Trường THCS Hải Nhân Giáo án bồi dưỡng Ngữ Văn 8 cho cái thành kiến cổ hủ , phi nhân đạo của cái xã hội khi đó mà còn là người đàn bà có tâm địa thật đen tối khi cố ý khoét sâu vào nỗi đ[r]
Trang 1GV: Nguyễn Đình Trường Năm học : 2011 - 201121
Bài 1 : Khái quát về văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX
đến Cách mạng tháng Tám 1945
A – Mục tiêu cần đạt :
+ HS nắm được một cách khái quát về hoàn cảnh lịch sử , tình hình xã hội ,tình hình
phát triển văn học và những thành tựu nổi bật của thời kỳ văn học này
+ HS hiểu khái quát những nét chính về nội dung , nghệ thuật tiêu biểu ở từng giai đoạn văn học
+ Luyện các kỹ năng phân tích , biình giảng các chi tiết , các hình ảnh thơ có trong các văn bản thể hiện chủ đề nội dung tư tưởng
+ Lập dàn ý theo các kiểu văn bản theo yêu cầu của đề ra sau khi đã tìm hiểu xong văn bản
+ Giáo dục cho HS tình yêu quê hương đất nước , lòng căm thù giặc ngoại xâm , có sự
đồng cảm với số phận những người cùng khổ trong xã hội
B – Nội dung bài học :
I – Về tình hình xã hội và văn hoá :
1 / Hoàn cảnh lịch sử và xã hội :
- Thực dân Pháp đặt xong được ách đô hộ vào Việt Nam và tiến hành khai thác thuộc địa Xã hội Việt Nam từ xã hội phong kiến chuyển sang xã hội thực dân nửa phong kiến
- Sự thay đổi lớn lao về chế độ xã hội ấy kéo theo sự thay đổi về cơ cấu giai cấp , ý thức
hệ văn hoá khá sâu sắc và nhanh chóng
- Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp , giữa nhân dân ta với ( chủ yếu là nông dân ) với phong kiến ngày càng trở nên sâu sắc và quyết liệt
* văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám 1945 sẽ phát triển
trong điều liện xã hội mới và tình hình văn hoá mới
2/ Tình hình văn hoá :
- Nền văn hoá phong kiến cổ truyền ( từng gán bó với văn hoá khu vực Đông Nam á ,
đặc biệt là gắn bó với văn hoá Trung Hoa , với nền Hán học ) bị nền van hoá tư sản hiện
đại ( đặc biệt là văn hoá Pháp ) nhanh chóng lấn át Chế đọ thi cử chữ Hán bị bãi bỏ ( bỏ các kỳ thi hương ở Bắc kỳ nam 1915 ,ở trung kỳ năm 1918 )
- Tầng lớp trí thức nho sĩ phong kiến là trụ cột của nền văn hoá dân tộc suốt thời trung
đại nay đã hết thời không được coi trọng nữa Tầng lớp trí thức Tây học thay thế tầng
lớp nho sĩ cũ , trở thành đội quân chủ lực làm nên bộ mặt văn hoá Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XX
- Đời sống văn học , phương tiện văn học có những thay đổi lớn : một tầng lớp công
chúng mới có thị hiếu thẩm mỹ , có nhu cầu văn học mới xuất hiện Một thế hệ nhà văn mới ra đời , có điệu sống mới , cảm xúc mới , vốn văn hoá nghệ thuật mới , khác nhiều
so với văn sĩ , thi sĩ Nho gia ngày xưa
II – Tình hình văn học :
1 Quá trình phát triển của văn học từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám
1945
- Văn học chia ra làm ba chặng lớn :
+ Hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX
Trang 2+ Những năm 20 của thế kỷ XX
+ Từ đầu những năm 30 đến cách mạng tháng Tám 1945
- Văn học gồm hai khu vực :
+ Văn học hợp pháp :tồn tại và phát triển trong vòng pháp luật của chính quyền thống trị đương thời ( thơ văn của Tản Đà ,của Hồ Biểu Chánh …
+ Văn học bất hợp pháp :văn học yêu nước và cách mạng ( thơ văn Phan Bội Châu ,Phan Châu Trinh , Hồ Chí Minh …
-Văn học phát triển theo ba trào lưu chính :
+ Văn học yêu nước và cách mạng
+Văn học viết theo cảm hứng hiện thực +Văn học viết theo cảm hứng lãng mạn
* Văn học thời kỳ này bắt đầu và hoàn thành qúa trình đổi mới văn học diễn ra ở mọi phương diện , mọi thể loại
