1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thực trạng hoạt động dạy và học ở một số trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh khánh hòa đề tài nghiên cứu khoa học cấp đại học quốc gia b2007 18b 08

78 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 796,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế nhưng trong thực tế hiện nay chất lượng giáo dục ở các Trường PTDTNT chưa thực sự đủ khả năng để thực hiện nhiệm vụ của mình trong việc thực hiện các quyết nghị của Đảng, của Ngành G

Trang 1

DẠY VÀ HỌC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH KHÁNH HOÀ

( Mã đề tài: B2007 – 18b – 08 )

Thực hiện đề tài:

Chủ nhiệm : ThS Lê Tuyết Anh

Thư ký : CN Đặng Viên Ngọc Trai

Thành viên : ThS Kim Thị Dung

CN Hoàng Vũ Minh ThS Hoàng Công Thảo

Tp.HCM, tháng 6 năm 2008

Trang 2

1.1 Điều kiện tự nhiên của Tỉnh Khánh Hoà 26

Trang 3

3 Phân tích số liệu nghiên cứu: 37

3.2 Thực trạng hoạt động học tập của học sinh Dân tộc Nội trú Tỉnh Khánh

Trang 4

Tuy nhiên, hiện tại vẫn còn nhiều sự chênh lệch trong công tác giáo dục nhất là

sự chênh lệnh tại các khu vực, các vùng miền Chất lượng giáo dục chưa cao đó là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước trong tiến trình hội nhập của Đất nước

ở giai đoạn mới Trong đó, chúng ta không thể không quan tâm đến sự chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, miền núi Nhiều chính sách ưu đãi được Nhà nước ta đầu tư cho sự thăng tiến đồng bộ trong hệ thống giáo dục quốc dân trong đó có hệ thống các Trường Phổ thông dân tộc nội trú Thế nhưng trong thực tế hiện nay chất lượng giáo dục ở các Trường PTDTNT chưa thực sự

đủ khả năng để thực hiện nhiệm vụ của mình trong việc thực hiện các quyết nghị của Đảng, của Ngành Giáo dục về chiến lược phát triển xây dựng hệ thống trường PTDTNT thành “ trường đào tạo cán bộ dân tộc, trung tâm văn hoá khoa học kỹ thuật

ở địa phương”

Trang 5

Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tại các Trường PTDTNT cũng như chia sẻ trách nhiệm với các trường trong việc hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và

Nhà nước mong đợi, nhóm nghiên cứu chúng tôi thực hiện đề tài “ thực trạng hoạt

động dạy và học ở một số Trường Phổ thông dân tộc nội trú Tỉnh Khánh Hoà”

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động giảng dạy, học tập của Giáo viên và học sinh tại một số trường DTNT tỉnh Khánh Hoà

4 Giới hạn của đề tài:

Do điều kiện hạn chế về tài chánh và không gian, thời gian thực hiện đề tài nên nhóm nghiên cứu chỉ tập trung làm sáng tỏ một số nội dung như sau:

4.1 Về hoạt động dạy chúng tôi nghiên cứu: phương pháp giảng dạy, chương

trình giảng dạy

4.2 Hoạt động học tập của học sinh chúng tôi nghiên cứu: động cơ, hứng

thú, tính tích cực trong học tập, và phương pháp học của học sinh các Trường PTDTNT Tỉnh Khánh Hòa

5 Giả thiết nghiên cứu:

5.1 Giáo viên sử dụng nhiều phương pháp giảng dạy để đạt hiệu quả, tuy

nhiên chưa phát huy tinh tích cực của học sinh

Trang 6

6

5.2 Các em có động cơ đúng đắn khi đến lớp, có tính tích cực trong học tập

tuy nhiên phương pháp học vẫn chưa tốt

5.3 Các yếu tố về điều kiện hỗ trợ cho giảng dạy, sinh hoạt và học tập còn

hạn chế

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đề ra những nhiệm vụ sau:

6.1 Phân tích lí luận và thực tiễn hoạt động giảng dạy, học tập ở các trường

DTNT tỉnh Khánh Hoà 6.2 Trên cơ sở của những điều đã phân tích, đề xuất một số ý kiến về việc

cải tiến nâng cao chất lượng đào tạo

7 Phương pháp nghiên cứu:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: ( thu thập, tìm hiểu những tài liệu có liên quan), rút ra những thông tin cần thiết cho quá trình thực hiện đề tài

7.2 Phương pháp quan sát

7.3 Phương pháp điều tra khảo sát: ( chọn mẫu, điều tra, bảng hỏi, sử lí số liệu thống kê với phần mềm SPSS)

7.4 Phương pháp phỏng vấn sâu

Trang 7

PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN

1 Các Khái niệm công cụ:

1.1 Hoạt động:

1.1.1 Định nghĩa hoạt động:

Thông thường người ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp của con người, tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình

Về phương diện triết học, tâm lí học quan niệm hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới

Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người (chủ thể) Trong mối quan hệ đó có 2 quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau

Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hóa, trong đó chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm của hoạt động, hay nói khác đi tâm lí của con người ( của chủ thể) được bộc lộ được khách quan hóa trong quá trình làn ra sản phẩm, quá trình này còn được gọi là quá trình xuất tâm

Quá trình thứ hai là quá trình chủ thể hóa, có nghĩa là khi hoạt động, con người chuyển từ phía khách thể vào bản thân mình những qui luật, bản chất của thế giới để tạo nên tấm lí, ý thức, nhân cách của bản thân bằng cách chiếm lĩnh (lĩnh hội) thế giới Quá trình này còn được gọi là quá trình nhập tâm

Như vậy là trong hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lí của mình, hay nói khác đi: tâm lí, ý thức nhân cách được bộc lộ và hình thành trong hoạt động

1.1.2 Đặc điểm của hoạt động:

Trang 8

8

Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng Đối tượng của hoạt động là cái con người cần làm ra, cần chiếm lĩnh Đó là động cơ, động cơ luôn thúc đẩy con người hoạt động nhằm tác động vào khách thể để thay đổi nó biến thành sản phẩm, hoặc tiếp nhận nó chuyển vào đầu óc mình tạo nên một c6áu tạo tâm lí mới, năng lực mới

Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể Hoạt động do chủ thể thực hiện, chủ thể có thể là một hay nhiều người

Hoạt động có tính mục đích, mục đích của hoạt động là làm biến đổi thế giới (khách thể) và biến đổi bản thân (chủ thể) Tính mục đích gắn liền với tính đối tượng, tính mục đích bị chế ước bởi nội dung xã hội

Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp Trong hoạt động con người “ gián tiếp” tác động đến khách thể qua hình ảnh tâm lí ở trong đầu, gián tiếp qua việc

sữ dụng công cụ lao động và phương tiện ngôn ngữ Như vậy công cụ tâm lí, ngôn ngữ và công cụ lao động giữ chức năng trung gian giữa chủ thể và khách thể

1.1.3 Các loại hoạt động:

Xét về phương diện cá thể, con người có 4 loại hoạt động: Vui chơi, học tập, lao động, hoạt động xã hội

Xét về phương diện sản phẩm (vật chất hay tinh thần) có 2 loại hoạt động:

+ Hoạt động thực tiễn: hướng vào vật thể hay quan hệ, tạo ra sản phẩm vật chất là chủ yếu

+ hoạt động lí luận: diễn ra với hình ảnh, biểu tượng, khái niệm…tạo ra sản phẩm tinh thần

Hai loại hoạt động luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau Ngoài ra còn có cách phân loại khác, chia hoạt động thành 4 loại:

+ Hoạt động biến đổi + Hoạt động nhận thức + Hoạt động định hướng giá trị + Hoạt động giao lưu

1.1.4 Cấu trúc của hoạt động:

Chủ nghĩa hành vi cho rằng, hoạt động của con người và động vật có cấu trúc chung là: kích thích – phản ứng (S R)

Trang 9

Trong tâm lí học có lúc người ta chỉ xét cấu trúc hoạt động bao gồm các thành

tố chỉ diễn ra ở phía con người (chủ thể) thuộc các thành tố đơn vị thao tác của hành động, hoạt động có cấu trúc như sau: Hoạt động – Hành động – Thao tác

Quan điểm của A.N.Leonchiev về cấu trúc vĩ mô của hoạt động: trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm trong nhiều năm, thì hoạt động bao gồm 6 thành tố, và có mối quan hệ với nhau

Khi tiến hành hoạt động, về phiá chủ thể bao gồm 3 thành tố: Hoạt động – Hành động – Thao tác Còn về phía khách thể bao gồm: Động cơ – Mục đích – Phương tiện

Cụ thể là hoạt động hợp bởi các hành động, các hành động diễn ra bằng các thao tác Hoạt động luôn hướng vào động cơ (nằm trong đối tượng), đó là mục đích chung, mục đích cuối cùng của hoạt động Mục đích chung này được cụ thể bằng các mục đích bộ phận mà từng hành động hướng vào Để đạt mục đích con người phải sử dụng các phương tiện, tùy theo điều kiện, phương tiện mà con người thực hiện các thao tác

Có thể khái quát cấu trúc chung của hoạt động như sau:

Trang 10

10

Hoạt động dạy là hoạt động của người lớn tổ chức và điều khiển hoạt động học của học sinh nhằm giúp chúng lĩnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lí, hình thành nhân cách của chúng

Mục đích của hoạt động dạy là giúp các em lĩnh hội nền văn hóa xã hội, phát triển tâm lí, hình thành nhân cách

