1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

An sinh xã hội đối với người cao tuổi (nghiên cứu trường hợp quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội)

30 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 507,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nƣớc, cũng đã có khá nhiều nghiên cứu về ngƣời cao tuổi nhƣ Đàm Viết Cƣơng và cộng sự “ Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho [r]

Trang 1

Mã số: 60 31 03 01

Người hướng dẫn khoa học:TS Hoàng Thanh Xuân

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 20

1.1 Các khái niệm cơ bản 20

1.2 Một số lý thuyết xã hội học vận dụng trong nghiên cứu 25

1.3 Quan điểm của đảng, nhà nước việt nam về an sinh xã hội đối với người cao tuổi 29

Chương 2: THỰC TRẠNG AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY QUA KHẢO SÁT 34

2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 34

2.2 Chân dung xã hội người cao tuổi trong mẫu nghiên cứu 39

2.3 An sinh xã hội cho người cao tuổi trên địa bàn quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội 44

2.4 Mức độ hài lòng của người cao tuổi trong tham gia và thụ hưởng chính sách an sinh xã hội 67

Chương 3: XU HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 75

3.1 Một số nhân tố tác động đến an sinh xã hội của người cao tuổi trên địa bàn quận Hoàng Mai 75

3.2 Dự báo xu hướng 85

3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả về an sinh xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội 88

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 4

ASXH : An sinh xã hội

DS-KHHGĐ : Dân số-Kế hoạch hóa gia đình ISSA : Hiệp hội An sinh Quốc tế ILO : Tở chức lao động Quốc tế

Trang 5

Bảng 2.1: Giới tính 39

Bảng 2.2: Độ tuổi 39

Bảng 2.3: Trình độ học vấn 40

Bảng 2.4: Tình trạng hôn nhân 40

Bảng 2.5: Nghề nghiệp trước đây 41

Bảng 2.6: Tương quan giữa giới tính và nghề nghiệp trước đây 41

Bảng 2.7: Nguồn thu nhập chính hiện nay 42

Bảng 2.8: Tương quan giữa giới tính và nguồn thu nhập chính hiện nay 42

Bảng 2.9: Tổng thu nhập 1 tháng 43

Bảng 2.10: Tương quan giữa giới tính và tổng thu nhập 1 tháng 43

Bảng 2.11: Mức độ hiểu biết của người cao tuổi về các loại chính sách an sinh xã hội 44

Bảng 2.12: Mức độ biết rõ về các chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi theo trình độ học vấn theo điều kiện kinh tế gia đình 47

Bảng 2.13: Những đối tượng có thể được thụ hưởng chính sách bảo hiểm y tế theo điều kiện kinh tế gia đình chia theo nhóm tuổi và giới tính, 1999-2009 57

Bảng 2.14: Người giúp đỡ nhiều nhất khi ốm đau 61

Bảng 2.15: Mức độ hài lòng trong tham gia và thụ hưởngcác chính sách an sinh xã hội 68

Trang 6

Biểu đồ 2.1: Mức độ "biết rõ" về các chính sách an sinh xã hội 47 Biểu đồ 2.2: Mức độ "biết rõ" về các đối tượng được thụ hưởng các chính

sách an sinh xã hội 48 Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ người cao tuổi được hưởng lương hưu và trợ cấp xã hội 54 Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 57 Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ người có mức độ hài lòng thấp (dưới 5 điểm) đối với”chi

phí phải nộp” trong tham gia và thụ hưởng chính sách an sinh xã hội 69 theo điều kiện kinh tế gia đình 69 Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ người có mức độ hài lòng thấp (dưới 5 điểm) đối với "các

khoản nhận được từ chính sách” trong tham gia và thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội theo điều kiện kinh tế gia đình 70 Biểu đồ 2.7: Tỷ lệ người có mức độ hài lòng thấp (dưới 5 điểm) đối với "các

khoản nhận được từ chính sách” trong tham gia và thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội theo điều kiện kinh tế gia đình 71 Biểu đồ 2.8: Tỷ lệ người có mức độ hài lòng thấp (dưới 5 điểm) đối với ” 73

