1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những đóng góp của người khmer ở đồng bằng sông cửu long trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường

92 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế, nhiều vấn đề liên quan đến đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long cần thiết phải thực hiện một cách kỹ càng hơn, khoa học hơn để xây dựng nên những cơ sở khoa học giúp ích

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA NGƯỜI KHMER Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

Chủ nhiệm đề tài:

ThS HUỲNH ĐỨC THIỆN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2006

Trang 2

Thành viên tham gia đề tài:

ThS HUỲNH NGỌC THU ThS NGUYỄN THANH LONG ThS PHẠM THANH DUY

CN NGUYỄN QUỐC TRIỀU

CN PHẠM HOÀNG YẾN

Trang 3

MỤC LỤC

II Vài nét về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người

CHƯƠNG II

NGƯỜI KHMER ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG SỰ

I Truyền thống đấu tranh cách mạng của người Khmer đồng

1 Âm mưu, thủ đoạn của đế quốc và các thế lực phản

động đối với người Khmer đồng bằng sông Cửu Long trước

1975

18

2 Những chủ trương và chính sách đoàn kết dân tộc đối

với người Khmer của Đảng ta trong hai cuộc kháng chiến

27

3 Truyền thống đấu tranh chống xâm lược của người

II Người Khmer đồng bằng sông Cửu Long trong sự nghiệp

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1975 đến nay 36

1 Âm mưu của các thế lực phản động đối với đồng bào

Trang 4

2 Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta

3 Người Khmer đồng bằng sông Cửu Long trong công cuộc

Trang 5

DẪN NHẬP

1 Đặt vấn đề

Trong 54 dân tộc anh em đang sinh sống ở Việt Nam, người Khmer là dân

tộc có số lượng dân cư chiếm tỷ lệ khá cao (đứng hàng thứ năm sau các dân tộc Kinh, Tày, Thái và Mường) Theo tổng điều tra dân số năm 1999, dân tộc Khmer có tổng cộng là 1.055.174 người, chiếm tỷ lệ 1,4% tổng dân số cả nước1

Tại Việt Nam, người Khmer tập trung sinh sống nhiều ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, các tỉnh có số lượng người Khmer cư trú nhiều nhất

là các tỉnh Sóc Trăng (350.000 người), Trà Vinh (300.000 người), Kiên Giang (180.000 người), Cà Mau (70.000 người), Cần Thơ (30.000 người), Vĩnh Long (20.000 người)…2

Trong thời kỳ chống Pháp (1945 - 1954), với đặc điểm địa lý tự nhiên, dân cư… nên nhiều vùng cư trú của đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long đã sớm trở thành căn cứ địa của những phong trào chống Pháp, nhiều người nông dân Khmer cũng đã sớm trở nên những chiến sĩ yêu nước chiến đấu kiên cường

vì sự nghiệp giành lại độc lập tự do cho đất nước Trong suốt giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long luôn sát cánh cùng cách mạng tổ chức chiến đấu, kiên trì cuộc kháng chiến chống Pháp cho đến thắng lợi cuối cùng

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), với tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất, đoàn kết, một lòng một dạ đi theo Đảng, với truyền thống và kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn của cuộc kháng chiến chống Pháp, người Khmer đồng bằng sông Cửu Long lại bước vào một trận chiến đấu mới với kẻ thù nguy hiểm và tàn bạo hơn, thâm độc và tinh vi hơn trong thủ đoạn chiến tranh Trong thời kỳ này, tại đồng bằng sông Cửu Long, Mỹ - ngụy ra sức tăng cường chính sách chia rẽ và gây thù hận dân tộc (nhất là giữa người Khmer và người Việt) để phá hoại khối đoàn kết dân tộc và chống phá lực lượng cách mạng Nhưng một lần nữa, đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long lại quyết tâm một lòng theo Đảng, theo cách mạng, chiến đấu sống còn với đế quốc

Mỹ và ngụy quyền tay sai, góp phần làm nên những chiến thắng quan trọng cho

1

Theo kết quả Tổng điều tra dân số ngày 1-10-1999.

2

Theo Nguyễn Việt Cường và Phan Ngọc Chiến, Dân số và đời sống người Khmer và người Hoa ở

Sóc Trăng, NXB Khoa học xã hội, 2002, tr.54.

Trang 6

cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, giành độc lập tự do trọn vẹn cho Tổ quốc

Từ sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam (1975) đến nay, đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long cũng đã góp phần hết sức to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam (1979) bảo vệ toàn vẹn vùng lãnh thổ phía Nam đất nước

Có thể nói, vượt qua muôn ngàn khó khăn gian khổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào Khmer ở đồng đồng bằng sông Cửu Long đã đóng góp hết sức mình cho sự nghiệp kháng chiến cách mạng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trong những năm gần đây, các thế lực chống phá cách mạng ở trong nước cũng như quốc tế đã và đang ráo riết lợi dụng các vấn đề liên quan đến người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long (nhất là vấn đề đất đai, vấn đề lịch sử quan

hệ tộc người…) để tuyên truyền, xuyên tạc và kích động đồng bào Khmer phản ứng lại chính quyền các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long và Nhà nước Việt Nam Chính vì thế, nhiều vấn đề liên quan đến đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long cần thiết phải thực hiện một cách kỹ càng hơn, khoa học hơn để xây dựng nên những cơ sở khoa học giúp ích trong việc giải quyết các vấn đề và

đề xuất ra những biện pháp thích đáng, phù hợp hơn cho các chính sách đối với đồng bào Khmer nói riêng và các dân tộc ít người khác ở Việt Nam nói chung

2 Mục tiêu của đề tài

Đề tài “Những đóng góp của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

trong công cuộc xay dựng và bảo vệ Tổ quốc” sẽ đi sâu tìm hiểu vai trò của

đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long trong công cuộc xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc, thu thập đầy đủ và sắp xếp có hệ thống toàn bộ quá trình tham gia chiến đấu và xây dựng của đồng bào Khmer ở nhiều địa phương trong khắp các vùng ở đồng bằng sông Cửu Long để nhằm tôn vinh những thành tích, công lao

to lớn của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Khmer Hơn thế nữa, từ nghiên cứu đó, đề tài sẽ góp phần làm rõ hơn đặc điểm của những chính sách và

âm mưu đen tối của các thế lực phản động ở nước ngoài đối với dân tộc Khmer trong giai đoạn hiện nay Đặc biệt, đề tài cũng sẽ góp phần làm rõ hơn sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ta trong công tác đối với đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long trong thời những năm qua, từ đó rút ra những bài học kinh

Trang 7

nghiệm quý báu về công tác vận động đồng bào Khmer trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai

Như vậy, thực hiện đề tài nghiên cứu “Nhưng đóng góp của người

Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” cũng chính là góp một phần nhỏ để thực hiện Nghị quyết của Đảng trong

việc “Củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

3 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng thực hiện đề tài bao gồm:

- Phương pháp lịch sử

- Phương pháp logic

- Phương pháp điền dã dân tộc học

- Phương pháp phân tích tổng hợp

4 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay, đã có khá nhiều những công trình, luận văn, luận án, báo cáo khoa học, bài tạp chí… đề cập trực tiếp đến người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, chủ yếu là nghiên cứu ở góc độ dân tộc học, văn hóa học, xã hội học… để đề cập đến những đến lĩnh vực xã hội, văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng… Có thể nêu một số bài viết, công trình tiêu biểu như:

 Phan An, “Nghiên cứu về người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long”,

Dân tộc học, (số 3), 1985

 Phan An, “Cơ chế quản lý xã hội truyền thống phum, sóc của người

Khmer Nam bộ”, Làng xã ở châu Á và ở Việt Nam, thành phố Hồ Chí

Minh, 1995

 Trần Văn Bổn, Một số lễ tục dân gian người Khmer đồng bằng sông Cửu

Long, Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1999

 Nguyễn Khắc Cảnh, Loại hình công xã của người Khmer ở đồng bằng

sông Cửu Long, luận án tiến sỹ khoa học lịch sử, TP Hồ Chí Minh, 1997

Trang 8

 Nguyễn Khắc Cảnh, Vấn đề nguồn gốc và sự hình thành cộng đồng người

Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam, đề tài nghiên cứu

khoa học, Trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 1996

 Nguyễn Mạnh Cường, Vài nét về người Khmer Nam bo, Khoa học xâ hội,

Hà Nội, 2002

 Sơn Phước Hoan - Sơn Ngọc Sang - Danh Sên, Các lễ hội truyền thống

của đồng bào Khmer Nam bo, Giáo dục, Hà Nội, 1998

 Trường Lưu, Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Văn

hóa dân tộc, Hà Nội, 1993

 Nguyễn Xuân Nghĩa, “Giao hoán tín ngưỡng ở người Khmer vùng đồng

bằng sông Cửu Long”, Sử học, (số 2), 1981

 Đặng Thị Kim Oanh, Hôn nhân của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu

Long, luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử, thành phố Hồ Chí Minh, 2002

 Trần Thanh Pôn, Văn hóa dân tộc Khmer, Văn hóa dân tộc, Hà Nội,

1994

 Sorya, Lễ hội Khmer Nam bộ, Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1988

 Lê Sơn - Trần Thanh Pôn, “Mấy đặc điểm phát triển giáo dục vùng dân

tộc người Khmer đồng bằng sông Cửu Long”, Thông tin khoa học giáo

dục, Hà Nội, (số 36), 1993

 Phan Thị Yến Tuyết, Nhà ở trang phục - ăn uống của các dân tộc vùng

đồng bằng sông Cửu Long, Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993

 Viện Văn hóa, Người Khmer Cửu Long, Sở Văn hóa Thông tin Cửu

Trang 9

 Phan Thị Yến Tuyết, “Truyền thống đấu tranh cách mạng của người

Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long”, Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông

Cửu Long, Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991

 Ngô Văn Lệ - Nguyễn Văn Tiệp, Thực trạng kinh tế-xã hội và những giải

pháp xóa đói giảm nghèo ở người Khmer tỉnh Sóc Trăng, Đại học Quốc

gia thành phố Hồ Chí Minh, 2003

 Bộ Môn Nhân học - Trường Đại học KHXH&NV TP.HCM, Những biến

đổi kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng người Chăm, Khmer tại Nam

bộ hiện nay, Kỷ yếu hội thảo khoa học, tháng 6-2004

 Phan Xuân Biên, Luận cứ khoa học cho việc chính sách đối với cộng

đồng người Khmer và người Hoa ở Việt Nam, đề tài khoa học công nghệ

cấp Nhà nước, mã số KX-04-12, thành phố Hồ Chí Minh, 1995

 Nguyễn Việt Cường - Phan Ngọc Chiến, Dân số và đời sống người

Khmer và người Hoa ở Sóc Trăng, Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002

 Mạc Đường, Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, Khoa học xã

hội, Hà Nội, 1991

 Võ Thị Hồng Hoa, Âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế

lực phản động đối với vấn đề người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

từ năm 1975 đến 2003, luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử, trường Đại học

KHXH&NV TP.HCM, 2005

Tuy chưa có sự xuyên suốt, nhưng tất cả những tác phẩm, những công trình nêu trên là cơ sở khoa học bước đầu để chúng tôi dựa vào đó tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, hệ thống hơn, xuyên suốt hơn (theo cả không gian và thời gian) về lịch sử tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước của cộng đồng Khmer đồng bằng sông Cửu Long

Trang 10

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI KHMER Ở ĐỒNG BẰNG

SÔNG CỬU LONG

I VÀI NÉT VỀ SỰ HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG KHMER Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng châu thổ xuất hiện rất muộn so với các vùng đồng bằng khác ở Việt Nam Nhiều nhà địa lí học cho rằng, đồng bằng châu thổ sông Cửu Long dần dần nổi lên mực nước biển cách đây khoảng 2.500 năm, nhưng “cách đây không quá 2.000 năm đồng bằng châu thổ sông Cửu Long hiện đại cơ bản đã được hình thành”1