Sự lớn lên về mặt tinh thần của các em diễn ra đồng thời với quá trình xã hội hóa Trong quá trình đó một mặt các em nhập vào những quan hệ xã hội, mặt khác lĩnh hội nền văn hóa xã hội, biến những năng lực của loài người trở thành năng lực của chính mình tạo những cơ sở trọng yếu để hình thành nhân cách Để có được những điều trên thì bản thân các em không tự mình làm được, mà phải có sự giúp đỡ của người lớn

Việc dạy cho học sinh những tri thức khoa học, những năng lực ở trình độ cao thì xã hội giao cho người thầy giáo (những người được đào tạo để dạy với tư cách là một nghề), tiến hành theo phương thức chuyên biệt ( phương thức nhà trường)

Thầy giáo là chủ thể của hoạt động dạy, thầy giáo không làm nhiệm vụ tạo ra tri thức mới cũng không làm tái tạo tri thức cũ, mà là tổ chức quá trình tái tạo ở các em học sinh (chính các em là chủ thể của hoạt động học), người dạy sử dụng tri thức loài người như phương tiện, vật liệu để tổ chức, điều khiển người học “sản xuất” tri thức ấy lần hai cho bản thân mình, từ đó tạo ra sự phát triển tâm lí

Cái cốt lõi trong hoạt động dạy là làm sao tạo ra được tính tích cực trong hoạt động học của học sinh, làm cho các em vừa ý thức được đối tượng cần lĩnh hội, vừa biết cách chiếm lĩnh được đối tượng đó Chính tính tích cực này của học sinh trong hoạt động học quyết định chất lượng học tập

1.2.2 Những yếu tố tâm lí cần có trong hoạt động dạy:

+ Hiểu và đánh giá đúng trình độ và khả năng hoạt động nhận thức của học sinh Đây là căn cứ để thầy đề ra được “chiến lược”, “chiến thuật” dạy cho phù hợp với đối tượng

Thầy phải hình dung được cái gì học sinh đã biết cũng như giới hạn của những hiểu biết đó, tiên đoán được những thuận lợi và khó khăn mà học sinh có thể gặp phải khi lĩnh hội tri thức mới…

Trang 11

+ Đánh giá đúng đắn tài liệu, tức là xác lập được mối quan hệ giữa yêu cầu tri thức của chương trình với trình độ, đặc điểm của đối tượng học sinh Người dạy phải biết phân tích tài liệu, nắm được nội dung cơ bản, trọng tâm chứa đựng trong tài liệu, cũng như phân tích được trình độ, đặc điểm của người học để có cách dạy phù hợp

+ Chế biến tài liệu học tập, đây là năng lực gia công về mặt sư phạm của người dạy đối với tài liệu học tập nhằm làm cho nó phù hợp với lứa tuổi, trình độ của người học

+ Lựa chọn phương pháp, phương tiện và các hình thức tổ chức dạy học khác nhau cho phù hợp và có hiệu quả điều này thể hiện sự thành thạo của kĩ năng dạy học, sự vững vàng về tay nghề của người dạy

+ Phải có năng lực ngôn ngữ , đây là công cụ rất quan trọng của người dạy Đó là năng lực truyền đạt thông tin, niềm tin, cảm xúc bằng lời nói, điệu bộ, nét mặt

+ Sự “tinh ý” sư phạm, đây là kĩ năng nhận ra cái quan trọng, cái cần phát hiện mà thoạt nhìn ít khi thấy được Sự tinh ý sư phạm không chỉ phụ thuộc cường độ và chiều sâu của tri giác, mà còn phụ thuộc vào kĩ năng phân tích đối tượng: người dạy không chỉ nghe, nhì thấy rõ những điều đã xảy ra mà còn biết suy nghĩ chín chắn, giàu biểu tượng, nắm bắt được nguồn gốc của hành vi, những thành công, thất bại trong hoạt động học tập của người học

+ Thiết lập bầu không khí thuận lợi thực hiện các hình thức giao tiếp khác nhau để kích thích hứng thú, lòng khoa khát, sự nỗ lực vượt khó của học sinh trong học tập

Ngoài những yếu tố tâm lí chung đã nêu ở trên, để thực hiện tốt hoạt động dạy còn phụ thuộc vào tâm lí của chính bản thân người thầy giáo Đây là công cụ chủ yếu

để tiến hành hoạt động dạy học Nhân cách của người dạy được thể hiện trong lương tâm, trách nhiệm, trình độ và tay nghề trong hoạt động dạy học

Tóm lại: Dạy là một hoạt động chuyên biệt (theo phương thức nhà trường ), do người lớn (được đào tạo nghề dạy học) đảm nhiệm, nhằm giúp học sinh lĩnh hội nền văn hóa xã hội, phát triển tâm lí thông qua tái tạo nền văn hóa đó Sự tái tạo nền văn

Trang 12

12

hóa phải được dựa trên cơ sở hoạt động tích cực của học sinh Để tiến hành hoạt động dạy học có hiệu quả cao đòi hỏi người dạy (thầy giáo) phải có những yếu tố tâm lí cần thiết (xem như những phẩm chất và năng lực tương ứng trong hoạt động dạy học)

1.2.3 Phương pháp giảng dạy:

1.2.3.1 Khái niệm:

Khi nghiên cứu về các khái niệm của phương pháp dạy học, chúng ta thấy

có nhiều khái niệm khác nhau Cụ thể như:

Theo M.A Đanilốp và B P Exipop cho rằng: Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của giáo viên và của học sinh do giáo viên chỉ đạo, nhờ đó mà học sinh lĩnh hội kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, hình thành thế giới quan cộng sản chủ nghĩa và phát triển những năng lực nhận thức

Theo Lê Nguyên Long thì: Phương pháp dạy học là con đường, cách thức và phương tiện tác động qua lại của người dạy ( Giáo viên ) và người học ( học trò ) nhằm bảo đảm sự lĩnh hội nội dung như mục đích dạy học – giáo dục quyết định xét trong sự vận hành của nó

Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp, thống nhất của người dạy và người học nhằm thực hiện tối ưu các nhiệm vụ dạy học Đó là sự kết hợp hữu cơ và thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong quá trình dạy học

1.2.3.2 Các Phương pháp dạy học:

Qua kết quả nghiên cứu và thực tế mà chúng ta ghi nhận được, có nhiều phương pháp giảng dạy được thực hiện như sau:

 Phương pháp thảo luận nhóm

Ưu điểm: Giúp học sinh học hỏi tường tận, tiếp nhận quan điểm khác biệt của

bạn bè, tìm hiểu để chấp nhận hay từ chối quan điểm trái ngược, học hỏi tinh thần nhẫn nại khi phải đón nhận những ý kiến đối nghịch, làm quen với đường lối thảo luận

để tìm ra lẽ phải và có thể thay đổi quan điểm thiên kiến của bản thân, phát triển tinh thần hợp tác học tập có ý nghĩa trong đời sống học sinh và đời sống thực tế tương lai, tạo cơ hội thuận tiện cho mọi học sinh trong nhóm cũng như trong lớp đóng góp ý kiến nhất là đối với những học sinh nhút nhát, lo sợ phát biểu trong lớp nhưng dễ dàng

Trang 13

đóng góp ý kiến trong nhóm nhỏ Vì học chung trong một lớp chưa phải là điều kiện tốt nhất để xây dựng tình bạn; làm việc, thảo luận trong một nhóm nhỏ mới thực sự có những cuộc tiếp xúc trực tiếp, mới có cơ hoi thực sự tìm hiểu và xây dựng tình bạn thân thiết

Nhược điểm: Việc thực hiện một cách mỹ mãn đường lối học tập thảo luận

nhóm trong phương pháp giảng dạy lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên đóng vai trò rất quan trọng và sự thành công tùy thuộc vào khả năng tổ chức, thái độ nhiệt tình của bậc thầy trong mọi trường hợp So với những phương pháp diễn giảng, giáo viên chọn phương pháp thảo luận nhóm sẽ phải vất vả hơn nhiều từ việc tổ chức đến việc giám sát

Phương pháp giáo dục mới mẻ này đang từng bước được áp dụng ở nước ta, tuy nhiên môi trường lớp học chưa được thuận tiện, tài liệu giảng dạy còn giới hạn, vai trò thư viện, phòng thí nghiệm chưa thể hiện đúng mức, giáo viên chưa sử dụng thuần thục phương pháp giảng dạy này

 Phương pháp vấn đáp

Ưu điểm: Ưu điểm cơ bản là phát huy tính tích cực, độc lập trong học tập của

người học, bồi dưỡng năng lực diễn đat bằng lời nói tạo ra không khí học tập sôi nổi Ngoài ra phương pháp vấn đáp giúp giáo viên thu được những tín hiệu ngược từ phía học sinh để kịp thời điều chỉnh hoạt động giảng dạy và học tập cho phù hợp với mục đích, yêu cầu của quá trình dạy học

Nhược điểm: Bên cạnh những ưu điểm nói trên, phương pháp vấn đáp cũng có

những hạn chế: mất nhiều thời gian làm ảnh hưởng đến tiến độ dạy học theo kế hoạch

và đôi khi nó có thể không mang lại hiệu quả dạy học nếu vấn đáp trở thành những cuộc tranh luận, đối thoại tay đôi Vì thế khi sử dụng phương pháp này giáo viên phải chú ý đến cách đặt câu hỏi cho phù hợp, không vụn vặt cũng không quá khó, khéo léo điều khiển lớp, bắt buộc tất cả học sinh tích cực suy nghĩ tìm câu trả lời, không để tình trạng học sinh đứng ngoài cuộc

