Trong các giai đoạn ấy, do nhu cầu của thực tiễn cần phải cắt nghĩa, giải đáp những vấn đề mới nảy sinh nên thường xuất hiện các trào lưu tư tưởng, từ đó đã để lại những bài học kinh ngh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP
ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TƯ TƯỞNG VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX QUA MỘT SỐ
NHÂN VẬT TIÊU BIỂU
Chủ nhiệm đề tài: PGS TS VŨ VĂN GẦU
Thư ký đề tài: ThS PHẠM ĐÀO THỊNH
Các thành viên tham gia đề tài:
PGS TS TRỊNH DOÃN CHÍNH
PGS TS ĐINH NGỌC THẠCH
TS NGUYỄN ANH QUỐC
CN CAO XUÂN LONG
TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 7 – 2006
Trang 2MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU .2
Chương 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ GÓP PHẦN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
1.1 BỐI CẢNH QUỐC TẾ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TƯ TƯởNG VIỆT NAM CUỐI THẾ
KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 9 1.2 BỐI CẢNH TRONG NƯỚC VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 20 1.3 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 29
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA
TƯ TƯỞNG VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN THẾ KỶ XX
3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ
XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 148 3.2 Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX ĐỐI VỚI NƯỚC
TA HIỆN NAY 154
KẾT LUẬN 167 TÀI LIỆU THAM KHẢO .170
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên các mặt của đời sống xã hội Kinh tế phát triển, vượt qua thời kỳ suy thoái và đã đạt được tốc độ phát triển nhanh Đời sống nhân dân được cải thiện, quốc phòng, an ninh được giữ vững, tình hình chính trị ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng Đạt được những thành tựu đó, một trong những yếu tố góp phần quan trọng chính là nhờ đổi mới tư duy Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục công tác tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận phục vụ công cuộc hội nhập quốc tế, phát triển đất nước Do đó, vấn đề nhìn nhận, đánh giá đúng những nội dung, đặc điểm tư tưởng của các nhân vật trong các giai đoạn lịch sử Việt Nam nhằm nhận thức đúng và rút ra bài học lịch sử cho công cuộc đổi mới hiện nay là việc làm cần thiết
Lịch sử nước ta có nhiều giai đoạn chuyển biến về đời sống xã hội Trong các giai đoạn ấy, do nhu cầu của thực tiễn cần phải cắt nghĩa, giải đáp những vấn
đề mới nảy sinh nên thường xuất hiện các trào lưu tư tưởng, từ đó đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu trong lịch sử đấu tranh gìn giữ, bảo tồn và phát triển của dân tộc ta Trong lịch sử Việt Nam, có thể khái quát những giai đoạn chuyển biến xã hội lớn, thông qua các cuộc cải cách, đổi mới nhằm thúc đẩy xã hội phát triển, như các cuộc cải cách của: Khúc Hạo (907), Hồ Quý Ly (1375 – 1407), Lê Thánh Tông (1460 – 1497), Quang Trung (1789 – 1802), Minh Mạng (1820 – 1840), phong trào cách mạng dân chủ tư sản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, công cuộc đổi mới hiện nay
Trong các giai đoạn lịch sử đó, giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là
một giai đoạn đặc biệt, nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, biến nước ta từ một
nước phong kiến thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến Chế độ phong kiến
đi vào con đường suy tàn, thực dân Pháp đặt ách đô hộ trên phạm vi nước ta kể
từ hiệp ước Patơnốt (1884) ! Nước ta từ một nước phong kiến, nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, bắt đầu chuyển sang nền kinh tế phát triển theo tư bản chủ
Trang 4nghĩa Sự chuyển biến này do tác động từ bên ngoài vào chứ không phải do mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã chín muồi đặt ra yêu cầu phát triển Hay nói cách khác không phải do nội tại của nước ta quy định Giáo
sư Trần Văn Giàu nhận định: “Biết rằng thuở ấy bản thân xã hội Việt Nam chưa cấp bách đòi hỏi phải phát triển tư bản chủ nghĩa, nhưng công cuộc chống ngoại xâm lại cấp bách đòi hỏi phải duy tân, tự cường, bằng không, bằng trễ thì mất nước” [22, tr.54] Trên thế giới, chủ nghĩa thực dân đang bành trướng, mở ra các cuộc xâm lược, từ đó tạo nên những ảnh hưởng lớn đến các dân tộc Mặt khác, phong trào cách mạng vô sản đang ngày càng phát triển nhanh chóng, cuộc cách mạng Tháng Mười Nga (1917) mở ra một thời đại mới Trong bối cảnh ấy, lịch
sử dân tộc đặt ra các câu hỏi lớn: Dân tộc ta lựa chọn con đường nào và phải làm
gì để vừa tiếp thu cái mới, vừa loại bỏ cái lạc hậu, bảo thủ mà vẫn giữ vững độc lập dân tộc? Trước yêu cầu cấp thiết của lịch sử, các nhà tư tưởng chính trị Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, … đã mạnh dạn tìm tòi, khám phá, thử nghiệm đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc theo khuynh hướng mới
- dân chủ tư sản
Hiện nay, đất nước ta đã và đang bước vào một thời kỳ đổi mới mang tính bước ngoặt lịch sử sâu sắc, trong bối cảnh thời đại có nhiều sự biến đổi quan trọng: chủ nghĩa xã hội vừa trải qua một cuộc khủng hoảng, bắt đầu đạt những thành tựu mới; chủ nghĩa tư bản có những bước điều chỉnh nhằm thích nghi với
sự phát triển của thời đại; toàn cầu hoá kinh tế và vấn đề hội nhập quốc tế; thế giới tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định …
Như vậy, hai giai đoạn lịch sử xét về mặt nào đó có những đặc điểm tương
tự, đó là đều nằm trong bước chuyển của lịch sử và thực tiễn sinh động của bước chuyển ấy đang nảy sinh những vấn đề mới yêu cầu lý luận phải cắt nghĩa và giải đáp
Sự hình thành và phát triển của tư tưởng của mỗi thời đại không chỉ có nguồn gốc từ tồn tại xã hội, mà còn kế thừa những tư tưởng trước đó nhằm tránh được những sai lầm quá khứ, bổ sung và phát triển cho hiện tại và tương lai, như nhà triết học cổ điển Đức, Kant nói: Nhìn về cội nguồn chính là hướng tới tương
Trang 5lai [74, tr.26] Cho nên, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, việc chúng ta nhận thức đúng đắn tư tưởng của các nhân vật lịch sử nhằm bổ sung cho kho tàng tư tưởng Việt Nam và phải kế thừa những bài học kinh nghiệm lịch sử
để vận dụng thành công vào công cuộc đổi mới hôm nay là rất cần thiết Do vậy, nghiên cứu quá trình chuyển biến tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX và rút ra những bài học kinh nghiệm lịch sử có ý nghĩa thiết thực và là điều cần thiết đối với công tác giảng dạy, cũng như phục vụ cho công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước hiện nay
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Giai đoạn lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, làm chuyển biến chế độ xã hội, dân tộc ta mất nước, nên thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học nhằm nghiên cứu xã hội Việt Nam trên nhiều lĩnh vực: tư tưởng, văn hoá, lịch sử, v.v… Trong lĩnh vực tư tưởng cũng đã dành được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, với nhiều tranh luận dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung có một số hướng chính:
Hướng thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu bước chuyển tư tưởng thời
kỳ này trong tổng thể giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Đó là tác
phẩm “Đại cương lịch sử Việt Nam”, (Toàn tập, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội,
2003), của GS Trương Hữu Quýnh, GS Đinh Xuân Lâm, PGS Lê Mậu Hãn (Cb) Nghiên cứu về sự phát triển tư tưởng Việt Nam giai đoạn này còn có công trình
“Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng tám” ( 3 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996) của tác giả Trần Văn Giàu Bên cạnh đó, còn có công trình nghiên cứu “Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005) của tập thể tác giả, do Trương Văn Chung, Doãn Chính đồng chủ
biên
Hướng thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu từng nhà tư tưởng, từng trào lưu tư tưởng, có rất nhiều công trình như: “Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo” (Nhà xuất bản, Tp Hồ Chí Minh, 1988) của Trương Bá Cần; “Nguyễn
Trang 6Trường Tộ với vấn đề canh tân đất nước” (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2000) của Viện khoa học xã hội, Trung tâm nghiên cứu Hán nôm; “Con người và tác phẩm Đặng Huy Trứ”, (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1990) của Nhóm Trà Lĩnh; “Phan Bội Châu về tác giả và tác phẩm” (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2001) của Chương Thâu và Trần Ngọc Vương; “Nhà yêu nước và Nhà văn Phan Bội Châu” (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970) của Viện Văn học biên soạn; “Giảng luận về Phan Bội Châu” (Nhà xuất bản Tân Việt, Sài gòn, 1959) của Lam Giang; “Nghiên cứu Phan Bội Châu” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004), “Phan Bội Châu nhà yêu nước nhà văn hoá lớn”,
“Giai thoại Phan Bội Châu (Nhà xuất bản Nghệ An – Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2005) của Chương Thâu; “Phan Châu Trinh, thân thế và sự nghiệp”( Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1992) của Huỳnh Lý; “Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh” (Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, 1996) của
Đỗ Thị Hoà Hới; “Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới”, quyển 1, tập 1 (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2001), “Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới”, tập
2, (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003) của Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh), “Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm” (Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh, 1997) của Nguyễn Quang Thắng; “Nguyễn An Ninh dấu ấn để lại” (Nhà xuất bản Văn học, 1996) của Lê Minh Quốc; “Nguyễn An Ninh” (Nhà xuất bản Trẻ, 1996) của
Nguyễn An Tịnh, … Nhìn chung các nhân vật tư tưởng như Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, … đã được các nhà nghiên cứu đề cập dưới nhiều góc độ: cuộc đời, tư tưởng, giá trị lịch sử của tư tưởng Về cơ bản các nhà nghiên cứu tập trung hệ thống hoá tư tưởng, đi sâu phân tích những quan điểm tiến bộ, tinh thần sáng tạo đi tìm hồn của nước, nêu lên những hạn chế, những bài học lịch sử cho dân tộc ta
Hướng thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu đánh giá từng mặt, từng nội
dung và giá trị lịch sử của các nhà tư tưởng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Tác
giả Lê Thị Lan với các bài, “Quan niệm về dân chủ của Đặng Huy Trứ - một nét mới trong tư tưởng chính trị - xã hội của Việt Nam cuối thế kỷ XIX” (Số 2 – 1994), “Tư tưởng chính trị của Nguyễn Trường Tộ lạc hậu hay đổi mới” (Số 1 –
Trang 72002); tác giả Đỗ Hoà Hới với các bài: “Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh với tư tưởng tự do – bình đẳng – bác ái của cách mạng Pháp 1789” (Số 4 - 1989), “Tư tưởng canh tân sáng tạo đầu thế kỷ XX của chí sỹ Phan Châu Trinh” (Số 3 - 2000), “Phan Châu Trinh và sự thức tỉnh dân tộc đầu thế kỷ XX” (Số 4 - 1992); tác giả Chương Thâu với bài: “Tinh thần dân tộc và dân chủ của Phan Châu Trinh qua Tỉnh quốc hồn ca” (Số 11 – 2002); tác giả Lê Sỹ Thắng với các bài: “Nguyễn An Ninh trong tiến trình tư tưởng Việt Nam” (Số 1 - 1991),
“Ảnh hưởng của “Tân thư” trong tư tưởng của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh” (Số 2 –1997); tác giả Nguyễn Văn Hoà với bài: “ Tư tưởng Phan Bội Châu về vai trò của tri thức trong đời sống con người” (Số 4 - 1996) … Các