+ Nội dung : Đổi mới trên các mặt : tư tưởng ,tình cảm ,cảm xúc ,tâm hồn , cách cảm, cách nghĩ …của các nhà văn , nhà thơ trước cuộc đời , trước đất nước , trước con người
và cả trước nghệ thuật Ví dụ như khi nói về đất nước là nói đến nước là gắn với dân :
“dân là sân nước , nước là nước dân ” , còn nòi về con người , bên cạnh con người xã hội , con người công dân còn phải nói đến con người tự nhiên , con người cá nhân
+ Hình thức : đó là việc thay đổi về chữ viết ( chữ quốc ngữ ) , xuất hiẹn nhiều thể loại văn học mới , viết theo lối mới Bên cạnh đó còn có sự đổi mới về ngôn ngữ : mang
tính cá thể ,gắn với đời sống bình thường , có tính dân tộc đậm đà hơn
III – Văn bản : “ Tôi đi học” ( Thanh Tịnh )
1 / Giới thiệu về tác giả :
- Tên thật là Trần Văn Ninh ( 1911 – 1988 )
- Quê ở xóm Gia Lạc , ven sông Hương , ngoại ô thành phố Huế
- Trong cuộc đời văn nghiệp của mình , Thanh Tịnh đã có mặt trên khá nhiều lĩnh vực : truyện ngắn ,truyện dài , thơ , ca dao ,bút ký văn học …Song có lẽ ông thành công hơn cả
là ở truyện ngắn và thơ Những truyện ngắn hay nhất của Thanh Tịnh nhìn chung toát lên một tình cảm êm dịu ,trong trẻo Văn ông nhẹ nhàng mà thấm sâu , mang dư vị vừa man mác buồn thương ,vừa ngọt ngào quyến luyến
- Đời văn gần 50 năm của Thanh Tịnh để lại một sự nghiệp khá phong phú : Hận
chiến trường ( tập thơ , 1937 ) ,Quê mẹ ( tập truyện ngắn – 1941 ) Chị và em ( tập truyện ngắn -1942 ) ,Ngậm ngải tìm trầm ( tập truyện ngắn -1943 ) Xuân và Sing ( tập truyện dài -1944 ) , Đi từ giữa một mùa sen ( tập truyện thơ
- 1973 ) …Thơ văn Thanh Tịnh đậm chất trữ tình đằm thắm , tình cảm êm dịu , trong trẻo
1 Quá trình phát triển của văn học từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám 1945
- Văn học chia ra làm ba chặng lớn :
+ Hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX
+ Những năm 20 của thế kỷ XX
+ Từ đầu những năm 30 đến cách mạng tháng Tám 1945
- Văn học gồm hai khu vực :
Trang 3GV: Nguyễn Đình Trường Năm học : 2011 - 2011216
+ Văn học hợp pháp :tồn tại và phát triển trong vòng pháp luật của chính quyền thống trị đương thời ( thơ văn của Tản Đà ,của Hồ Biểu Chánh …
+ Văn học bất hợp pháp :văn học yêu nước và cách mạng ( thơ văn Phan Bội Châu ,Phan Châu Trinh , Hồ Chí Minh …
- Văn học phát triển theo ba trào lưu chính :
+ Văn học yêu nước và cách mạng
+Văn học viết theo cảm hứng hiện thực +Văn học viết theo cảm hứng lãng mạn
Văn học thời kỳ này bắt đầu và hoàn thành qúa trình đổi mới văn học diễn
ra ở mọi phương diện , mọi thể loại + Nội dung : Đổi mới trên các mặt : tư tưởng ,tình cảm ,cảm xúc ,tâm hồn , cách cảm, cách nghĩ …của các nhà văn , nhà thơ trước cuộc đời , trước đất nước , trước con người và cả trước nghệ thuật Ví dụ như khi nói về đất nước
là nói đến nước là gắn với dân : “dân là sân nước , nước là nước dân ” , còn nòi về con người , bên cạnh con người xã hội , con người công dân còn phải nói đến con người tự nhiên , con người cá nhân
+ Hình thức : đó là việc thay đổi về chữ viết ( chữ quốc ngữ ) , xuất hiẹn nhiều thể loại văn học mới , viết theo lối mới Bên cạnh đó còn có sự đổi mới về ngôn ngữ : mang tính cá thể ,gắn với đời sống bình thường , có tính dân tộc đậm đà hơn
- Đời văn gần 50 năm của Thanh Tịnh để lại một sự nghiệp khá phong phú : Hận
chiến trường ( tập thơ , 1937 ) ,Quê mẹ ( tập truyện ngắn – 1941 ) Chị và em ( tập truyện ngắn -1942 ) ,Ngậm ngải tìm trầm ( tập truyện ngắn -1943 ) Xuân và Sing ( tập truyện dài -1944 ) , Đi từ giữa một mùa sen ( tập truyện thơ - 1973 ) …Thơ văn Thanh Tịnh đậm