 Phương pháp dạy học trực quan

Trang 14

14

Ưu điểm: Huy động sự tham gia của nhiều giác quan, học sinh dễ hiểu, nhớ lâu,

gây hứng thú học tập, phát triển ở học sinh năng lực quan sát bồi dưỡng sự say mê, tìm tòi, sáng tạo, phát triển tri thức mới

Nhược điểm: Các phương tiện trực quan nếu không được chuẩn bị và sử dụng

đúng mức sẽ làm cho người học phân tán chú ý, không tập trung vào các dấu hiệu cơ bản thậm chí hạn chế sự phát triển trí tuệ

1.3.Hoạt động học:

1.3.1 Khái niệm và bản chất của hoạt động học:

Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người, được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định

Bản chất của hoạt động học:

- Đối tượng của hoạt động học là những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng Cái đích của hoạt động học hướng tới là chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của xã hội thông qua sự tái tạo của cá nhân Việc tái tạo này sẽ không thể thực hiện được nếu

Trang 15

người học chỉ là khách thể bị động của những tác động sư phạm, nếu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo chỉ được truyền cho người học theo cơ chế máy phát (người dạy) – máy nhận (người học) Muốn học có kết quả, người học phải tích cực tiến hành các hành động học tập bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình

- Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính mình Trí thức mà loài người tích lũy được là đối tượng của hoạt động học, nội dung của đối tượng này không thay đổi sau khi nó bị chủ thể của hoạt động học chiếm lĩnh, từ đó tâm lí của chủ thể được thay đổi và phát triển

- Người học càng giác ngộ sâu sắc mục đích học tập thì sức mạnh vật chất và tinh thần càng được huy động trong học tập

- Hoạt động học cũng làm thay đổi khách thể, tuy nhiên không phải là mục đích

tự thân của hoạt động học mà chính là phương tiên không thể thiếu của hoạt động này, nhằm đạt được mục đích làm thay đổi chính chủ thể hoạt động, từ đó người học giành được điều kiện khách quan để từ đó ngày càng tự hoàn thiện chính mình

- Hoạt động học là một hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Đây là hoạt động có tính tự giác cao Đối tượng tiếp thu đã trở thành mục đích của hoạt động học Những tri thức đã được chọn lọc, tinh chế và được tổ chức lại trong một hệ thống nhất định, vạch ra cái bản chất, phát hiện những mối liên hệ mang tính quy luật… Đó là con đường lí luận trong việc tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Hoạt động dạy phải tạo được ở người học những hoạt động thích hợp với mục đích của việc tiếp thu Việc tiếp thu chỉ có thể diễn ra trong hoạt động học được điều khiển một cách có ý thức của người lớn

- Hoạt động học còn hướng vào việc tiếp thu cả phương pháp giành tri thức đó (cách học) Muốn cho hoạt động học diễn ra có kết quả cao, người học phải biết cách học, tức là phải có tri thức về bản thân hoạt động

Trong khi tổ chức hoạt động cho học sinh, người dạy phải vừa ý thức được những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nào cần được hình thành cho học sinh, vừa phải có một quan niệm rõ ràng : học sinh cần lĩnh hội được cách học gì con đường giành tri thức,

kĩ năng, kĩ xảo đó như thế nào ( nói cách khác đó chính là những tri thức về hoạt động học)

1.3.2 Phương tiện học tập:

Trang 16

16

Ở hoạt động nào cũng vậy, muốn chiếm lĩnh đối tượng chủ thể phải có những phương tiện nhất định, những công cụ cần thiết Phương tiện hữu hiệu, công cụ thích hợp thì sự chiếm lĩnh đối tượng càng thuận lợi và đạt hiệu quả cao

Phương tiện học tập chủ yếu là các hành động học tập Phương tiện này được các học sinh tự hình thành trong quá trình diễn ra hoạt động học tập, chúng được sử dụng như những phương tiện để lĩnh hội tri thức khoa học cần nói thêm rằng, loại hoạt động học tập nào được hình thành và tính chất của nó ra sao phụ thuộc vào nội dung

và phương pháp dạy của thầy, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí của học sinh

Khái niệm khoa học cũng là phương tiện của hoạt động học Khi đang hình thành nó là mục đích của hoạt động học Khi đã hình thành nó trở thành công cụ, phương tiện của hoạt động học Sự diễn biến của hoạt động học tập cũng là sự vận động của khái niệm Số lượng của khái niệm càng phong phú, tính chính xác của sự lĩnh hội khái niệm càng cao, càng tạo ra công cụ quan trọng, phương tiện càng hiệu nghiệm

Tư duy là phương tiện cơ bản, vì tư duy là phản ánh hiện thực một cách khái quát, gián tiếp, phản ánh những thuộc tính của hiện thực, logic của đối tượng thông qua các khái niệm Tư duy còn thay thế những hành động thực tế với chính các sự vật bằng các hành động tinh thần, do đó cho phép giải quyết các sự vật bằng các hành động tinh thần, do đó cho phép giải quyết các nhiệm vụ học tập thông qua hoạt động tinh thần

Để tư duy trở thành phương tiện cơ bản của hoạt động học tập, ngoài các hình thức tư duy như : tư duy cảm tính, tư duy biểu tượng… phải lấy tư duy lí luận ( tư duy bằng khái niệm khoa học ) làm công cụ

1.3.3 Điều kiện của hoạt động học:

Học là một hoạt động chuyện biệt, nhằm tái tạo nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển những phẩm chất mới, năng lực mới Để đạt được mục đích đó, dưới sự tổ chức và điều khiển của giáo viên, học sinh phải tự hoạt động để làm ra cái mình muốn

có Quan hệ giữa học sinh và đối tượng học tập phải diễn ra trong quan hệ Thầy – Trò Nội dung và tính chất của mối quan hệ này quyết định thái độ học tập, phương pháp tư duy, phương thức hành động của học sinh, và do đó quyết định chất lượng học tập của các em

Trang 17

Nhu vậy điều kiện quan trọng của hoạt động học là đảm bảo sự thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong cùng một quá trình: quá trình Dạy – Học

Động cơ hoàn thiện tri thức thường không chứa đựng xung đột bên trong, nó xuất hiện sự nỗ lực ý chí để khắc phục những khó khăn trở ngại bên ngoài để đạt được nguyện vọng chứ không hướng vào đấu tranh với chính bản thân mình, do đó chủ thể của hoạt động học tập thường không có những mâu thuẫn tâm lí

- Động cơ quan hệ xã hội: học sinh say sưa học tập là do sức hấp dẫn, lôi cuốn của: thưởng phạt, đe doạ và yêu cầu, thi đua và áp lực, khiêu gợi lòng hiếu danh, lợi ích tương lai, sự hài lòng của cha mẹ, sự khâm phục của bạn bè Ở đây, những tri thức, kĩ năng, thái độ, hành vi…đối tượng đích thực của hoạt động học tập chỉ là phương tiện để đạt mục tiêu cơ bản khác

Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ này ở một mức độ nào đó mang tính chất cưỡng bách, và có lúc xuất hiện như là một vật cản Nét đặc trưng của hoạt động này là có lực chống đối nhau ( kết quả học tập không đáp ứng mong ước về địa

vị của cá nhân trong xã hội sau này), vì thế đôi khi nó gắn liền với sự căng thẳng tâm lí đáng kể, đòi hỏi những nỗ lực bên trong, có cả sự đấu tranh với chính bản thân mình Khi có xung đột gay gắt, học sinh thường có những biểu hiện vi phạm nội quy ( quay cóp, phá bĩnh, thờ ơ với học tập, bỏ học…)

Trang 18

18

Thông thường cả hai loại động cơ này cần được hình thành ở học sinh, chúng làm thành một hệ thống được sắp xếp theo thứ bậc Vấn đề là ở chỗ, trong những hoàn cảnh điều kiện xác định nào đó của dạy và học thì loại động cơ học tập nào được hình thành mạnh mẽ hơn, nổi lên hàng đầu và chiếm địa vị ưu thế

Động cơ học tập được hình thành dần chính trong quá trình học tập dưới sự tổ chức và điều khiển của thầy Muốn phát động được động cơ học tập trước hết cần phải khơi dậy nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập

1.3.4.2 Hình thành mục đích học tập:

Đối tượng học tập là nơi bộc lộ của động cơ Muốn cho hoạt động học tập thực hiện được động cơ, đối tượng phải được cụ thể hoá thành hệ thống các khái niệm của môn học thông qua hành động học tập, học sinh chiếm lĩnh được từng mục đích bộ phận riêng rẽ, và dần dần chiếm lĩnh toàn bộ đối tượng Như vậy mỗi khái niệm của mỗi môn học thể hiện trong từng tiết từng bài là mục đích của hoạt động học tập

Bản chất của hoạt động học tập là hướng vào làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động đó, nó được biểu hiện: mức độ làm chủ các khái niệm, những giá trị, những chuẩn mực, quy luật, phương thức, hành vi…Đây chính là nội dung của mục đích học tập Mực đích này chỉ bắt đầu được hình thành khi chủ thể bắt tay vào thực hiện hành động học tập

1.3.4.3 Hình thành hành động học tập:

Quá trình hình thành tri thức phải thông qua quá trình hình thành các hành động học tập