Đồng bằng sông Cửu Long là một trọng điểm sản xuất nông nghiệp quan trọng của cả nước, song đây còn là vùng đồng bằng có những đặc điểm nổi bật

về dân cư và dân tộc

Theo các cứ liệu lịch sử được các nhà nghiên cứu khảo sát, vùng đồng bằng sông Cửu Long hoang vu dần dần được hồi sinh từ khoảng thế kỷ X Đến thế kỷ XII, những người nông dân nghèo khổ chống lại sự bóc lột hà khắc, nạn lao dịch nặng nề của giai cấp phong kiến và vua chúa các triều đại Angkor, đã di

cư đến vùng đất hoang vu này ngày một đông Ở đây, họ chiếm cứ những giồng cát lớn và tổ chức thành những cụm cư dân tập trung, có mối quan hệ rất chặt chẽ về mặt dòng họ và gia đình Tập quán cư trú này đã tác động tới khía cạnh tâm lí xã hội và hình thành nên những đặc trưng kinh tế - xã hội của người Khmer cho tới tận ngày nay, mặc dù không gian cư trú đã hoàn toàn biến đổi

Từ thế kỷ XV trở đi, khi đế chế Angkor sụp đổ, người dân Campuchia càng rơi vào cảnh đói nghèo và bị đàn áp nặng nề bởi phong kiến ngoại bang Thái Lan Để thoát khỏi ách áp bức ngoại bang, họ đã xuôi theo dòng Mê Kông đến vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày một đông

Xuất phát từ những cuộc di dân tự do, nên người Khmer ở đồng bằng

1

Phan Huy Xu - Trần Văn Thành, Đôi nét về quá trình hình thành và phát triển của đồng bằng sông

Cửu Long, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1982, tr 7.

Trang 11

sông Cửu Long sống theo phương thức tự quản và độc lập với vương triều Angkor Để sinh tồn và bảo vệ lẫn nhau, họ cư trú theo từng cụm trên những giồng đất cao Đây cũng chính là cơ sở hình thành nên tổ chức xã hội cổ truyền phum, sóc sau này

Vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, về đại thể, đồng bằng sông Cửu Long hình thành ba vùng dân cư tập trung của người Khmer1

- Vùng Sóc Trăng - Bạc Liêu - Cà Mau (Chủ yếu là Sóc Trăng, Vĩnh Châu, Vĩnh Lợi)

- Vùng An Giang - Kiên Giang (Chủ yếu là Vọng Thê, Tri Tôn, Nhà Bàng, sau đến phía Tây và Bắc Hà Tiên)

- Vùng Trà Vinh - Vĩnh Long

Như vậy, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long với người Khmer ở Campuchia là những nhóm tộc người có chung nguồn gốc lịch sử, tiếng nói và rất gần gũi nhau về đặc trưng văn hóa tộc người Nhưng do lối sống tách biệt lâu dài với người Khmer đồng tộc ở Campuchia nên người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long không có quan hệ hành chính với bất kỳ một quốc gia nào khác và có những đặc điểm riêng về cư trú, kinh tế, văn hóa, xã hội

Trong ý thức tự giác dân tộc, người Khmer nhận biết và phân biệt dễ dàng giữa người Khmer miệt dưới (tức vùng đồng bằng sông Cửu Long) với người Khmer miệt trên (tức Campuchia) một cách chính xác Khi giao tiếp với nhau, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long xem những người Khmer ở Campuchia như là những người thuộc xứ sở khác với mình Ngược lại, người Khmer ở Campuchia cũng có tâm lí cảm nhận như thế từ lâu đời

Lịch sử khẩn hoang miền Nam Việt Nam đã đưa người Việt đến đồng bằng sông Cửu Long, cùng với người Khmer và thiểu số người Hoa Họ đã mở rộng diện tích canh tác từ những vùng đất trũng chung quanh các giồng ra khắp đồng bằng sông Cửu Long

Từ thế kỷ XVII, những lớp cư dân người Việt từ vùng Quảng Ngãi - Trung Bộ bắt đầu di cư đến khai khẩn đất hoang ở đồng bằng sông Cửu Long Cùng với người Khmer, người Việt đã biến vùng đất sình lầy hoang vu thành những cánh đồng tươi tốt, làng xóm được mọc lên Đến cuối thế kỷ XVII, vùng

1

Nguyễn Khắc Cảnh, Các loại hình công xã của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Luận án

PTS khoa học lịch sử, TP Hồ Chí Minh, 1997, tr 27.

Trang 12

cư dân Việt đã phát triển một cách nhanh chóng, Để trực tiếp quản lí cư dân, năm 1698, chúa Nguyễn đã bắt đầu thiết lập bộ máy cai trị ở đây Với chính sách của chúa Nguyễn, công cuộc Nam tiến của người Việt đến tận vùng Cà Mau dần dần được hoàn tất

Người Hoa đã di cư vào Nam Bộ từ nửa sau thế kỷ XVII và tiếp tục di cư thành nhiều đợt cho đến nửa đầu thế kỳ XX Khi họ đến Việt Nam, nhà Nguyễn

đã có nhữnh chính sách mềm dẻo, tạo điều kiện cho người Hoa định cư, khai khẩn đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời có những biện pháp quản lí dân cư

để giúp họ hội nhập vào cộng đồng các dân tộc việt Nam

Người Chăm ở đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận người Chăm theo Hồi giáo Do những biến động lịch sử họ đã di cư đến Thái Lan, Campuchia vào thế kỷ XVII - XVIII, sau đó vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX một bộ phận lớn của họ lại quay trở lại định cư ở vùng Châu Đốc, sau đó lan sang các vùng khác của Nam Bộ

Như vậy, kể từ thế kỷ XVII về sau, bên cạnh người Khmer là cư dân có mặt sớm ở đồng bằng sông Cửu Long, còn có các đợt di cư vào các thời điểm khác nhau của người Việt, người Hoa và sau đó là người Chăm, tiếp tục đẩy nhanh quá trình khai phá và chinh phục tự nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long

Từ đây mở ra một thời kỳ mới đối với vấn đề dân cư và dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long

Trong tiến trình lịch sử của mình, đồng bằng sông Cửu Long là một vùng môi sinh xã hội trù phú, thu hút các thành phần cư dân có nguồn gốc từ nhiều địa phương khác nhau Sự giao tiếp giữa các nguồn văn hóa cổ ở khu vực Đông Nam Á, sự tiếp cận giữa các tộc người và những cuộc đấu tranh xã hội nối tiếp nhau trong lịch sử là những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển tâm lí xã hội và những sắc thái văn hóa nói chung, của cộng đồng Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng

II VÀI NÉT VỀ ĐỜI SỐNG KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA NGƯỜI KHMER Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1 Đặc điểm sản xuất kinh tế

Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long hầu hết là nông dân, canh tác lúa nước là loại hình sản xuất chủ yếu Nhờ làm ruộng mà người Khmer đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm, kỹ thuật và tập quán trong việc sử dụng đất đai,

Trang 13

làm thủy lợi, cày bừa đất… Gắn liền với các tàn dư tín ngưỡng và các nghi lễ nông nghiệp, góp phần làm cho nó mang sắc thái riêng của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

Sản xuất nông nghiệp của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long chiếm một địa vị quan trọng trong nền kinh tế và có ảnh hưởng lớn trong các mặt sinh hoạt văn hóa, xã hội, tôn giáo… Hơn 90% dân số Khmer chuyên sống bằng việc sản xuất lúa gạo và gần như toàn bộ đất đai của người Khmer dành riêng cho việc trồng lúa và hoa màu Nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực chủ yếu cho đời sống con người, cho chăn nuôi và trao đổi hàng hóa của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

Trong nông nghiệp, người Khmer đã biết phân loại ruộng để gieo trồng Tập quán canh tác trong sản xuất nông nghiệp của người Khmer có nhiều mặt đáng chú ý, nhưng nổi bật hơn hết là cách vần đổi công nhằm tập trung sức người kịp thời để hoàn thành công việc gieo trồng, thu hoạch đúng thời vụ

Ngoài sản xuất nông nghiệp chiếm phần chủ yếu và quan trọng, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long còn có một số hoạt động kinh tế khác Tùy từng vùng, từng thời gian mà các hoạt động như thủ công nghiệp, dịch vụ, chăn nuôi, hái lượm… được người nông dân Khmer tranh thủ làm thêm, vừa tận dụng thời gian nhàn rỗi vừa tăng thêm thu nhập

Sản xuất thủ công nghiệp của người Khmer chủ yếu là cung cấp những vật dụng trong sinh hoạt gia đình như đan lát và chế tạo các đồ dùng bằng mây, tre… Nghề thủ công nghiệp được thực hiện trong những lúc rãnh rỗi công việc đồng áng và gắn với những sinh hoạt gia đình

Nghề đánh bắt thủy sản phát triển ở những địa bàn cư trú nhiều kênh rạch, ven bờ biển và gần sông Tiền, sông Hậu Người Khmer đã sớm biết các kỹ thuật đánh bắt cá nước ngọt, nước lợ và ven biển Kỹ thuật đánh bắt cá của người Khmer cũng giống như người Việt Do ít vốn liếng và làm thủ công nên số lượng đánh bắt cá không nhiều chủ yếu là sử dụng hàng ngày

Chăn nuôi gia súc, gia cầm vẫn chưa tách khỏi nông nghiệp, còn mang tính chất gia đình, nhằm tận dụng nguồn nông sản dư thừa Số lương chăn nuôi trâu, bò, heo… không nhiều, một phần làm sức kéo, phần khác làm thực phẩm

Về thương nghiệp, người Khmer làm nghề buôn bán rất ít Trong lĩnh vực này, có thể nói người Khmer rất dở, nếu buôn bán cũng chỉ là buôn bán nhỏ lẻ

Trang 14

Bên cạnh các tập quán hợp tác lao động, người nông dân Khmer cũng còn bảo lưu nhiều nghi lễ trong nông nghiệp, nhằm cầu nguyện cho mùa mưa mau tới, cho các vụ lúa được bội thu… Những nghi thức này đem lại cho họ niềm phấn khởi tin tưởng trước khi bắt tay vào sản xuất

Từ những đặc điểm kinh tế nêu trên cho thấy người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long là cư dân thuần nông nghiệp Nghề nông là hoạt động kinh tế chủ yếu, chiếm vai trò quan trọng, chi phối toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa của người Khmer Tuy nhiên, nông nghiệp ở đây vẫn còn là một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và ảnh hưởng rất nặng bởi tín ngưỡng dân gian Chính vì vậy nên làm hạn chế đến năng suất, sản lượng nông nghiệp và làm chậm đổi mới bộ mặt nông thôn

Nền kinh tế của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung còn mang nặng tính chất tự cấp tự túc Nông sản và các mặt hàng thủ công chủ yếu

là cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng của gia đình và phum sóc, ít được coi là hàng hóa để trao đổi trên thị trường Do vậy, kinh tế hàng hóa chưa phát triển, chưa chiếm vị trí thỏa đáng ở vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long

2 Đặc điểm văn hóa, tôn giáo - tín ngưỡng

a Văn hóa

Người Khmer có một nền văn hóa truyền thống dựa trên cơ sở nông nghiệp trồng lúa nước Đó là sự kết tinh từ một nền văn hóa bản địa cổ đại ở khu vực Đông Nam Á Đặc biệt, do ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Ấn Độ, cùng với những đặc điểm môi trường tự nhiên và xã hội ở khu vực, đã hình thành nên những sắc thái văn hóa của cộng đồng người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