Trang 7

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Bảo đảm an sinh xã hội là một trong những nội dung thể hiện đảm bảo sự phát triển bền vững của kinh tế-xã hội, đảm bảo thực hiện các quyền con người được sống trong môi trường lành mạnh, bình đẳng, thể hiện bản chất nhân dân của mỗi quốc gia, dân tộc Ở Việt Nam, vấn đề an sinh xã hội luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách về an sinh xã hội, coi đây là mục tiêu

và là động lực để phát triển bền vững và ổn định chính trị xã hội Chính sách an sinh

xã hội đã được đề cập trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước, được xây dựng thành chiến lược an sinh xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-2020, là một bộ phận cấu thành của Chiến lược tổng thể phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-2020, trong đó an sinh xã hội bao gồm một hệ thống các chính sách và chương trình do Nhà nước, các tổ chức xã hội, các đối tác xã hội và tư nhân thực hiện nhằm

hỗ trợ, nâng cao năng lực cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng quản lý rủi ro, mất việc làm, tuổi già, ốm đau, rủi ro, thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận đến hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản Sau hơn 30 năm đổi mới, công tác bảo đảm an sinh xã hội ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Hệ thống an sinh xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện với diện bao phủ không ngừng được mở rộng An sinh xã hội đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho trẻ em, người nghèo, người khuyết tật và người già neo đơn…góp phần quan trọng vào việc ổn định và phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn hàng loạt vấn đề kinh tế xã hội bức xúc cần tiếp tục giải quyết: Khoảng cách giàu nghèo gia tăng; nông dân bị thu hẹp diện tích đất sản xuất; môi trường ô nhiễm ngày càng trầm trọng, tệ nạn xã hội gia tăng; tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp gia tăng cao, nguồn lực để thực hiện an sinh xã hội còn hạn chế, với diện bao phủ và mức hỗ trợ còn thấp, vấn đề bảo hiểm xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân; chất lượng dịch vụ an sinh xã hội đối với người cao tuổi nhìn chung còn thấp, một số chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi còn bất hợp lý,v.v…

Trang 8

Thêm vào đó, trong bối cảnh hiện nay, dân số nước ta ngày càng già đi, quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh chóng kéo theo đó là số lượng người cao tuổi ngày càng tăng lên gây sức ép đối với nền kinh tế - xã hội của đất nước

Tại Việt Nam, kết quả các cuộc Tổng điều tra dân số cho thấy, tỷ lệ người cao tuổi (60 tuổi trở lên) vốn tăng khá chậm: từ 6,9% vào năm 1979 lên 8,7% vào năm

2009 và lên 11,7% vào năm 2016 Tuy nhiên, Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa từ năm 2011 Tỷ lệ người cao tuổi đã tăng mạnh trong mấy năm gần đây và theo dự báo thì sẽ còn tăng nhanh hơn nữa trong thời gian tới Theo kết quả dự báo đến năm 2049 của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ NCT (60+) sẽ tăng từ 9,2% năm 2014 lên 26,0% năm 2049 theo phương án mức sinh trung bình Như vậy, tốc độ già hóa dân số của Việt Nam nhanh hàng đầu châu Á và cũng thuộc diện nhanh nhất thế giới [41, 42] Tốc độ già hóa dân số nhanh ở nước ta trong giai đoạn hiện nay cũng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm đối với người cao tuổi như trong đó có vấn đề đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi bao gồm đảm bảo đời sống kinh tế (thu nhập),

cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội, bảo hiểm xã hội, chăm sóc sức khỏe và trợ giúp xã hội cho người cao tuổi, phát triển con người… Già hóa dân số có thể giúp chỉ số tuổi thọ được cải thiện nhưng lại giảm đi chiều cạnh đóng góp về kinh tế (một chiều cạnh

có đóng góp quan trọng nhất cho phát triển con người ở Việt Nam trong những năm gần đây)

Phần lớn người cao tuổi ở nước ta không có lương hưu, trợ cấp xã hội và thẻ bảo hiểm y tế Trong khi đó, người cao tuổi lại có nhu cầu khám chữa bệnh cao và phải chi trả cho chăm sóc sức khỏe nhiều hơn Thực tế này đặt ra yêu cầu bức thiết cần phải mở rộng an sinh xã hội cho người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số đang gia tăng hiện nay

