trong máu cá ở nghiệm thức B750 là cao nhất và

khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức

còn lại sau 4 tháng nuôi (P<0,05) (Bảng 2) Trong

khi đó, lượng bạch cầu trong máu cá sau 2 tháng

nuôi khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các

nghiệm thức (P>0,05) Như vậy bổ sung vitamin C

sẵn có trong thức ăn (TAA) đã làm tăng lượng bạch

cầu trong máu cá trong khi phối trộn vitamin C bằng

tay đã không ảnh hưởng đến lượng bạch cầu trong

máu cá Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của

Li và cộng tác viên (1985) trên cá nheo Mỹ cho thấy

tổng bạch cầu của cá tăng cao và số lượng đại thực

bào gia tăng có ý nghĩa thống kê khi bổ sung vitamin

C với hàm lượng 3.000 mg/kg thức ăn

3.7 Hoạt tính lysozym trong máu cá

Sau 2 và 4 tháng bổ sung vitamin C hoạt tính lysozyme đạt cao nhất ở nghiệm thức A750 và khác

biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với đối chứng

(Bảng 2) Tuy nhiên, sau 4 tháng nuôi thì hoạt tính lysozyme ở các nghiệm thức tăng cao hơn so với đối chứng và đạt cao nhất (391,2 ± 63,1 µg/ml) ở nghiệm thức A500 (bổ sung 500 mg vitamin C/kg thức ăn)

và khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với đối

chứng (P>0,05) Đối với TAB sau 2 tháng ăn thức ăn

có bổ sung vitamin C đạt cao ở nghiệm thức B1000

và khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với đối

chứng (P<0,05) (Bảng 2) Tuy nhiên, sau 4 tháng cá

ăn thức ăn có bổ sung vitamin C thì lysozyme có

sự gia tăng ở các nghiệm thức so với đối chứng và cao nhất là ở nghiệm thức B750 đồng thời khác biệt

có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng

(P<0,05) Kết quả nghiên cứu phù hợp với báo cáo

của Lin và Shiau (2005) khi bổ sung vitamin C vào

thức ăn của cá Epinephelus malabaricus cho thấy

hoạt tính lysozyme của cá tăng cao sau 21 ngày bổ sung 400 và 800 mg vitamin C/kg thức ăn

3.8 Hiệu quả kinh tế

Sau khi thu hoạch cá vào thời điểm tháng 7/2017 giá bán thực tế là 33.900 đồng/kg Kết quả cho thấy giá thành sản phẩm có bổ sung vitamin C dao động 25.312 ± 1.356 đến 31.414 ± 2.260 (Bảng 3) Đồng thời đạt thấp nhất ở nghiệm thức A500 (bổ sung 500

mg vitamin C/kg thức ăn) và khác biệt có ý nghĩa

thống kê so với đối chứng (P<0,05) Mặt khác, lợi

nhuận cho 1 kg cá cũng đạt cao nhất ở nghiệm thức A500 (8.814 ± 1.130 đồng/kg) và khác biệt có ý

nghĩa thống kê (P<0,05) so với các nghiệm thức còn

lại Kết quả ở Bảng 3 cho thấy giá thành sản phẩm thấp nhất và lợi nhuận đạt cao nhất ở B500 (bổ sung

500 mg vitamin C/kg thức ăn) và khác biệt không

có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại

(P>0,05) Riêng ở nghiệm thức B1000 thì giá thành

sản phẩm lại cao hơn và lợi nhuận thấp hơn so với nghiệm thức đối chứng Điều này chứng tỏ vitamin

C có tác động lên chi phí cá lóc nhưng cũng cần lưu

ý hàm lượng vì nếu bổ sung quá mức sẽ gây lãng phí

và ảnh hưởng đến lợi nhuận

Trang 5

Bảng 1 Tăng trưởng của cá lóc sau 5 tháng nuôi

Bảng 2 Số lượng hồng cầu, bạch cầu và lysozyme của cá lóc

Ghi chú: Giá trị thể hiện là số trung bình ± độ lệch chuẩn; Giá trị trong cùng một cột có chữ cái (TN1: a, b, c) và (TN2: A, B, C) khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).

Ghi chú: Wi: khối lượng đầu; Wf: khối lượng cuối; Yf: Năng suất; FI: lượng TA ăn vào; PER: hiệu quả sử dụng protein; SR: tỉ lệ sống; FCR: hiệu quả sử dụng TA; Hf: tỉ lệ cá gù; Giá trị thể hiện là số trung bình ± độ lệch chuẩn; Giá trị trong cùng một cột có chữ cái (TN1: a, b, c) và (TN2: A, B, C) khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).