- Hành động phân tích: nhằm phát hiện ra nguồn gốc xuất phát của khái niệm

Nó là phương tiện qua trọng nhất để đi sâu vào đối tượng Trình độ phát triển của hành động phân tích gắn liền với trình độ nắm vững tri thức đó Tri thức cũ đã hình thành là phương tiện quan trọng để tiến hành phân tích đi sâu vào khái niệm mới

- Hành động mô hình hóa: giúp con người diễn đạt lôgic khái niệm một cách trực quan Qua mô hình các mối quan hệ của khái niệm được chuyển vào trong ( tinh thần) Có những loại mô hình sau:

+Mô hình gần giống vật thật +Mô hình tượng trưng + Mô hình mã hóa

Trang 19

- Hành động cụ thể hóa: giúp học sinh vận dụng phương thức hành động chung vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể trong cùng một lĩnh vực

2 Đặc điểm tuổi thiếu niên (học sinh THCS):

2.1 Về sinh lý:

Bắt đầu từ những thay đổi về hooc-môn ( ở thời kỳ này tuyến yên sản sinh một lượng hooc – môn lớn tác động đến cơ thể ) các biểu hiện của giới tính và các cơ quan sinh dục phát triển với tốc độ nhanh, dẫn đến những thay đổi lớn về thể chất, hình dáng bên ngoài như các em cao lộc ngộc, chân tay lòng khòng, nổi mụn, bể tiếng, vụng về, hay than phiền bị đau đầu và mệt mỏi Nếu không được chuẩn bị để đón nhận

sự thay đổi nhanh chóng đó các thường ngạc nhiên và không hiểu lý do vì sao mình lại thay đổi nhanh như vậy, “ dường như không còn là mình nữa” Thêm vào đó, sự không đồng đều trong tốc độ phát triển của các em ( có em dậy thì sớm, có em dậy thì muộn ) càng làm cho các em nhạy cảm hơn đới với vẻ bề ngoài Thấp bé hay cao lớn, gầy hay béo so với các bạn cùng tuổi đều làm các em boăn khoăn, lo lắng Như vậy sự thay đổi

về thể chất có thể ảnh hưởng các mối quan hệ xã hội và trạng thái xúc cảm của các em

2.2 Về Tâm lý:

Đây là giai đoạn mà các em vượt qua cấp độ tư duy logic cụ thể để có tư duy logic trừu tượng Tư duy trừu tượng, khả năng suy luận và khái quát phát triển mạnh nên các em hay lý sự, bắt đầu nghĩ về ý nghĩa và mục đích của cuộc đời, nhận thấy sự khác biệt có thể có giữa sách vở và hiện thực Việc thực hiện những quy tắc đạo đức hay ứng xử xã hội trở nên phức tạp hơn vì các em đã hiểu được những mâu thuẫn nảy sinh giữa quy tắc này với quy tắc khác Cũng bắt đầu nhận thức được có nhiều con đường, nhiều khả năng khác nhau cho cùng một sự việc, các em muốn được lựa chọn

và muốn thử những con đường mới

Theo Lefranscois ( 1995 ) tính chất “ duy kỷ”, “ tự ngã trung tâm” ở giai đoạn này không giống như ở các giai đoạn trước Tính tự ngã trung tâm của tuổi 12 – 15 thể hiện hai điều như sau:

- Thứ nhất, sự tồn tại của “ các khán giả tưởng tượng”: mạnh hơn rất nhiều so với người lớn, các em ở tuổi vị thành niên cho rằng mọi người xung quanh luôn săm soi, đánh giá vẻ ngoài cũng như cái tôi của các em như chính bản thân trẻ

Trang 20

và làm dáng lại song hành ở lứa tuổi này Lười tắm nhưng lại thích vuốt tóc soi gương,

vả cả thích tự tử” Các em ở lứa tuổi này thường xuất hiện cảm giác cô đơn, các em đang lớn cần tìm ai đó để dựa vào, nếu cha mẹ không gần gũi thì dẽ bị người ngoài lợi dụng

 Rất quan tâm đến hình thức của mình: hình thức bề ngoài là một phần khá quan trọng đối với các em vì nó tạo ấn tượng với đối phương, với mọi người,

Trang 21

chính vì thế các em luôn tạo cho mình những kiểu phong cách trong ăn mặc, trang sức, làm đẹp, dù đó là những bắt chước Trong yếu tố này có nhiều em còn có sự đua đòi để bằng bạn, bằng người, những thay đổi trong cơ thể đều là mối quan tâm lo lắng của các em, có khi còn mất tự tin trong giao tiếp

 Muốn tự lập và muốn có sự riêng tư: xuất phát từ nhu cầu thực tế, từ bản thân có những khoản tiền để phục vụ cho mình và tất nhiên là một thế giới riêng bất khả xâm phạm luôn được các em thiết lập và mong mọi người tôn trọng sẽ xảy đến Trong xu thế phát triển chung, trẻ quan tâm hơn đến điện thoại di động, thời trang, mua sắm, tiền bạc, và mong muốn kiếm tiền để thoả mãn những điều đó Tinh thần

tự lập để không phải bị chi phối bới bất cứ và đó cũng là sự riêng tư của bản thân cần được tôn trọng là điều mà chúng ta cũng không thể thờ ơ vì hoạt động chủ đạo ở lưá tuổi này vẫn là học tập

 Muốn được làm người lớn: đây là điều mà trẻ luôn mong muốn đối xử bình đẳng, muốn mọi người xem trẻ là người lớn trong cách hành xử và giao tiếp Nghĩa là trẻ luôn mong muốn mình được tôn trọng, nên sự tham khảo ý kiến, sự chia

sẻ cùng các em sẽ luôn là động lực để các em tiến bước Bản thân các em cũng luôn thể hiện tính người lớn của mình nhưng thật sự chưa lớn thông qua cử chỉ, cách nói năng, cách hành xử

 Chịu ảnh hưởng rất lớn từ bạn bè: các em ở lứa tuổi này có xu hướng lấy

sở thích, thái độ, hành vi của bạn bè làm hình mẫu Chúng bắt chước bạn bè từ quần

áo, cách nói năng, ứng xử, các trò giải trí đến học tập và định hướng cho tương lai Nhưng các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự tôn thờ bạn bè ở tuổi này không có nghĩa là hành vi của cha mẹ không ảnh hưởng lớn đến con cái Và các em có thể có những người bạn mà cha mẹ không thích và không đồng ý

 Luôn chú ý đến việc khẳng định mình: các em rất quan tâm đến giá trị của bản thân trong con mắt bạn bè và đánh giá của bạn bè với mình Luôn muốn tạo nên những ấn tượng tốt trong mắt mọi người, muốn thể hiện vị thế của mình, chứng minh cho mọi người thấy mình là quan trọng

 Thích thách đố: các em thích thách đố những quy chuẩn hay nguyên tắc trong gia đình, nhà trường và xã hội vì muốn thử nghiệm những khả năng mới

3 Đặc điểm tuổi đầu thanh niên (học sinh THPT):

Trang 22

22

Tuổi đầu thanh niên là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực, sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ thể của người lớn Đây là giai đoạn sinh lý phát triển tương đối em ả hơn

Nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại, các em gái đạt được sự tăng trưởng của mình trung bình vào khoảng tuổi 16, 17 và các em trai khoảng 17, 18 Trọng lượng của các em trai đã đuổi kịp các em gái và tiếp tục vượt lên, sức mạnh cơ bắp tăng rất nhanh

Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc của não phức tạp và các chức năng của não phát triển Cấu trúc của tế bào bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc tế bào não của người lớn Số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên, liên kết các phần khác nhau của vỏ não một cách chặt chẽ Điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hoá hoạt động phân tích, tổng hợp, của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập

Đa số các em đã vượt qua thời kỳ của tuổi dậy thì

Nhìn chung đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, khoẻ và đẹp Đa

số các em có thể đạt được những khả năng phát triển về cơ thể như người lớn

3.2.1 Hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ:

Hoạt động học tập của thanh niên học sinh đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn, được thể hiện ở trình độ của sự phát triển tư duy lý luận

Học sinh càng trưởng thành, kinh nghiệm sống càng phong phú, các em càng ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời Do vậy thái độ có ý thức của các em đối với học tập ngày càng phát triển Thái độ học tập của các em đối với các môn học trở nên có lựa chọn hơn Ơ các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Và hứng thú nhận thức của thanh niên học sinh mang tính chất rộng rãi, sâu và bền vững hơn thiếu niên

Thái độ học tập của các em ở lứa tuổi này được thúc đẩy bởi động cơ học tập có cấu trúc, lúc này ý nghĩa nhất là động cơ thực tiễn, động cơ nhận thức, sau đó là ý nghĩa xã hội của môn học, rồi mới đến động cơ cụ thể khác Tuy nhiên, một mặt hạn chế của các em đó là sự quan tâm đến những môn học có liên quan đến nghề nghiệp

Trang 23

tương lai của mình còn những môn khác chỉ cần đạt trung bình là đủ Thái độ học tập

có ý thức đã thúc đẩy sự phát triển tính chủ định của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân của thanh niên học sinh trong hoạt động học tập

Với việc phát triển trí tuệ chúng ta nhận thấy:

Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao Quan sát trở nên có hệ thống và toàn diện hơn Bên cạnh đó, ghi nhớ có chủ định giữa vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng

rõ rệt, đặc biệt đã tạo được sự phân hoá trong ghi nhớ

Do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não đạt gần đến sự hoàn thiện,

và sự phát triển của quá trình nhận thức nói chung, dưới ảnh hưởng của hoạt động học tập mà hoạt động tư duy của thanh niên học sinh có thay đổi quan trọng Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo Tư duy của các

em chặt chẽ hơn, có căn cứ hơn và nhất quán hơn

Ơ tuổi học sinh thời kỳ phát triển những đặc điểm chung của con người về mặt trí tuệ thông thường đã được hình thành và chúng vẫn còn được tiếp tục hoàn thiện

3.2.2 Những đặc điểm nhân cách chủ yếu:

Sự phát triển tự ý thức là một điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này Quá trình này rất phong phú và phức tạp, thanh niên có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý theo quan điểm về mục đích cuộc sống và hoài bão của mình chính điều này khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng Đặc biệt quan trọng trong tự ý thức của lứa tuổi này đó là sự tự

ý thức xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động – địa vị mới mẻ trong tập thể, những mối quan mới với thế giới xung quanh buộc thanh niên mới lớn phải ý thức được những đặc điểm nhân cách của mình

Nội dung tự ý thức cũng khá phức tạp, các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, trong tương lai Thanh niên còn có nhu cầu đánh giá về nhân cách của bản thân mình và có khả năng đánh giá sâu sắc về những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu của những người cùng sống và của chính mình

Trang 24

24

Tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan –

hệ thống quan điểm về xã hội, về tự nhiên, về các nguyên tắc và quy tắc cư xử, ở tuổi này, những điều kiện về mặt trí tuệ và xã hội để xây dựng một hệ thống quan điểm riêng đã được hình thành Và đến giai đoạn này, khi nhân cách đã được phát triển tương đối cao, thì các em mới xuất hiện những nhu cầu đưa những tiêu chuẩn, nguyên tắc hành vi đó vào một hệ thống hoàn chỉnh

Việc hình thành thế giới quan không chỉ giới hạn ở tính tích cực nhận thức, mà còn thể hiện ở phạm vi nội dung Các em quan tâm nhiều nhất đến các vấn đề liên quan đến con người, vai trò con người trong lịch sử, quan hệ giữa con người và xã hội, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa nghĩa vụ và tình cảm

Bên cạnh đó, cũng còn một số bộ phận khác chưa chú ý đến vấn đề xây dựng thế giới quan cho bản thân, sống thụ động Tuy nhiên, sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong sự phát triển tâm lý lứa tuổi thanh niên học sinh

3.2.3 Giao tiếp và đời sống tình cảm:

Trong giai đoạn lứa tuổi này giao tiếp bạn bè chiếm vị trí lớn hơn hẳn so với quan hệ với người lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn Điều này do lòng khao khát muốn có

vị trí bình đẳng trong cuộc sống chi phối Cùng với sự trưởng thành nhiều mặt, quan

hệ dựa dẫm, phụ thuộc vào cha mẹ dần dần cũng được thay thế bằng quan hệ bình đẳng, tự lập

Đời sống tình cảm của thanh niên mới lớn rất phong phú và nhiều vẻ Đặc điểm

đó thể hiện rõ nhất trong tình bạn của các em, vì đây là lứa tuổi mà những hình thức đối xử có lựa chọn đối với mọi người trở nên sâu sắc và mặn nồng Ơ tuổi này tình bạn của các em rất sâu sắc, có yêu cầu cao hơn đối với tình bạn, trong quan hệ với bạn cũng nhạy cảm hơn, có sự lý tưởng hoá về tình bạn, nguyên nhân kết bạn cũng rất phong phú và xem tình cảm bạn bè là những mối quan hệ quan trọng nhất của con người

Phạm vi quan hệ tình bạn được mở rộng, nhu cầu về tình bạn khác giới được tăng cường, và ở một số em đã xuất hiện sự lôi cuốn đầu tiên khá mạnh mẽ, xuất hiện nhu cầu chân chính về tinh yêu và tình cảm sâu sắc Đó là một trạng thái mới mẻ, nhưng rất tự nhiên trong đời sống tình cảm của thanh niên mới lớn

3.2.4 Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề:

Trang 25

Hoạt động lao động tập thể có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách của thanh niên mới lớn Chính hoạt động lao động là điều kiện để các em thể nghiệm, đúc kết những bài học từ thực tế cuộc sống thành bài học giá trị cho bản thân Trên thực tế, những hoạt động tập thể luôn thu hút được sự quan tâm tham gia của các em Việc giáo dục đúng đắn ý thức, thái độ, tinh thần, giá trị của lao động sẽ hình thành nơi các em tinh thần trách nhiệm, ý thức về cuộc sống, sự sẻ chia và biết tôn trọng những thành quả do lao động làm ra Có thế các em mới cảm thông và thấu hiểu hết giá trị thành quả đạt được

Bên cạnh đó, hoạt động định hướng nghề nghiệp cũng là một nội dung không thể không quan tâm, vì các em đang đứng trước ngưỡng cửa tiến vào tương lai Hoạt động này được các em rất quan tâm và chia sẻ cùng bạn bè nhất là ở năm cuối cấp Dù

vô tâm đến đâu thì thanh niên cũng phải quan tâm, cũng phải suy nghĩ đến nghề nào

đó cho tương lai của mình Nhiều em cũng đã biết so sánh đặc điểm riêng về thể chất, tâm lý, khả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp dù sự hiểu biết của các em về yêu cầu nghề nghiệp là chưa đầy đủ

Ơ lứa tuổi này có nhiều hoạt động phong phú phù hợp với các em trong xã hội Các em xuất hiện nhiều vai trò của người lớn và họ thực hiện các vai trò đó ngày càng độc lập và tinh thần trách nhiệm hơn

Ơ gia đình các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm của người lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em một số vấn đề trong gia đình và tự thân các em cũng biết chỉa sẻ trách nhiệm của mình về công việc chung của cả nhà

14 tuổi các em đã đủ tuổi để gia nhập Đoàn Thanh Niên Cộng Sản, trong tổ chức Đoàn các em có thể tham gia công tác tập thể, công tác xã hội một cách độc lập hơn, trách nhiệm hơn

18 tuổi có quyền bầu cử, có chứng minh thư, có nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động Tất cả các em đều suy nghĩ về việc chọn ngành nghề cho bản thân trong tương lai

Vị trí của lứa tuổi này trong xã hội có tính không xác định vì đôi lúc người lớn thừa nhận các em đã trưởng thành để nhắc nhở hành vi, cung cách ứng xử của các em

Trang 26

26

cho chuẩn mực và đòi hỏi họ phải có tính tự lập, ý thức trách nhiệm, thái độ hợp lý, mặt khác lại đòi hỏi họ thích ứng với cha mẹ, giáo viên,

Ơ phần này người lớn cần quan tâm đến các em, cần khuyến khích hành động

có tinh thần trách nhiệm và khuyến khích sự giáo dục lẫn nhau trong tập thể thanh niên mới lớn

CHƯƠNG II

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG

1 Giới thiệu chung về tỉnh Khánh Hòa:

1 1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Khánh Hòa:

1.1.1 Vị trí địa lý

Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ của nước ta, có phần lãnh thổ trên đất liền nhô ra xa về phía biển Đông

Phía bắc giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực bắc: 12052'15'' vĩ độ bắc

Phía nam giáp tỉnh Ninh Thuận, điểm cực nam: 11042' 50'' vĩ độ bắc

Phía tây giáp tỉnh Đăk Lắk, Lâm đồng, điểm cực tây: 108040’33'' kinh độ đông

Phía đông giáp biển đông, điểm cực đông: 109027’55'' kinh độ đông

Ngoài phần lãnh thổ trên đất liền, tỉnh Khánh Hòa còn có vùng biển, vùng thềm lục địa, các đảo ven bờ và huyện đảo Trường Sa Bên trên phần đất liền và vùng lãnh hải là không phận của tỉnh Khánh Hòa

1.1.2 Hình dạng - diện tích

Tỉnh Khánh Hòa có hình dạng thon hai đầu và phình ra ở giữa, ba mặt là núi, phía đông giáp biển Nếu tính theo đường chim bay, chiều dài của Tỉnh theo hướng bắc nam khoảng 160km, còn theo hướng đông tây, nơi rộng nhất khoảng 60km, nơi hẹp nhất từ 1 đến 2km ở phía bắc, còn ở phía nam từ 10 đến 15km

Diện tích của tỉnh Khánh Hòa là 5.197km2 (kể cả các đảo, quần đảo), xếp vào loại trung bình so với cả nước Vùng biển rộng gấp nhiều lần đất liền, bờ biển dài 385km, có khoảng 200 hòn đảo lớn nhỏ ven bờ và các đảo san hô trong quần đảo Trường Sa

Trang 27

Tỉnh Khánh Hòa nằm ở vị trí thuận tiện về giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không Thành phố Nha Trang, trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa của tỉnh Khánh Hòa, là đô thị loại II, một trung tâm du lịch lớn trong cả nước

Việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Khánh Hòa và các tỉnh trong Nam, ngoài Bắc thuận lợi nhờ đường sắt xuyên Việt và quốc lộ 1A xuyên suốt chiều dài của tỉnh

Về phía tây, tỉnh Khánh Hòa tựa lưng vào Tây Nguyên, là cửa ngõ thông ra biển của một số tỉnh Tây Nguyên qua quốc lộ 26