chất trữ tình đằm thắm , tình cảm êm dịu , trong trẻo
2 / Văn bản : Tôi đi học
- Thể loại : Truyện ngắn
- Phương thức biểu đạt chính : Tự sự
-Xuất xứ : In trong tập truyện ngắn Quê mẹ ( 1941 )
- kết cấu : Bằng một ngòi bút giàu chất thơ ,tác giả đã diễn tả những kỷ niệm của buổi tưu trường đầu tiên trong đời Đó là tâm trạng bỡ ngỡ và những cảm giác mới mẻ của nhân vật “ tôi ” ngày đầu tiên đi học Truyện được kết cấu theo dòng hồi tưởng của nhân vật “ tôi ”
* Nội dung và nghệ thuật :
- Truyện ngắn Tôi đi học khong chứa đựng nhiều sự kiện , nhân vật ,không có
những xung đột xã hội mà giàu chất trữ tình êm dịu , trông trẻo Toàn bộ tác phẩm là “ những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường ’’ cảu nhân vật tôi Qua dòng hồi tưởng ấy , Thanh Tịnh diễn tả cảm giác , tâm trạng theo trình tự thời gian của buổi tựu trường
- Bằng cả tâm hồn rung động thiết tha , Thanh Tịnh đã diễn tả chân thực tâm trạng hồi hộp , cảm giác bỡ ngỡ của nhân vật “ tôi ” trong buổi tựu trường đầu tiên Tác phẩm
có ý nghĩa đối với nhiều thế hệ bạn đọc bởi nó đã ghi lại một trong những thời điểm đáng nhớ nhất trong cuộc đời mỗi con người - buổi tựu trường đầu tiên với bao kỷ niệm trong sáng của tuổi học trò
Trang 4- Tôi đi học kết hợp hài hoà , nhuần nhuyễn giữa tự sự với trữ tình , miêu tả với
biểu cảm Đây chính là nguyên nhân cơ bản tạo nên sức cuốn hút của tác phẩm Trên
dòng hồi tưởng , thuật kể , nhân vật tôi bộc lộ tâm trạng , cảm giác thật chân thành , tha thiết , Bởi thế Tôi đi học gieo vào lòng người đọc boa nỗi niềm bâng khuâng ,bao rung cảm nhẹ nhàng ,trong sáng Hình thức hồi tưởng , thuật kể từ ngôi thứ nhất càng tạo nên tính gần gũi , chất trữ tình đậm đà cho văn bản
Bài tập về nhà :
Phân tích tâm trạng nhân vật Tôi sau khi học xong văn bản
( Yêu cầu HS lập dàn ý )
Gợi ý :
HS lập dàn ý theo dòng hồi tưởng của nhân vật Tôi
-Từ hiện tại mà nhớ về dĩ vãng
+ Tâm trạng ,cảm giác nhân vật Tôi trên con đường cùng mẹ tới trường
+ Tâm trạng ,cảm giác nhân vậy Tôi khi nhìn ngôi trường buổi tựu trường , khi
nhìn mọi người , các bạn , lúc gọi tên mình vào lớp
+ Tâm trạng và cảm giác nhân vật Tôi khi ngồi vào chỗ của mình và đón nhận
giờ học đầu tiên
Bài 2 : Trong lòng mẹ
( Trích Những ngày thơ ấu )
Nguyên Hồng
A – Mục tiêu cần đạt :
_ HS hiểu được rằng : Tình cảm mẹ con ruột thịt thiêng liêng không bị những
rắp tâm tanh bẩn nào có thể xâm phạm
-Niềm vui ,niềm hạnh phúc lớn lao khi được ở trong lòng mẹ , được mẹ ôm ấp
vỗ về
- Giáo dục cho HS lòng kính yêu cha mẹ , biết ơn cha mẹ ,nguồn tình cảm , chỗ dựa lớn lao của con người
- Rèn luyệnv kỹ năng phân tích ,cảm thụ những đoạn văn xuôi giàu chất trữ tình , giàu cảm xúc mạnh mẽ
B – Nội dung bài học :
1/ Vài nét về tác giả :
Tên khai sinh là Nguyễn Nguyên Hồng ( 1918 – 1982 )
-Quê ở thành phố Nam Định nhưng trước c/m sống chủ yếu ở Hải Phòng trong một
xóm lao đọng nghèo ( xóm Cấm )
- Sinh ra trong một gia đình gốc Công giáo ,cha có thời kỳ làm cai đề lao sau đó bị
mất chức , trả thù đời bằng việc ngày đâm bên bàn đèn thuốc phiện Mẹ là người phụ nữ
có khát vọng về t/ y nhưng đành chôn vùi bởi bổn phận trước gia đình
Do hoàn cảnh của mình , sớm thấm thía nỗi cơ cực và gần gũi những người nghèo khổ .Ngay từ những sáng tác đầu tay , Nguyên Hồng đã viết về những người cùng khổ gần gũi một cách chân thực và xúc động với một tình yêu thương thắm thiết Ông dược coi là nhà
Trang 5GV: Nguyễn Đình Trường Năm học : 2011 - 201121
văn của những người cùng khổ , lớp người “ dưới đáy xã hội ” Viết về các nhân vật ấy