công trình trên đã khai thác từng mặt, từng nội dung tư tưởng trên các phương diện: văn hoá, triết học, chính trị, đạo đức, … , đồng thời nêu lên những giá trị bài học lịch sử đối với dân tộc ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Như vậy, việc nghiên cứu tư tưởng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được rất nhiều tác giả quan tâm đến những nội dung, đặc điểm của cả quá trình, của các trào lưu và quan điểm, tư tưởng các nhà tư tưởng, nhưng chưa có công trình
mang tính chuyên biệt tập trung vào giải quyết quá trình chuyển biến tư tưởng thời kỳ này
Trong quá trình nghiên cứu, các tác giả đề tài đã kế thừa những công trình
và những tài liệu trên của các nhà nghiên cứu để cố gắng tập trung làm rõ những tiền đề, nội dung và những đặc điểm của quá trình chuyển biến tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Đồng thời, đề tài cũng sử dụng và tham khảo những tài liệu trong Hội thảo về bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX, luận văn Thạc sỹ Triết học “Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” của Phạm Đào Thịnh,
Văn Nam để hoàn thành đề tài
Trên cơ sở đó, các tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Tư tưởng Việt Nam cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua một số nhân vật tiêu biểu” làm đề tài nghiên cứu phục
vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy
Trang 83 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích:
Mục đích của đề tài là làm rõ nội dung và đặc điểm quá trình chuyển biến tư tưởng Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX (1958) đến đầu thế kỷ XX (trước 1930)
3.2 Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài cần thực hiện bao gồm:
- Một là, tìm hiểu những tiền đề góp phần hình thành tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
- Hai là, trình bày nội dung của tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX thông qua các nhà tư tưởng - cách mạng tiêu biểu Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh
- Ba là, từ những nội dung đó rút ra các đặc điểm của tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
- Bốn là, thông qua những nội dung và đặc điểm của bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX rút ra được bài học và ý nghĩa lịch sử đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
3.3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
Đề tài nghiên cứu tư tưởng Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX (1858) đầu thế kỷ XX (trước 1930), qua tư tưởng của các nhà cách mạng tiêu biểu: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Ái Quốc Tư tưởng giai đoạn này thể hiện ở nhiều phương diện: triết học, chính trị, đạo đức, pháp quyền, … nhưng nổi bật là tư tưởng chính trị, cho nên đề tài tập trung giải quyết ở phương diện tư tưởng chính trị và những quan điểm tư tưởng có liên quan
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện những yêu cầu trên, đề tài dựa vào thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 9Đồng thời trong quá trình nghiên cứu và trình bày đề tài, các tác giả còn sử dụng tổng hợp các phương pháp như: sử học, hệ thống cấu trúc, lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch
5 Cái mới của đề tài và ý nghĩa khoa học của đề tài
Cái mới của đề tài là hệ thống, khái quát hóa những tư tưởng cơ bản, đặc biệt nhấn mạnh tư tưởng chính trị của các nhân vật tiêu biểu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở nước ta Đề tài còn rút ra những đặc điểm của tư tưởng giai đoạn này và đưa ra những bài học kinh nghiệm lịch sử
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy và nghiên cứu về Lịch sử tư tưởng Việt Nam
6 Cấu trúc cơ bản của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương, 7 tiết
Chương 1 Những tiền đề góp phần hình thành tư tưởng Việt Nam cuối thế
Trang 10Chương 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ GÓP PHẦN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VIỆT NAM CUỐI
THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
Tư tưởng của mỗi giai đoạn lịch sử bao giờ cũng xuất phát từ những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, theo C.Mác: “Không phải ý thức con người quyết định tồn tại của họ, trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”[49, tr.15] Đồng thời, tư tưởng, ý thức của con người có tính độc lập tương đối, nên trong quá trình phát triển, nó còn kế thừa các tư tưởng đã xuất hiện trước đó Nghiên cứu tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chúng ta phải tìm hiểu những tiền đề hình thành của nó
1.1 BỐI CẢNH QUỐC TẾ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TƯ TƯỞNG VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
Lịch sử thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có những biến đổi hết sức
to lớn Chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, chủ nghĩa thực dân cũ chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc Các cuộc xâm lược của thực dân đã tác động rất lớn đến độc lập dân tộc của các nước trên thế giới, đặc biệt là phương Đông Nhằm chống lại sự bành trướng xâm lược của chủ nghĩa thực dân, các nước phương Đông, tiêu biểu là Nhật Bản, Trung Quốc đã có những cuộc canh tân làm chuyển biến tình hình xã hội Bên cạnh đó, vào đầu thế kỷ XX, phong trào cách mạng vô sản, đặc biệt là cuộc cách mạng vô sản Nga cùng với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước Đông Nam Á đã tác động rất lớn đến tư tưởng Việt Nam
Sự bành trướng của chủ nghĩa đế quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã
làm cho tình hình thế giới biến đổi rất lớn trên tất cả các mặt của đời sống xã hội; đồng thời tác động mạnh mẽ đời sống xã hội Việt Nam
Trang 11Về kinh tế, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra lực lượng sản xuất lớn, làm cho diện mạo của đời sống xã hội thay đổi Trong quá trình phát triển kinh tế của chủ nghĩa tư bản do sự phát triển không đồng đều nên dẫn đến các cuộc khủng hoảng Bước sang đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1900 – 1903, dẫn đến tổng khủng hoảng và cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất vào những năm 1914 đến 1918 Theo, V.I Lênin, tính chất cuộc chiến tranh là chiến tranh đế quốc chủ nghĩa nhằm mục đích cướp bóc các nước khác, bóp nghẹt các dân tộc nhược tiểu, thống trị thế giới về mặt tài chính, chia
và chia lại thuộc địa [41, tr.18] Đồng thời, nhằm mở rộng thị trường, các nước
tư bản đã hướng đến các dân tộc phương Đông xâm lược Đến cuối thế kỷ XIX, các nước đế quốc phương Tây như: Pháp, Anh, Mỹ, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha,
Bồ Đào Nha, đã tiến hành các cuộc xâm chiếm thị trường ở châu Á như Ấn Độ, Inđônixia, Mã Lai, Miến Điện, Nhật Bản, Trung Quốc, … Sự mở rộng địa bàn xâm lược của các nước tư bản phương Tây đã làm cho xã hội các nước phương Đông có những biến đổi nhất định
Những năm của thập niên sáu mươi thế kỷ XIX, các nước đế quốc Mỹ, Anh, Pháp đã đặt chân sang Nhật Bản đòi chính phủ nước này phải mở cửa, trước hết là để thông thương và sau đó nhằm áp đặt sự phụ thuộc về chính trị Tuy nhiên, đến 1868, khi Thiên hoàng Minh Trị lên ngôi thì Nhật Bản đã sớm nhận thức ra được vấn đề canh tân đất nước và phát triển theo con đường chủ nghĩa tư bản Có thể nói, nhờ sớm thực hiện canh tân đất nước mà Nhật Bản đã sớm ra khỏi khủng hoảng về đường lối chính trị, thoát ra khỏi sự đe doạ về độc lập, chủ quyền dân tộc
Trung Quốc vào thế kỷ XIX, mở đầu bằng cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất vào những năm 1840, thực dân Anh đã mở rộng xâm lược Trung Quốc bằng sức mạnh quân sự Sau đó, lần lượt các đế quốc Mỹ rồi đến Pháp, Nhật Bản, … Trung Quốc trở thành miếng mồi ngon của các nước đế quốc xâu xé Việt Nam, Lào, Cămpuchia cũng như các nước khác ở Đông Nam Á đều bị chủ nghĩa đế quốc nhòm ngó Đối với Việt Nam, năm 1958 thực dân Pháp nổ súng tấn công tiến hành cuộc xâm lược, dân tộc ta đứng trước những thử thách
Trang 12chưa từng có trong lịch sử Chủ nghĩa đế quốc đã đặt ách thống trị lên dân tộc ta, chế độ phong kiến thì bạc nhược, đi vào con đường suy tàn, bất lực trước nhiệm
vụ của lịch sử
Như vậy, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến một hệ quả là sự xuất hiện chủ nghĩa thực dân trên phạm vi thế giới Chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân đã làm cho các dân tộc, các quốc gia bị xâm lược đứng trước những vấn đề hết sức mới mẻ Đặc biệt là sự tác động rất lớn đến tư tưởng nói chung và hệ tư tưởng nói riêng Các dân tộc phương Đông về cơ bản là các quốc gia phong kiến độc lập, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Đến khi, xuất hiện nguy cơ thực dân xâm lược đã đặt ra nhiều vấn đề buộc các nhà tư tưởng phải giải thích những hiện tượng lịch sử mới nảy sinh Những quan điểm tư tưởng chính trị bảo thủ không còn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và tình hình thực tế của các nước phương Đông Hệ tư tưởng cũ thì lung lay, không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử, giai cấp cầm quyền thì bế tắc về con đường cách mạng của dân tộc Trước tình hình đó, các dân tộc xuất hiện một nhu cầu cấp bách là cần có một hệ tư tưởng mới, phù hợp, đáp ứng yêu cầu của cách mạng
Về mặt tư tưởng, vấn đề mà các nhà tư tưởng quan tâm chính là những quan điểm chính trị nhằm bảo vệ độc lập dân tộc, làm thế nào để bảo vệ được chủ quyền dân tộc không bị xâm phạm? Vì vậy, ở Việt Nam, đặc biệt là khi thực dân Pháp xâm lược đã xuất hiện sự thay đổi rất lớn về tư tưởng nói chung và tư tưởng chính trị nói riêng Cho nên, có thể nói sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây đã góp phần rất lớn cho việc phát triển, chuyển biến tư tưởng ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Cùng với bước chân xâm lược của các nước đế quốc phương Tây, nền văn minh phương Tây cũng đã tràn ngập mạnh mẽ vào các quốc gia phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng Nền văn minh phương Tây tác động vào Việt
Nam dưới nhiều góc độ, phương diện như khoa học, kỹ thuật, tư tưởng tiến bộ,
… Nhưng vấn đề quan trọng nhất tác động đến tư tưởng Việt Nam là các trào lưu
tư tưởng của phong trào Khai sáng Pháp thế kỷ XVII, XVIII, tiêu biểu là các nhà
tư tưởng Vônte (Voltaire, 1694 –1778), Môngtexkiơ (Montesquieu, 1689 – 1755)
Trang 13, Rútxô (Rousseau, 1712 – 1778) Tư tưởng của Vônte được thể hiện trong tác phẩm: Những bức thư triết học (1734) Trong tư tưởng Vônte nổi bật là tư tưởng chống lại nhà nước quân quyền, nhà thờ và giáo hội, ông đòi quyền bình đẳng, quyền được tham gia vào công việc nhà nước của dân chúng Những quan điểm dân chủ sơ khai của ông trở thành mầm mống cho phong trào Khai sáng phát triển, đồng thời là ngọn cờ lý luận tác động mạnh mẽ đến cuộc cách mạng Pháp
1789 Nhà tư tưởng Khai sáng tiêu biểu là Môngtexkiơ với tác phẩm Tinh thần pháp luật (1741), nội dung của tác phẩm đã làm cho ông nổi tiếng Theo
Môngtexkiơ, trong xã hội có giai cấp, quản lý xã hội bằng pháp luật có tính tất yếu, pháp luật không phải xuất phát từ một ý chí tối thượng nào chi phối hay từ
hư vô mà nó có cơ sở từ các điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội và tinh thần dân tộc quy định Con người sinh ra có quyền bình đẳng trước pháp luật, có quyền tham gia vào các công việc của nhà nước Về thể chế chính trị, theo ông, nhằm bảo đảm tính công bằng, không vụ lợi, bảo đảm pháp luật không bị vi phạm, ông chủ trương xây dựng chế độ dân chủ lập hiện và đưa ra thuyết “tam quyền phân lập” Theo thuyết này, quyền lực chính trị được tách thành ba quyền độc lập: quyền lập pháp, quyền tư pháp, quyền hành pháp, tương ứng với ba quyền này có ba cơ quan đảm nhiệm và độc lập với nhau Do đó, các cơ quan này có thể quy định, chế ước lẫn nhau, không có cơ quan nào có thể đứng trên pháp luật và lạm quyền được Có thể nói, theo thuyết này, các cơ quan trong bộ máy nhà nước đã dùng quyền lực để đối trọng quyền lực làm cho tính tối cao của pháp luật được bảo đảm Cùng với những tư tưởng tiến bộ ấy, Rútxô là người kế tục xuất sắc với tác