Nghị quyết của Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ tư, ngày 28-12-1982, đã sáp nhập huyện Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh Hiện nay, Trường Sa là một huyện của tỉnh Khánh Hòa

Tỉnh Khánh Hòa có nhiều cảng biển, đặc biệt Cam Ranh và một cảng thiên nhiên vào loại tốt nhất trong nước và thế giới

Về đường hàng không, thành phố Nha Trang và vùng phụ cận có thời tiết thuận lợi để phát triển ngành hàng không, đồng thời là, một trạm tiếp vận thuận lợi cho các đường bay trong và ngoài nước

Vị trí địa lý của tỉnh Khánh Hòa có ảnh hưởng lớn đến các yếu tố tự nhiên khác như: khí hậu, đất trồng, sinh vật Vị trí địa lý của tỉnh Khánh Hòa còn có ý nghĩa chiến lược về mặt quốc phòng, vì tỉnh Khánh Hòa nằm gần đường hàng hải quốc tế, có huyện đảo Trường Sa, cảng Cam Ranh và là cửa ngõ của Tây Nguyên thông ra biển Đông

Trang 28

28

Việc đặt dinh Thái Khang và phân chia các đơn vị hành chính, chúa Nguyễn

đã đưa vùng đất Khánh Hoà ngày nay hội nhập vào lãnh thổ Đại Việt Sự kiện lịch

sử này được coi là mốc thời gian mở đầu cho sự hình thành địa phận hành chính tỉnh Khánh Hoà ngày nay

Tên tỉnh Khánh Hòa được xác lập vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng, gồm 2 phủ, 4 huyện là: Phủ Diên Khánh gồm 2 huyện: Phước Ðiền, Vĩnh Xương; Phủ Ninh Hòa gồm 2 huyện: Quảng Phước và Tân Định

Trải qua triều Nguyễn, thời thuộc Pháp, tỉnh lỵ đóng tại thành Diên Khánh Đến đầu năm 1945 chuyển về đóng tại thị xã Nha Trang (nay là thành phố Nha Trang) cho đến nay

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 29/10/1975, hai tỉnh Phú Yên

và Khánh Hòa được hợp nhất thành một tỉnh mới là tỉnh Phú Khánh

Ngày 30/3/1977, thị xã Nha Trang được nâng cấp lên thành Thành phố Nha Trang

Ngày 28/12/1982, Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 4 đã quyết định sát nhập huyện đảo Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh

Ngày 30/6/1989, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 5 đã quyết định chia tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh mới là Khánh Hòa và Phú Yên

Nơi đây, ngày nay vẫn còn sừng sững khu tháp cổ thờ Bà mẹ xứ sở Ponagar_khu Tháp Bà (Nha Trang) nằm trên đỉnh hòn Cù Lao thuộc phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng thuộc loại lớn nhất trong hệ thống đền tháp Chămpa tại Việt Nam

Ngoài Tháp Bà, ở Khánh Hòa còn có nhiều di tích văn hóa Chămpa như Bia

Võ Cạnh có niên đại khoảng thế kỷ III-VI sau công nguyên, là tấm bia cổ vào bậc nhất nước ta và Đông Nam Á; Thành Hời, miếu Ông Thạch, nhưng có thể khẳng định, trong số những di tích văn hóa Chămpa ở Khánh Hòa thì khu di tích tháp Bà Nha Trang là di tích còn lại tiêu biểu nhất và quan trọng nhất của nền văn hóa Chămpa về các lĩnh vực: kiến trúc, điêu khắc và bia ký

Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2001-2005 đã đề ra nhiều mục tiêu phát triển văn hoá - xã hội, xây dựng các chương

Trang 29

trình, dự án kinh tế trọng điểm, nhằm khai thác tối đa mọi tiềm năng và nội lực để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu xây dựng Khánh Hòa trở thành một tỉnh phát tiển mạnh trong khu vực

1.2 VĂN HÓA XÃ HỘI

Cùng với việc phát triển các mặt kinh tế-xã hội, trong những năm qua, các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa-xã hội không ngừng được đầu tư và ngày càng thu được nhiều kết quả, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của nhân dân

Về Y tế: trong năm 2007 ngành y tết đã khám chữa bệnh cho 3775 ngàn lượt người tăng 2,6% Thực hiện tốt các chiến dịch phòng chống cúm gia cầm, điều trị tốt các bệnh như sốt rét, ngăn chặn và giải quyết các ổ dịch tiêu chảy, sốt xuất huyết, tốt chức tiêm ngừa đúng quy định, các cơ sở y tế không ngừng được đầu tư, ngành cũng

đã quan tâm đến các cơ sở y tế tuyến xã, vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi

Công tác thể dục thể thao cũng được tổ chức ở cả 2 giải chuyên nghiệp và phong trào, tổ chức các câu lạc bộ, các tụ điểm tập thể dục thể thao, trong năm qua, ngành đã tổ chức 25 giải tỉnh, 196 giải huyện, 426 giải phường xã ở các bộ môn

Năm 2007, ngành Lao động – TBXH đã tạo việc làm mới cho 26.319 lao động

và các trung tâm dạy nghề không ngừng nâng cao chất lượng, các trung tâm giới thiệu việc làm đáp ứng được phần nào nhu cầu làm việc của người dân

Là vùng đất giàu tiềm năng du lịch, đồng thời Khánh Hòa cũng là vùng đất có nhiều chiến khu, căn cứ cách mạng Để đáp ứng nhu cầu phục vụ du lịch và phục vụ nhân dân, những năm qua, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và Uỷ ban nhân dân Tỉnh, việc đầu tư về mọi mặt để phát triển các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp luôn được chú trọng

Thư viện tỉnh, Nhà Văn hóa tỉnh và hệ thống thư viện, nhà văn hóa, trung tâm sinh hoạt văn hóa ở cơ sở tiếp tục được đầu tư và hoạt động có hiệu quả Riêng hệ thống thư viện hiện nay, Khánh Hòa có thư viện khoa học tỉnh và 8 thư viện huyện, thị, thành phố Nếu năm 1989 Thư viện tỉnh chỉ có 90.000 bản sách thì đến nay đã

có 372.000 bản sách, 300 tờ báo và tạp chí Thư viện tỉnh cũng đang xây dựng thư viện điện tử-kỹ thuật số để đáp ứng nhu cầu bạn đọc Trong nhiều năm qua, mỗi năm cùng với Trường Văn hóa Nghệ thuật tỉnh, các Trung tâm văn hóa, Nhà văn hóa đã

Trang 30

1.3 Giáo dục :

Về tình hình giáo dục Tỉnh Khánh Hòa được định hướng phát triển giai đoạn

2006 – 2010 : đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo, tăng cường nguồn đào tạo nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chú trọng nhân lực có trình độ cao, cán

bộ quản lý giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề, nhân lực cho nông thôn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động, nâng cao chất lượng giáo dục các cấp học bậc học

Phấn đấu đến năm 2010 phổ cập trung học phổ thông

Để thực hiện mục tiêu trên, ngành Giáo dục Tỉnh Khánh Hòa xác định:

 Củng cố kết quả thực hiện xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học cơ sở Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chương trình phổ cập bậc trung học phổ thông

 Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và đào tạo nguồn nhân lực Phát triển hợp lý quy mô giáo dục và đào tạo trên cơ sở đảm bảo chất lượng

và nâng cao hiệu quả giáo dục, gắn với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội

ở địa phương, có biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường Cao đẳng, THCN và dạy nghề Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục

 Thông qua kế hoạch, xây dựng và triển khai đề án xã hội hóa giáo dục và đào tạo Khẩn trương chuyển đổi các trường bán công sang tư thục và triển khai chủ trương xã hội hóa các trường mầm non trên địa bàn tỉnh ( trừ địa bàn miền núi, vùng khó khăn ) Có cơ chế thu hút đầu tư xây dựng các Trường tư

Trang 31

Trong chiến lược xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2006 – 2010 đã được trình bày, chúng tôi ghi nhận hoạt động giáo dục của Tỉnh trong năm học 2007 – 2008 như sau :

Về số lượng học sinh các cấp học như sau :

- Mẫu giáo : 33.162 em

- Tiểu học : 100.003 học sinh

- Trung học cơ sở : 86.179 học sinh

- Trung học Phổ thông : 38.956 học sinh

Số lượng Giáo viên tham gia giảng dạy tại các cấp lớp được thống kê trong năm học 2007 – 2008 là :

- Trung học Phổ thông : 166 GV

Theo thống kê của ngành Giáo dục Tỉnh Khánh Hòa năm học 2007 – 2008 vừa qua tỉ

lệ Giáo viên trên các khối lớp :

- Mẫu giáo : 2GV / 1 lớp

- Tiểu học : 1,44GV / 1 lớp

- Trung học cơ sở : 1.82GV / 1 lớp

- Trung học Phổ thông : 2.17GV / 1 lớp Trình độ Giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn ở :

Về hệ thống giáo dục Dân tộc Nội trú Tỉnh Khánh Hòa :

Trong hệ thống giáo dục của toàn tỉnh Khánh Hòa hiện có 3 Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú gồm 2 Trường cấp Huyện đó là : Trường PTDTNT Huyện Khánh