Người Khmer đồng bằng sông Cửu Long sớm có một nền văn hóa phát triển toàn diện trên cơ sở ngôn ngữ và văn tự khá hoàn chỉnh Trong vòng mấy thế kỷ qua người Khmer đã “tiếp nhận nhiều yếu tố văn hóa trong giao lưu với các dân tộc khác Văn hóa người Khmer đã không ngừng đổi mới để tạo nên bản lĩnh và bản sắc văn hóa của dân tộc mình Đó là quá trình vừa nâng lên đa dạng; vừa hòa hợp với các dân tộc Việt, Hoa, Chăm cùng cộng cư; vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác trong nước, khu vực Đông Nam Á và

Trang 15

quốc tế”1

Lễ hội chiếm giữ một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội của đồng bào dân tộc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long Với quan niệm sống để làm phước nên các lễ hội là dịp để họ cầu kinh, làm phước theo đúng nghi thức và nội dung của lễ hội

Các lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long có những đặc điểm là đều chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo nên không chỉ riêng các lễ hội của Phật giáo mà cả lễ hội dân gian cũng được tổ chức theo nghi thức của đạo Phật Trong các lễ hội, lễ vật dâng cúng thường nói lên ý nghĩa, nội dung của buổi lễ Các nghi lễ thường gắn với các truyền thuyết mang tinh thần Phật giáo Dù nghèo hay giau, trong các ngày lễ người Khmer cũng phải đem tiền bạc, lễ vật dâng cúng vào chùa

Các loại hình sân khấu RôBăm, Yù Kê, múa dân gian như Xalitakeo, Râmvông đựơc các nghệ sĩ chuyên nghiệp và không chuyên biểu diễn trong các ngày lễ đã tô đậm thêm sắc thái văn hóa dân tộc Khmer

Trong các hình thức tín ngưỡng dân gian, có những đặc điểm đáng chú ý

là thường được sự ngưỡng mộ của nhân dân, nên trong những ngày lễ họ tham gia rất đông với nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, ca múa… Hầu như các hình thức tín ngưỡng đều mang nặng dấu ấn tôn giáo thể hiện sự hiện diện của các nhà sư trong các nghi lễ hay tên gọi của các thần bảo hộ Neak tà, Arăc Do điều kiện sống ở vùng “sớm chinh phục từ đầm lầy” nên đồng bào Khmer sớm xem các động vật bò sát như cá sấu, rắn nước, rồng… là tô tem chủ yếu của mình

Theo phong tục tập quán của đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, trong hình thức cúng nghi lễ ông bà, không có ngày giỗ kỵ hàng năm cho người đã chết Họ quan niệm rằng, không có một mối liên hệ nào giữa người đang sống và người đã chết Do vậy, hàng năm người Khmer tổ chức một lễ chung gọi là Đônta trong ba ngày từ 29/8 đến 1/9 âm lịch để nhớ ơn người đã sinh thành và tụng kinh cầu phước, siêu thoát cho người quá cố

Ngoài ra, người Khmer đồng bằng sông Cửu Long còn tổ chức các lễ hội khác trong năm như: lễ vào năm mới (Chôl Chnam Thmei), còn gọi là lễ chịu tuổi, tức Tết năm mới của người Khmer - tổ chức vào thời điểm giao mùa tháng

1

Trung tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á, Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hội Đông

Nam Á, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2000, tr 232.

Trang 16

tư dương lịch, chuẩn bị cho một vụ mùa mới Lễ cúng trăng hay lễ sơi cốm dẹp (Ok Om Bok), là một lễ lớn được tổ chức vào ngày 15/10 âm lịch hàng năm Dịp

lễ này, các sóc tổ chức hội đua ghe ngo, thực chất là hội nước, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt và biểu dương sức mạnh đoàn kết tập thể của cộng đồng phum, sóc Ngày nay, hội ghe ngo được tổ chức rất qui mô, trở thành ngày hội chung của đồng bào Khmer ở Nam Bộ

Các dịp lễ hội cũng là dịp trong phum, sóc của người Khmer tổ chức những hình thức sinh hoạt văn hóa văn nghệ, các trò chơi dân gian rất sôi nổi, náo nhiệt tại sân chùa, trung tâm sinh hoạt văn hóa xã hội của sóc Đó là những hình thức biểu diễn văn nghệ quần chúng như múa Râmvông, biểu diễn Rôbăm… với các nhạc cụ dân tộc độc đáo, đặc biệt là âm thanh của dàn ngũ âm sôi động, rộn rã vang vọng khắp phum, sóc Những ngày này, ngôi chùa được trang hoàng rực rỡ, chào mừng dân trong sóc và du khách thập phương đến tham

dự các sinh hoạt văn hóa thể thao truyền thống dân tộc

Người Khmer đồng bằng sông Cửu Long gắn với cộng đồng bằng những sinh hoạt mang tính tập thể hình thành từ lâu đời Những sinh hoạt văn hóa truyền thống lành mạnh, các lễ hội phong phú về nội dung và hình thức đã góp phần tô điểm thêm cho cuộc sống, cải thiện các mối quan hệ xã hội, gia đình, bảo lưu truyền thống văn hóa Song quá nhiều lễ hội trong năm tổ chức linh đình, tốn kém, nhiều khi duy trì cả những tập tục lỗi thời là căn nguyên của sự nghèo đói, ảnh hưởng đến quá trình phát triển của dân tộc

b Tôn giáo - tín ngưỡng

Về tôn giáo, trước khi Phật giáo Tiểu thừa chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần, đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long có một thời kỳ theo đạo Bàlamôn và Phật giáo Đại thừa Nhưng Phật giáo Tiểu thừa với đạo pháp mang tính bình dân đã dần dần chiếm ưu thế độc tôn

Đa phần đồng bào Khmer đều theo Phật giáo Tiểu thừa nên chùa chiền chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Khmer, đây chính là nơi thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần của họ Với quan niệm đức Phật sẽ giúp đỡ họ trong cuộc sống nên họ tập trung sống quây quần xung quanh những ngôi chùa Trong mỗi phum, sóc đều có chùa và là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Khmer

Hiện nay, ở đồng bằng sông Cửu Long có tổng cộng khoảng 447 chùa

Trang 17

Kmer, trong đó nhiều nhất là ở các tỉnh: Trà Vinh (141 chùa), Sóc Trăng (90 chùa), An Giang (64 chùa)… Hầu hết chùa Khmer đều được xây dựng và tu sửa căn bản nhất ở khu vực chánh điện Gắn với chùa là tầng lớp sư sãi, đó là tầng lớp xã hội đặc biệt với các chức sắc và những người đang tu luôn được người Khmer kính trọng Hiện nay, có khoảng 7.811 sư sãi trong chùa, trong đó Trà Vinh chiếm 3.477 sư sãi, Sóc Trăng 1.721 sư sãi…1

Có thể nói mỗi người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long ngay từ khi mới chào đời đã đương nhiên được xem như một tín đồ Phật giáo, lớn lên được dạy dỗ theo tinh thần nhà Phật Theo quan niệm của đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long thì đi tu không phải để thành phật mà để trở thành người

có nhân cách, là cơ hội tốt để học chữ nghĩa, đạo lí, đức hạnh Đồng thời đi tu theo nếp nghĩ truyền thống là một cách tích phước cho cha mẹ, gia đình và bản thân

Như vậy, người Khmer lấy việc làm thiện, tránh ác làm lẽ sống thường ngày Họ cho rằng “bố thí, làm phước, cứu giúp đồng loại” tức là mình đã làm việc thiện và càng làm được nhiều việc thiện thì núi phước của họ càng lên cao Hàng ngày người dân trong các phum, sóc dâng cơm cho các vị sư sãi, mong muốn các vị chiếu cố dùng cơm, đó là một điều phước lớn

Ngôi chùa đối với đồng bào Khmer có một ý nghĩa và gắn với tình cảm hết sức sâu sắc Chùa không chỉ là nơi diễn ra các lễ nghi tôn giáo mà còn là sự gắn bó tình cảm ngay từ buổi đầu khai hoang lập địa Đồng thời, nơi đây cũng là trung tâm sinh hoạt văn hóa - xã hội của dân cư Nơi đây là những thư viện lưu giữ các thư tịch cổ, nơi phổ biến giáo lí kinh điển Phật giáo, nơi dạy chữ Pali cho các sư sãi, dạy chữ cho con em đồng bào dân tộc Ngoài chức năng tôn giáo, ngôi chùa còn là trường giáo dục trẻ em Khmer từ thời niên thiếu

Chính từ những định chế tu trì cởi mở cùng với các chức năng xã hội mà quan hệ giữa ngôi chùa với đồng bào dân tộc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long trở nên gắn bó chặt chẽ hơn Người Khmer sẵn sàng góp công góp của để xây dựng ngôi chùa của sóc mình dù cuộc sống còn đang nghèo khó Có thể nói

sự tồn tại vững chắc và phát triển bền vững của ngôi chùa có ảnh hưởng của đạo Phật Tiểu thừa qua bao thế kỷ có được là do định chế tu trì và các chức năng xã

1

Võ Thị Hồng Hoa, Âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đối với “vấn

đề người Khmer” ở đồng bằng sông Cửu Long (1975 - 2003), Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn

TP Hồ Chí Minh, 2004, tr 16.

Trang 18

hội gắn bó chặt chẽ với cuộc sống của đồng bào, trở thành đạo lí bình dân và gắn với dân tộc

Đối với người Khmer, dân tộc và tôn giáo có quan hệ gắn bó với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau Có thể nói phong tục và lễ nghi của người Khmer không có

sự phân chia ranh giới giữa sinh hoạt tôn giáo với tín ngưỡng dân gian

Bên cạnh đó, quá trình quần cư với người Việt, người Hoa, sự giao lưu văn hóa, lai chủng về tộc người đã làm cho phong tục, lễ nghi của người Khmer vượt ra ngoài khuôn khổ của dân tộc mình hòa nhập vào văn hóa chung của cộng đồng dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, bản sắc văn hóa của đồng bào Khmer vẫn được gìn giư, bảo tồn và phát huy, tín ngưỡng tôn giáo được tôn trọng

3 Đặc điểm về tổ chức xã hội

Để tồn tại và phát triển, duy trì truyền thống văn hóa dân tộc, người Khmer đã tập hợp lại với nhau thành những khu vực cư trú và tổ chức thành những đơn vị xã hội tự quản truyền thống với hai thiết chế xã hội là phum và sóc Phum là đơn vị xã hội nhỏ nhất, sóc là đơn vị lớn hơn bao gồm nhiều phum hợp thành Về mặt nhà nước, xã ấp là những đơn vị quản lí hành chính cơ sở, còn các phum, sóc là đơn vị quản lí cổ truyền, ràng buộc nhau bởi quan hệ phong tục, nghi lễ mà ngôi chùa là trung tâm điều khiển

Do những điều kiện của lịch sử tộc người, nên tổ chức xã hội nông thôn người Khmer bao gồm các đơn vị phum, sóc khác với các tộc người khác

a Phum

Phum trước hết là đơn vị cộng đồng cư trú trên một khu đất nhất định Thành viên của phum là những người có mối quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân với nhau

Phum là đơn vị tự quản của người Khmer, việc quản lí điều hành các công việc trong phum do các “Mê phum” (Mẹ phum - Trưởng phung) đứng ra đảm nhiệm, Mê phum thường là người lớn tuổi, không nhất định phải là người già nhất Mê phum cũng là người đại diện cho cộng đồng phum để giao tiếp với các phum khác với tổ chức nhà chùa và tổ chức chính quyền

Trên thực tế, hiện nay khi giải quyết những vấn đề dân sự liên quan tới các thành viên trong phum, tổ chức chính quyền ấp, xã ở địa phương cũng