phẩm nổi tiếng Khế ước xã hội, mục đích của tác phẩm là giải quyết vấn đề: tìm
một sự liên minh chung, một hợp đồng để nhà nước và các bên thực hiện được quyền tự do, bình đẳng của con người trong xã hội Theo ông, quyền lực tối cao
là quyền lực của nhân dân với bốn đặc tính: bất khả phân, bất khả những, bất khả sai lầm và tuyệt đối Ý chí của nhân dân là tối cao và được thể hiện ra bằng luật pháp Về thể chế chính trị, ông kịch liệt lên án chế độ phong kiến, chủ trương xây dựng chế độ dân chủ cộng hoà, chế độ mà nhân dân thực sự nắm quyền lực chính trị của xã hội
Trang 14Nhìn chung, các trào lưu tư tưởng tiến bộ đã tác động rất lớn tư tưởng Việt Nam, nó như một luồng gió mới, kích thích sự tìm tòi khám phá về một con đường mới buộc tư duy truyền thống phải có những bước chuyển nhất định Các nhà tư tưởng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn
An Ninh, Phan Văn Trường, … đều rất say sưa nghiên cứu và tiếp thu những tư
tưởng mới này Trong Thư thất điều, Phan Châu Trinh viết: “Buổi ấy các danh sỹ
nước Pháp như Lư-thoa, Mạnh-đức-tư-cưu, Phúc-lộc-đặc-nhĩ (Rousseau, Montesquieu, Voltaire), v.v… kế tiếp nhau nổi lên phát huy cái nghĩa dân quyền, chẳng đầy vài mươi năm mà cái thế lực ảnh hưởng ra khắp toàn châu Âu”[16, tr.613]
Bên cạnh đó, cuộc cải cách đất nước của các nước Đông Á và đông Nam Á
nhưng tiêu biểu và khá thành công là Nhật Bản, Trung Quốc cũng ảnh hưởng rất
lớn, góp phần hình thành tư tưởng Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX
Nhật Bản có chế độ phong kiến kéo dài trong lịch sử, đến giữa thế kỷ XIX,
chế độ phong kiến rơi vào tình trạng bế tắc, suy thoái, nguy cơ không thể chống nổi sự đe dọa từ phương Tây Để giải quyết tình trạng ấy, Thiên hoàng Minh Trị
đã làm một cuộc cải cách toàn diện xã hội về: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, giáo dục, xã hội
Về kinh tế, Nhật Bản có sự bứt phá mạnh mẽ, đó là sự phát triển theo hướng
tư bản chủ nghĩa Nhờ có chính sách kinh tế phù hợp, cho nên, nền công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, ngân hàng của Nhật Bản đều phát triển mạnh mẽ Do
có nền kinh tế phát triển Nhật Bản cũng tiến hành cạnh tranh thị trường thế giới, tạo sự ảnh hưởng của mình sang các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam, Đài Loan, …
Để phát triển kinh tế, Nhật Bản thực hiện cải cách thể chế chính trị theo con
đường tư bản chủ nghĩa, tiến hành cải cách dân chủ, các chủ trương, quyết định của vương triều phải theo công luận, thực hiện đoàn kết từ quan chức đến nhân dân, tiến hành phá bỏ hủ tục, quản lý xã hội theo luật pháp, tiến hành bãi bỏ chế
độ đẳng cấp, xoá bỏ đặc quyền của nó Mặc dù có những cải cách nhất định
Trang 15nhưng chế độ chính trị Nhật Bản vẫn là chế độ tư bản quân phiệt Nhật Bản cũng
đã tiến hành xây dựng lực lượng quân sự hùng mạnh, hiện đại có khả năng bảo
vệ chế độ và tăng cường sức mạnh ra bên ngoài khi cần thiết Nhờ vào sức mạnh
về kinh tế, quân sự, nên về ngoại giao, Nhật Bản giành lại được quyền bình đẳng với các nước tư bản phương Tây, đã mở rộng chiến tranh sang Trung Quốc, Đài Loan, Nga và ngày càng khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế
Sự phát triển của Nhật Bản được bắt đầu từ sự đổi mới căn bản đường lối
chính trị của Thiên hoàng Minh Trị, và sau đó càng được củng cố với sự tiếp thu khoa học tiên tiến của nền văn minh phương Tây thông qua việc đầu tư cho phát
triển giáo dục và canh tân về tư tưởng Nhật hoàng cử một phái đoàn do Iwakura Tomoni (năm 1871) sang mười hai nước châu Âu, châu Mỹ để nghiên cứu và tiếp thu những tư tưởng tiến bộ, khoa học kỹ thuật tiên tiến để tuyên truyền giáo dục rộng rãi trong nước Đặc biệt, một nhà tư tưởng có công truyền bá tư tưởng phương Tây là Fukuzawa Yukichi (1835-1901), với chủ trương, phải phát triển trình độ học vấn cho dân tộc Ông đã cho rằng: “Để bảo vệ độc lập của Nhật Bản, không còn cách nào ngoài con đường tiến đến văn minh Lý do duy nhất để người Nhật Bản tiến đến văn minh là để bảo vệ độc lập đất nước”[67, tr.316] Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử, Nhật Bản - một nước phong kiến Châu
Á nhanh chóng vươn lên thành tư bản chủ nghĩa, sánh ngang với các nước tư bản phương Tây Những bài học từ Nhật Bản như, phải coi trọng phát triển công, nông, thương nghiệp; phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản xuất; tiến hành cải cách thể chế chính trị; tiếp thu tinh hoa, văn hoá nhân loại; xoá bỏ những hủ tục lạc hậu, tiến hành những cải cách về lề lối sinh hoạt, v.v… đã chứng tỏ sự đúng đắn trong việc chấn hưng, phát triển đất nước Thành công của công cuộc cải cách, Nhật Bản trở thành cứu tinh, là nguồn động viên, cổ vũ tinh thần chống đế quốc của các dân tộc thuộc địa da vàng, cho nên Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ xuất hiện nhiều phong trào sang Nhật để nghiên cứu và học tập Sự phát triển của Nhật Bản không chỉ ảnh hưởng rất lớn trên trường quốc tế mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các nước phương Đông Ảnh hưởng quan trọng nhất đối với Việt Nam là sự thay đổi về tư duy chính trị, thể chế
Trang 16chính trị và đường lối, chính sách cụ thể để phát triển đất nước Sự nghiệp cải cách của Nhật Bản đã thôi thúc các nhà tư tưởng Việt Nam đi tìm lời giải đáp cho dân tộc về vấn đề độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, phát triển đất nước, tiếp thu văn minh phương Tây, v.v…
Trung Quốc vào thời đại Mãn Thanh, tình hình kinh tế chính trị xã hội đi
vào con đường suy thoái Cuộc đụng độ giữa chế độ phong kiến Trung Quốc và chủ nghĩa tư bản biến Trung Quốc thành một nước phong kiến, thuộc địa và ngày càng rơi vào cảnh bị các nước thực dân xâu xé Tình hình đó, ngày càng làm biến đổi xã hội Trung Quốc trên các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, v.v…
Về kinh tế, với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân, Trung Quốc
xuất hiện các xí nghiệp, hầm mỏ, bắt đầu hình thành những khu công nghiệp khai thác, chủ yếu phục vụ cho sự vơ vét của cải của các nước tư bản xâm lược Trong lúc đó, nông nghiệp của Trung Quốc vẫn là nền nông nghiệp lạc hậu theo phương thức sản xuất phong kiến, làm cản trở đến sự phát triển của công nghiệp Thủ công nghiệp truyền thống khá phát triển, nhưng bị thực dân thu mua giá rẻ, chèn ép thị trường nên nguồn lợi rơi vào tay các nhà tư bản Cho nên, nền kinh tế của Trung Quốc vẫn là nền kinh tế lạc hậu, phát triển què quặt, phục vụ cho nền kinh tế của các nước tư bản đế quốc
Về chính trị, triều đình Mãn Thanh không chuyển biến kịp với sự phát triển
của thời đại, hệ tư tưởng lạc hậu cùng với chính sách bảo thủ của chế độ phong kiến lại càng làm cho xã hội Trung Quốc ngày càng đi sâu vào con đường suy tàn Bên cạnh đó, đời sống nhân dân hết sức khổ cực, cả dân tộc Trung Quốc rơi vào thảm cảnh “một cổ hai tròng” Trước thực trạng trên, cuối thế kỷ XIX, nhiều nhà tư tưởng tiến bộ đề xuất chủ trương duy tân, nhằm làm thay đổi hiện thực thối nát của xã hội Trung Quốc Người đầu tiên là Hồng Tú Toàn với phong trào Thái bình thiên quốc (có nghĩa là đất nước thái bình của trời), đòi lật đổ triều đại phong kiến Mãn Thanh, thực hiện bình đẳng xã hội, bình đẳng nam nữ, đòi xoá
bỏ quyền sở hữu ruộng đất của phong kiến, chia đều ruộng đất cho dân cày, xây dựng một xã hội không có người bóc lột người Đây là một phong trào nông dân, nhưng theo xu hướng dân chủ tư sản Cuộc cách mạng không thành công, sau đó,
Trang 17lịch sử Trung Quốc lại xuất hiện sự nổi dậy mới bằng cuộc chính biến một trăm ngày của Khang Hữu Vi với tư tưởng “biến pháp”
Nội dung của phong trào duy tân đã đề cập nhiều nội dung, nhưng cơ bản là: phải phát triển khoa học kỹ thuật, phát triển ngành nghề, trang bị máy móc kỹ thuật hiện đại, đề cao dân chủ, phế bỏ quan lại bất lực, văn hoá, giáo dục tiến hành cải cách theo kiểu phương Tây Những nội dung Duy tân của Khang Hữu
Vi đề ra mặc dù không được thực thi, do bị ràng buộc những điều kiện lịch sử, nhưng phù hợp với yêu cầu đổi mới của dân tộc Phong trào này còn truyền bá các học thuyết chính trị phương Tây, tư tưởng dân chủ tư sản, tự do, bình đẳng,
và phổ biến khoa học tự nhiên Từ đó, tạo nên một làn sóng chống lại tư tưởng thủ cựu, lạc hậu của chế độ phong kiến, thổi một luồng sinh khí mới về tư tưởng vào đời sống xã hội
Đầu thế kỷ XX, lịch sử Trung Quốc có một sự chuyển biến quan trọng, đó
là cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 do nhà cách mạng vĩ đại Tôn Trung Sơn lãnh đạo, đập tan triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Quốc, thiết lập một chế độ chính trị mới, dưới ngọn cờ của giai cấp tư sản Cương lĩnh chính trị của Tôn Trung Sơn đưa ra dựa trên học thuyết Tam dân: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc Mục tiêu đấu tranh được ông đề ra là: “Đánh đuổi giặc Thát, khôi phục Trung Hoa; Thành lập Dân quốc; Bình quân địa quyền”, và nêu lên ba nhiệm vụ: Lật đổ triều đại Mãn Thanh, thành lập Trung Hoa Dân quốc, thực hiện quyền bình đẳng về ruộng đất
Phong trào Duy tân của Khang Hữu Vi, cách mạng Tân Hợi (1911) của Tôn Trung Sơn đã ảnh hưởng rất lớn đến các nhà tư tưởng tiến bộ ở Việt Nam như Nguyễn Trường Tộ, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh, … Phan Bội Châu viết: “Phong triều của Trung Hoa cách mệnh thành công, ảnh hưởng với nước ta hung lắm Nhiệt độ người nước ta so với trước kia lên gấp bội Nếu ở ngoài có cái gì tiên thanh, thì khí thế ở trong nước khắc sống lại”[7, tr.210]
Những sự kiện chính trị, xã hội ấy đã dội vào Việt Nam, tạo nên sự chuyển biến rất lớn trong đời sống tinh thần xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng Phan
Trang 18Châu Trinh đánh giá rất cao cuộc cải cách theo dân chủ tư sản của Trung Quốc, ông viết: “Nước Tàu là nước mẹ văn minh nước ta, trong năm 1912 họ cũng đã đuổi vua đi để lập nên nước dân chủ”[16, tr.598]; “ … động lực duy tân Trung Quốc vang dội bốn phía, lay động cả nước Do đó, các cử động, các đảng phái trong nước cũng theo đó mà nổi lên”[16, tr 525] Như vậy, ở Trung Quốc hay Nhật Bản, các cuộc cải cách đem lại những kết quả khác nhau, nhưng đều thống
nhất là phải thay đổi hệ tư tưởng nhằm biến đổi xã hội phong kiến thối nát, bảo thủ Điều này cho thấy hệ tư tưởng phong kiến, tư tưởng Nho giáo đã dần dần
mất vai trò lịch sử, nó không thể đảm đương được những vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi phải giải quyết Từ đó, thúc đẩy các nhà tư tưởng Việt Nam học tập kinh nghiệm, đi tìm tòi, khám phá con đường cách mạng là một tất yếu lịch sử để định
hướng cho dân tộc, tạo nên sự chuyển biến về tư tưởng của dân tộc cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX
Cùng với các cuộc canh tân, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, phong trào cách mạng vô sản thế giới phát triển ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thành công, chế độ xã hội chủ nghĩa xuất hiện, đã tác
động mạnh mẽ đến phong trào cách mạng thế giới, ghi dấu ấn đậm nét trong tư duy của các nhà tư tưởng Việt Nam
Trên thế giới, phong trào công nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ, giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt trong các nước Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Nga, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Sỹ, Thụy Điển,… Tại Pháp, cuộc cách mạng 18/3/1871 là cuộc cách mạng đầu tiên của giai cấp vô sản trong lịch sử nhân loại, công xã Pari được thành lập – một tổ chức chính trị đầu tiên của giai cấp công nhân ra đời trong phong trào cách mạng vô sản Mặc dù, công