Trang 32

32

Vĩnh – Trường PTDTNT Huyện Khánh Sơn và 1 Trường PTDTNT cấp Tỉnh ( dành cho học sinh cấp 3 ) Theo thông tin từ Sở Giáo dục – Đào tạo Tỉnh Khánh Hòa thì vào năm học 2008 – 2009 sẽ đưa vào sử dụng thêm 1 Trường tại Thị Xã Cam Ranh nâng tổng số lên là 3 Trường cấp Huyện ( cấp 2 )

Về quy mô đào tạo của 3 trường : 1 trường cấp 3 và 2 Trường cấp 2 với số lượng cụ thể như sau :

- Lớp 6 : 4 lớp - Lớp 7 : 4 lớp

- Lớp 8 : 4 lớp - Lớp 9 : 4 lớp

- Lớp 10 : 2 lớp - Lớp 11 : 2 lớp

- Lớp 12 : 2 lớp Tổng số học sinh được đào tạo là : 648 em trong đó :

- Trường Khánh Vĩnh : 270 em

- Trường Khánh Sơn : 180 em

- Trường Khánh Hòa : 198 em

Số lượng Giáo viên giảng dạy và quản lý là : 42 Thầy Cô

So với hệ thống trường DTNT giữa các tỉnh với nhau thì mỗi địa phương cũng

có những nét riêng, về Khánh Hòa thì hiện tại chế độ ưu đãi, phương thức đào tạo, chất lượng đầu tư cơ sở vật chất chúng tôi ghi nhận cụ thể như sau :

 Chế độ ưu đãi cho Giáo viên là hưởng phụ cấp 70% lương cơ bản, hỗ trợ tiền xăng xe di chuyển cho GV 100.000đ / 1 tháng, ngoài ra còn hỗ trợ cho GV lưu trú tại nhà công vụ đối với trường hợp nhà xa,

 Đối với học sinh : hằng tháng các em nhận trợ cấp đối với học sinh dân tộc nội trú là 432.000đ / 1 em theo nghị định 152 / TTg của Thủ tướng chính phủ quy định, hiện nay Tỉnh vẫn chưa có khoảng trợ cấp nào thêm

Và số tiền trên tính vào các phần phục vụ cho ăn, ở, nhu yếu phẩm, học bổng hằng tháng cho các em Bên cạnh đó, hằng năm các em còn nhận được phần trợ cấp về đồng phục, sách Giáo khoa

 Phương thức đào tạo : tất cả các trường đều áp dụng quy chế cử tuyển xét đầu vào ở đầu mỗi cấp học Các em được đào tạo theo chương trình chung của bộ với quy định chuẩn là 28 tiết / 1 tuần được tổ chức học vào

2 buổi sáng và chiều, riêng buổi tối là thời gian tự học của các em Giáo

Trang 33

viên của các Trường được phân chia thành 2 bộ môn đó là : Tự nhiên và

Xã hội để sinh hoạt chuyên môn nâng cao chất lượng giảng dạy Các hoạt động ngoại khóa được nhà Trường đầu tư tổ chức thực hiện, các chương trình thi học sinh giỏi các em đều được bồi dưỡng dự thi,

 Về cơ sở vật chất : hiện tại Tỉnh Khánh Hòa vẫn chưa có những đầu tư đúng mức cho các Trường Tại các Trường ngoài phòng học và phòng chức năng, ký túc xá cho học sinh thì còn có : phòng thí nghiệm, thư viện, phòng học vi tính nhưng còn rất đơn sơ, thiếu trang thiết bị

2 Giới thiệu hệ thống Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú :

2.1 Về sự ra đời, khái niệm, vị trí, tính chất, nhiệm vụ và đặc điểm của trường phổ thông dân tộc nội trú :

2.1.1 Về sự ra đời của hệ thống trường PTDTNT

Vùng dân tộc thiểu số và miền núi với những đặc điểm kinh tế - xã hội có nhiều khó khăn đối với việc phát triển giáo dục, do đó thiếu nguồn đào tạo cán bộ là người các dân tộc ; sau khi miền bắc được giải phóng (1954), nhu cầu đào tạo cán bộ cũng trở nên cấp bách, nhiều tỉnh, huyện miền núi đã thành lập các trường nuôi dạy con em các dân tộc ít người với những tên gọi khác nhau sau khi miền nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất (1975) nhiều tỉnh miền núi ở phía nam đã thành lập trường phổ thông nội trú như trường N’trang Lơn ở Đắc Lắc, trường phổ thông dân tộc nội trú ở Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng

Theo Luật Giáo dục năm 2005, Nhà xuất bản chính trị quốc gia: “ nhà nước thành lập trường phổ thông DTNT cho con em các dân tộc thiểu số định cư tại vùng nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho vùng này, trường được ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách”

Trường phổ thông phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) là trường phổ thông tạo nguồn cán bộ dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương; trường có vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển giáo dục ở miền núi, vùng dân tộc

2.1.2 Về Khái Niệm, Tên Gọi:

Để xác định rõ hơn nhiệm vụ cho các trường phổ thông phổ thông dân tộc nội trú - ngày 29-6-1985 Bộ trưởng Bộ Giáo dục có quyết định 661/QĐ thống nhất về tên

Trang 34

34

gọi của loại trường này : phổ thông phổ thông dân tộc nội trú ; ban hành các quy định

về tổ chức và hoạt động của trường, xác định mục đích nhiệm vụ của trường ; quy định

về hệ thống trường PTDTNT; những điều khoản về học sinh, giáo viên, công nhân viên và quy định chế độ tổ chức quản lí hệ thống trường PTDTNT ; thông tư 23-TT ngày 29-6- 1985 hướng dẫn thực hiện quy định về tổ chức và hoạt động của các trường PTDTNT

Mục đích mở trường PTDTNT là tạo nguồn cho các trường đại học và chuyên nghiệp để đào tạo cán bộ cho các dân tộc trước hết là giáo viên, cán bộ y tế, cán bô lãnh đạo, cán bộ quản lí, cán bộ chuyên môn khoa học kĩ thuật đồng thời việc mở trường PTDTNT còn nhằm đào tạo lực lượng lao động có trình độ văn hóa, kĩ thuật, có sức khỏe và phẩm chất tốt để tham gia vào công cuộc xây dựng quê hương miền núi, vùng dân tộc

Mục tiêu đào tạo của trường PTDTNT là chuẩn bị cho học sinh sau khi học hết cấp ra trường có thể thích ứng nhanh chóng với sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, cụ thể là :

- Học sinh phải được trang bị kiến thức để có hiểu biết về tổ quốc, về cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, về nghĩa vụ và quyền lợi công dân, về tinh thần làm chủ và nếp sống văn minh, về nền văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của các dân tộc thiểu số, về những cuộc vận động lớn của đảng và nhà nước đang tiến hành ở miền núi, vùng dân tộc

- Học sinh phải được chuẩn bị để đạt được chuẩn kiến thức các môn học ở các lớp như học sinh các trường PT trong cả nước

- học sinh phải được rèn luyện thông qua các hoạt động trong và ngoài trường

để sau khi ra trường có thể tham gia tổ chức và điều khiển các hoạt động cải tạo và xây dựng xã hội trong cộng đồng các dân tôc ở địa phương

2.1.3 Vị trí, tính chất, nhiệm vụ của trường PTDTNT

Trường PTDTNT nằm trong hệ thống các trường phổ thông công lập của cả nước trường ở vị trí mũi nhọn trong sự nghiệp giáo dục ở miền núi, vùng dân tộc trường được coi là một loại trường tạo nguồn đào tạo cán bộ dân tộc, một trung tâm văn hóa, khoa học, kĩ thuật ở địa phương

Trang 35

Trường PTDTNT là trường phổ thông dành cho thanh thiếu niên các dân tộc thiểu số, bản thân và gia đình thường trú ở vùng cao, vùng sâu, xa xôi, hẻo lánh học sinh được nhà nước bảo đảm các điều kiện cần thiết để ăn học, được nhà trường tổ chức nuôi dạy và sống nội trú ở trường trong quá trình học tập tính chất của trường là phổ thông (pt), dân tôc (dt), đặc biệt nổi bật của trường là nội trú (nt)

Mọi hoạt động của trường PTDTNT phải nhằm mục đích giáo dục cho học sinh tinh thần đoàn kết dân tộc, ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng và bảo vệ truyền thống tốt đẹp của các dân tộc anh em, ý thức xây dựng và bảo vệ tổ quốc, tinh thần chịu khó học tập, nếp sống văn minh khoa học để sau khi ra trường có thể tham gia quản lí, lãnh đạo các hoạt động cải tạo và xây dựng quê hương

2.1.4 Về đặc điểm của trường PTDTNT

- Tạo nguồn, đào tạo cán bộ cho các dân tộc thiểu số; đồng thời việc mở trường ptdtnt còn nhằm đào tạo lực lượng lao động có trình độ văn hóa, kĩ thuật có sức khỏe

và phẩm chất tốt để tham gia vào công cuộc xây dựng quê hương miền núi, vùng dân tộc

- Thực hiện chương trình của trường phổ thông: nhà trường có trách nhiệm thực hiện đầy đủ những quy định của chương trình, đồng thời bổ sung thêm những kiến thức về địa phương, về các dân tộc để làm phong phú, sinh động, khắc sâu thêm bản sắc văn hóa của các dân tộc