Quan tâm, chăm lo đời sống của người cao tuổi là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Truyền thống đó được thể hiện trong các đường lối chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước từ năm 1995 trở lại đây Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản, chính sách và chiến lược hướng đến phát triển và đảm bảo

an sinh xã hội cho người cao tuổi như trong Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”, “Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và

Trang 9

bảo vệ Tổ quốc” An sinh xã hội cho người cao tuổi cũng được đề cập trong nhiều Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân (1989) quy định: ưu tiên người già trong khám chữa bệnh; tạo điều kiện thuận lợi cho người già trong thể dục thể thao, nghỉ ngơi, giải trí Luật Lao động (1994) định nghĩa người cao tuổi, xác định điều kiện lao động cho người lao động, chế độ nghỉ hưu Pháp lệnh người cao tuổi (2000), Luật Người cao tuổi (2010), Luật Bảo hiểm xã hội (2006), Nghị định 05/CP quy định về trợ cấp phúc lợi xã hội cho người già cô đơn không nơi nương tựa Nghị định 136/2013/NĐ-CP quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội (trong đó có người cao tuổi) Chỉ thị của Ban Bí thư quy định về chăm sóc người cao tuổi (số 59-CT/TW, ngày 27 tháng 9 năm 1995) Nước ta cũng đã xây dựng các chương trình hành động về người cao tuổi, trong đó điển hình

là Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn

2005-2010 Đã có nhiều chính sách được Đảng và Nhà nước đưa ra nhằm hướng đến việc đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi Tuy nhiên, các chính sách này vẫn chưa bao trùm được tất cả những người cao tuổi hiện nay và việc thực thi chính sách an sinh xã hội cho nhóm này còn nhiều bất cập (như chưa đảm bảo được mức thu nhập tối thiểu; hệ thống chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu của người cao tuổi)

Bên cạnh các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước, cũng đã có khá

nhiều nghiên cứu về người cao tuổi như Đàm Viết Cương và cộng sự “Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi Việt Nam” [15], Đào Thế Toàn “Kết quả và những hạn chế trong việc thực hiện chính sách, chế độ đối với người cao tuổi” [37]; Nguyễn Đình Cử “Xu hướng già hóa trên thế giới và những đặc trưng của người cao tuổi ở Việt Nam” [13], “Nhận thức và sự chuẩn bị cho tuổi già của người cao tuổi và vai trò của chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam”, Ủy ban Quốc gia người cao tuổi Việt

Nam [47]

Phần lớn các nghiên cứu chỉ nêu được một số khía cạnh về chính sách và mô hình can thiệp ở quy mô nhỏ, mang tính thử nghiệm Kết quả từ các nghiên cứu cũng cho thấy những giải pháp can thiệp hay các mô hình đã triển khai vẫn chưa được đánh giá là có thể áp dụng rộng rãi ở tất cả mọi địa phương, hay trên phạm vi toàn quốc hay không? Do vậy, vẫn còn có khoảng trống cần phải tiếp tục nghiên cứu để đưa ra những khuyến nghị

Trang 10

phù hợp làm cơ sở xây dựng hệ thống chính sách cho người cao tuổi cũng như các chương trình, mô hình can thiệp thích ứng kịp thời, chủ động với vấn đề già hóa sẽ diễn

ra trong những thập kỷ tiếp theo

Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “An sinh xã hội đối với người cao tuổi” (Nghiên cứu trường hợp Quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội)

để làm đề tài nghiên cứu Trên cơ sở khảo sát và tìm hiểu, luận văn đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị nhằm hỗ trợ xã hội tốt hơn cho người cao tuổi trên địa bàn nói riêng và người cao tuổi Việt Nam nói chung

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu:

2.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Có thể nói vấn đề người cao tuổi luôn được quan tâm chú ý tới Chính vì thế, các nghiên cứu về người cao tuổi cũng xuất hiện rất sớm Ở Châu Âu những nghiên cứu về người cao tuổi được tiến hành từ những năm đầu thế kỷ XIX với đề tài như:

“Tuổi già xanh tươi” của Alexando [1] Nghiên cứu này đã điều tra thực trạng sống của Người cao tuổi cũng như tình trạng sức khỏe của họ, từ đó đưa ra những biện pháp chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi để kéo dài tuổi thọ cũng như giúp cho người cao tuổi có được cuộc sống thoải mái hơn

Công trình quan trọng không thể không kể đến trong lĩnh vực nghiên cứu này là

ấn phẩm “ Người già và sức khỏe: Người cao tuổi Mỹ đến từ Châu Á và Thái Bình Dương” –“ Aging and Health: Asian and Pacific Islander American Elders” của tác

giả Melen R.McBride, Nancy Morioka Douglas and Gwen Veo[55] Trong cuốn sách này, nhóm tác giả đã chỉ ra sự đa dạng văn hóa, hệ thống niềm tin, cấu trúc gia đình ảnh hưởng đến việc chăm sóc sức khỏe những người cao tuổi đến từ các nước khác nhau thuộc khu vực Châu Á và Thái Bình Dương hiện đang sống ở Mỹ Từ đó các tác giả đánh giá nhu cầu, xác định những thuận lợi, rào cản trong việc chăm sóc sức khỏe tạo điều kiện để những người cao tuổi có thể thể hiện được mong muốn, nhu cầu của bản thân một cách tự nhiên nhất

Bên cạnh việc nghiên cứu về người cao tuổi, vấn đề an sinh xã hội đóng vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển Chính vì thế mà vấn đề an sinh xã hội luôn nhận được sự quan tâm của nhiều giới, từ các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý, nhà khoa học cho đến người dân Nghiên cứu về an sinh xã hội nói chung và

Trang 11

an sinh xã hội cho người cao tuổi nói riêng không phải là một hướng nghiên cứu mới

mà nó trở thành tâm điểm nghiên cứu của nhiều học giả trên thế giới Đặc biệt là các quốc gia có tỷ lệ già hóa dân số cao Bởi vấn đề này đặt ra những cách thức trong phát triển nói chung và trong chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi nói riêng ở quốc gia này

Ở các nước phát triển, những người từ 65 tuổi trở lên được gọi là người cao tuổi Hiện chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho tất cả các quốc gia, nhưng Liên Hợp quốc chấp nhận mốc để xác định dân số già là từ 60 tuổi trở lên, trong đó phân ra làm 3 nhóm là Sơ lão (60-69 tuổi), trung lão (70-79 tuổi) và đại lão là trên 80 tuổi Già hóa dân số đang trở thành vấn đề lớn của các nước đang phát triển, nơi dân số bị già đi nhanh chóng trong nửa đầu thế kỷ 21

Ví dụ như Nhật Bản, một trong những quốc gia có tỷ lệ già hóa dân số nhanh trong thập niên gần đây Năm 1970, Nhật Bản bắt đầu bước vào "xã hội già hóa" và đến năm

1994, Nhật Bản đã biến thành "dân số già" Năm 1994, số người 65 tuổi trở lên ở Nhật chiếm 14% tổng dân số (trong khi đó theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới là xã hội

có dân số già 65 tuổi trở lên chiếm 7% tổng dân số) Nhóm dân số già ở Nhật Bản đã tăng gấp 2 lần trong vòng 24 năm (1970-1994) Trong khi đó quá trình này ở Pháp kéo dài 115 năm và ở Đức đến 40 năm Đến năm 2015 là 26.5%[49]

Nhật Bản đã trở thành quốc gia có tỷ lệ dân số từ 65% trở lên cao nhất thế giới Già hóa dân số đã đặt ra những thách thức đối với an sinh xã hội cho người già ở Nhật Bản Cũng chính vì thế mà ngoài việc nâng cao hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi, thì Nhật Bản cũng chú ý nghiên cứu về vấn đề an sinh xã hội nói chung và an sinh xã hội cho người cao tuổi nói riêng