,ông bộc lộ niềm yêu thương sâu sắc ,mãnh liệt , lòng trân trọng những vẻ đẹp đáng quý Văn xuôi Nguyên Hồng giàu chất trữ tình , nhiều khi dạt dào những cảm xúc tha thiết
,rất mực chân thành Đó là văn của một trái tim nhạy cảm , dễ bị tổn thương , dễ bị rung
động đến cực điểm nỗi đau và niềm hạnh phúc bình dị của con người
-Nhà văn đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ , có gia trị : Bỉ vỏ ( tiểu thuyết –
1938 ) Những ngày thơ ấu ( Hồi ký – 1938 ) , Trời xanh ( tập thơ - 1960 ) ,Cửa biển (
bộ tiểu thuyết 4 tập -1961-1976 ) , Núi rừng Yên Thế ( bộ tiểu thuyết đang viết dở )
2 / Tác phẩm : Những ngày thơ ấu
- Đăng báo đầu tiên năm 1938 ,xuất bản lần đầu năm 1940
- Thể loại : Hồi ký
- Kết cấu : gồm 9 chương , mõi chương là một kỷ niệm về tuổi thơ cay đắn của
chính Nguyên Hồng
-Nội dung : Từ cảnh ngộ và tâm sự của chú bé Hồng –nhân vật chính – tác giả
còn cho thấy bộ mặt lạnh lùng của một xã hội chỉ trọng đồng tiền , đầy những thành
kiến cổ hủ , thói nhỏ nhen độc ác của đấm thị dân tiểu tư sản khiến cho tình máu mủ
,ruột thịt cũng thành khô héo , cái xã hội đầy những thành kiến cổ hủ bóp nghẹt quyền sống của người phụ nữ
Những ngày thơ ấu là tập văn xuôi giàu chất trữ tình với cảm xúc dạt dào ,tha thiết
và rất mực chân thành
3 / Văn bản : Trong lòng mẹ
-Đây là chương 4 của tập hồi ký ở chương này Nguyên Hồng nhớ lại một quãng đời cay đắng thời thơ ấu của mình , trong đó có cảnh ngộ đáng thương của một đứa trẻ xa
mẹ , có tình yêu vô bờ đối với mẹ và niềm khao khát cháy bỏng được sống trong tình mẹ
a / Cảnh ngộ đáng thương và nỗi đau của bé Hồng :
- Bé Hồng được sinh ra trong một gia đình có nhiều bất hạnh , em chính là kết quả
của một cuộc hôn nhân gượng ép , không có tình yêu Sớm phải mồ côi cha lại thiếu
vắng tình yêu thương của mẹ , sống trong sự ghẻ lạnh , cay nghiệt của họ hàng bên nội
- Nỗi đau khổ sâu xa của bé Hồng không chỉ là thiếu vắng tình yêu thương mà còn ở chỗ chú luôn bị người khác xúc phạm một cách độc ác về mẹ , một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng , nợ nần cùng túng quá , phải đi tha hương cầu thực Đó là việc bà cô nói về mẹ chú với chú bằng những lời lẽ thâm độc , đã khoét sâu nỗi đau của chú bé
đáng thương Bà ta làm ra vẻ quan tâm đến chú nhưng kỳ thực , chú nhận ra ý nghĩa
cay độc trong giọng nói của bà Chú biết rõ rằng nhắc đến mẹ chú , bà cô ấy chỉ cố ý
gieo rắc vào đầu óc chú những ý nghĩ không tốt về mẹ : đó là những hoài nghi để tôi
khinh miệt và ruồng rẫy mẹ Vì vậy lời nói của bà cô trong cuộc đối thoại trước và sau mâu thuẫn nhau :
- Lời bà cô : - mợ mày làm ăn phát tài lắm
- Thông báo việc mẹ có em bé
- Mẹ chú nghèo khổ , rách rưới , tội nghiệp và đáng thương
Khiến cho chú đau đớn và vô cùng căm giận những cổ tục đã đày đoạ người mẹ
hiền từ đáng thương của mình
Nhân vật bà cô được thể hiện khá sắc sảo , sinh động Bà ta chẳng những tiêu biểu
Trang 6cho cái thành kiến cổ hủ , phi nhân đạo của cái xã hội khi đó mà còn là người đàn bà có tâm địa thật đen tối khi cố ý khoét sâu vào nỗi đau rướm máu trong tâm hồn nhạy cảm của đứa cháu mồ côi , cố ý gieo vào lòng nó thái độ khinh miệt , ruồng rẫy đối với người
mẹ mà nó vô vàn yêu thương
b / Lòng yêu thương mẹ của bé Hồng :
- Đoạn trích thể hiện tình yêu thương của chú bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh Dường như càng trong cảnh ngộ cay đắng , tủi cực , tình yêu thương càng mãnh liệt ,
cháy bỏng Tình cảm này được thể hiện trong hai tình huống chính