xã Pari tồn tại không bao lâu nhưng đã ghi lại dấu ấn đặc biệt quan trọng trong tư duy không chỉ của lịch sử nước Pháp mà của cả nhân loại Sau công xã Pari, với những bài học kinh nghiệm quý báu, phong trào công nhân lại ngày càng phát triển hơn, đặc biệt là về lý luận, về tổ chức Đảng tiền phong của phong trào công nhân, về liên minh lực lượng cách mạng, … ngày càng phát triển hơn Nhiều tổ chức đảng của giai cấp công nhân ra đời, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách
Trang 19mạng vô sản ngày càng lan rộng và ảnh hưởng rất lớn đến phong trào giải phóng dân tộc Đặc biệt khi tổ chức Quốc tế Cộng sản II thành lập thì phong trào cách mạng vô sản trở nên rầm rộ hơn, tuy nhiên, một thời gian sau, khi Ph Ăngghen mất (1895) thì Quốc tế II cũng như phong trào cách mạng vô sản có những tổn thất nhất định Sau đó, năm 1917, duới sự lãnh đạo của V.I.Lênin, Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thắng lợi, mở ra một thời đại mới V.I.Lênin tiếp tục xây dựng và phát triển phong trào công nhân, trước hết củng cố tổ chức Quốc tế Cộng sản, thay Quốc tế Cộng sản II đã thoái hoá biến chất bằng Quốc tế Cộng sản III Với sự phát triển của tổ chức Cộng sản và phong trào công nhân, chủ nghĩa Mác ngày càng được truyên truyền sâu rộng trên thế giới, trở thành ngọn
cờ lý luận của giai cấp công nhân và của các dân tộc bị áp bức Hệ tư tưởng mới này đã tác động mạnh mẽ, làm thay đổi tư duy của nhiều dân tộc, nhiều nhà tư tưởng Nước ta với vị trí địa lý thuận lợi, cho nên, sự giao lưu với phong trào công nhân cũng như hệ tư tưởng của giai cấp công nhân đã tạo nên sự thay đổi rất lớn đối với tư tưởng của dân tộc nói chung, của các nhà tư tưởng nói riêng
Có thể nói, sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) dẫn đến
sự ra đời chế độ xã hội chủ nghĩa đã trở thành điểm nhấn quan trọng trong tư duy của dân tộc ta Xã hội chủ nghĩa là chế độ mới, không còn nạn người bóc lột người, xoá áp bức, bất công, con người tự do, bình đẳng, có điều kiện phát triển toàn diện, nền dân chủ của đa số là giai cấp công nhân và nhân dân lao động được thiết lập Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử, trở thành phổ biến của các phong trào cách mạng thế giới Các sự kiện lịch sử nổi bật đó đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng chính trị các dân tộc Đối với nước ta, các cuộc chiến tranh thế giới, Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào công nhân thế giới,… có ảnh hưởng rất lớn làm thay đổi tư duy chính trị của các nhà cách mạng, các nhà tư tưởng, đặc biệt là vào những năm hai mươi của thế kỷ XX Có nên duy trì chế độ phong kiến hay không? Lựa chọn con đường chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa xã hội? Dựa vào lực lượng nào để thực hiện các cuộc cách mạng?
Đó là những câu hỏi của lịch sử đang đòi hỏi các nhà tư tưởng cắt nghĩa!
Trang 20Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi chủ nghĩa thực dân bành trướng xâm
lược thì các dân tộc phương Đông xuất hiện phong trào giải phóng dân tộc,
những phong trào này diễn ra hầu hết các dân tộc bị thực dân đô hộ, ở những mức độ nhất định Những phong trào tiêu biểu như phong trào Duy tân, cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc; cuộc khởi nghĩa Hán Thành chống quân xâm lược Nhật Bản ở Triều Tiên; cuộc khởi nghĩa Surapátti ở Inđônêxia chống quân xâm lược Hà Lan,… Có thể nói, vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các dân tộc bị áp bức trở nên mạnh mẽ hơn, sâu rộng hơn Những cuộc khởi nghĩa ấy là cơ sở, là lực lượng vật chất để dẫn đến sự thay đổi lớn lao về tư duy, về tư tưởng của các dân tộc
Tóm lại, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hoàn cảnh lịch sử của thế giới có rất nhiều yếu tố tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển biến tư tưởng Việt Nam Chủ nghĩa tư bản ở phương Tây phát triển mạnh mẽ, đẩy lùi chế độ phong kiến vào quá khứ Đồng thời sự phát triển của nó dẫn đến sự xuất hiện chủ nghĩa thực dân đang thực hiện các cuộc xâm lược sang các dân tộc phương Đông, trong đó
có Việt Nam Các cuộc canh tân đất nước của Nhật Bản, Trung Quốc, … tạo ra
sự phát triển kinh tế xã hội, làm biến đổi bộ mặt đất nước, thay đổi căn bản chế
độ chính trị Thực tiễn sinh động ấy đặt câu hỏi cho dân tộc Việt Nam là phải bằng con đường cách mạng nào để bảo vệ độc lập dân tộc, phát triển đất nước theo kịp các nước khu vực Bên cạnh đó, phong trào cách mạng vô sản phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, chủ nghĩa xã hội đang trở thành hiện thực và mong ước của hàng triệu con người trên trái đất Hệ
tư tưởng của giai cấp công nhân ngày càng ảnh hưởng rộng khắp trên phạm vi thế giới Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc đang ngày càng phát triển nhanh chóng! Đây là những sự kiện lịch sử chính trị rất lớn, nó tác động đến tư tưởng Việt Nam Tư tưởng Nho giáo tỏ ra bất lực trước những biến đổi to lớn của thời đại và dân tộc, nó không đủ sức để cắt nghĩa, giải đáp những
Trang 21vấn đề thực tiễn đang đặt ra Khi những yếu tố của tồn tại thay đổi thì sớm hay muộn những yếu tố của ý thức xã hội cũng sẽ thay đổi theo
1.2 BỐI CẢNH TRONG NƯỚC VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
Bên cạnh những biến đổi của điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị trên thế giới, bối cảnh lịch sử xã hội trong nước cũng là một trong những điều kiện hết sức quan trọng góp phần hình thành quá trình chuyển biến tư tưởng Việt Nam cuối thế XIX đầu thế kỷ XX
Sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, và triều đình nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp, nước ta có sự chuyển biến rất lớn Đó là chuyển từ một nước thuần phong kiến sang một nước thuộc địa nửa phong kiến, và tính chất của
xã hội thuộc địa nửa phong kiến thể hiện khá rõ trên các mặt của đời sống xã hội
Về điều kiện kinh tế, từ nửa sau thế kỷ XIX, nền kinh tế Việt Nam đã có
những biến đổi quan trọng Sau khi thực dân Pháp thực hiện bình định xong Việt Nam, chúng bắt đầu khai thác thuộc địa, lần thứ nhất từ 1897 đến 1914 và lần thứ hai từ 1024 đến 1930 Hai cuộc khai thác thuộc địa này đã làm thay đổi căn bản tình hình kinh tế của xã hội Việt Nam Trong cơ cấu nền kinh tế, ngành nông nghiệp và thủ công nghiệp giữ vai trò chủ đạo, nhưng bắt đầu xuất hiện những yếu tố mới Cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đang dần dần thẩm thấu, xuất hiện các ngành nghề mới, làm cho nền kinh
tế nước ta có những biến đổi nhất định, tác động lớn đến các mặt của đời sống xã
hội Trong nông nghiệp, chế độ thực dân ban hành chủ trương, chính sách mới về
nông nghiệp; thực hiện mở rộng diện tích canh tác; tăng cường phát triển đồn điền, phát triển các loại cây trồng mới, … Thực dân Pháp bằng chính sách nô dịch kinh tế đã tạo điều kiện cho người Pháp tiến hành chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân lao động, nên quyền sở hữu tối cao về ruộng đất chuyển từ nhà vua Việt Nam sang nhà nước bảo hộ Pháp Nền nông nghiệp ở nước ta chủ yếu là đồn điền, trồng lúa, cà phê, cao su, thầu dầu, chè; do trình độ sản xuất của nước
ta còn thấp, thực dân Pháp đã thực hiện kiểu chính sách phát canh thu tô, chưa
Trang 22quan tâm đến ứng dụng, phát triển khoa học trong nông nghiệp, năng suất lao động nông nghiệp của nước ta lúc đó thấp nhất vùng Đông Nam Á Cho nên, kinh tế kém phát triển, đời sống của nông dân và các tầng lớp lao động khác rất khổ cực, nông nghiệp chưa tạo ra nền tảng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân
Về công nghiệp, thực dân Pháp tập trung khai thác chủ yếu các nguyên liệu
hay những sản phẩm mà nước Pháp không có, đặc biệt là ngành khai khoáng Để phục vụ cho các ngành khai khoáng thì các ngành chế biến quặng cũng xuất hiện nhằm sơ chế, đúc quặng, rồi mới đưa xuất khẩu sang Pháp Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến cũng khá phát triển Các ngành công nghiệp nặng như luyện kim, cơ khí chưa được quan tâm xây dựng, mặc dù thực dân Pháp bắt đầu cho du nhập khoa học kỹ thuật vào nước ta nhưng chỉ trong chừng mực nhất định nằm phục vụ cho khai thác thuộc địa Cho nên, nền công nghiệp nước ta lúc bấy giờ, chủ yếu mang tính chất phục vụ cho nền kinh tế thực dân Pháp, phụ thuộc rất lớn vào Pháp và thị trường nước ngoài, phát triển què quặt, manh mún, nhỏ lẻ Mặc dù vậy, thời kỳ này bộ mặt ở một số đô thị đã khởi sắc, Hà Nội có nước máy vào năm 1893, có điện năm 1895, Hải Phòng có điện năm 1893, … Nhưng suy cho cùng, sự phát triển công nghiệp cũng để phục
vụ cho mục đích bóc lột, vơ vét tài nguyên nước ta của thực dân Pháp
Về tiểu thủ công nghiệp, những ngành nghề truyền thống vẫn là chủ yếu,
nhưng quy mô và tốc độ được đẩy nhanh hơn do nhu cầu xã hội ngày càng tăng Mặt khác, khi nông nghiệp, công nghiệp phát triển tất yếu kéo theo sự phát triển của tiểu thủ công nghiệp để đáp ứng nhu cầu của các ngành đó Tiểu thủ công nghiệp phát triển thành hai bộ phận, phận tiểu thứ nhất gắn liền với nông nghiệp, nông thôn; bộ phận thứ hai có khuynh hướng tách khỏi nông nghiệp để trở thành một ngành riêng biệt Kinh tế tiểu thủ công nghiệp vẫn là ngành kinh tế phụ, hỗ trợ cho kinh tế nông nghiệp Nó vẫn nằm trong khuôn khổ phương thức sản xuất phong kiến, và mặc dù nó đã có sự phát triển nhưng chưa đủ sức để phá vỡ quan
hệ sản xuất phong kiến lạc hậu
Trang 23Giao thông vận tải là ngành kém phát triển trong chế độ phong kiến, nhưng
đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhằm phục vụ các cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đẩy mạnh phát triển Hệ thống đường sắt, đường bộ, cầu cống được xây dựng và hoàn thiện Hệ thống đường thủy, cảng biển được mở mang và xây dựng, tạo nên mạng lưới giao thông thuỷ bộ thông suốt Có thể nói, hệ thống đường giao thông ở Việt Nam vào lúc bấy giờ là tốt nhất khu vực Đông Nam Á,
là điều kiện vật chất kỹ thuật quan trọng để phát triển kinh tế
Về thương nghiệp, trong chế độ phong kiến nhà Nguyễn thực hiện chính
sách “bế quan toả cảng” nên thương nghiệp chậm phát triển Khi thực dân Pháp xâm lược, hàng rào ấy bị xoá bỏ, thương nghiệp bắt đầu phát triển, Việt Nam được coi là một thị trường đặc biệt với nguồn tài nguyên, hàng hoá rẻ, đa dạng
và phong phú Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp kiểm soát được hầu hết các ngành xuất nhập khẩu ở Việt Nam và Đông Dương Quan hệ thương mại của nước ta đã
mở rộng với nhiều nước như Anh, Đức, Mỹ, Italia, Thái Lan, Trung Quốc, Hồng Công, … tạo điều kiện cho nước ta giao lưu ra bên ngoài, tiếp cận với các nền văn minh thế giới
Khi thực dân Pháp xâm lược, nền kinh tế nước ta thay đổi đáng kể và có đặc điểm là: nền kinh tế Việt Nam đan xen các yếu tố của nền kinh tế truyền thống mang tính chất phong kiến với các yếu tố của nền kinh tế thuộc địa mang tính chất tư bản chủ nghĩa Hệ quả hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp dẫn đến đại đa số nhân dân bị mất hết tư liệu sản xuất, rơi vào cảnh bần cùng, mất tự do, cuộc sống mưu sinh hết sức khó khăn Đại đa số nhân dân lao động
cùng với các tầng lớp tiến bộ trong xã hội Việt Nam đều hướng đến nhiệm vụ cấp bách là giải phóng dân tộc ra khỏi áp bức cường quyền Với sơ sở hạ tầng
và cơ sở xã hội như vậy, tất yếu kiến trúc thượng tầng sớm hay muộn cũng sẽ có những thay đổi nhất định, đặc biệt là về các hình thái ý thức xã hội Lịch sử đặt
ra những vấn đề đòi hỏi các nhà tư tưởng phải giải quyết: Muốn phát triển kinh
tế xã hội, giải phóng dân tộc thì dân tộc ta cần phải đi theo con đường cách mạng nào?