Trang 19

thường hỏi ý kiến của Mê phum

Sinh hoạt trong phum mang tính chất cộng đồng và tự quản, vừa có mối quan hệ huyết thống vừa có mối quan hệ láng giềng Trong quá trình tụ cư, các phum của đồng bào dân tộc Khmer ở đờng bằng sông Cửu Long đã hòa vào làng xóm của người Việt và người Hoa, tạo nên sắc thái mới trong sự hòa nhập và giao lưu văn hóa

b Sóc

Sóc là đơn vị cư trú bao gồm nhiều phum với các qui mô to nhỏ khác nhau, dựa trên mối quan hệ lãnh thổ láng giềng Đồng thời sóc là đơn vị tự quản với bộ máy điều hành mà ngày nay dấu vết của nó còn lưu lại qua khái niệm

“Mê sóc” (Mẹ sóc), tức là người đứng đầu sóc

Các sóc thường trải dài theo các giồng đất, mỗi giồng đất là một sóc hoặc hai, ba sóc Mỗi sóc gồm nhiều phum với hơn 100 nóc nhà và ít nhiều đều xen

kẽ với các gia đình người Việt, người Hoa Thông thường mỗi sóc có một ngôi chùa, hoặc những sóc lớn có thể có hai ngôi chùa Ngôi chùa là tiêu biểu cho bộ mặt của phum sóc nên được xây dựng rất nguy nga Việc quản lí sóc được giao cho một người đứng đầu gọi là Mê sóc, đó là một người đàn ông đứng tuổi, có

uy tín, có trình độ học vấn, hiểu biết phong tục tập quán

Hiện nay, cơ cấu tổ chức quản lí hành chính của nhà nước đã thay thế hệ thống quản lí xã hội cổ truyền nên các Mê sóc và những người trong ban quản lí sóc trở thành cán bộ của xã, ấp ở nông thôn Nam Bộ Tuy nhiên, vẫn còn ảnh hưởng của các thiết chế xã hội cổ truyền chi phối cuộc sống hằng ngày của người dân Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

Các thành viên trong phum, sóc vừa phải có trách nhiệm thực hiện quyền

và nghĩa vụ của công dân vừa phải thực hiện đúng các lễ nghi phong tục tập quán của dân tộc mình Trong cuộc sống cộng đồng phum, sóc họ phải thương yêu, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, tất cả mọi người đều phải có trách nhiệm bảo vệ danh dự của phum, sóc mình

Đơn vị cư trú sóc của đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long không chỉ mang tính chất hành chính mà còn mang tính chất là một đơn vị tín ngưỡng tôn giáo Chính vì vậy, “cơ chế quản lí xã hội cổ truyền của đồng bào Khmer là

sự kết hợp giữa tổ chức quản lí cộng đồng với sự tham dự của bộ máy quản lí của Phật giáo Tiểu thừa Sự đan xen hỗn hợp này đã tạo cho xã hội truyền thống

Trang 20

của đồng bào Khmer có một đặc tính xã hội riêng khác với các xã hội khác”1

Như vậy, phum, sóc là một không gian xã hội của người Khmer và trên thực tế bằng trực quan thì không gian ấy thấm nhuần tinh thần Phật giáo “Tôn giáo có vai trò quan trọng trong ý thức xã hội của một cộng đồng nông nghiệp, nhưng, dù có chấp nhận lý tưởng siêu thoát của nhà Phật, người tín đồ Khmer vẫn luôn luôn hướng về hạnh phúc bình dị của người nông dân sống trên trần thế, vẫn sống trong quan hệ hài hòa giữa những đồng tộc, gia đình và phum sóc”2

c Cơ cấu gia đình và mối quan hệ dòng họ

Do cùng cư trú trên một địa bàn với người Việt và người Hoa nên trong

cơ cấu gia đình và mối quan hệ dòng họ của người Khmer cũng có ít nhiều thay đổi Về cơ cấu gia đình của đồng bào dân tộc Khmer chủ yếu là gia đình hạt nhân, tức là gia đình có một vợ một chồng và các con cái, sinh sống riêng, có hoạt động kinh tế độc lập Quan hệ vợ chồng trong gia đình là tương đối bình đẳng, cùng chia xẻ nhau mọi công việc Tuy nhiên, người đàn ông vẫn giữ vai trò trụ cột và con cái lấy họ cha

Trong quan hệ hôn nhân, đa số người Khmer lấy vợ lấy chồng cùng một địa phương, gần nhất là cùng phum, sóc hoặc xã Người Khmer có thể kết hôn với bà con, nhất là kể từ thế hệ thứ hai trở đi, cấm kết hôn với anh, chị, em ruột Đây là đặc trưng riêng của người Khmer nhằm để bảo vệ dòng họ và cái chính là giữ cho của cải không bị san sẻ ra ngoài

Về quan hệ dòng họ, phần lớn đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long mang họ Danh, Sơn, Kim, Thạch, Châu… Phụ nữ có chữ đệm là “thị” hay

“neang”, nhưng cũng có người mang họ người Việt hay người Hoa như Trần, Lâm, Lý, Diệp… Những dòng họ hiện nay của người Khmer xuất hiện từ giữ thế

kỷ XIX theo quyết định của nhà Nguyễn nhằm kiểm tra nhân khẩu, hộ khẩu, quản lí và kiểm soát người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long Mặc dù yếu tố phụ hệ được xác lập và củng cố trong quan hệ gia đình và hôn nhân, nhưng những tàn dư của chế độ mẫu hệ vẫn còn tồn tại và thể hiện trong các quan hệ xã hội thể hiện cụ thể trong tên gọi chức vụ người đứng đầu phum, sóc đều là

1

Nguyễn Thanh Thủy, Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam đối với

đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội, 2001.

2

Trường Lưu, Văn hóa người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội,

1993, tr 23.

Trang 21

“Mê”, ngay cả trong Phật giáo Khmer, không chấp nhận sự tu hành của nữ giới song trên thực tế người phụ nữ vẫn được phép đến chùa tham dự một số lễ Phật Tất cả những điều này đã khẳng định vị trí, vai trò của người phụ nữ trong tổ xã hội nông thôn Khmer

Trong quan hệ gia đình và xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long còn có mối quan hệ với người Khmer ở Campuchia rất chặt chẽ trong tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán và hôn nhân… vì thế, mọi diễn biến của tình hình Campuchia vẫn có ảnh hưởng ít nhiều đến đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

Như vậy, tổ chức xã hội của đồng bào Khmer tập trung ở các phum, sóc

đã dần dần được phân chia theo địa giới hành chính và ít nhiều bị chia cắt Bộ máy tự quản của phum, sóc dần cũng được thay thế bằng bộ máy chính quyền của nhà nước để cho đồng bộ và dễ dàng quản lí xã hội trong cả nước Tuy nhiên, do sức sống của bộ máy tự quản trong xã hội cổ truyền nên một số công việc đối nội, việc trong phum, sóc, cũng thường vận động các sư sãi trong chùa cùng tham gia

Tổ chức xã hội của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn mang dấu ấn cổ truyền kết hợp với việc tổ chức quản lí xã hội của nhà nước Sự kết hợp đan xen này đã tạo ra một nét đặc trưng riêng của đồng bào Khmer trong nông thôn đồng bằng sông Cửu Long

Trang 22

và viên chức người Khmer Đồng thời dung túng và khuyến khích những hành động phân biệt và đàn áp dân tộc của bọn phong kiến, bọn tay sai của đế quốc người Việt Nam ở vùng Khmer”1

a Âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp

Những năm đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã tiến hành khai thác vùng đồng bằng sông Cửu Long thành một trung tâm xuất cảng lúa gạo lớn nhất Đông Nam Á Để thực hiện được mục tiêu khai thác của mình và phòng ngừa những cuộc đấu tranh của nông dân, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách “chia rẽ dân tộc” người Việt và người Khmer

Thực dân Pháp, ngay từ đầu đã có ý đồ trong việc đưa ra những chủ trương khai thác của mình Với chủ trương duy trì nguyên trạng, thực dân Pháp

đã tuyên bố ra sức “tôn trọng” và “bảo vệ” đặc tính riêng của xã hội Khmer Bên cạnh đó, họ không can thiệp vào việc chiếm đoạt đất đai của người Khmer mà các điền chủ người Việt, người Âu đang tiến hành Tuy nhiên, thực tế lại không

1

Theo Phan An, “Nghiên cứu về người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Dân tộc học, số

3/1985, tr 19.

Trang 23

như thế, mà thực dân Pháp muốn gieo rắc tư tưởng ân sủng, xem họ là lực lượng cứu cánh và đặc biệt hơn là nếu không có người Pháp thì người Khmer sẽ bị người Việt tiêu diệt Mục đích của thực dân Pháp là nhằm tạo ra mâu thuẫn giữa hai dân tộc Khmer và Việt để họ có thể thực hiện được âm mưu của mình

Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp được siết chặt hơn với nhiều thủ đoạn hơn để chia rẽ dân tộc, gây nhiều mâu thuẫn, kỳ thị sắc tộc giữa người Khmer và người Việt

Để thực hiện chính sách chia rẽ lâu dài, thực dân Pháp cho mở các trường tiểu học dạy tiếng Khmer, khuyến khích dạy chữ Phạn trong các chùa Thực chất, thực dân Pháp đã nắm được tâm lý của người Khmer là sợ mất gốc, mất chữ viết, mất văn hóa Khmer Chính vì vậy, việc mở các lớp học dạy chữ Khmer

sẽ đánh vào tâm lý của họ, làm cho họ quên đi tinh thần đấu tranh chống xâm lược

Thực dân Pháp còn tổ chức những đoàn thể xã hội thân Pháp như “Hội nâng cao trí dục Khmer - Pháp” để lôi kéo thanh niên Khmer, gắn kết họ với Campuchia, lập chi nhánh Phật học viện của Nam Vang ở Ba Xuyên (Sóc Trăng), lập “Liên đoàn cải thiện tinh thần, trí đức và thể dục cho người Cao Miên ở Nam Kỳ”… để thực hiện mục tiêu “chia để trị”, lôi kéo người Khmer chống phá cách mạng

Thực dân Pháp còn thực hiện những thủ đoạn thâm độc và trắng trợn hơn như “dùng người Khmer Nam Bộ đàn áp phong trào yêu nước của người Việt và ngược lại; biên soạn nhiều sách sử Cao Miên với nội dung xuyên tạc lịch sử nhằm kích động ý thức tranh giành đất đai, âm mưu tách vùng đồng bằng sông Cửu Long ra khỏi lãnh thổ Việt Nam”1

Thực dân Pháp còn lợi dụng ảnh hưởng của Phật giáo Tiểu Thừa đối với người Khmer, một mặt tìm cách lũng đoạn và lợi dụng để nắm người Khmer mặt khác nhằm thiết lập mối quan hệ giữa Phật giáo Khmer ở Nam bộ với Phật giáo Campuchia Bên cạnh đó, để khoét sâu tâm lý chia rẽ dân tộc với người Việt và chia cắt vùng đất cực Nam của Tổ quốc Việt Nam, thực dân Pháp khuyến khích việc thỉnh kinh Phật và rước các sư sãi từ Campuchia về trụ trì trong các chùa Khmer ở Nam Bộ

1

Nguyễn Thanh Thủy, Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam đối với

đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội, 2001, tr 58.