Nghiệm

thức (g/con) Wi (g/con) W f (kg/vèo) Yf FI (%/cá/ ngày) PER SR (%) FCR Hf (%)

Thí nghiệm 1

A0 9,0 461,6 ± 40,1b 190,6 ± 8,9c 5,44 ± 0,40b 1,76±0,16b 69,1 ± 5,84c 1,40 ± 0,11a 6,28 ± 0,68ab A500 9,0 573,5 ± 34,3a 293,3 ± 10,8a 5,69 ± 0,24b 2,12±0,13a 85,3 ± 3,19a 1,16 ± 0,07b 5,38 ± 0,85b A750 9,0 556,2 ± 19,2a 268,3 ± 8,6b 6,00 ± 0,05ab 1,94±0,04ab 80,4 ± 2,20ab 1,27 ± 0,01ab 5,89 ± 0,60ab A1000 9,0 565,3 ± 44,2a 264,6 ± 7,5b 6,35 ± 0,55a 1,84±0,17b 78,3 ± 4,66b 1,35 ± 0,12a 6,76 ± 1,08a

Thí nghiệm 2

B0 9,0 398,9 ± 41,2A 172,1 ± 18,2A 6,07 ± 0,11A 1,60±0,09A 71,9 ± 3,04B 1,50 ± 0,07A 8,32 ± 0,98B B500 9,0 399,8 ± 28,1A 185,9 ± 9,1A 6,04 ± 0,19A 1,64±0,09A 77,7 ± 4,18A 1,47 ± 0,08A 9,63 ± 1,49AB B750 9,0 397,9 ± 38,9A 177,7 ± 13,3A 6,08 ± 0,10A 1,61±0,07A 74,6 ± 3,78AB 1,49 ± 0,08A 11,1 ± 0,81A B1000 9,0 375,9 ± 22,6A 173,3 ± 12,0A 6,08 ± 0,05A 1,58±0,03A 76,8 ± 1,80AB 1,48±0,02A 8,91±1,23B

Nghiệm

thức Tế bào hồng cầu (10

5 tb/mm 3 ) Tế bào bạch cầu (10 3 tb/mm 3 ) Lysozyme (µg/ml)

Thí nghiệm 1

A0 42,3 ± 7,6a 50,4 ± 1,6a 198,6 ± 39,1a 205,4 ± 15,5b 233,0 ± 4,77b 341,1 ± 94,7a A500 41,0 ± 1,2a 50,6 ± 4,6a 261,3 ± 50a 243,3 ± 28,2ab 272,0 ± 17,7a 391,2 ± 63,1a A750 47,3 ± 4,5a 46,4 ± 6,5a 189,5 ± 76,2a 248,9 ± 31,7a 283,7 ± 4,9a 381,3 ± 53,2a A1000 47,9 ± 5,99a 50,1 ± 4,8a 221,7 ± 53,1a 228,5 ± 15,8ab 287,3 ± 9,5a 306,1 ± 44,5a

Thí nghiệm 2

B0 38,5 ± 7,1B 40,5 ± 5,5B 188,8 ± 35,8A 193,0 ± 19,1B 228,6 ± 10,3B 319,9 ± 29,9B B500 48,6 ± 6,8A 47,9 ± 3,6A 222,5 ± 64,2A 197,2 ± 18,2B 224,1 ± 16,9B 277,5 ± 27,2B B750 41,4 ± 5,8AB 46,9 ± 5,8AB 207,5 ± 43,0A 252,6 ± 37,9A 227,9 ± 13,7B 439,3 ± 53,6A B1000 42,6 ± 4,1AB 44,3 ± 1,4AB 249,4 ± 26,8A 214,6 ± 13,2B 286,8 ± 22,9A 315,7 ± 45,0B

Bảng 3 Chi phí , lợi nhuận cá lóc

Ghi chú: Giá trị thể hiện là số trung bình ± độ lệch

chuẩn; Giá trị trong cùng một cột có chữ cái (TN1: a, b,

c) và (TN2: A, B, C) khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê (p<0,05).

IV KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã khẳng định việc bổ sung vitamin

C vào thức ăn trước khi ép viên mang lại hiệu quả tốt hơn bổ sung vitamin C bằng phương pháp truyền thống thông qua các chỉ số về tăng trưởng, tỷ

lệ sống và chỉ tiêu miễn dịch Thức công nghiệp cho

cá lóc bổ sung vitamin C với hàm lượng từ 500 mg/

kg thức ăn đã cải thiện tăng trưởng, tỷ lệ sống, cải thiện sức khỏe cá thông qua tăng hàm lượng bạch cầu và lysozyme

TÀI LIỆU THAM KHẢO Phạm Minh Đức, Trần Ngọc Tuấn và Trần Thị Thanh

Hiền, 2012 Khảo sát mầm bệnh trên cá lóc (Channa

striata) nuôi ao thâm canh ở An Giang và Đồng Tháp Tạp chí khoa học, Trường Đại học Cần Thơ,