Trang 24Bên cạnh điều kiện về kinh tế thì điều kiện chính trị – xã hội cũng góp phần
quan trọng vào quá trình chuyển biến tư tưởng ở nước ta cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX
Về cơ cấu tổ chức, bộ máy cai trị của chế độ thực dân nửa phong kiến ở
nước ta có những thay đổi lớn so với trước đây Sau hiệp ước Patơnốt (6.6.1884), thực dân Pháp thực hiện chủ trương “chia để trị”, nên Bắc Kỳ, Nam Kỳ, Trung
Kỳ có ba hình thức cai trị riêng biệt Nam Kỳ là đất thuộc địa trực thuộc cai trị
của Pháp, không liên quan đến chế độ phong kiến, thực dân Pháp thành lập Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ (8/2/1880), thực chất là cơ quan thống trị chính trị của thực dân Đứng đầu Hội đồng là Thống đốc Nam Kỳ chi phối hoàn toàn về quyền lực chính trị Đứng đầu cấp tỉnh là các công sứ người Pháp, đứng đầu cấp
huyện là quan cai trị người Việt nhưng đặt dưới sự điều hành người Pháp Ở Trung Kỳ, thực dân Pháp thực hiện duy trì “chính phủ Nam triều”, về thực chất
đây là một bộ máy bù nhìn, mọi quyền hành do Khâm sứ người Pháp thâu tóm
Bắc Kỳ, thực dân Pháp thực hiện chủ trương “nửa bảo hộ”, đứng đầu Bắc Kỳ là
Thống sứ người Pháp, và Hội đồng bảo hộ giúp việc Cấp chính quyền cơ sở làng, xã ở nước ta trong ba miền, vẫn là bộ máy quan lại cũ của chế độ phong kiến, là một bộ phận gần như độc lập trong giới hạn nhất định ở địa phương Nhưng chế độ thực dân vẫn nắm được một cách hết sức tinh vi và khôn khéo thông qua hệ thống tay sai của thực dân Có thể nói, thực chất quyền hành chính trị ở ba kỳ đã chuyển từ giai cấp địa chủ phong kiến sang bộ máy chính quyền bảo hộ của thực dân Pháp, chế độ phong kiến thực sự đã đi vào con đường suy vong không thể cứu vãn nổi, trở thành cái bóng núp sau chế độ chính trị thực dân Pháp Về bản chất chính trị, thực dân Pháp thực hiện chiến lược “dùng người Việt trị người Việt”, dưới sự đô hộ của thực dân Pháp Cho nên, về cơ sở xã hội, chỉ có một bộ phận nhỏ là theo thực dân còn đại đa số nhân dân lao động đứng hẳn về trận tuyến chống lại thực dân và phong kiến Sự thống trị của thực dân Pháp đã bao trùm toàn bộ xã hội Việt Nam Từ đó, dẫn đến hệ quả là xuất hiện rất nhiều phong trào đấu tranh chống lại sự đô hộ của thực dân Pháp Đồng thời,
Trang 25hơn lúc nào hết, tình hình đó thúc đẩy chủ nghĩa yêu nước phát triển, trở thành triết lý sống, triết lý sinh tồn của dân tộc Việt Nam
Về cơ cấu xã hội, nước ta có những thay đổi đáng kể, từ năm 1848 – 1883,
dân số khoảng 7,2 triệu người, đầu thế kỷ XX, khoảng 13 triệu người, năm 1931 khoảng 17,7 triệu người [84, tr.112-113] Trong xã hội phong kiến cơ cấu xã hội, giai cấp bao gồm: tầng lớp quan lại, quý tộc; giai cấp địa chủ; giai cấp nông dân; tầng lớp trí thức; tầng lớp thợ thủ công, thương nhân, dân nghèo thành thị Trong
xã hội phong kiến nửa thuộc địa, cơ cấu xã hội có thêm giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản, tư sản, …
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời dựa trên cơ sở chủ yếu là từ giai cấp
nông dân bằng nhiều con đường Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp non trẻ nhất, là những người hoạt động sản xuất trong các nhà máy, xí nghiệp, đồn điền, hầm mỏ, các ngành giao thông, … Giai cấp công nhân là giai cấp non trẻ,
ra đời trong hoàn cảnh xâm lược của thực dân Pháp chứ không phải từ sự phát triển của kinh tế tư bản dân tộc, và ra đời trước giai cấp tư sản, đại diện cho phương thức sản xuất mới Do vậy, khi giai cấp địa chủ phong kiến mất vai trò lịch sử thì tất yếu giai cấp công nhân trở thành giai cấp kế tục vai trò lãnh đạo xã hội, trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng của dân tộc ta
Giai cấp nông dân, chiếm khoảng 90% dân số cả nước, là lực lượng cơ bản
chống thực dân và phong kiến Họ trở thành đối tượng để thực dân và phong kiến bóc lột, giai cấp này phân hoá thành: phú nông, trung nông, bần nông và cố nông Các tầng lớp đều khó khăn, bị thực dân, phong kiến bóc lột bằng phu phen, thuế khoá, một bộ phận bị bần cùng hoá, vào hầm mỏ làm thuê, hoặc làm tôi tớ vùng nông thôn, …
Giai cấp địa chủ, là giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến nhưng đến
chế độ thực dân nửa phong kiến thì mất dần vai trò thống trị, trở thành tay sai thực dân Mặc dù mất vai trò thống trị nhưng một bộ phận giai cấp địa chủ ngày càng gắn bó chặt chẽ với thực dân, mặt khác, thực dân Pháp thấy rằng, đây là chỗ dựa vững chắc nên tạo điều kiện phát triển, làm nền tảng xã hội cho chế độ thuộc địa
Trang 26Tầng lớp tư sản và tiểu tư sản, hình thành đầu thế kỷ XX, chủ yếu ở các
vùng đô thị, chiếm khoảng 6%, năm 1930, khoảng 8-10% dân số [38, tr.238] Tầng lớp này rất mỏng manh và yếu ớt nên không đứng lên làm cách mạng được, trong phong trào cách mạng dân chủ tư sản, những người đại diện và lãnh đạo là một tầng lớp đặc biệt, đó là các sỹ phu tư sản hoá nhưng cách mạng dân chủ tư sản cũng bị giập tắt
Sự phân hoá giai cấp trong xã hội nước ta dẫn đến mâu thuẫn ngày càng sâu sắc giữa giai cấp công nhân, nông dân, các tầng lớp lao động với địa chủ phong kiến và thực dân Pháp Lực lượng cách mạng chống lại thực dân, phong kiến là công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp lao động tiến bộ khác, trong đó, giai cấp công nhân là giai cấp vươn lên lãnh đạo cách mạng Đặc biệt, những năm cuối thập kỷ hai mươi của thế kỷ XX, xuất hiện nhiều tổ chức cộng sản, là hạt nhân của phong trào công nhân và trở thành những tổ chức tiền thân cho sự
ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930
Về phong trào yêu nước và phong trào cách mạng ở nước ta cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX phát triển khá mạnh mẽ, thể hiện tinh thần yêu nước quật cường của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp và phong kiến Đó là phong trào Cần Vương (1885-1896) với các cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1892), khởi nghĩa Bãi Sậy (1885) của Nguyễn Thiện Thuật, khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng, … Phong trào nông dân Yên Thế (1883-1913), do Đề Thám lãnh đạo, phong trào nông dân mang màu sắc tôn giáo ở Nam bộ đứng lên chống thực dân phong kiến Các cuộc khởi nghĩa đã khơi dậy tinh thần yêu nước của cả dân tộc ta, tạo nên một khí thế hào hùng chống ngoại xâm và phong kiến Sau đó
là các phong trào cách mạng như phong trào cách mạng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu với xu hướng vũ trang bạo động, của Phan Châu Trinh với xu hướng bất bạo động, … Bên cạnh đó, có các cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản, tiểu tư sản trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng, Năm 1919 xuất hiện phong trào tẩy chay tư sản Hoa Kiều, phong trào đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn (1923), phong trào đấu tranh trên diễn đàn báo chí đòi tự do, dân chủ, tuyên truyền một số tư tưởng tiến bộ của phương Tây, … Từ năm 1920 đến
Trang 27năm 1925, nổ ra hai mươi lăm cuộc bãi công, các cuộc đấu tranh ngày càng thể hiện trình độ tổ chức và tính chất tự giác của nó Như vậy, giai cấp công nhân, mặc dù với số lượng còn ít ỏi nhưng cũng đã có nhiều phong trào đấu tranh thể hiện bản chất cách mạng của giai cấp mình
Tóm lại, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị - xã hội nước ta biến đổi phức tạp Giai cấp địa chủ phong kiến vì lợi ích cam chịu làm tay sai thực dân Pháp, còn đại đa số nhân dân lao động đều đứng lên làm cách mạng, đòi lại độc lập cho dân tộc Lúc bấy giờ, dân tộc ta xuất hiện mâu thuẫn sâu sắc giữa một bên là quyền lợi dân tộc và một bên là quyền lợi của giai cấp địa chủ phong kiến Nếu bảo vệ lợi ích giai cấp thì đành để mất lợi ích dân tộc, nếu bảo vệ lợi ích dân tộc thì phải từ bỏ lợi ích giai cấp, hoặc có thể mất cả lợi ích giai cấp và
cả lợi ích dân tộc Mâu thuẫn ấy đã phát triển đến đỉnh điểm, nó tác động rất lớn đến tư duy của các nhà tư tưởng, buộc các nhà tư tưởng phải cắt nghĩa thực tiễn Trong tầng lớp sỹ phu tiến bộ, một bộ phận có nhận thức tiến bộ đã sẵn sàng từ
bỏ lợi ích giai cấp để bảo vệ lợi ích dân tộc, đề xuất những tư tưởng mới, tiến bộ phản ánh tính chất phức tạp của đời sống xã hội giai đoạn này
Cùng với các điều kiện về kinh tế, chính trị – xã hội thì điều kiện về văn hoá, giáo dục, khoa học - kỹ thuật là một trong những điều kiện quan trọng góp
phần hình thành quá trình chuyển biến tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Trong giai đoạn này, bên cạnh chính sách nô dịch văn hoá của thực dân, còn có sự chủ động tiếp thu tư tưởng tiến bộ, khoa học kỹ thuật của một bộ phận trí thức yêu nước tiến bộ nên tình hình về văn hoá, khoa học - kỹ thuật đã