Trang 24

Âm mưu trắng trợn và thâm độc của Pháp nhằm để thực hiện chính sách

“chia để trị” và “chính sách ngu dân” Để thực hiện được những âm mưu này thực dân Pháp đã có những thủ đoạn hoạt động hết sức thâm độc

Thủ đoạn của thực dân Pháp tiến hành để thực hiện chính sách “chia để trị” và “chính sách ngu dân” nhằm mục đích kìm hãm sự phát triển văn hóa - xã hội của người Khmer, làm cho nền giáo dục bị lệ thuộc Chính vì vậy, thời kỳ này ở đồng bằng sông Cửu Long không có một tờ báo viết bằng ngôn ngữ Khmer, không có một nghệ sĩ Khmer, văn hóa phản động thì ngày một nhiều, sự bần cùng hóa trong xã hội ngày càng tăng…

Thủ đoạn thực hiện chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp là “tách người Khmer khỏi người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long, gắn người Khmer ở vùng này với người Khmer ở Campuchia”1 Trước hết, chúng dựa vào các sự kiện do lịch sử để lại thực hiện luận điệu tuyên truyền hết sức phản động, kích động hận thù trong người Khmer, cho rằng người Việt xâm lược chiếm đoạt đất Thủy Chân Lạp của người Khmer, người Việt gây ra nhiều tội ác với người Khmer và Phật giáo Khmer, người Việt bóc lột tàn nhẫn người Khmer, người Việt giết người Khmer cướp đất Nam Bộ… “Do đó, Pháp xâm chiếm Việt Nam phá tan Việt Minh là để giúp người Khmer đòi lại đất; nếu người Pháp không đến thì người Khmer bị tiêu diệt Vì thế, phải đánh đuổi người Việt thành lập

“Khmer tự trị”, ngoài ra chúng còn gieo rắc tâm lý người Việt khinh miệt người Khmer, coi thường người Khmer là bần tiện, thiếu thủy chung, không chân thật…”2

Đối với “chính sách ngu dân”, thực dân Pháp đã ngăn chặn những luồng ảnh hưởng của người Việt đồng thời thông qua Campuchia đưa các loại sách Campuchia vào vùng đồng bào Khmer, nội dung của sách thường mang tính chất xuyên tạc sự thật, móp méo lịch sử, tạo dựng tâm lý cho người Khmer thấy

họ có nguồn gốc từ Chân Lạp và họ phải gắn bó với nguồn gốc của mình Qua đây, thực dân Pháp muốn nâng vai trò của mình đối với người Khmer, phải coi nước Pháp là người khai sáng văn minh cho người Khmer

1

Theo Võ Thị Hồng Hoa, Âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đối với

vấn đề người Khmer ờ đồng bằng sông Cửu Long (1975 - 2003), Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử,

Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh, 2004, tr 27.

2

Dẫn theo Võ Thị Hồng Hoa, Âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đối

với vấn đề người Khmer ờ đồng bằng sông Cửu Long (1975 - 2003), Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch

sử, Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh, 2004, tr 28.

Trang 25

Để kích động lòng hận thù, thực dân Pháp đã tổ chức ra những đội quân đánh thuê người Khmer và người Việt, dùng những đội quân này đàn áp những cuộc nổi dậy Lính Khmer đốt phá và giết hại những làng nông dân người Việt

và ngược lại lính người Việt bắn giết và san bằng các phum, sóc người Khmer Chính “những thủ đoạn nham hiểm đó đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng kích động tinh thần hẹp hòi, tạo sự hận thù giữa hai dân tộc Việt - Khmer, dẫn đến những vụ nổi dậy của người Khmer và đụng độ của hai dân tộc trong những năm 1945 - 1947”1

Thực dân Pháp còn thực hiện chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, tăng cường dụ dỗ, mua chuộc để bắt thanh niên đi lính, xây dựng thành đội quân đánh thuê chống lại đồng bào Khmer Ngoài ra, chúng còn xây dựng đồn bốt ở vùng Khmer do người Pháp chỉ huy, phân phát vũ khí cho các chùa Khmer nhằm biến các chùa thành cơ sở vũ trang để chống lại Việt Minh

Thực dân Pháp đã dùng chức vụ để mua chuộc đồng bào Khmer, những chức vụ cao nhất mà Pháp phong cho đồng bào Khmer là Tri phủ, hội đồng, chánh phó tổng và xã trưởng… thông qua việc trao quyền hành này, Pháp đã có thể sử dụng sư sãi làm gián điệp hoạt động chống phá cách mạng, xây dựng các

tổ chức, hội nhóm, đảng phái để tập hợp lực lượng lôi kéo đồng bào Khmer, nhất là lực lượng thanh niên đi theo thực dân Pháp

Tuy thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhưng sau năm

1954, thực dân Pháp vẫn không từ bỏ chính sách gây ảnh hưởng và mưu đồ kiểm soát người Khmer ở Nam Bộ Thực dân Pháp đã lợi dụng những lực lượng thân Pháp để tiến hành vận động nhưng người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long hướng về Campuchia, thực hiện tranh chấp giữa chính quyền Sài Gòn và những người cầm quyền thân Pháp ở Campuchia về đất đai biên giới, tạo nên những diễn biến phức tạp

Chính sách của thực dân Pháp là hết sức thâm độc, gây tác động sâu sắc đối với cộng đồng người Khmer Hậu quả to lớn của âm mưu, thủ đoạn này là sự kích động ý thức dân tộc hẹp hòi, cực đoan, gây mâu thuẫn và hận thù dân tộc

Âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp đã tác động vào tinh thần đoàn kết dân tộc trong khối cộng đồng nhiều dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long Tác

1

Dẫn theo Nguyễn Thanh Thủy, Qúa trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam

đối với đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội, 2001, tr 59.

Trang 26

động của chính sách này có ảnh hưởng ít nhiều đến tình đoàn kết dân tộc Việt - Khmer Tuy nhiên, dù âm mưu của thực dân Pháp có thâm độc đến đâu cũng không thể đánh bại được tinh thần của các tộc người ở Nam Bộ, không thể đánh bại được tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết của các dân tộc đã được hun đúc trong suốt quá trình lịch sử khai phá và xây dựng vùng đất Nam Bộ

b Âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ

Tiếp tục những chính sách, âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp đối với người Khmer ở Việt Nam, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã có nhiều thủ đoạn thâm độc, nham hiểm nhằm duy trì ách nô dịch đối với người Khmer Đế quốc

Mỹ đã tiếp tục thực hiện chính sách dân tộc “chia để trị” nhằm chia rẽ, gây mất đoàn kết trong khối cộng đồng cư dân ở đồng bằng sông Cửu Long

Đế quốc Mỹ đã nối gót thực dân Pháp tiếp tục thực hiện âm mưu chia rẽ dân tộc, chính sách “chia để trị” Họ đã biết lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo

để chống phá cách mạng, lợi dụng những khó khăn, thiếu sót của chính quyền cách mạng, dựng lên các đảng phái phản động mang màu sắc dân tộc, tôn giáo

Đế quốc Mỹ đã có những tính toán, những mưu toan nên chúng đã ra sức viện trợ, ủng hộ chính quyền tay sai nhằm đạt được mục đích thực hiện chính sách thực dân kiểu mới của chúng Cụ thể đó là chính sách đồng hóa dân tộc, đàn áp, tàn phá các phum, sóc của đồng bào Khmer…

Dưới sự chỉ đạo của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm (1954 - 1963) đã thực hiện chính sách “dân tộc hóa” tức là tiến hành đồng hóa dân tộc đối với người Khmer như: không coi người khmer là dân tộc thiểu số, gọi người Khmer Nam Bộ là “người Việt gốc Miên”, không cho họ học chữ Khmer, các tên Khmer đều phải Việt hóa, không cho hưởng “chính sách phát triển sắc tộc”, xóa

bỏ các lớp học trong chùa… Những chính sách đồng hóa dân tộc này đã làm cho mâu thuẫn giữa đồng bào Khmer với Mỹ - ngụy mỗi lúc càng gay gắt và kết quả

là người Khmer đứng lên đấu tranh đòi lại những quyền lợi chính đáng của dân tộc mình

Bên cạnh chính sách “dân tộc hóa” Mỹ - ngụy còn thực hiện chính sách

“dân tộc đồng hóa, đồng tiến” (1964 - 1966) và chính sách “dân tộc đồng hóa” (1967 - 1975) Mục đích của đế quốc Mỹ chính là nhằm mục tiêu thâm độc đẩy người Khmer vào cuộc đấu tranh đòi quyền lợi đối với chính quyền Sài Gòn Đế quốc Mỹ muốn đánh lạc hướng người Khmer và gây ra sự mất đoàn kết dân tộc

Trang 27

để chúng dễ dàng thực hiện âm mưu thâm độc của mình

Đế quốc Mỹ kết hợp với chính quyền Sài Gòn đã thực hiện chiến lược đưa các nhóm phản động trong Thiên Chúa Giáo miền Bắc di cư vào Nam đến những vùng đất Cà mau, Rạch Gía, Ô Môn, Thốt Nốt… tiếp đó lợi dụng chính sách “trả thù người kháng chiến cũ” đã gây nên những tội ác đẫm máu trong những vùng có đồng bào Khmer và Việt sống xen kẽ Ví dụ cụ thể như ở Long Phú, Vĩnh Châu (Sóc Trăng) và Cà Mau năm 1956 - 1957, quân đội Mỹ - Diệm

đã đốt phá nhiều làng xóm Khmer

Ngoài ra, chúng còn tuyên truyền cuộc sống phồn vinh giả tạo, quan tâm đến tín ngưỡng của đồng bào để lừa bịp, lôi kéo đồng bào Khmer xây dựng chùa chiền, trường học, tạo ra niềm tin đối với đồng bào Khmer Tuy nhiên, trên thực

tế, đây chỉ là hành vi lừa bịp của chúng nhằm lôi kéo người Khmer và gây mất đoàn kết trong cộng đồng cư dân

Để thực hiện được những âm mưu của mình, đế quốc Mỹ đã không từ bỏ một thủ đoạn nào Đế quốc Mỹ đã nắm được những điểm yếu của đồng bào Khmer nên đã thành lập các cơ quan đặc trách ve người Khmer như Phòng Miên

Vụ (1958) đặt cạnh Nha chiến tranh tâm lý Bộ quốc phòng để đối phó khi có xung đột xảy ra; thành lập Nha tổng giám đốc đặc trách phát triển đồng bào Việt gốc Miên gọi tắt là Tổng Nha Miên Vụ (1969) trụ sở đặt tại Cần Thơ Các tỉnh

có tập trung đông đồng bào Khmer thì chúng lập ra Ty Miên Vụ Thực chất đó

là một tổ chức mật vụ trá hình tình báo Mỹ nhằm vào sư sãi và quần chúng Khmer, đánh phá phong trào cách mạng trong vùng dân tộc”1

Như vậy, âm mưu của Mỹ là muốn huấn luyện một lực lượng để có thể chống phá cách mạng miền Nam và kìm hãm sự trợ giúp của chính quyền Campuchia Đặc biệt, đế quốc Mỹ còn tiến hành đào tạo một số sư sãi người Khmer thành những sỹ quan cao cấp để chăm lo phần hồn cho sỹ quan, binh lính người Khmer, biến họ thành tay sai bù nhìn chống phá cách mạng

Mỹ - ngụy đã tiến hành những cuộc đàn áp bằng vũ trang, mở các cuộc hành quân truy tìm tiêu diệt lực lựơng cách mạng, yêu nước của đồng bào Khmer và Việt Bên cạnh đó, chúng còn tiến hành “dồn dân lập ấp ở vùng Khmer, ép buộc nhân dân vào trong các vòng rào kẽm gai dưới sự kiểm soát gắt

1

Võ Thị Hồng Hoa, Âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đối với vấn

đề người Khmer ờ đồng bằng sông Cửu Long (1975 - 2003), Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử, Đại

học Khoa học Xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh, 2004, tr 32.