Năm 2001, Masanobu Masuda và Katsuhisa Kojima trong công trình nghiên

cứu về "An sinh xã hội cho người cao tuổi Nhật Bản từ quan điểm của chu kỳ cuộc sống"[52] đã trình bày tổng quan lịch sử phát triển của hệ thống an sinh xã hội cho

người già ở Nhật Bản Nghiên cứu của tác giả cho thấy gánh nặng của dịch vụ xã hội đối với quá trình già hóa dân số ở Nhật Bản Nhật Bản đã có những thay đổi trong hệ thống an sinh xã hội từ trợ giúp cho người nghèo mở rộng sang quan tâm đến lợi ích

an sinh xã hội cho người cao tuổi Nhật Bản cũng có những điều chỉnh lợi ích khác nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi như vấn đề lương hưu, chăm sóc y

Trang 12

tế, bảo hiểm xã hội.v.v…từ đó nhằm đảm bảo công bằng về lợi ích và gánh nặng giữa các thế hệ khác nhau

Viện nghiên cứu Dân số và An sinh xã hội của Nhật Bản nghiên cứu về "An sinh xã hội ở Nhật Bản năm 2011" [51] Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự thay đổi

nhân khẩu học những năm qua ở Nhật Bản dẫn đến những thay đổi trong cơ cấu hộ gia đình, cơ cấu việc làm v.v…những thay đổi này đặt ra cho Nhật Bản những thách thức trong quá trình phát triển trong đó có vấn đề an sinh xã hội cho người cao tuổi

Để đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi nhóm tác giả nghiên cứu cho rằng cần phải quan tâm chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi thông qua hệ thống bảo hiểm dài

hạn Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu khác như: "Lợi ích an sinh xã hội và cung cấp lao động của người cao tuổi Nhật Bản", Atsushi Seike and Haruo Shimada

"Kinh tế của an sinh xã hội Nhật Bản" Toshiaki Tachibanaki, “An sinh xã hội ở Nhật Bản đương đại” Mari Osawa [52] Các công trình nghiên cứu này cũng đã phân tích

thách thức của hệ thống an sinh xã hội đối với việc già hóa dân số và trong sự suy thoái của nền kinh tế

Còn ở Mỹ, Gary V.Engelhardt và Jonathan Gruber đã sử dụng dữ liệu khảo sát dân số của Mỹ từ năm 1968-2001 để phân tích những thay đổi về vấn đề nghèo của nhóm tuổi già và những tác động của chính sách an sinh xã hội Từ công trình nghiên

cứu về: "An sinh xã hội và những thay đổi của người cao tuổi nghèo"[53], nhóm tác

giả đã chứng minh cho thấy vai trò quan trọng của chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi Tỷ lệ hộ nghèo trên 65 tuổi đã giảm từ 35% năm 1960 xuống còn 10% vào năm 1995 nhờ vào chính sách an sinh xã hội giành cho người già ở Mỹ Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cũng cho thấy, nếu có một chính sách an sinh xã hội tốt thì ngay cả khi đất nước gặp phải suy thoái kinh tế thì những người già cũng ít gặp phải những rủi ro hơn

Không bàn trực diện vào vấn đề an sinh xã hội cho người cao tuổi nhưng Paola

Scommegna và Marlene Lee trong bài viết "Già hóa dân số ở Châu Mỹ Latinh và vùng Caribe" [54] cũng chỉ ra cho thấy tuổi thọ của các khu vực này có xu hướng tăng mạnh

kể từ năm 1950 (từ 52 tuổi năm 1950 lên 73 tuổi năm 2010) Tuổi thọ của người dân ở các khu vực này tăng nhờ vào can thiệp y học và y tế công, qua đó làm giảm tỷ lệ tử vong do các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và giúp trẻ em sống được đến cho đến tuổi

Trang 13

trưởng thành Khi tuổi thọ cao hơn cùng với việc sinh ít con đã tạo nên những thay đổi trong cơ cấu tuổi của dân số khu vực này, người già chiếm tỷ trọng ngày càng lớn hơn

và trẻ em chiếm tỷ trọng ít hơn trong tổng dân số Các tác giả cho rằng, quá trình già hóa dân số tại các nước Châu Mỹ Latinh và vùng Caribe" (LAC) diễn ra trong bối cảnh

xã hội ngày càng có nhiều thách thức cho cả chính phủ và các cá nhân Các chương trình công đảm bảo hỗ trợ kinh tế, xã hội cơ bản cho người già đang bị cắt giảm Sự thay đổi các hình thái xã hội cũng tác động đến bối cảnh xã hội Gia đình là nơi chăm sóc các thành viên cao tuổi, nhưng những kỳ vọng về gia đình đang thay đổi và mức sinh giảm đồng nghĩa với số trẻ em sinh ra ít hơn, như vậy số con cái trưởng thành hỗ trợ cha mẹ già sau này cũng giảm Các chương trình lương hưu không đóng góp ở một

số nước có thể trợ cấp hưu trí cho các đối tượng như người bán rong, tiểu thương nhưng khó có thể duy trì lâu dài với các chương trình này Để ứng phó với già hóa dân

số ở các nước (LAC)