-Trong lòng bé Hồng luôn có hình ảnh người mẹ “ có vẻ mặt rầu rầu và hiền từ ”
Mặc dù mẹ chú đã bỏ nhà đi giữa sự khinh miệt của đám họ hàng cay nghiệt , dù đã gần một năm mẹ chưa gửi thư về
-Trước những lời lẽ thâm độc của bà cô , chú không mảy may dao động : Khong đời nào lòng yêu thương và kính trọng mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến
…khi bà cô đưa ra hai tiếng em bé để chú thật đau đớn nhục nhã vì thì chú bé đầm đìa nước mắt , nhưng không phải chú đau đớn vì mẹ chú làm điều xấu xa mà chỉ vì tôi
thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác đó để xa lìa
anh em tôi để sinh nở một cách giấu giếm Như vậy chú không hề căm tức mẹ mà chú
đã hiểu về những đau đớn mà người mẹ phải chịu đựng , bị hành hạ , từ đó mà càng yêu thương và kính trọng mẹ hơn Vởy là chú bé Hồng không chịu mảy may chịu ảnh hưởng của những thành kiến đạo đức phong kiến , do có một tình cảm tự nhiên mạnh mẽ , dối với người mẹ mà chú vô vàn yêu thương , kính mến Ngay từ tuổi thơ bằng trải nghiệm ,cay dắng của bản thân , Nguyên Hồng đã thấm thía tính chất vô lý và tàn ác của những thành kiến hủ lậu đó Và chú căm ghét thật mãnh liệt những cổ tục ấy “ Giá như những
cổ tục đã đày đoạ mẹ tôi là những vật như hòn đá hay cục thỷ tinh , đầu mẩu gỗ , tôi
quyết vồ ngay lấy mà cắn ,mà nhai , mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi ”Thật là hồn nhiên trẻ con , và cũng thật là mãnh liệt , lớn lao cái ý nghĩ đó của chú bé Sự căm ghét dữ dội ấy chính là biểu hiện đầy đủ của lòng yêu thương dào dạt của bé Hồng với mẹ
-Thật cảm động khi đọc những trang sách bé Hồng kể về cuộc gặp gỡ với mẹ và cảm giác thấm thía tột cùng của chú khi được trở về trong lòng mẹ Lúc này tình yêu
thương mẹ không chỉ thể hiện qua ý nghĩ mà tỉnh táo mà là một cảm xúc lớn lao , mãnh liệt dâng trào , một cảm giác hạnh phúc tuyệt vời đã xâm chiếm toàn bộ cơ thể và tâm
hồn chú bé Thoáng thấy bóng người ngồi trên xe kéo giống mẹ mình , chú bé cuống
quýt đuổi theo gọi bối rối ( so sánh với người bộ nành đi giữa sa mạc ) Đó là nỗi khắc khoải mong mẹ tới cháy ruột của chú bé đã được thể hiện thật thấm thía và xúc động
- Chú chạy theo chiếc xe đó , thở hồng hộc , trán đẫm mồ hôi , và khi trèo lên xe
chân cứ ríu lại Biết bao hồi hộp , sung sướng , đau khổ toát lên từ những cử chỉ cuống quýt đó Và khi dược lên xe ngồi bên cạnh mẹ thì chú bé oà lên khóc nức nở Dường như bao nhiêu sầu khổ không được giải toả trong lòng chú bé suốt thời gian xa mẹ dài
đằng đẵng lúc bỗng vỡ oà
-Dưới cái nhìn vô vàn yêu thương của đứa con mong mẹ , người mẹ hiện ra với xiết bao thân yêu ,đẹp tươi Chú bé cảm thấy ngây ngất sung sướng tận
Trang 7GV: Nguyễn Đình Trường Năm học : 2011 - 201121
hưởng khi được sà vào lòng mẹ : đó là những cảm giác êm dịu vô cùng Dường như tất cả mọi giác quan của chú bé đều thức dậy và mở ra để cảm nhận tận cùng những cảm
giác rạo rực ,sung sướng cực điểm khi nằm trong lòng mẹ , tận hưởng cái êm dịu vô
cùng đó của người mẹ Chú không nhớ mẹ đã hỏi những gì và chú trả lời những gì , cái câu nói của bà cô hôm nào đã hoàn toàn bị chìm đi và chú không mảy may nghĩ ngợi gì nữa Qua văn bản Nguyên Hồng đã thể hiện một cách chân thật và cảm động thấm thía tình mẫu tử thiêng liêng Đằng sau những dòng chữ , những câu văn là những rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại
Bài tập về nhà : Phân tích tâm trạng của bé Hồng khi học xong đoạn trích
A-Các bài thơ mới Bài 1: Muốn làm thằng Cuội
I-Tác giả :