Trang 28

gao của bọn tay sai Với những hành động vũ lực tàn bạo, Mỹ - ngụy muốn tách rời đồng bào với các lực lượng yêu nước cách mạng, dập tắt các phong trào đấu tranh chống đế quốc Mỹ - ngụy đã sử dụng lực lượng thám báo “Thiên Nga”,

“Phượng Hoàng” nhằm phát hiện, tiêu diệt các chiến sỹ du kích, các lực lượng

vũ trang, chính trị yêu nước của đồng bào”1

Chính sách “dân tộc hóa”, “dân tộc đồng hóa, đồng tiến” của Mỹ - ngụy

đã được tiến hành một cách có hệ thống nhằm chia rẽ, lũng đoạn trong nội bộ đồng bào Khmer, làm suy yếu quan hệ đoàn kết giữa người Khmer với người Việt, người Hoa và các dân tộc anh em Ngoài ra, chúng còn tìm mọi cách xuyên tạc lịch sử để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi ở một số người

Do nhận rõ được vai trò của Phật giáo đối với người Khmer nên Mỹ - Ngụy đã cố gắng lợi dụng, khống chế, đàn áp và mua chuộc tầng lớp sư sãi, xúi giục và cho phép ra đời các giáo phái như “giáo phái Khéméranikay, phái Therevada, các nhóm mới (Semci) và cũ (Boran)”2 Mục đích cuối cùng của đế quốc Mỹ là thực hiện được âm mưu đen tối của mình, tiến hành chia rẽ dân tộc, gây mất đoàn kết trong nội bộ nông dân và giữa nông dân với chính quyền Sài Gòn

Đế quốc Mỹ còn thực hiện chiêu bài “Khmer tự trị” để mua chuộc các tầng lớp sư sãi, tuyển mộ thanh niên Khmer vào tổ chức “Khmer Sơrây”,

“Khmer Krôm”, “Đảng khăn trắng” để chống phá cách mạng miền Nam”.3

Thực tiễn cho thấy, các đảng trên thực chất là những tổ chức chính trị phản động mang màu sắc dân tộc Mục đích của các đảng này là chống phá cách mạng ở miền Nam Quá trình hoạt động của các đảng này luôn được che đậy bởi vấn đề đòi quyền lợi dân tộc, tôn giáo để lừa bịp đồng bào Khmer

Âm mưu, thủ đoạn của Mỹ - ngụy đã gây nên những biến động lớn lao ở vùng nông thôn Khmer Đó là sự xáo trộn, hủy diệt môi sinh, cư trú truyền thống của đồng bào Đó là tình trạng đảo lộn cơ cấu xã hội, văn hóa, nếp sống, là sự phụ thuộc về kinh tế và chính trị vào đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn và góp phần làm biến đổi vùng Khmer thành một chỗ dựa, một lá chắn chống lại sự

Võ Thị Hồng Hoa, Âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đối với vấn

đề người Khmer ờ đồng bằng sông Cửu Long (1975 - 2003), Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử, Đại

học Khoa học Xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh, 2004, tr 33.

Trang 29

nghiệp cách mạng chung

Như vậy, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã lợi dụng những khe hỡ trong vấn

đề dân tộc, tôn giáo để thực hiện những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của mình Mục đích là chống phá cách mạng, gây mất lòng tin đối với đồng bào Khmer, tạo ra mâu thuẫn dân tộc, gây mất đoàn kết trong quần chúng nhân dân từ đó chúng dễ bề hành động, thực hiện âm mưu đen tối của mình

c Âm mưu, thủ đoạn của Campuchia đối với đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long

Người Khmer ở Campuchia và người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

có mối quan hệ đồng nhất về dân tộc, tôn giáo, văn hóa “Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long và người Campuchia là hai tộc người khác nhau, nhưng vốn cùng chung sống trong cộng đồng vương quốc Phù Nam và đến thế kỷ thứ

VI lại cùng chung sống trong cộng đồng Chella (Campuchia) cho đến thế kỷ XVIII”1 Mặc dù có mối quan hệ đồng nhất về dân tộc, tôn giáo, văn hóa nhưng một khi đã trở thành những tộc người thuộc hai nước khác nhau, thì quan hệ về mọi mặt của hai khối Khmer đều bị gián đoạn Mỗi khối người Khmer phát triển trong một môi trường chính trị, kinh tế riêng biệt do đó theo một hướng riêng biệt Cho đến thời Pháp thuộc thì luồng giao lưu giữa hai khối người Khmer mới kết nối lại, nhất là từ những năm 30

Trong thời Pháp thuộc đã có những sư sãi Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long sang Campuchia học thêm về Phật học, hoặc những gia đình nông dân Khmer vì mất đất vào tay các đại điền chủ, phải rời quê quán sang định cư tại các vùng còn nhiều hoang vu của Campuchia Luồng giao lưu này chỉ thực sự phát triển trong thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ

Lợi dụng những thuận lợi về giao lưu kinh tế, văn hóa của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia Chính quyền Campuchia đã có ý định lôi kéo người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long để làm hậu thuẫn chính trị cho họ

Trong những năm cuối của thập niên 50, “Shihanúc đã cho thành lập phong trào Khmer Campuchia Krôm, với chiêu bài người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long thuộc dòng dõi Campuchia, cho nên đất Nam Bộ là đất của

1

Thạch Voi, “Những đặc điểm văn hóa Khmer đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Dân tộc học, số

1/1987, tr 56.

Trang 30

Campuchia Krôm”1 Chiêu bài của Shihanúc là lợi dụng người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, lôi kéo họ phục vụ cho âm mưu của Shihanuc

Shihanuc còn tiến hành những động thái lừa bịp như sử dụng người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long cho tham gia vào chính phủ, quốc hội nhằm tạo tâm lý là người một nhà, là người Campuchia

Đến những năm đầu thập niên 70, chính quyền Campuchia (Lonol - Sirik Matak) đã nhanh chóng áp dụng chính sach bài xích chống Việt Nam, tàn sát xua đuổi Việt kiều về nước, tiếp tục tập hợp các thành viên của Đảng khăn trắng

về Campuchia, thành lập đơn vị vũ trang và tuyển mộ thanh niên đi lính chống lại cách mạng Việt Nam Mục đích của chính quyền Campuchia là gây mất đoàn kết trong cộng đồng cư dân, làm cho người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long mất niềm tin vào Đảng, luôn tìm cách chống phá cách mạng Việt Nam

Như vậy, âm mưu, thủ đoạn của Campuchia là tìm mọi cách lôi kéo người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long làm hậu thuẫn chính trị, làm cho họ mất lòng tin với Đảng cách mạng, gây mất đoàn kết trong cộng động cư dân Tất cả

để phục vụ mục tiêu chính trị của chính quyền Campuchia

Tóm lại, âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đối với vấn đề đồng bào Khmer trước năm 1975 đã thể hiện được ý đồ của chúng đối với đồng bào Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Vấn đề đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long là một vấn đề nhạy cảm, các thế lực phản động đã lợi dụng những khe hỡ trong chính sách dân tộc, tôn giáo và sự kém hiểu biết của đồng bào Khmer để lợi dụng họ phục vụ cho mục tiêu chính trị của chúng

Âm mưu, thủ đoạn của Pháp, Mỹ, Campuchia… luôn mang màu sắc dân tộc và tôn giáo, lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của đồng bào Khmer để gây mất đoàn kết, chia rẽ dân tộc Từ xưa đến nay, các thế lực phản động chưa bao giờ từ bỏ ý định lợi dụng vấn đề người Khmer để tiến hành những mưu đồ chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết của dân tộc ta, tạo ra những mâu thuẫn, mất ổn định bên trong

để chúng dễ bề hoat động chống phá góp phần thực hiện mục tiêu mà chúng đề

ra

1

Võ Thị Hồng Hoa, Âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đối với vấn

đề người Khmer ờ đồng bằng sông Cửu Long (1975 - 2003), Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử, Đại

học Khoa học Xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh, 2004, tr 37.

Trang 31

2 Những chủ trương và chính sách đoàn kết đối với dân tộc Khmer của Đảng ta trong hai cuộc kháng chiến

Từ khi Đảng Cộng sản ra đời và trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng đã rất chú ý đến phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc ít người trong khắp cả nước

Đối với các dân tộc thiểu số ở miền Nam, năm 1946, ngay sau khi Nam bộ kháng chiến bùng nổ, Hồ Chủ Tịch - vị lãnh tụ tối cao của dân tộc Việt Nam -

đã gửi cho đồng bào các dân tộc thiểu số phía Nam Tổ quốc lời cổ vũ tinh thần đoàn kết chiến đấu Trong lời động viên Bác viết: “Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giời giảm bớt Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ quyền tự do, tự chủ của chúng ta”1 Lời động viên của Bác - người lãnh đạo cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - là một thông điệp đầy ắp tình đoàn kết giữa lãnh tụ với nhân dân các dân tộc miền Nam, có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa lòng yêu thương gắn bó giữa các dân tộc với nhau đang sinh sống ở phía Nam Tổ quốc

Riêng với người Khmer, Đảng luôn cố gắng xây dựng khối đoàn kết Việt - Khmer, chống lại âm mưu chia rẽ thâm độc của thực dân Pháp, tạo sức mạnh dân tộc tuyệt đối để đưa cách mạng đến thành công Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, Đảng đã tổ chức vận động nông dân Khmer tham gia vào các hội như “Hội tương tế ái hữu” để cùng với người Việt đấu tranh chống địa chủ cướp ruộng đất, đòi quyền dân sinh dân chủ; Đảng cũng thành lập ra các tổ chức như

“Nông hội”, “Cứu tế đỏ”… để qua đó tạo điều kiện cho người Việt và người Khmer đoàn kết với nhau…2 Ngoài ra, Đảng đã có nhiều nỗ lực cải thiện đời sống của đồng bào Khmer về y tế và giáo dục, tuyên truyền sâu rộng trong vùng Khmer về chính sách bình đẳng, xây dựng lực lượng nòng cốt, phát triển đảng viên người Khmer…”3

Trang 32

Để thu hút các dân tộc thiểu số tin tưởng vào chính quyền cách mạng, Đảng còn tổ chức kêu gọi các đại biểu dân tộc tham gia vào công tác lãnh đạo chính quyền, cùng với Đảng thực hiện chính sách đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc trong Mặt trận Việt Minh Ngoài ra, “đối với đồng bào Khmer, bằng những việc làm cụ thể như cấp đất, cấp vốn để bà con sản xuất, thường xuyên chăm lo sức khỏe cho đồng bào, lập các hội đoàn kết, xuất bản báo chí, truyền đơn bằng tiếng Khmer, cử cán bộ đảng viên đến các sóc vùng sâu tuyên truyền chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng và Bác Hồ, tôn trọng tín ngưỡng, tập tục của đồng bào Khmer…”1

Không chỉ bằng chính sách trên giấy tờ, Đảng còn dùng những hành động thiết thực để đồng bào Khmer thấy rõ tấm lòng quan tâm và tình đoàn kết keo sơn của người Việt với người Khmer anh em Cụ thể là vào năm 1951, theo chỉ thị của Đảng, “Bộ Tư lệnh phân liên khu miền Tây quyết định mở chiến dịch Sóc Trăng II, trên địa bàn 3 tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, trọng điểm là Sóc Trăng Mục đích của chiến dịch là nhằm giành dân, giải phóng đồng bào Khmer đang bị kềm kẹp, tuyên truyền chính sách đoàn kết dân tộc và các chủ trương của cách mạng, mở rộng vùng giải phóng…”2 Kết quả chiến dịch này

“ta thu thắng lợi lớn về mặt chính trị, tuyên truyền giải thích âm mưu, hành động thâm độc của giặc Pháp, làm cho đồng bào hiểu rõ chính sách đoàn kết và chính sách nhân đạo của cách mạng do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, nêu cao tinh thần đoàn kết các dân tộc Qua đó chính sách đoàn kết đã đi vào lòng dân, đa số đồng bào Khmer cùng kề vai sát cánh với đồng bào Kinh, Hoa đánh đuổi thực dân Pháp, làm cho chính sách chia rẽ dân tộc của Pháp bị thất bại”3

Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, để kịp thời chống lại âm mưu chia rẽ dân tộc của địch, tại một số tỉnh có đông đồng bào Khmer cư trú ỡ đồng bằng sông Cửu Long, Đảng đã chủ trương tổ chức làm lễ xoá bỏ hận thù cũ giữa hai dân tộc do thực dân Pháp gây ra, nhanh chóng hàn gắn tình đoàn kết vốn có giữa người Việt và người Khmer để tạo ra sức mạnh cho giai đoạn đấu tranh mới chống đế quốc Mỹ xâm lược

Chính vì Đảng ta có những chủ trương đúng đắn, sáng suốt và kịp thời nên cách mạng đã lấy được lòng tin yêu nơi đồng bào Khmer Cuối năm 1960,

1

Đảng Cộng sản Việt Nam - Tỉnh ủy Sóc Trăng, Lịch sử đảng bộ tỉnh Sóc Trăng - tập I (1930 - 1954),

Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Sóc Trăng, 1994, tr.202.