Paola Scommegna và Marlene Lee đã rút ra một số kiến nghị từ các nghiên cứu [52] đó là: 1/ Các chính phủ cần ưu tiên đầu tư vào chăm sóc sức khỏe là giáo dục trẻ

em để đảm bảo lực lượng lao động trong tương lai Chính phủ nên "tạo điều kiện đầu

tư vào vốn con người và áp lực do sự già hóa dân số" 2/ Các chính phủ cần củng cố

hệ thống ngân hàng và khuyến khích lãi tiết kiệm cao hơn đáp ứng nhu cầu người cao tuổi 3/ Tăng số lượng người trong độ tuổi lao động có thu nhập thông qua cải cách tiền lương như nâng độ tuổi nghỉ hưu; 4/ Các chính phủ cần xem xét việc đánh thuế tài sản của người cao tuổi [54]

Từ một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy: Cho đến nay trên thế giới vẫn chưa có một cách hiểu thống nhất giữa các quốc gia về khái niệm an sinh xã hội Tuy nhiên khi nói về an sinh xã hội người ta đều hàm ý nói đến sự bảo vệ của xã hội đối với những người gặp rủi ro trong đời sống xã hội

Đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi là một thách thức lớn và càng lớn hơn trong quá trình già hóa

2.2.Tình hình nghiên cứu trong nước

Việt Nam đã thực hiện khá nhiều các nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của người cao tuổi, đề cập đến một của số vấn đề lớn như: dân số học tuổi già, cơ sở

Trang 14

hạ tầng, gia đình và mạng lưới xã hội, đóng góp cao người tuổi gia đình và cộng đồng, các vấn đề về chính sách an sinh xã hội có liên quan đến người cao tuổi

Trong hai năm 1991 đến 1992 Viện xã hội học đã triển khai đề tài “Người cao tuổi và an sinh xã hội” được sự tài trợ của quỹ Toyota/Tương lai của nhóm tác giả

Trịnh Duy Luân, Lê Truyền, Bùi Thế Cường, Trần Thị Vinh, Vũ Hoa Thạch, Đỗ Thịnh Đây là công trình nghiên cứu khá công phu về đời sống của Người cao tuổi ở nông thôn và thành thị nước ta từ góc độ xã hội học như lao động, thu nhập, hoàn cảnh kinh tế, tình hình nhà ở và tiện nghi, vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, việc tham gia công tác xã hội sau khi nghỉ hưu, hệ thống an sinh xã hội và tác động của nó vào hoàn cảnh sống của người cao tuổi [45]

Đặc biệt, trong cuộc khảo sát với quy mô trên cả hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ được tiến hành từ năm 1996-1997 đã đề cập khá toàn diện các lĩnh vực của đời sống người cao tuổi như: hôn nhân, học vấn, lao động, thu nhập

và hoàn cảnh kinh tế, sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, sắp xếp đời sống gia đình…,

và các khía cạnh tác động của đổi mới đến đời sống của người cao tuổi… Các kết quả nghiên cứu đạt được từ 2 cuộc khảo sát trên đã góp phần mô tả các vấn đề quan trọng liên quan đến già hóa dân số ở Việt Nam Tiếp theo, năm 1999, một cuộc nghiên cứu định tính về người cao tuổi do Bùi Thế Cường và cộng sự tiến hành với mục tiêu làm

rõ hơn các kết quả nghiên cứu định lượng trong hai cuộc khảo sát tiến hành ở Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ nói trên Nghiên cứu này đã tập trung đi sâu tìm hiểu các vấn đề về tổ chức đời sống gia đình, đời sống kinh tế, sức khỏe và chăm sóc khi ốm đau, những lo lắng tuổi già, đánh giá tác động của đổi mới đến xã hội và người cao tuổi [14]