có nhiều biến chuyển so với trước đó
Về văn hoá, giáo dục, thực dân Pháp thực hiện chủ trương ngu dân về giáo
dục, đầu độc về văn hoá, nó được coi là một trong những biện pháp hữu hiệu cai trị dân tộc ta Cho nên, tuỳ vào từng giai đoạn, với yêu cầu chính trị cụ thể mà chúng có những thay đổi cho phù hợp với chủ trương chính trị Viên Thống sứ Bắc Kỳ bộc lộ rõ chính sách giáo dục thực dân là: “Kinh nghiệm của các dân tộc châu Âu khác đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột”[39, tr.254] Ban đầu, thực dân Pháp vẫn duy trì nền
Trang 28học vấn Nho gia, cùng với việc mở các trường dạy tiếng Pháp và văn hoá Pháp Thực dân khai thác triệt để những tác dụng của Nho gia trong xã hội Việt Nam, nhằm làm cho “gia đình được vững mạnh, cha mẹ được kính trọng, chính quyền được tuân thủ”[20, tr.186], phục vụ ý đồ chính trị thực dân Trong lúc đó, giai cấp địa chủ phong kiến coi Nho học là cứu cánh, nên ra sức níu kéo nền học vấn bảo thủ này Do vậy, cuối thời nhà Nguyễn, nền Nho học có những thay đổi trong việc nhận thức lại các phạm trù triết học như: trời, mệnh trời, quan hệ giữa trời và người, lý, khí, … theo khuynh hướng tiến bộ và duy vật hơn Nho học bắt đầu chú ý đến thực học, coi trọng cả tri thức và thực hành, cố gắng sử dụng các tri thức trong học tập để ứng dụng giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống [39, tr.246] Sự duy trì nền học vấn Nho học cũng chỉ là tình thế bắt buộc đối với thực dân Pháp, nên dần dần, chúng đi đến xoá bỏ Nho học, vì Nho học có những yếu tố không phù hợp và cản trở sự cai trị của thực dân Pháp Thay vào đó, thực dân Pháp có những chủ trương cải cách mạnh mẽ nền văn hoá, giáo dục phù hợp với công cuộc khai thác thuộc địa Dần dần về sau, chữ Hán mất vị trí độc tôn trong nền giáo dục, các văn tự Hán được thay thế bằng các văn bản tiếng Pháp, hoặc nếu tồn tại thì giá trị pháp lý không bằng văn bản tiếng Pháp Thực dân Pháp tiến hành mở các trường đào tạo đội ngũ thông dịch viên và những người phục vụ trong bộ máy chính quyền là chủ yếu, còn việc đào tạo nghề phát triển rất ít Nhìn chung, trong nền giáo dục thực dân, chủ yếu giành cho con em của các tầng lớp trên, những nhà giàu có, còn đại đa số con em nhân dân lao động vẫn còn thất học
Về văn hoá, vào cuối thế XIX, nền văn minh phương Tây bắt đầu du nhập
nước ta Tại Bắc Kỳ, Viện Hàn lâm được thành lập, gồm các nhà khoa bảng Việt Nam và một số người Pháp Viện này được lập ra với mục đích là nhằm truyền
bá văn minh Pháp, đồng thời giúp cho người Pháp hiểu được văn hoá của Việt Nam Cùng với việc truyền bá tiếng Pháp, chữ quốc ngữ cũng được truyền bá rộng rãi và được đưa vào trường học để giảng dạy Đây là điều rất thuận lợi cho việc truyền bá tư tưởng và phát triển học thuật
Trang 29Bên cạnh việc xuất hiện chữ quốc ngữ, còn xuất hiện các tờ báo, các cơ sở
in ấn, các nhà xuất bản, tạo điều kiện cho việc truyền bá các trào lưu tư tưởng khác nhau Hàng loạt tờ báo đã xuất hiện, bên cạnh những tư tưởng phục vụ cho một bộ phận giai cấp cầm quyền, báo chí còn truyền bá những tư tưởng tiến bộ, như công khai truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản, truyền bá tư tưởng mácxít, phản đối, vạch rõ chủ nghĩa cải lương phản bội lại lợi ích của dân tộc, chống lại chủ nghĩa thực dân và phong kiến Các tác phẩm văn học trong thời kỳ này có những thay đổi đáng kể, đặc biệt là về thể loại, về nội dung phản ánh, tạo nên sự
đa dạng về tư tưởng, học thuật, thổi một luồng gió mới trên diễn đàn văn học Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX
Khi nền văn hoá phương Tây du nhập Việt Nam, Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo đã từng tồn tại hàng trăm năm ở đây đã xuất hiện sự khủng hoảng Để tồn
tại và phát triển trên mảnh đất của mình, một vấn đề mang tính tất yếu là các hệ
tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo phải có những thay đổi nhất định, phù hợp với yêu cầu thực tiễn Nếu như trước đó, các hệ tư tưởng này mang tính bảo
thủ, cố hữu những quan điểm tư tưởng của mình thì đến nay chúng cởi mởi hơn, nhiều phạm trù tư tưởng biến đổi theo khuynh hướng duy vật hơn, thiết thực hơn, hướng đến thực tiễn nhiều hơn Cho nên, có thể nói, khi văn hoá phương Tây du nhập, cùng với sự thay đổi của kinh tế – xã hội thì tư tưởng Việt Nam có sự thay
đổi lớn về tính chất và khuynh hướng phát triến của nó
Về khoa học, kỹ thuật đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã cho xây dựng các
cơ sở nghiên cứu khoa học như: Túc mễ cục, Viện Hải dương học, thành lập Hội đồng nghiên cứu khoa học (1928),… Về thực chất, thực dân Pháp tập trung các
nhà kỹ sư để nghiên cứu, tìm hiểu tài nguyên, của cải đất nước ta, phục vụ cho mục tiêu khai thác thuộc địa Trình độ kỹ thuật trong nền kinh tế nước ta đạt trình độ rất thấp so với sự phát triển chung của thế giới và các nước tiên tiến trong khu vực
Những biến đổi về văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật đã tạo nên những biến đổi trong nhận thức và tư tưởng trong lịch sử dân tộc ta Mặc dù, thực dân Pháp đặt ách nô dịch về văn hoá, giáo dục nhưng với tinh thần tự tôn, độc lập, tự
Trang 30chủ, trong đời sống nhân dân ta đã có những thay đổi nhất định về sự hiểu biết thế giới xung quanh, về chính trị, xã hội, văn hoá, khoa học, kỹ thuật Mặt khác, trong đội ngũ trí thức, một bộ phận có ý thức tự tôn dân tộc đã tích cực, chủ động tiếp thu tư tưởng tiến bộ của phương Tây nói riêng và nhân loại nói chung để truyền bá trong đời sống tinh thần xã hội Những tri thức mới về các lĩnh vực của nền văn minh nhân loại được truyền bá vào nước ta, đây là yếu tố rất cần thiết cho việc đổi mới tư duy của các nhà tư tưởng, làm cho họ có thêm những nhận thức mới, tạo ra một sức bứt phá mãnh liệt với hệ tư tưởng phong kiến Trong tầng lớp sỹ phu tiến bộ như Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, hay như các trí thức Tây học như Nguyễn An Ninh, … do tác động của tri thức khoa học nên đã tạo nên bước chuyển rất quan trọng trong tư tưởng của họ Như vậy, trước khi thực dân Pháp xâm lược, thực trạng kinh tế, xã hội Việt Nam là chế độ phong kiến thuần nhất chưa xuất hiện nhu cầu cải cách và phát triển lên một phương thức sản xuất mới Khi thực dân Pháp xâm lược, các cuộc cải cách của Nhật Bản, Trung Quốc dội vào, các trào lưu truyền bá văn hoá phương Tây, sự tác động của chủ nghĩa tư bản, … đã buộc dân tộc ta phải chuyển biến theo điều kiện riêng của Việt Nam Có thể nói, sự chuyển biến về điều kiện lịch sử – xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một trong những yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành quá trình chuyển biến tư tưởng của các nhà tư tưởng
1.3 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
Hình thành quá trình hình thành, chuyển biến tư tưởng Việt Nam cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX không chỉ xuất phát từ những đặc điểm, điều kiện lịch sử
xã hội Việt Nam mà còn là sự kế thừa những tiền đề lý luận, tiền đề tư tưởng trước và trong thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong đó quan trọng nhất là tư tưởng Tân thư, tư tưởng canh tân và chủ nghĩa Mác – Lênin
Tư tưởng “Tân thư” là một trào lưu tư tưởng truyền bá các học thuyết tiến
bộ của nước ngoài vào Việt Nam Đối lập với Tân thư là Cổ thư, có nội dung văn
Trang 31hoá – giáo dục phong kiến truyền thống Khái niệm “Tân thư” được hiểu là một danh từ khá bao quát để chỉ các sách báo xuất hiện ở Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam, giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chứa đựng kiến thức mới của châu Âu - Mỹ Tư tưởng “Tân thư” ảnh hưởng vào nước ta từ hai nguồn, một là nguồn trực tiếp, hai là nguồn gián tiếp thông qua Nhật Bản và Trung Quốc, trong đó, nguồn gián tiếp là cơ bản nhất Nhật Bản sớm chủ động sang các nước Tây Âu để học tập khoa học tiến bộ, đồng thời mời chuyên gia nước ngoài đến đào tạo nguồn nhân lực, truyền bá khoa học, kỹ thuật, … Về khoa học xã hội, đến năm 1887, Nhật Bản dịch được 633 cuốn sách, chủ yếu là sách tiếng Anh và tiếng Pháp Vì khó khăn trong tiếp xúc với tiếng Nhật nên chúng ta tiếp thu tư tưởng Tân thư chủ yếu qua sách báo Trung Quốc được dịch từ tiếng Nhật
Do đó, tư tưởng Tân thư vào nước ta đã qua sự khúc xạ của Nhật Bản và Trung Quốc tạo nên những biến đổi nhất định về nội dung Vậy sự ảnh hưởng của tư tưởng Tân thư vào nước ta có phải là tất yếu khách quan hay không?