Trang 33

chính ngụy quyền Sài Gòn đã thú nhận: “Sở dĩ xảy ra tình trạng tệ hại ngày nay,

ở trong vài tỉnh người Miên (tức người Khmer đồng bằng sông Cửu Long) đã đứng dậy chống ta Trong khi ấy thì Việt Cộng đã thấy rõ vai trò trọng yếu của người Miên trong giai đoạn hiện tại, sớm biết đặt thành trọng tâm công tác, làm việc có chủ trương, đường lối rõ rệt…”1

3 Truyền thống đấu tranh chống xâm lược của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long trước năm 1975

Để chống lại âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp, đã hình thành các liên minh khắp Nam Bộ như: liên minh Việt - Khmer kháng chiến chống Pháp, liên minh Trương Quyền - Pukumpô, liên minh Thiên Hộ Dương - Hoàng thân Achaxoa, liên minh Nguyễn Hữu Huân - Thạch Bướm,…

Năm 1862, khi nhà Nguyễn ký hàng ước bán nước, đồng ý cho Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) thì một phong trào khởi nghĩa đã bộc phát khắp lục tỉnh Người Khmer đã cùng người Việt, người Hoa, người Chăm hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Trương Quyền (1864 - 1870) gây cho Pháp nhiều thất bại nặng nề Tiếp đó, Trương Quyền đã phối hợp với nghĩa quân khmer của Pukumpô cùng chiến đấu trên vùng đất Tây Ninh Quy mô của cuộc khởi nghĩa ngày càng mở rộng, nghĩa quân Việt - Khmer đã kiểm soát được một vùng rộng lớn giữa hai con sông Vàm Cỏ Đông

và Vàm Cỏ Tây, từ Xvâyriêng (Campuchia) đến Trảng Bàng (Tây Ninh), gây cho thực dân Pháp ở 3 tỉnh miền Đông hết sức hoang mang, lo sợ

Đến 1867, thực dân Pháp đã chiếm luôn 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) thì lúc này phong trào khởi nghĩa của đồng bào người Việt và người Khmer ngày càng phát triển, “ở miệt Ba Động - Cồn Cù, Lý Rót (người Khmer) và Đề Triệu tập hợp một nghĩa quân Việt - Khmer chống Pháp,

1

Lương Duy Ủy, “Phúc trình mật về vấn đề người Việt gốc Miên ở các tỉnh Tây nam phần Việt Nam”,

dẫn theo Viện Văn hóa, Người Khmer Cửu Long, Sở Văn hóa Thông tin Cửu Long, 1987, tr 229.

Trang 34

nghĩa quân hoạt động trên một địa bàn rộng từ Ba Động, Cồn Cù đến Cầu Ngang, Tiểu Cần, Trà Cú và một số xã thuộc Càng Long, Vĩnh Liêm”1 Tuy, cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng đã tỏ rõ ý chí bất khuất của của đồng bào Việt - Khmer đối với bọn thực dân xâm lược Qua đây, thể hiện tinh thần đoàn kết của đồng bào các dân tộc (nhất là đoàn kết Việt - Khmer) ở đồng bằng sông Cửu Long trước những âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp

Trong giai đoạn đầu đánh Pháp, có hai cuộc khởi nghĩa diễn ra ở đồng bằng sông Cửu Long là khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương và Thủ Khoa Huân gắn liền với hai liên minh Thiên Hộ Dương - Hoàng thân Achaxoa, liên minh Nguyễn Hữu Huân - Thạch Bướm Các cuộc khởi nghĩa này diễn ra trên một địa bàn Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên và được sự tham gia ủng hộ của đông đảo đồng bào Khmer Qua hai cuộc khởi nghĩa này đã khẳng định tình đoàn kết, chung sức chung lòng, cùng nhau chống lại những âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp

Tiếp theo đó là phong trào đấu tranh kháng Pháp của Lê Cẩn và Nguyễn Giao, Nguyễn Xuân Phụng, Đoàn Công Bửu, Lê Tấn Kế và Trần Bình… các phong trào này đã thu hút đông đảo đồng bào Nam Bộ tham gia kháng Pháp Tuy nhiên, trong xu thế chung, các phong trào này lần lượt bị dập tắt và thất bại dưới sự đàn áp của thực dân Pháp

Bước sang thế kỷ XX, âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp càng thâm độc thêm Chúng tìm mọi cách mua chuộc, chia rẽ, gây kích động, đàn áp, bóc lột nhân dân các dân tộc đồng bằng sông Cửu Long Tiêu biểu là khởi nghĩa của Chủ Chọt ở Ninh Thạnh Lợi năm 1927, cuộc nổi dậy này làm chấn động dư luận đương thời

Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như: ngày 1/8/1930, gần 40.000 đồng bào dân tộc Việt, Khmer, Hoa ở An Trường, Càng Long (Trà Vinh) đã tổ chức mít tinh, biểu tình ủng hộ Đảng cộng sản, chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai Tiếp

đó là cuộc mít tinh của đồng bào các dân tộc Việt, Khmer, Hoa ở quận Châu Thành, Cầu Ngang, Trà Cú, Tiểu Cần, Cầu Kè,…

Năm 1931, ở Bạc Liêu, Cà Mau, nông dân Khmer đã tham gia tổ chức

“Hội tương tế ái quốc” và cùng người Việt chống lại thực dân Pháp

Năm 1937 - 1938, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông dân Khmer đã phát

1

Viện văn hóa, Người Khmer ở Cửu Long, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1987, tr 217.

Trang 35

động phong trào “vay lúa của địa chủ” với hình thức đấu tranh giảm tô, giảm tức, bỏ thuế thân… với các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu: khởi nghĩa ở Mỹ Hòa (Cầu Ngang), tháng 5/1938 với khoảng 200 đồng bào Khmer tham gia đấu tranh đòi giảm tô, giảm tức

Vai trò to lớn của đồng bào Khmer càng được chứng minh rõ rệt trong các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như khởi nghĩa Nam Kỳ 1940 Chỉ với những vũ khí thô sơ như tầm vông, mã tấu, cù nèo mà nông dân người Việt và người Khmer

đã vùng dậy dưới cờ đỏ sao vàng để đấu tranh, ghi nên trang sử bất diệt

Để có thể chống lại thực dân Pháp, nhiều căn cứ kháng chiến và vùng giải phóng do đồng bào người Việt và người Khmer được thành lập ngay tại những nơi có đồng bào Khmer sinh sống như: Trà Cú (Trà Vinh); Mỹ Xuyên; Long Phú; Vĩnh Châu; U Minh; Vĩnh Lợi; Ngọc Hiển; Trần Văn Thời (Bạc Liêu)

Từ sau cách mạng tháng Tám 1945, Đảng bộ Tây Nam Bộ chủ trương thi hành các chính sách như bỏ ba thứ thuế của các chế độ cũ, phát động phong trào chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ đặc biệt là đối với con em người đồng bào Khmer ở vùng sâu

Tại Sóc Trăng thành lập tổ chức gọi là “Đoàn thanh niên giải phóng người Khmer” do đồng chí Trịnh Thới Cang lãnh đạo Chính tổ chức này đã có tác động rất lớn trong việc thắt chặt tình đoàn kết giữa hai dân tộc người Việt và người Khmer Tổ chức này đã thu hút được tất cả thanh niên tham gia xây dựng nhằm bảo vệ chính quyền cách mạng

Tại Trà Vinh, Đảng thông qua uy tín của các sư cả và sư sãi Khmer để làm công tác Khmer vận, tuyên truyền, vận động đồng bào Khmer chống lại âm mưu chia rẽ của địch, tích cực ủng hộ kháng chiến

Tại vùng Bảy Núi, Châu Đốc, trung đoàn 121 rút về đây hoạt động đã vận động được số lớn đồng bào Khmer vào hội Liên Việt và các tổ chức ủng hộ kháng chiến Đồng bào cùng dân quân du kích xây dựng xã ấp chiến đấu, bao vây đồn bốt địch

Tại Rạch Giá (nay là tỉnh Kiên Giang), còn thành lập ban vận động người Miên tỉnh Rạch Giá do đồng chí đảng viên người Khmer là Mai Văn Dung lãnh đạo

Năm 1950, Quân khu 9 mở chiến dịch tổng phản công, gọi tắt là Tofaco Hoạt động chính của chiến dịch là xây dựng những đơn vị võ trang Issarak gồm

Trang 36

những chiến sĩ cách mạng Khmer yêu nước, kết hợp bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương luồn sâu vào các sóc võ trang tự trị của địch để tuyên truyền, vận động, giáo dục, giải thích cho đồng bào Khmer thấy rõ âm mưu và hành động thâm độc của thực dân Pháp Kết quả là ta đã vận động được một số đồng bào Khmer theo địch bỏ súng trở về với cách mạng

Bên cạnh đó, đồng bào Khmer còn thường xuyên kết hợp với đồng bào người Việt để chặn đứng các cuộc săn lùng thanh niên và bắt phu của địch, như

vụ giải thoát cho hơn 300 dân phu ở Trà Vinh Ngoài ra, đồng bào Khmer còn tự nguyện phân công nhau đi dò đường, canh gác, bảo vệ các hoạt động của chính quyền cách mạng và đào các hầm bí mật để nuôi dấu chiến sỹ cách mạng

Kết quả của cuộc kháng chiến chống Pháp đã khẳng định tinh thần đoàn kết của cộng đồng các dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, khẳng định vai trò của người Khmer trong kháng chiến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9/1960) đánh giá: “Ba mươi năm nay, nhất là trong thời kỳ đại chiến thế giới thứ hai và trong chín năm kháng chiến, dưới sự chỉ đạo của Đảng ta, các dân tộc thiểu số sát cánh cùng người Kinh đã anh dũng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc để giải phóng đất nước và hiện nay đang ra sức phấn đấu để xây dựng Xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà Các dân tộc thiểu số rõ ràng đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”1 Như vậy, đây cũng chính là cơ sở quan trọng để đồng bào các dân tộc vùng đồng bằng sông Cửu Long dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục phong trào đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ và các thế lực phản động

c Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)

Chín năm kháng chiến chống Pháp đã để lại những kinh nghiệm, bài học cho đồng bào các dân tộc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long vững vàng chống lại những âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ lâu dài và ác liệt “người Khmer đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh và chiến thắng chung của cả nước

So với thời Pháp, Mỹ - ngụy thực hiện nhiều âm mưu thâm hiểm với người Khmer”2

1

Văn kiện của Đảng về chính sách dân tộc, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1965, tr 132.

2

Ngô Đức Thịnh, “Người Khmer đồng bằng sông Cửu Long là thành viên của cộng đồng các dân tộc

Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu Lịch sử, số 3/1984, tr 30.