21b: 124-132

NT ăn (đồng/kg) Chi phí thức Giá thành (đồng/kg) Lợi nhuận (đồng/kg)

Thí nghiệm 1

A0 26.668 ± 2.034b 31.414 ± 2.260a 2.712 ± 2.034c

A500 22.148 ± 1.130a 25.312 ± 1.356c 8.814 ± 1.130a

A750 24.182 ± 226ab 27.798 ± 452bc 6.102 ± 452b

A1000 25.764 ± 2.260b 29.606 ± 2.260ab 4.520 ± 2.260bc

Thí nghiệm 2

B0 26.894 ± 1.356A 32.318 ± 1.880A 2.034 ± 1.582A

B500 26.442 ± 1.356A 31.640 ± 1.695A 2.486 ± 1.808A

B750 26.894 ± 1.356A 32.318 ± 1.808A 1.650 ± 2.034A

B1000 26.668 ± 452A 32.544 ± 904A 1.582 ± 904A

Trang 6

Nguyễn Tường Khanh, 2017 Ảnh hưởng của vitamin

C lên tăng trưởng và đáp ứng miễn dịch của cá lóc

(Channa striata) Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, Khoa

Thủy sản, Đại học Cần Thơ, 52 trang

D’ Abramo, L.R., D E Conklin, D M Akiyama,

1997 Crustancean Nutrition In Advances in World

Aquaculture, Volume 6 World Aquaculture Society.

Ellis, A.E, 1990 Lysozyme activity In: Stolen TC,

Fletcher PD, Anderson BS, Roberson BS, Muiswinkel

WB, editors Technique in Fish Immunology New

York: SOS Publications; p 101-103

Halver, J.E & R W Hardy, 2002 Fish nutrition The

Third Edition Academic Press, USA

Hien, T T T., P M Duc., T L C Tu., T M Phu., D T

M Thy., & D Bengtson, 2016 Growth Performance

and Immune Response of Snakehead, Channa striata

(Bloch 1793) Fed Soy Diets with Supplementation of

Mannan Oligosaccharides Asian Fisheries Science

29: 67-81

Hrubec, T.C., J L Cardinale & S A.Smith, 2000

Hematology and plasma chemistry reference

intervals for cultured Tilapia (Oreochromis hybrid)

Vet Clin Pathol, 29:7-12.

Lim, C., M.Y Aksoy, T Welker & P.H Klesius, 2010

Growth performance, immune response, and resistance to Streptococcus iniae of Nile Tilapia, Oreochromis niloticus, fed diets containing various

levels of vitamins C and E Journal of The World Aquaculture Society, 41(1): 35-48.

Lin, M.F & S.Y Shiau, 2005 Dietary L-ascorbic acid

affects growth, nonspecific immune responses and disease resistance in juvenile grouper, Epinephelus

malabaricus Aquaculture, 244: 215-221.

Linster, C.L., E.Van Schaftingen, 2007 Vitamin C The

FEBS Journal, 274(1): 1-22.

Natt, M P., C A.Herrick, 1952 A new blood diluent

for counting the erythrocytes and leukocytes of the

chicken Journal of Poultry Science 31(4): 735-738.

Nsonga, A.R., O.J Kang., W Mfitilodze, C.K Soko

& A.H Mtethiwa, 2009 Effect of varying levels of

dietary vitamin C (ascorbic acid) on growth, survival and hematology of juvenile tilapia, Oreochromis karongae (Trewavas 1941) reared in aquaria

Brazilian Journal of Aquatic Science and Technology,

13(2): 17-23

Ngày nhận bài: 10/3/2018

Ngày phản biện: 19/3/2018 Người phản biện: TS Châu Tài TảoNgày duyệt đăng: 16/4/2018

Effects of Vitamin C on growth and immune parameters

of snakehead culture in hapa

Mai Thanh Lam, Pham Minh Ducand Tran Thi Thanh Hien

Abstract

The experiment was carried out to evaluate the appropriate supplementation method and dose of vitamin C

supplemented in feed in order to stimulate on growth and healthy parameters of snakehead (Channa striata) The

study was conducted in 5 months, including 2 experiments The first experiment consisted of 4 treatments of feed

A supplemented with different vitamin C of 0, 500, 750 and 1000 mg/kg of feed during processing The second experiment also included 4 treatments of feed B mixed with the same level of vitamin C as with feed A by traditional method The results showed that the -inclusion of vitamin C in pellet feed before extrusion was recorded better growth performance, survival rate and fish health compared to addition of vitamin C by traditional method in daily Addition of vitamin C in diet for snakehead in commercial pellet feed at a level of 500 mg/kg of feed enhanced fish growth performance, survival rate, fish health and increasing profit

Key words: Channa striata, Vitamin C, immune responses

Ngày đăng: 30/03/2021, 02:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w