Như trên đã nêu ra, sự biến chuyển về cơ cấu kinh tế và xã hội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam là nền tảng vật chất cho sự giao lưu với những trào lưu tư tưởng, văn hoá mới Mặt khác, trước sức tác động của sức mạnh vật chất và sự đe doạ xâm lược của các nước phương Tây đối với Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, … cũng đặt ra yêu cầu đổi mới Tư tưởng Tân thư là cơ sở lý luận, đáp ứng được yêu cầu đó, nên tiếp thu tư tưởng Tân thư không phải là sự chủ xướng của một vài cá nhân hay nhóm người, mà là một đòi hỏi của lịch sử
Về thực tiễn, Nhật Bản bằng cuộc cải cách đã trở thành nước tư bản chủ nghĩa phát triển, là bằng chứng sinh động của việc tiếp thu Tân thư Như vậy cả về mặt
lý luận và thực tiễn, việc tiếp thu tư tưởng Tân thư đối với nước ta là tất yếu khách quan, phù hợp với tình hình chung của khu vực và của nước ta, đáp ứng yêu cầu đổi mới của dân tộc
Tư tưởng Tân thư ảnh hưởng đến nước ta bao gồm nhiều lĩnh vực: triết học,
kinh tế, chính trị, văn hoá, … Trong lĩnh vực tư tưởng chính trị, nội dung cơ bản
ảnh hưởng đến nước ta là tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản Tiêu biểu cho trào lưu tư tưởng này là Vonte (Voltaire 1694 – 1778), Môngtetxkiơ (Montesquieu
Trang 321689 – 1755), Rútxô (Rousseau 1712 – 1778), … Tư tưởng dân chủ tư sản của các ông đã ảnh hưởng rất lớn đến các nhà tư tưởng Việt Nam nói riêng và các dân tộc phương Đông nói chung Tại Nhật Bản, những tư tưởng đó thâm nhập rất sâu vào đời sống chính trị xã hội, qua đó, ảnh hưởng đến bộ phận du học sinh Việt Nam (năm 1908 lên đến 200 người) [38, tr.142] tại Nhật Bản, và thông qua con đường này ảnh hưởng vào Việt Nam Phan Bội Châu viết: “Tôi từ sau khi đến Nhật Bản, từng nghiên cứu nguyên nhân cách mạng ngoại quốc và chính thể
ưu liệt ở Đông Tây, càng nhận được lý luận của Lư-thoa là tinh đáng lắm”[7, tr.211] Còn Phan Châu Trinh được tiếp xúc với tư tưởng dân chủ sớm hơn Phan Bội Châu, ông viết: “Buổi ấy các danh sỹ nước Pháp như Lư-thoa, Mạnh-đức-tư-cưu, Phúc-lộc-đặc-nhĩ (Rousseau, Montesquieu, Voltaire), v.v… kế tiếp nhau nổi lên phát huy cái nghĩa dân quyền, chẳng đầy vài mươi năm mà cái thế lực ảnh hưởng ra khắp toàn châu Âu”[16, tr.613]
Tuy nhiên, sự ảnh hưởng tư tưởng dân chủ ở phương Tây đối với các nhà tư tưởng nước ta cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là tư tưởng dân chủ nói chung, còn bản chất dân chủ tư sản thì các nhà tư tưởng chưa thể nhận thức đúng đắn Nên trong tư tưởng của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, … có lúc còn mơ hồ, có lúc tuyệt đối tin vào chế độ dân chủ của phương Tây, đặc biệt là nền dân chủ Pháp Tư tưởng dân chủ có mối liên hệ mật thiết với nhiệm vụ phản phong của dân tộc ta những năm đầu của thế kỷ XX Phan Châu Trinh chịu ảnh hưởng rất lớn tư tưởng dân chủ tư sản, coi nền dân chủ Pháp là văn minh nhân loại, nên chủ trương dựa vào Pháp để xây dựng dân chủ ở Việt Nam, đặt nhiệm
vụ phản phong lên hàng đầu và chủ trương đấu tranh bằng con đường hoà bình Bên cạnh học thuyết dân chủ, còn có học thuyết tiến hoá luận, mà nổi bật là thuyết cạnh tranh và sinh tồn Nó là cơ sở lý luận cho việc đề ra nhiệm vụ phản
đế, tiêu biểu là nhà tư tưởng Phan Bội Châu, cho nên, ông chủ trương phải dùng bạo lực để lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân
Quá trình truyền bá tư tưởng Tân thư vào nước ta, không chỉ có các tư tưởng tiến bộ của phương Tây mà còn có cả những bài học kinh nghiệm canh tân của Trung Quốc và Nhật Bản Ở Trung Quốc tư tưởng canh tân của Khang Hữu
Trang 33Vi (1858 – 1927), Lương Khải Siêu (1873 – 1929), Tôn Trung Sơn (1866 – 1925) có ảnh hưởng rất lớn đến Việt Nam Tư tưởng Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi do ảnh hưởng của tư tưởng nhân quyền, tư tưởng khế ước xã hội, tư tưởng pháp quyền phương Tây, nên đã thực hiện một cuộc đả phá mạnh mẽ đối với quan niệm “Thiên bất biến, đạo diệc bất biến” về chính trị nhằm bảo vệ quyền lợi giai cấp phong kiến, nó tồn tại rất dai dẳng cho nên kìm hãm sự phát triển của lịch sử xã hội Trung Quốc và Việt Nam
Khang Hữu Vi là một nhà tư tưởng canh tân lớn của Trung Quốc thời cận
đại Về tư tưởng chính trị của ông, nổi bật là: chủ trương xây dựng một xã hội
“đại đồng” lý tưởng, thiên hạ là của chung, mọi người đều bình đẳng như nhau, không có sự phân biệt giàu hay nghèo, nam hay nữ, thần hay người, chủng tộc này hay chủng tộc kia Trong xã hội đại đồng không có vua chúa, quốc gia thành cộng đồng, mọi người đều tham gia sản xuất, thực hiện công bằng xã hội [12, tr.670] Tuy nhiên, tư tưởng chính trị của ông là tư tưởng phi giai cấp, không thừa nhận đấu tranh giai cấp, chưa đánh giá đúng vai trò của quần chúng nhân dân, mà trái lại, quá đề cao vai trò của cá nhân, anh hùng sáng tạo ra lịch sử Khang Hữu Vi còn đưa ra thuyết Tam thế, cho rằng xã hội loài người luôn luôn vận động và phát triển, Đây là quan điểm khá tiến bộ, có giá trị chống lại quan điểm duy tâm về lịch sử “Thiên bất biến, đạo diệc bất biến” Quan điểm chính trị của Khang Hữu Vi, mang màu sắc của chủ nghĩa nhân đạo tư sản, sự ảnh hưởng
tư tưởng phong kiến vẫn chưa được khắc phục triệt để Tư tưởng của ông thể hiện một tư duy chính trị khá sắc bén, mở đầu cho sự phát triển tư duy chính trị của Trung Quốc đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại Tiếp thu và kế thừa tư
tưởng của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu với chủ trương “biến pháp”, theo
quan niệm của ông thì “biến pháp” trước hết là đổi mới quan niệm về cái gọi là
“quốc gia” Quốc gia không thể xem là “tài sản tư hữu của vua chúa khanh tướng” mà phải là “của chung của dân chúng trong nước”[63, tr.180] Tư tưởng của ông thể hiện một sự đổi mới khá triệt để so với tư tưởng tôn quân quyền của
hệ tư tưởng Nho giáo Ban đầu, nếu trong chế độ phong kiến, quốc gia là của vua hay của một nhóm người, thì nay, hoàn toàn khác hẳn, đó là của chung, của toàn
Trang 34thể dân chúng, vai trò của quần chúng nhân dân phần nào đã được đề cao trong
tư tưởng của Lương Khải Siêu, đây là luồng gió mới thổi vào đời sống tinh thần Trung Quốc thời bấy giờ và ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà tư tưởng Việt Nam Phan Bội Châu khi đọc sách của Lương Khải Siêu đã cảm phục tài trí của ông và viết: “Trước khi tôi còn ở trong nước, từng được đọc mấy bản sách của Lương Khải Siêu, … thấy văn chương hay, tư tưởng mới, thì đã sẵn lòng sùng bái Lương”[7, tr.88]
Theo Lương Khải Siêu, bên cạnh việc đổi mới tư tưởng chính trị thì quan niệm đạo đức cũng phải được thay đổi, đạo đức không phải là “ép xác bớt lỗi”,
“tồn tâm dưỡng tính”, … mà phải thực hiện quyền con người mà trời đã phú cho
nó, tức là những quyền: quyền hiểu biết, quyền độc lập, quyền hợp quần, quyền
tự do, … Tất cả những quyền này không phải là bất biến mà phải phát triển theo thời gian, trong đó, ông đề cao quyền tự do của con người “tự do là luật chung trong thiên hạ, là điều thiết yếu của con người”[63, tr.180]
Tư tưởng Tân thư cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cung cấp lượng tri thức
đồ sộ trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó làm thay đổi nhận thức nói chung và nhận thức chính trị nói riêng Tư tưởng tân thư lên án cái bảo thủ, lạc hậu của chế độ quân chủ, và ca ngợi cái hay, cái tốt của chế độ dân chủ tư sản cho nên đã hướng các nhà tư tưởng chính trị lựa chọn đi theo con đường cách mạng dân chủ tư sản Những bài học quý giá từ các sách báo của Nhật Bản, Trung Quốc về cuộc canh tân đặt vấn đề cho các nhà tư tưởng nước ta là cần phải làm như thế nào để đổi mới, phát triển đất nước theo kịp Trung Quốc và Nhật Bản Có thể khẳng định, tư tưởng Tân thư đã góp phần nâng cao tầm vóc tư duy lý luận, đặc biệt là tư duy lý luận chính trị của các nhà tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Sự ảnh hưởng của tư tưởng Tân thư vào nước ta rất mạnh mẽ đến tư duy chính trị dân tộc, đặc biệt là trong một bộ phận sỹ phu yêu nước tiến bộ Từ thực trạng đất nước và những giá trị tiến bộ trong Tân thư tiếp thu được, các sỹ phu đã
đề xuất tư tưởng canh tân đất nước
Trang 35Tư tưởng canh tân là một trào lưu tư tưởng của tầng lớp trí thức yêu nước,
tiến bộ, xuất hiện vào thế kỷ XIX, với chủ trương vận dụng những tri thức mới của văn minh nhân loại nhằm đổi mới toàn diện, phát triển kinh tế xã hội của đất nước theo kịp sự phát triển của thời đại Đối lập với tư tưởng canh tân là tư tưởng thủ cựu của một bộ phận quan lại triều đình nhà Nguyễn Họ áp dụng tư tưởng “trọng vương, khinh bá” cho đường lối đối nội, tư tưởng “nội hạ, ngoại di” cho đường lối đối ngoại Khi thực dân Pháp xâm lược, những người theo tư tưởng này, thường là người theo phái “chủ chiến” Mặc dù vậy, họ cũng không thể làm được điều gì để cải biến tình hình hiện tại, đặc biệt là họ không chịu đổi mới, xa lạ với tư tưởng canh tân Nhìn chung, tư tưởng trong tầng lớp này chủ yếu vẫn là “trọng xưa hơn nay”, “trọng Đông, khinh Tây”, không chịu tiếp thu tư tưởng của phương Tây hiện đại cũng như các giá trị văn hoá thế giới Ở nước ta cuối thế kỷ XIX, nhiều nhà nho đề xuất tư tưởng canh tân nhằm phát triển đất nước như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ…
Đặng Huy Trứ (1825-1874) là một trong những người có tư tưởng cải cách
đầu tiên, theo ông, vấn đề quan trọng nhất là phải tiến hành cải cách đất nước trên các mặt: quân sự, kinh tế, xã hội, … Về quân sự, ông đề cao tư tưởng chiến tranh nhân dân, coi nhân dân là lực lượng cách mạng hết sức quan trọng bảo vệ đất nước Vai trò của nhân dân được ông xác định: “Dân là gốc của nước, là chủ của thần”[68, tr.224], “khí mạnh của nước là lấy dân làm gốc”[68, tr.284], “Dân
ta vốn đủ sức xoay trời lại”[68, tr.90],… Tin vào sức mạnh của dân nên ông kêu gọi tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết nhân dân, nhất trí đứng lên chống giặc ngoại xâm Bên cạnh đó, ông cũng chú trọng đến vai trò “gia trưởng” - người lãnh đạo dân chúng, ông đặt ra yêu cầu “Phận tôi lo nước phải siêng lòng”[69, tr.296], có như vậy thì đất nước mới phồn vinh, nhân dân hạnh phúc Về kinh tế, theo Đặng Huy Trứ, không có gì bằng phải làm cho dân giàu, nước mạnh, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội Ông viết: “Làm cho dân giàu nước mạnh đâu phải một việc phải lo toan nhiều”[68, tr.370], “Làm ra của cải, cái đạo lý lớn ấy là việc không thể coi nhẹ được”[68, tr.374] Theo ông, phải
Trang 36lấy vật chất để chiến thắng vật chất, làm cho đất nước vững mạnh về kinh tế để chống lại ngoại xâm Đây là quan điểm khá tiến bộ hồi bấy giờ, ông chú ý đến sức mạnh vật chất, trong khi một số quan lại phong kiến vẫn trong vòng luẩn quẩn của thế giới quan duy tâm và tư duy thơ văn, phù phiếm
Cùng với Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ là một hệ thống khá đồ sộ,