- Tên là Nguyễn Khắc Hiếu, quê làng Khê thượng, Bất Bạt, Sơn tây ( Nay là Ba Vì, hà tây ) Ông xuất thân trong 1 gia đình phong kiến suy tàn, là con của người vợ thứ 3, mẹ
ông vốn là cô đào hát nổi tiếng, tài sắc, giỏi văn thơ Ông được thừa kế tài hoa của người
mẹ Nhưng ngay còn nhỏ, Tản đầ là người sống thiếu tình cảm Đường công danh, sự nghiệp dở dang ( theo nghiên bút từ khi 5 tuổi, 2 lần đi thi đều bị trượt, lại chứng kiến cảnh người yêu đi lấy chồng ) -> quay sang làm thơ văn Tản đà có cuộc sống nghèo khổ nhưng rất thanh cao
- Tản đà có cá tính ngông, phóng khoáng với 1 hồn thơ sầu mộng , thuộc giống đa tình Thơ ông là tiếng lòng của cái tôi trong sáng, bất hoà sâu sắc với thực tại muốn tìm cách thoát li trong mộng, trong thơ, trong thói giang hồ tài tử
- Tản Đà viết rất nhiều thể loại Gần 30 năm trời cống hiến, ông đã để lại cho đời 1 sự nghiệp văn chương khá đồ sộ:
+ Tiểu thuyết: giấc mộng lớn, giấc mộng con
+ Thơ : khối tình con 1, khối tình con 2
+ Truyện ngắn, truyện vừa
+ Dịch thơ: lưu trai chí dị
+ làm chủ báo, viết báo
=>Tản Đà là viên gạch nối giữa 2 thế kỉ, là ngôi sao sáng chói nhất trong thơ ca hợp pháp, mở đường cho dòng văn học lãng mạn
1- Phân tích bài thơ
Đề 1: Phân tích tâm trạng của TĐ trong bài “ Muốn làm thằng Cuội”
Đề 2: Có ý kiến cho rằng : bài thơ MLTC đã thể hiện chất ngông và đa tình nhưng đong
đầy cảm xúc thời thế của thi sĩ”
Bằng hiểu biết về bài thơ hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
Dàn ý đề 1:
A-Mở bài:
-Giới thiệu Tản Đà: thi sĩ tiêu biểu của 1 nền văn học, mở đường cho nền văn thơ mới -Giới thiệu bài thơ: là bài tiêu biêu cho cá tính độc đáo của TĐ: lãng mạn, phóng
Trang 8khoáng, đa tình, đầy tâm trngj Bài thơ là sự phản ứng của ông đối với XH thực dân nửa phong kiến
B-Thân bài:
-Giới thiệu sơ lược về con người TĐ: là 1 nho học nhưng tính tình rộng mở, thích bay bổng không chịu gò ép vào những khuôn phép giáo điều; muốn vượt lên tren những cái tầm thường; là người tài năng, muốn đem hoài bão, nhiệt huyết giúp đời, cứu nước nhưng không được cho nên kết đọng trong thơ ông 1 nỗi u hoài, ngậm ngùi về thời thế, nhân thế, thân thế
-Phân tích tâm trạng của TĐ
*Phân tích nhan đề : Đã chất chứa 1 tâm trạng muốn thoát khỏi thời thế
*2 câu đề
Chính là lời thanh minh, phơi bày tâm sự của TĐ
“ đêm thu buòn lắm ơi”
+ “ Đêm thu” đối diện với vầng trăng, cảnh thanh vắng, yên tĩnh ->lòng càng buồn, nỗi sầu càng chất chứa Cảnh buồn, lòng buồn đã hoà tấu thành 1 hồn thơ sầu mộng Nhà thơ không thể giấu giếm cảm xúc chân thực của bản thân mình Gọi “ chị Hằng ơi” để tâm sự – một lời gọi thân mật như 2 người dã quen biét rất lâu, trở thành tri kỉ Tác giả xưng em, gọi chị như tình ruột thịt Như vậy đây hẳn là lời ruột thịt tự trái tim, tiếng của linh hồn sâu thẳm Tác giả than “ Chán nửa rồi”, đây là tâm trạng, nỗi lòng, là mối bất hoà sâu sắc với XH, với cuộc đời đáng chán XH ngột ngạt tù hãm, u uất còn TĐ lại luôn hướng tới cái thanh cao, trong sáng Vì vậy ông không thể chấp nhận hiệ tại, muốn vượt lên trên cái tầm thường Ông muốn nửa đời còn lại có 1 ngươig bạn tri âm để hàn huyên, quên đi sự lạc lỏng cô đơn của mình trê thế gian ông khao khát được gặp những tấm lòng yêu thương, chia sẻ, được sống chính là mình
*Hai câu thực
Dùng 1 lời hỏi và 1 lời cầu xin Tác giả muốn lên cung trăng đề được gần người đẹp bởi vì chị Hằng cô đơn trên cung quế, thi sĩ cô đơn nơi trần thế Hai hồn cô đơn có nhau đẻ
đỡ buồn, đỡ tủi Câu thơ bộc lộ rõ hồn thơ mơ mộng nhưng ẩn đằng sau là nỗi sầu của nhà thơ
*Hai câu luận