- Tổ chức nội trú cho học sinh và giáo dục học sinh nội trú: học sinh được nuôi, dạy trong trường nên nhà trường phải tổ chức cuộc sống cho học sinh trong trường một cách văn minh, đó là tổ chức nội trú học sinh nhà trường phải thực hiện đầy đủ những chế độ, chính sách mà học sinh được hưởng chăm lo đến sức khỏe của học sinh cùng với sự phát triển về trí tuệ, học sinh cũng lớn lên về mặt thể chất nhà trường phải đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, lao động hướng nghiệp, dạy nghề ; xây đựng các nề nếp trong học tập, vui chơi; xây dựng cuộc sống văn minh, lịch sự, đoàn kết, chan hòa trong tình anh em giữa các dân tộc

Để làm được các công việc nêu trên, hiệu trưởng, giáo viên, cán bộ công nhân viên trong nhà trường vừa phải là nhà sư phạm mẫu mực ưu tú, những nhà giáo dục có kinh

Trang 36

36

nghiệm, nhưng đồng thời phải vừa là cha mẹ, anh chị của học sinh chỉ có như vậy học sinh mới tin tưởng, yêu mến và an tâm học tập lâu dài ở trường

2.1.4.1 Cơ sở vật chất của trường phổ thông dân tộc nội trú

Cơ sở vật chất, thiết bị trường học nói chung và trường PTDTNT nói riêng là một trong những điều kiện quan trọng của việc dạy và học của một nhà trường, đồng thời cũng là một yếu tố cơ bản góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục -

đào tạo đặc biệt, tính chất đặc thù của việc dạy và học tại các trường ptdtnt (ở di trú

là học sinh các dân tộc ít người) việc phát huy sự hỗ trợ một cụ mạnh mẽ của hệ thống

cơ sở vật chất, thiết bị kĩ thuật dạy học càng cần thiết và có ý nghĩa thiết thực

Trong những năm gần đây, sự đầu tư của nhà nước đã tăng cường cho các trường PTDTNT, mặt khác những yêu cầu cấp bách về chất lượng giáo dục - đào tạo đối với loại hình trường này, cơ sở vật chất ( đặc biệt csvc phục vụ trực tiếp cho giảng dạy, học tập) được nhà nước trang bị và khoán trọn trong từng năm học cụ thể:

Cơ sở vật chất - thiết bị giảng dạy (hay cơ sở vật chất sư phạm : CSVCSP) là tất

cả những yếu tô vật chất được huy động vào việc giảng dạy, học tập và các sinh hoạt mang tính giáo dục khác (gồm : ngôi trường, các trang bị bên trong, dụng cụ thực

hành, sân chơi bãi tập đến ngòi bút, quyển vở, viên phấn)

Cơ sở vật chất sư phạm là một bộ phận cấu thành của quá trình sư phạm ở nhà trường mà vị trí của nó trong chuỗi các yếu tố là : mục tiêu nội dung chương trình phương pháp đào tạo (sách GK) (CSVC - phương tiện) cùng với hai yếu tố động cơ là thầy giáo và học sinh

Y nghĩa của CSVCSP là ở chỗ : một khi hoàn thiện, được sử dụng đúng nó sẽ đưa lại những mối lợi to lớn cho việc GD-ĐT thể hiện các điểm :

- Là con đường duy nhất và hữu hiệu để thực hiện các phương pháp GD - ĐT một cách đúng quy luật nhận thức và khoa học

- Nhanh chóng làm rõ các vấn đề bản chất của kiến thức (đặc biệt các sự vật và hiện tượng trừu tượng) cho phép bỏ qua sự mô tả hình thức, tập trung vào những yếu

tố, những khâu, những diễn biến có vấn đề, trọng tâm - giúp người học để nhận thức ;

để vận dụng

Trang 37

- Tăng tốc độ truyền tải thông tin mà không hề làm giảm chất lượng thông tin

do vậy tiết kiệm thời gian cho phép người học tiếp cận một khối lượng kiến thức lớn trong trạng thái tự nhiên, nhịp độ thích hợp

- Tạo ra những tình huống có vấn đề, những cảm xúc say mê, hào hứng trong

hoạt động nhận thức

- Đảm bảo nguyên tắc trực quan, đảm bảo sự chứng kiến thực tế đặc trưng tư duy hình ảnh, tư duy cụ thể của người học (đặc biệt là với học sinh các dân tộc ít người)

- Tạo cơ hội cho khả năng vận dụng và liên hệ thực tế của người học giúp họ hình thành các kĩ năng, kĩ xảo trong việc học tập và mong hoạt động xã hội mai sau

2.1.4.2 Hoạt động quản lý đối với trường phổ thông dân tộc nội trú Hoạt động quản lý của trường dân tộc nội trú có những đặc trưng riêng, và hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm chính trong tất cả các hoạt động của nhà trường ngoài những điều quy định chung cho hiệu trưởng và phó hiệu trưởng các trường pt, hiệu trưởng và phó hiệu trưởng các trường PTDTNT còn phải nắm được chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, phải hiểu biết về phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc, phải có nhiệt tình, năng lực và điều kiện làm công tác quản lí ở trường có học sinh nội trú ngoài quyền lợi như giáo viên, hiệu trưởng và phó hiệu trưởng các trường PTDTNT được hưởng phụ cấp trách nhiệm về chế độ công tác theo các văn bản quy định của bộ giáo dục và đào tạo

Ngoài các tổ chức quản lý đã quy định như trường PT, trường PTDTNT còn có thêm các tổ chức chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho học sinh, giáo viên, công nhân viên như : ban quản lí học sinh, phòng giáo vụ, các phòng chuyên môn, ban lao động, ban văn thể UBND tỉnh căn cứ quy mô của từng trường và hướng dẫn của Bộ Giáo dục và đào tạo để ấn định chỉ tiêu, biên chế cán bộ cho các tổ chức trên Hiệu trưởng các trường PTDTNT được quyền tuyển chọn giáo viên, cán bộ, công nhân theo chỉ tiêu biên chế hằng năm ; ưu tiên tuyển chọn những giáo viên và nhân viên giỏi là người dân tộc thiểu số ở địa phương về công tác tại trường PTDTNT

3 Phân tích số liệu nghiên cứu:

Trang 38

38

Thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài chúng tôi mong muốn phác họa hình ảnh chung về hoạt động dạy và học tại các Trường PTDTNT Tỉnh Khánh Hòa và phần phân tích số liệu nghiên cứu thực trạng, chúng tôi tập trung vào 4 vấn đề căn bản như

đã trình bày trong mục đích, giới hạn nghiên cứu của đề tài, cụ thể như sau :

- Thống kê thành phần mẫu điều tra

- Thực trạng hoạt động học tập của học sinh các Trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Khánh Hoà

- Thực trạng hoạt động giảng dạy của Giáo viên các Trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Khánh Hoà

- Những điều kiện khách quan và chủ quan ảnh hưởng tới hoạt động Dạy

- Học

3 1 Mô tả mẫu điều tra

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thu thập số liệu thực tế từ 571 khách thể là học sinh của 2 cấp đó là:

- Cấp 2: các lớp 6, 7, 8, 9 của các Trường PTDTNT Khánh Vĩnh, Khánh Sơn

Trang 39

Chúng tôi tiến hành khảo sát trên tổng thể số học sinh tại 3 trường PTDTNT Tỉnh Khánh Hòa

3.1.2 Mô tả mẫu nghiên cứu Giáo viên:

Thông qua quá trình nghiên cứu tại địa phương, với phạm vi tiếp cận cho phép chúng tôi tiến hành khảo sát lấy ý kiến 42 Giáo viên hiện đang trực tiếp giảng dạy tại các Trường PTDTNT Tỉnh Khánh Hòa, cụ thể như sau:

Ngày đăng: 30/03/2021, 00:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bích – Tâm lý học Nhân cách, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2000 Khác
2. Nhâm Văn Chăn Con – Tìm hiểu động cơ học tập của học sinh cấp II, Hà Nội 1990 Khác
3. Phạm Tất Dong – Động cơ và chất lượng học tập. Tạp chí NCGD 1 / 1991 4. Hồ Ngọc Đại - Tâm lý học dạy học – NXB Đại học Quốc Gia hà Nội 2000 5. Phạm Thị Đức – Về phạm trù động cơ học tập của học sinh trong giai đoạn hiệnnay. Tạp chí NCGD 4 / 1992 Khác
6. Faiko Rheinberg – Động cơ – NXB W. Kohlhammer, Sulgart Berlin Koln Khác
7. Franz Emanuel Weinrt – Sự phát triển nhận thức học tập và giảng dạy. NXB Giáo dục, 2000 Khác
9. Phạm Minh Hạc – Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển xã hội, kinh tế. NXB Khoa học Xã hội Hà Nội, 1996 Khác
10. Nguyễn Kế Hào – Về khả năng hình thành động cơ hoạt động học tập, thông tin khoa học giáo dục, tháng 2 / 1983 Khác
11. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thăng – Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học Sư phạm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 Khác
12. Đặng Thành Hưng ( tổng thuật ) – Quan niệm và xu thế phát triển phương pháp dạy học trên thế giới, Hà Nội, 2001 Khác
13. Lê Khanh – Đồng Ngọc Toàn – Hình thành động cơ học tập ở học sinh lớp 6, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, 9 / 1983 Khác
14. Hà Thế Ngữ – Bàn về các hoạt động giáo dục cơ bản. Tạp chí NCGD 12 / 1976 15. Sở Giáo dục – Đào tạo Tỉnh Bình Phước Tổng quan về tinh hình Giáo dục vàĐào tạo học sinh Dân tộc Nội trú Tỉnh Bình Phước Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w