Công trình “Trong miền an sinh xã hội: Nghiên cứu về tuổi già Việt Nam” của tác

giả Bùi Thế Cường năm 2005, cung cấp những khái quát của tác giả về các khía cạnh khác nhau của người già Phần 1 mô tả cuộc cách mạng nhân khẩu học toàn cầu và dân

cư già ở Việt Nam Phần 2 mô tả học vấn, hôn nhân, lao động, thu nhập, hoàn cảnh kinh

tế, nhà ở, tiện nghi, sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, giao lưu xã hội, sự kính trọng gia đình và xã hội của người già, Phần 3 mô tả những nguồn lực vật chất của tuổi già: Tự lập, giúp đỡ con cái, bảo trợ xã hội của nhà nước và định hướng chính sách Phần 4 phân

Trang 15

tích về khác biệt vùng và dân tộc trong cuộc sống của người già và những hàm ý chính sách Những kết quả rút ra từ định hướng chính sách [14]

Nghiên cứu “Hệ thống an sinh xã hội đối với người có tuổi” (2005) của Bùi Thế

Cường [14] đề cập đến vai trò quan trọng của hệ thống an sinh xã hội trong quá trình chăm sóc NCT Hệ thống an sinh xã hội mở rộng và phát triển theo tiến trình lịch sử,

nó phụ thuộc vào tiến trình động thái các nhu cầu thiết yếu của con người và vào biến đổi của cơ cấu xã hội Hiện tại, một số lĩnh vực chủ chốt của hệ thống an sinh xã hội gồm dân số và gia đình, đào tạo nghề nghiệp và công ăn việc làm, trẻ em, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm, trợ giúp xã hội…được tập trung theo hướng đảm bảo công bằng xã hội, đặc biệt chú trọng đến các nhóm yếu thế Trong đó, an sinh xã hội cho nhóm NCT là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng

Chăm lo các điều kiện an sinh xã hội cho NCT, giúp họ đảm nhiệm các vai trò xã hội mới, đó là công việc có ý nghĩa to lớn đối với phát triển xã hội Không chỉ trong xã hội truyền thống NCT thực sự được tôn kính bởi kinh nghiệm sản xuất, lưu giữ các giá trị truyền thống, mà ngay cả trong xã hội hiện đại NCT cũng là một tài nguyên

Trong nghiên cứu “Người già cô đơn và những vấn đề đặt ra trong chính sách

xã hội” của Mạc Tuấn Linh [27] Trong hệ thống an sinh xã hội của bất kỳ quốc gia

nào, an sinh người cao tuổi giữ vị trí đặc biệt quan trọng Để xây dựng chính sách xã hội cho người cao tuổi cần hiểu biết về đặc tính về nhân khẩu, cơ cấu xã hội và vai trò của lớp người này trong cộng đồng xã hội, đồng thời phải tìm hiểu tâm tư, tình cảm

và nguyện vọng của họ trong cuộc sống

Trong bài nghiên cứu này đề cập đến một bộ phận trong lớp người cao tuổi, đó

là người già cô đơn Người già cô đơn khó khăn, thiếu thốn về mọi mặt, nhưng đối với họ thiếu thốn hơn cả là đời sống tinh thần quá nghèo nàn Sự giúp đỡ của xã hội của cộng đồng về vật chất đang còn nhỏ nhưng cũng phần nào giúp người cao tuổi bớt khó khăn trong cuộc sống Trong bối cảnh hiện nay, khi các mối quan hệ các thiết chế gia đình, xã hội ngày càng lỏng lẻo và xuống cấp

Con cái bỏ rơi xa lánh hoặc vì kế sinh nhai không có điều kiện chăm sóc người cao tuổi thì mối lo ngại của nguời cao tuổi ngày càng tăng, mức độ cô đơn cũng tăng lên theo đó Đời sống vật chất tinh thần của người cao tuổi thiếu thốn làm cho vấn đề sức khỏe của người cao tuổi càng trở nên phức tạp

Ngày đăng: 30/03/2021, 00:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w