Chính là sự trả lời cho viẹc muốn lên cung trăng của TĐ để thưởng thức vẻ đẹp vĩnh hằng, những thú vui tao nhã, được thả hồn phiêu du cùng trời đất
“ Có bầu, có bạn can chi tủi
Cùng vui”
“ Có, cùng” ( điệp từ ): khẳng định niềm vui về tinh thần, được thả hồn hoà nhịp cùng gió mây
=>Tác giả không ham muốn vật chất tầm thường, coi trọng tình cảm và cái đẹp, tránh
được những bụi bặm, bon chen của cuộc đời
* Hai câu kết
Bộc lọ tính cách , con người TĐ
+ “ Rồi cứ năm” ( thời gian liên tục, vĩnh viễn ) ->ở hẳn tren cung trăng bên cạnh người đẹp
+ Tác giả chọn thời điểm khi ánh trăng toả sáng, lung linh trên khắp thế gian, khi mọi người hướng nhìn trăng sáng thì TĐ xuất hiện Với chi tiết này,người đọc càng hiểu
Trang 9GV: Nguyễn Đình Trường Năm học : 2011 - 201121
thêm về con người thi sĩ: luôn khao khát cái đẹp, đắm chìm vào cái đẹp vĩnh hằng ở trên cung trăng, có nghã là TĐ chọn vị trí cao hơn tất cả, tác giả khẳng định tài năng của mình: ở trên cao nhìn xuống, ông cười trần thế bé nhỏ Cái cười đó bộc lộ chất ngông Hình ảnh cuối bài còn bộc lộ tính cách đa tình : tựa vai người đẹp, ở hẳn tren đó với người đẹp, không thèm trở về trần thế phù phiếm, đầy rẫy những bất công Song câu thơ cũng chất chứa nỗi lòng của Tản đà Ông thoát lên tiên không phải hoàn toàn quay mặt với hiện thực, cuộc đời, chối bỏ thực tạimà đắm chìm vào cõi mộng mà trong sâu thẳm tâm hồn, tình yêu quê hương, đất nước vẫn khua động, sáng lên trong ông Hành động “ trông xuống” đã nói được điều đó
Bài 2 : Nhớ rừng
1-Tác giả
- Tên là Nguyễn Thứ Lễ ( 1907 –1989 ), quê Bắc Ninh Là nhà thơ tiêu biểu nhất chặng đầu ( 1932-1935) của thơ mới Ông đã có công đem lại chiến thắng cho thơ mới Thơ ông mang nặng tâm sự thời thế và đất nước
-Tác phẩm chính: Mấy vần thơ ( 1935 ), truyện trinh thám, truyện kinh dị sau đó ông chuỷen hẳn sang hoạt động sân kháu là người có công đầu xây dựng ngành kịch nói ở nước ta
=>là người có nhiều tài năng ở lĩnh vực văn hoá nghẹ thuật
2-Tác phẩm
-Là bài thư tiêu biểu nhất, hay nhất của Thế Lữ Chính bài thơ đã góp phần cho sự thắng lợi của thơ mới
-Bài thơ mượn lời con hổ bị nhổ ttong vườn bách thú để thể hiện tâm sự u uất của thanh niên lúc bấy giờ, đồng thời cũng là tâm trạng của người VN mất nước Họ luôn khao khát tự do, quay về với quá khứ
3-Bài thơ
Bài thơ dựng lên 2 cảnh hoàn toàn đối lập nhau: Cảnh hịên tại và cảnh quá khứ
a)Cảnh thực tại
*Hình ảnh con hổ bị giam trong cũi sắt bộc lộ niềm u uất và ngao ngán
-Hổ là 1 chúa tể, nơi của nó là đại ngàn thì bây giờ là cũi sắt, là giam cầm trong tư thế nằm dài bất lực, trong hổ chất chứa bao nỗi niềm Từ “ gậm” đã làm cụ thể hoá tâm trạng Gậm không chỉ là gặm mà còn là ngậm ( ngậm đắng, nuốt cay ) Nó thể hiện hành động âm thầm, lặng lẽ nhưng quýet liệt, dữ dội, hành động không cam chịu Con
hổ đang nghiền ngẫm thấm thía nỗi cay đắng cuat thân tù hãm Câu thơ mở đầu như tiếng gầm gừ của hổ bới các thanh trắc Nỗi căm hờn của nó đã đúc thành từng khối
-Hổ căm giận uất ức bởi lẽ: nó phải chịu chung số phận với bọn gấu, cặp báo dở hơi, không có suy nghĩ, không có ước mơ, khát khao; bản thân nó trở thành “ trò lạ mắt, thứ
đồ chơi” của lũ người ngạo mạn ngẩn ngơ
=>Đoạn thơ đầu đã chạm vào nỗi đau mất nước, nỗi đau của con người nô lệ Sự uất ức của hổ cũng chính là sự uất ức của người dân VN bấy giờ
*Con hổ có tâm trạng chán chường, khinh thường trước sự tầm thường, giả dối của vườn bách thú
-cảnh đơn điệu, tẻ nhạt, quẩn quanh, giả tạo
Trang 10-Con hổ ghét thói học đòi, bắt chước vẻ hoang vu của cảnh đại ngàn.