Trang 37

Ngay từ đầu, âm mưu của chúng là cố tránh việc coi người Khmer là dân tộc thiểu số, duy trì tình trạng lạc hậu, phân biệt đối xử, đàn áp đẫm máu những hành động yêu nước của đồng bào Khmer Chúng tiến hành lôi kéo, lừa bịp người Khmer thông qua lợi dụng vấn đề tôn giáo và dân tộc

Ngay sau hiệp định Genènve 1954, đồng bào Khmer cũng đã tham gia nhiều cuộc đấu tranh đòi thi hành hiệp định Genènve Nhiều kiến nghị của đồng bào gửi lên Ủy hội quốc tế ở Sài Gòn tố cáo ngụy quyền quy phạm hiệp định, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, chống địch khủng bố, trả thù

Trong hai năm 1955 - 1956, địch đã ban hành các chỉ dụ số 2, số 7, 57 nhằm vô hiệu hóa chính sách cải cách ruộng đất của chính quyền Việt Minh trước đây, khiến đồng bào Khmer trở lại kiếp sống nghèo khổ như trước Đồng thời, chúng còn cấu kết với giai cấp địa chủ đàn áp bóc lột nông dân Việt - Khmer Chính vì vậy, phong trào đấu tranh của nông dân cũng nổ ra gay gắt, quyết liệt để chống lại thực dân pháp giành lại quyền lợi ruộng đất chính mình

Để thực hiện được âm mưu, thủ đoạn của mình, Mỹ - ngụy đã không sợ hao tốn tiền của và không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào để tiến hành mua chuộc, lôi kéo đồng bào Khmer đứng lên chống phá cách mạng Trong hai năm, 1958-1960

“Mỹ-ngụy đã ủng hộ việc tổ chức các giáo phái mới là Theraveda (do Sơn Thái Nguyên, nghị sỹ quốc hội ngụy cầm đầu), và Khemaranikay (do Keo Seo Mây tức Thạch Ngoa, cùng một số sư sãi dân biểu ngụy người Khmer thành lập) Chúng cố tình khoét sâu sự khác biệt và gây mâu thuẫn giữa các giáo phái nhằm làm phân hóa khối đại đoàn kết dân tộc của đồng bào tín đồ Khmer”1

Trong phong trào Đồng Khởi, đồng bào Khmer đã nổi dậy đấu tranh Ngày 14/9/1960, hàng nghìn đồng bào và sư sãi Khmer ở Trà Vinh đấu tranh yêu cầu địch phải tôn trọng chùa chiền, thả những nhà sư bị bắt, không được bắt

sư sãi đi lính Ngày 20/9/1960, đồng bào Khmer từ các xã lân cận kéo về thị xã Trà Vinh họp mít tinh chống lại âm mưu của địch Kết quả của phong trào Đồng Khởi ở Vĩnh Long và Trà Vinh đã giải phóng hoàn toàn 19 xã, 42 xã giải phong

cơ bản, gồm 450.000 dân Ngày 20/12/1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời, đánh dấu cao trào cách mạng mới Đầu năm 1962, mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh được thành lập, trong đó có đại đức Sơn Vong, Acha Lui Sarat,

1

Viện văn hóa, Người Khmer ở Cửu Long, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1987, tr 329.

Trang 38

sư cả Thạch Sơn… là những người Khmer tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc trong tỉnh

Từ năm 1961, cách mạng miền Nam đã chuyển sang thế tiến công, đẩy địch vào thời kỳ khủng hoảng, buộc chúng tiến hành “chiến tranh đặc biệt” Những cuộc đấu tranh của đồng bào Khmer chống bắt lính sư sãi, thanh niên, phản đối sự cướp bóc, bắn phá, đòi địch bồi thường thiệt hại đã dấy lên lên tục Tiêu biểu là đoàn biểu tình của đồng bào và sư sãi Khmer thuộc 6 huyện tập trung về thị xã Trà Vinh đấu tranh, cuộc biểu tình kéo dài 3 ngày, thu hút 56.000 người tham gia

Cũng từ năm 1961, bất cứ nơi nào trên vùng đất Nam Bộ mà có người Khmer sinh sống thì Mỹ - ngụy cho hình thành các tổ chức, đảng phái chính trị phản động như: “tình báo CIA của Mỹ đã tổ chức nhóm Khmer Srei (Khmer tự do) hoạt động gián điệp khắp đồng bằng sông Cửu Long nhằm chống phá cách mạng, với chiêu bài khu vực tự trị Khmer ở miền Tây Nam Bộ Ngoài ra, còn có các tổ chức phản động khác như Đảng Khăn Trắng, Mặt trận đấu tranh cho vùng Miên hạ (KKK) hoạt động chống phong trào kháng chiến chống Mỹ dưới sự trợ giúp và hợp tác của những lực lượng đặc biệt của Mỹ”1

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đã có nhiều đội du kích người Khmer được thành lập như: Đội du kích xã Long Vĩnh, Ngũ Sơn, Long Sơn, Nhị Trường, Hiệp Hòa, Châu Điền, Long Phú (Cầu Kè), Long Hiệp (Trà Cú), … các đội du kích này cùng phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương để bẻ gãy các cuộc càng quét của Mỹ - ngụy

Tính đến đầu năm 1965, ở tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh về cơ bản đã phá được hầu hết các ấp chiến lược của địch, giải phóng một vùng rộng lớn và đánh bại “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ, buộc chúng chuyển sang “chiến tranh cục bộ”

Để chống lại âm mưu, thủ đoạn của Mỹ trong chiến tranh cục bộ, Trung ương Đảng đã quán triệt chủ trương chiến tranh du kích và đấu tranh chính trị trên phạm vi rộng khắp để thu hút đồng bào Khmer cùng tham gia kháng chiến Tiêu biểu là 7/12/1967, tại Trà Cú, gần 40.000 sư sãi, đồng bào Khmer đứng lên biểu tình chống chính quyền tay sai và đế quốc Mỹ Tiếp đó, trong chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, đồng bào Khmer cũng đã cùng

1

Viện văn hóa, Người Khmer ở Cửu Long, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1987, tr 232.

Trang 39

tham gia kháng chiến, góp nhiều thành tích trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy, gây cho địch những tổn thất nặng nề

Năm 1969, ngay sau khi nghe tin Bác Hồ mất, tuy sống gần nơi đồn bốt của địch, đồng bào Khmer vô cùng đau đớn đã cùng nhau lập đền thờ Bác một cách bí mật trong một khu vườn để mọi người đến tưởng niệm Bác Khi sự việc

bị lộ, địch đã đem hàng tiểu đoàn lính, dùng pháo và phi cơ tàn phá đền thờ nhiều lần Đồng bào đã chống trả quyết liệt, xây lại đến thờ nhiều lần, quyết tâm bảo vệ ngôi đền cho đến ngày giải phóng Trên các bờ tre, cánh đồng, bờ mương của xã Long Đức biết bao quần chúng cách mạng người Khmer đã đổ máu để giữ ngôi đền thờ Bác Hồ

Từ năm 1970, Mỹ - ngụy cho tiến hành những thủ đoạn mới nhằm mua chuộc, mị dân, thi hành chính sách đàn áp, khủng bố đồng bào và sư sãi Khmer Tuy nhiên chúng cũng không thể ngăn chặn, khống chế những hoạt động yêu nước, những cuộc đấu tranh của đồng bào sư sãi Khmer

Bên cạnh đấu tranh vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị, tôn giáo của đồng bào dân tộc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long cũng diễn ra rộng khắp và liên tục, nhất là phong trào đấu tranh đòi độc lập, hòa bình và thống nhất đất nước Tiêu biểu như ở Trà Cú có cuộc đấu tranh của 48.000 người với băng, cờ, khẩu hiệu, truyền đơn, máy phát thanh với kiến nghị chống bắt lính, gom dân, chống khủng bố

Vào mùa khô năm 1974 - 1975, ở Trà Vinh có khoảng 63.000 đồng bào Việt - Khmer cùng gia đình binh sĩ ngụy tham gia vây đồn bốt địch, đồng bào,

sư sãi Khmer dùng gậy gộc, trống mõ truy lùng tàn quân để bắt tù binh và thu giữ vũ khí Đồng thời, đồng bào Khmer còn đưa ra yêu sách chống bắt lính dồn quân, chống các sắc thuế ngày càng bóc lột của địch, yêu cầu địch bãi bỏ dạy chữ Pali trong chùa Khmer… Kết quả của chiến dịch mùa khô năm 1974 - 1975

đã giải phóng cơ bản những huyện đông dân Khmer cư trú như Cầu Ngang, Duyên Hải, Trà cú, Tiểu Cần, Cầu Kè, Châu Thành…

Như vậy, Những thắng lợi trên mặt trận chính trị, vũ trang và tôn giáo đã góp phần khẳng định vai trò của của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long Đồng thời, còn khẳng định những công lao, đóng góp của đồng bào dân tộc Khmer trong quá trình đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn của đế quốc

Mỹ và bọn tay sai Qua đây, chúng ta nhận thấy được lòng nhiệt huyết cách

Trang 40

mạng, không quản khó khăn, nguy hiểm của đồng bào Khmer trong việc đấu tranh chống lại các thế lực phản động

Có thể nói, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long đã “bất chấp những âm mưu, thủ đoạn thâm độc, chia rẽ của kẻ thù, đồng bào Khmer dưới sự lãnh đạo của Đảng, vẫn kiên cường đi theo theo cùng với các dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ

1954 - 1975 thắng lợi Trong các lực lượng cách mạng ấy, không chỉ có những người nông dân, mà còn cả tầng lớp sư sãi, trí thức dân tộc Cuộc chiến tranh lâu dài chống xâm lược và các thế lực phản động, trong đó có cả người Khmer, dần dần đồng bào giác ngộ quyền lợi đất nước, dân tộc và giai cấp Đó là nhân tố chính trị - xã hội tạo nên sự gắn bó mật thiết giữa người Khmer đồng bằng sông Cửu Long với các lợi ích cơ bản của các dân tộc Việt Nam, nảy nở và hun đúc trong họ một ý thức tổ quốc Việt Nam, nhân tố chính trị, xã hội này, cùng với mối quan hệ tiếp xúc, giao lưu mật thiết về kinh tế, xã hội, văn hóa giữa người Khmer với các dân tộc khác, đã có tác động quyết định xu thế phát triển tộc người và ý thức dân tộc và quốc gia của họ”1

Tất cả những đóng góp của đồng bào Khmer đã góp phần vào thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 Như vậy, cuộc kháng chiến chống Mỹ đã giành thắng lợi và đây cũng là thắng lợi của truyền thống đoàn kết của các dân tộc trong đó tiêu biểu là đồng bào Việt - Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long Thắng lợi này đã đập tan âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc

và các thế lực phản động muốn dựa vào vấn đề dân tộc, tôn giáo để gây mất đoàn kết, chia rẽ dân tộc nhằm chống phá cách mạng Việt Nam

Trong quá trình đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc cũ và mới, truyền thống đoàn kết giữa đồng bào Việt - Khmer càng được thắt chặt hơn, tinh thần chiến đấu của họ càng nhiệt huyết hơn Ngoài ra, thắng lợi này còn khẳng định chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước của ta là phù hợp và đúng đắn, khẳng định sự quan tâm của các cấp chính quyền đối với đồng bào Khmer và từ đó đồng bào Khmer có thêm lòng tin vào chính quyền cách mạng, họ yên tâm lao động, sản xuất để từng bước nâng cao đời sống văn hóa tinh thần

II NGƯỜI KHMER ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY

1

Ngô Đức Thịnh, “Người Khmer đồng bằng sông Cửu Long là thành viên của cộng đồng các dân tộc

Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu Lịch sử, số 3/1984, tr 31.

Ngày đăng: 30/03/2021, 00:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w