=>Giọng thơ giẽu nhại, làm rõ sự bực dọc, ngao ngán của chú hổ trong thực tại
b)Cảnh quá khứ
*Hổ nhớ về rừng đại ngàn
Nhớ về rừng là hổ nhớ về tự do, quá khứ hùng vĩ, oai linh, thời oanh liệt Nhớ rừng là nhớ tiếc cái cao cả, chân thực, tự nhiên
* Hổ hoài niệm về kỉ niệm
-ở bức tranh thứ nhất, hổ say mồi và say trăng Bức tranh đầy màu sắc, được nhà thơ vẽ với bút hoạ tài tình Hình ảnh “ đêm vàng” là hình ảnh ẩn dụ đây là giờ phút kì diẹu nhất của mãnh hổ, là niềm vui hoạn lạc giữa rừng già bên suối Hổ thả đôi mắt mơ màng ngắm nhìn ánh trăng vào lúc đã no mồi Trăng tan vào dòng suối, hổ uống từng dòng nước đang hoà tan ánh trăng ->hổ đang ngự trị ánh trăng
->Cảnh thơ mộng, huyền ảo
-Bức tranh thứ 2: là nỗi nhớ ngẩn ngơ của hổ về cảnh mưa rừng đây là không gian nghệ thuật hoành tráng của giang sơn Bức tranh đó sánh ngang tầm với quyền uy Bức tranh
đó có âm thanh dữ dội, 1 sự chuyển động mạnh mẽ, những con mưa mù mịt làm kinh
động 4 phương ngàn, cảnh vật khiến cho mọi vật đều khiếp sợ thì ông hổ đứng đàng hoàng, điềm tĩnh lặng nhìn giang sơn đổi mới
-Bức thứ 3:Đầy màu sắc và âm thanh: Màu hồng của bình minh, màu xanh bát ngát của cây rừng, có tiếng ca tưng bừng của đàn chim Cảnh có nhạc, có hoạ Chính lúc đó hổ lại say sưa ngủ Mọi vật tô điểm cho giấc ngủ của nó Một giấc ngủ kiểu của Hổ
-Bức thứ 4: gam màu làm nền là màu đỏ Hoàng hôn dữ dội Đó là phút đợi lên đường của chúa sơn lâm Bức trang ngỳ thực sự mới sánh ngang tầm 1 mãnh hổ
Mặt trời trong mắt nó chỉ là mảnh nhỏ Khi hoàng hôn khép lại, hổ sung sướng đợi chờ phút riêng của mình đây là bức tranh đẹp 1 cách man rợ nhưng với hổ đó là bất tận
=>Bốn bức tranh có thời gian, không gian với 4 cách cảm nhận rieng của hổ Có lúc thơ mộng, có lúc dữ dằn, có lúc tưng bừng náo nhiệt, có lúc lại im lặng đáng sợ Nhưng tất cả đều bộc lộ theo cách riêng của hổ: người ta ngủ thì hổ thức, khi người ta thức thì hổ ngủ, khi người ta sợ thì hổ đàng hoàng đây là bộ tứ bình đẹp nhất trong bài thơ
Mặc dù bị giam cầm nhưng hổ vẫn canh cánh bên lòng nỗi nhớ nước non, rừng già; cũi sắt chỉ có thể giam được thẻ xác của nó còn tâm hồn, tình cảm, ước nguyện của nó thì không thể giam được Nó dõi theo kỉ niệm, dõi theo quá khứ
Bài 3 : Ông đồ
I-Những nét chính về tác giả
-Quê gốc ở Hải Dương nhưng sống chủ yếu và mất ở Hà Nội ( 1913-1996 )
-Là lớp người thuộc lớp nhà thơ mới đầu tiên Thơ ông mang nặng lòng thương người
và tình hoài cổ
-Ngoài ra, ông còn giảng dạy Văn học ở trường đại học sư phạm và Đại học sư phạm ngoạ ngữ ; là nhà dịch thuạt và nghiên cứu về văn học
II-Tác phẩm