toàn diện trên các mặt: triết học, và tư tưởng đổi mới về chính trị, quân sự, giáo dục, nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngoại giao,… Nguyễn Trường Tộ là nhà Nho học uyên thâm, giỏi Tây học, được đi nhiều nơi trên thế giới, mặt khác lại không bị ràng buộc bởi hệ tư tưởng Nho giáo và triều đình nhà Nguyễn, nên tư tưởng của ông phóng khoáng, có sức bật khá mạnh mẽ so với các nhà tư tưởng canh tân cùng thời, nổi bật trên diễn đàn tư tưởng thời bấy giờ! Một trong những vấn đề đầu tiên, nổi bật trong tư tưởng Nguyễn Trường Tộ
là ông đã luận giải được tại sao phải tiến hành đổi mới đất nước? Ông cho rằng:
“Thời đại nào có chế độ ấy Con người sinh ra thời đại nào cũng chỉ đủ làm công việc của thời đại ấy mà thôi Vậy thì người sinh vào thời xưa làm xong công việc của thời xưa Rồi dần dần thời thế đổi đời, làm sao có thể mỗi mỗi ôm giữ phép xưa mãi được”[1, tr.260]? Khảo sát tình hình phát triển của phương Tây, ông thấy, nhờ đổi mới mà các nước đã phát triển nhanh chóng, “Họ đã đến lúc lúc trưởng thành Xem thời thế vận hội trong thiên hạ thì đã đến lúc tiến dần đến thời tráng thịnh, tung hoành bốn phương …”[1, tr.260] Do đó, muốn đất nước trường tồn và phát triển thì phải tiến hành đổi mới, đây là việc cần thiết nhất và quan trọng của thời đại
Vấn đề thứ hai trong tư tưởng Nguyễn Trường Tộ, đó là quan niệm về thời
và thế, đặc biệt, ông nhận thức rất rõ về thời và thế của dân tộc So sánh tương quan lực lượng vật chất của dân tộc ta với thực dân Pháp, ông cho rằng, muốn đánh Pháp phải chờ thời và tạo thời chứ không thể thực hiện ngay một lúc Thực trạng đất nước ta rất hạn chế về nhiều mặt, kinh tế sa sút, chính trị mục ruỗng, đời sống nhân dân khổ cực, kỹ thuật lạc hậu, nên, việc chống lại thực dân Pháp là hết sức khó khăn Căn cứ vào thực trạng, ông đề xuất chủ trương hòa với Pháp
để tìm cơ hội phát triển đất nước Việc ông chủ trương hoà với Pháp không phải
Trang 37theo tư duy nhu nhược của phái chủ hòa trong triều đình phong kiến, bản thân ông, không hề có lợi ích trong chế độ phong kiến, thực dân chi phối, cho nên, không thể liệt ông vào những người nhu nhược, không có tinh thần dân tộc, sở dĩ ông chủ trương hòa là vì ông nhận thức rất rõ về thời và thế Ông viết: “Trộm nghĩ việc trong thiên hạ chỉ có “thế” mà thôi Chữ “thế” là nó bao gồm cả thiên thời nhân sự Cho nên, người biết rõ “thế” thì không trái trời, không mất thời, không hại người, không hỏng việc”[1, tr.122] Cho nên, phải hoà với Pháp, nhanh chóng chớp lấy thời cơ, vận hội để tiến hành đổi mới, xây dựng đất nước Với quan điểm ấy, chứng tỏ Nguyễn Trường Tộ có tư duy chính trị hết sức sắc bén, nhạy cảm, am hiểu thời cuộc, những nhận định về thời cuộc mang tính lịch
sử - cụ thể Trên cơ sở quan niệm thời và thế, không chỉ có Nguyễn Trường Tộ
mà cả Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch, … đều nhận định nước ta đã đến lúc phải tiến hành đổi mới Như vậy, tư tưởng thời thế không còn là ý thức cá nhân
mà trở thành ý thức xã hội, vấn đề là những người cầm quyền phải nhận thức và
vận dụng như thế nào để hiện thực hoá tư tưởng
Tư tưởng Nguyễn Trường Tộ là một hệ thống khá đa dạng và phong phú: tư tưởng triết học, tư tưởng về phát triển kinh tế, tư tưởng về chính trị, … Theo ông trên thế giới đã có những thay đổi quan trọng nhất là về khoa học, cho nên nước
ta cần phải mở cửa để tiếp thu những thành tựu khoa học của phương Tây thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Chúng ta không thể đóng cửa, bế quan toả cảng làm cho bế tắc con đường phát triển Ông đề xuất tư tưởng về thời và thế, theo ông đã đến lúc chúng ta cần đổi mới, canh tân, vận hội đã đến không thể khoanh tay ngồi chờ
Về đường lối chính trị, Nguyễn Trường Tộ đề cao chế độ quân chủ tập quyền hiện thời, quyền lực tuyệt đối thuộc về nhà vua, tư tưởng này được ông
trình bày trong bản điều trần: Ngôi vua là quý, chức quan là trọng[1, tr.202]
Theo ông, “Mọi quyền lợi hành vi trong một nước phải do vua nắm, và cùng với quốc dân chia sẻ nỗi vui buồn”, “Cho nên nước dù có vua bạo ngược còn hơn không có vua”[1, tr.202] Tư tưởng tôn quân quyền của Nguyễn Trường Tộ, có thể nói là tư tưởng khá phổ biến thời bấy giờ, bởi chịu sự ảnh hưởng của tư
Trang 38tưởng Nho giáo Tuy nhiên, trong bối cảnh hỗn loạn của thời thế, ngoại xâm đang thôn tính đất nước thì yêu cầu thống nhất quyền lực để ổn định tình hình xã hội là vấn đề rất quan trọng Cho nên, sẽ không khách quan nếu như đánh giá tư tưởng chính trị Nguyễn Trường Tộ là thủ cựu, lạc hậu Điều quan trọng mà ông nhận thức được, chính là cần phải duy trì ổn định chế độ phong kiến nhưng phải cải cách, đổi mới cho phù hợp, giống như Nhật Bản đã sớm đổi mới, đạt được nhiều thành tựu, một thể chế quân chủ tập quyền được cai quản đời đời một dòng
họ Ông viết: “Tôi xem khắp các nước trong thiên hạ, hễ nước nào có một dòng
họ được bề tôi đời đời giúp rập thì tuy đôi khi có suy vi nhưng trong nước cũng không đến nỗi có loạn lớn”[1, tr.203] Quan niệm của ông đã ảnh hưởng rất lớn đến Phan Bội Châu, ban đầu, Phan Bội Châu sang Nhật Bản học tập và giương cao ngọn cờ quân chủ với chủ trương là xây dựng chế độ quân chủ, sau đó mới chuyển sang chế độ cộng hoà
Về đối nội, theo Nguyễn Trường Tộ, cần phải thiết lập và củng cố tư tưởng chính danh, định phận trong xã hội theo thứ tự đẳng cấp, ông viết: “Vua có bổn phận của vua, quan có bổn phận của quan, dân có bổn phận của dân Danh phận mỗi người đều có cái quý trọng riêng”[1, tr.205] Ông còn nói: “Mỗi người đều được đặt mỗi vị trí Khả năng nào thì vào nghề ấy”[1, tr.205] Bên cạnh đó, Nguyễn Trường Tộ còn nhận thức và chịu ảnh hưởng của tư tưởng pháp quyền
tư sản Một mặt ông kêu gọi, đề cao chế độ quân chủ, mặt khác, ông lại đề cao luật pháp, cho rằng vua cũng cần phải tuân theo pháp luật Ông viết: “Kẻ làm vua biết rõ cái điều trời phó thác cho mình là nặng nề, mọi phúc họa đều do trách nhiệm ở vua, cho nên tự hạ mình ghép vào vòng pháp luật”[1, tr.203] Theo ông, pháp luật có vai trò làm cho mọi người bình đẳng, công bằng, nên quản lý xã hội bằng pháp luật thì sẽ ổn định Ông viết “Bề trên lo giữ pháp độ, lo việc nước thì chỉ dùng người hiền, đã theo công lý giữ pháp luật thì trên sẽ hợp điển chế không
ai dị nghị, sự nghiệp không suy đốn”[1, tr.204] Có thể thấy trong tư tưởng Nguyễn Trường Tộ, đan xen cả hai luồng: tư tưởng Nho giáo, và tư tưởng tư sản
Sự dao động tư tưởng của ông đã phản ánh phần nào những đặc điểm giao thời của lịch sử dân tộc ta, cái cũ còn chưa mất đi, nhưng cái mới cũng chưa thật sự
Trang 39hình thành Đó là quy luật phổ biến trong tư tưởng của các nhà canh tân đương
đại
Nhìn chung, tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ là muốn ổn định chính thể quân chủ để phát triển kinh tế – xã hội Theo ông, mô hình này cần phải thay đổi, trước hết là cải cách bộ máy hành chính, bổ sung, đào tạo lại đội ngũ quan lại có thực tài để quản lý, phát triển đất nước Ông đã nêu ra mười bốn điều đại cương
về cải cách bộ máy nhà nước, mặc dù ông phê phán quan điểm “dân là quý, rồi mới đến vua” nhưng ông cũng đã ý thức được mối quan hệ dân với vua – người quản lý, lãnh đạo xã hội, đồng thời mối quan hệ đoàn kết nhân dân Ông viết:
“… trong nhân dân còn có những sự liên kết với nhau để phụ giúp lẫn nhau như
là kẻ đứng bên cạnh giúp vào, để giúp thêm vào mười mấy điều kia thì không thể nào kể hết được” và “bậc làm vua phải biết rõ cái thế trường cửu đã có, không có bụng nghi ngờ bề tôi ở dưới, kẻ làm dân biết rõ cái lợi hại của việc trị việc loạn nên không có cái chí phạm thượng”[1, tr.206] Theo ông, trong tình hình hiện thời, việc vua, quan, dân không tin tưởng ở nhau là điều kiện tốt cho kẻ thù xâm lược, cho nên, phải thống nhất thành một khối để chống lại ngoại xâm Có thể nói, tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ về cơ bản không phải là tư tưởng cách mạng, nhưng điều quan trọng ảnh hưởng đến các nhà tư tưởng cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX là sự đổi mới tư duy nhằm cải biến hiện thưaix hội và hướng đến
tương lai
Tư tưởng canh tân đã đặt ra những vấn đề mới mẻ như tư tưởng về đổi mới, thời thế, về sức mạnh của nhân dân, quan niệm mối quan hệ vua với nhân dân, về thể chế chính trị, … đã tác động không nhỏ đến tư tưởng của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, … Phan Bội Châu viết: “Tôi về xem những pho sách ấy mới hiểu qua được thời trạng cạnh tranh ở trong hoàn hải, thảm trạng vì quốc vong, họa sâu vì chủng diệt, càng kích thích ở trong óc sâu lắm”[7, tr.59] Đặc biệt, tư tưởng canh tân trở thành cơ sở lý luận, khơi dậy nhiều phong trào cải cách đất nước ở những mức độ nhất định
Cùng với tư tưởng Tân thư và tư tưởng canh tân của các sỹ phu yêu nước,
đầu những năm 20 của thế kỷ XX chủ nghĩa Mác – Lênin do Nguyễn Ái Quốc và
Trang 40các nhà trí thức yêu nước tiến bộ đã được truyền bá vào nước ta Chủ nghĩa Mác – Lênin đã kết thúc bước chuyển trong tư tưởng chính trị Việt Nam, trở thành hệ
tư tưởng của giai cấp công nhân và của toàn dân tộcViệt Nam Tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin xuất hiện vào những năm bốn mươi của thế kỷ XIX, song ảnh hưởng đến Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX còn hạn chế Bởi vì, chế
độ phong kiến đã cương tỏa sự nhận thức những trào lưu tư tưởng mới nói chung
và tư tưởng chủ nghĩa Mác nói riêng Đối với các nhà tư tưởng theo khuynh hướng dân chủ tư sản, sự ảnh hưởng chủ nghĩa Mác – Lênin bắt đầu khi những tìm tòi, khảo nghiệm và việc tổ chức thực hiện cách mạng dân chủ tư sản thất bại Đặc biệt, khi Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thành công thì sự ảnh hưởng đó mới được nhân rộng ra qua các nhà tư tưởng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Anh Ninh - những người đã thấy được ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin Các ông đã bắt đầu tiếp cận nhưng chưa thể chuyển sang hệ
tư tưởng mới ngay được Bởi vì muốn chuyển sang một hệ tư tưởng mới không chỉ có thiện cảm mà còn phải có thời gian để nghiên cứu, tìm hiểu Mặt khác, bản thân các nhà tư tưởng vừa chịu sự ràng buộc về mặt quan điểm, hoàn cảnh lịch sử, vừa chịu sự ngăn cản của các thế lực thù địch nên việc thực hiện bước chuyển từ tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản sang tư tưởng cách mạng vô sản là hết sức khó khăn Các nhà tư tưởng đã thực hiện một bước chuyển rất căn bản từ
hệ tư tưởng phong kiến sang hệ tư tưởng tư sản, họ đã hoàn thành vai trò của lịch
sử giao phó Đồng thời do hạn chế về khả năng nhận thức thời đại, cũng như sự biến chuyển của lịch sử xảy ra hết sức nhanh chóng, các nhà tư tưởng không thể lường hết được, không phản ánh kịp đối với sự vận động và phát triển của xã hội Tuy nhiên, các nhà tư tưởng Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh cũng nhận thấy chủ nghĩa Mác – Lênin đã vạch ra hướng đi mới cho dân tộc ta, còn tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản hết vai trò lịch sử Cho nên việc bàn giao thế hệ là tất yếu! Phan Châu Trinh đã có lời tâm sự với Nguyễn Ái Quốc rằng:
“Tôi biết anh hấp thu được cái chủ nghĩa của ông Mã-khắc-tư, ông Lý-ninh nên tôi cũng đem chuyện của hai ông ấy mà giảng dẫn cho anh rõ”[16, tr.697-698] và bản thân ông tự biết mình là người bi thời mẫn thế, chỉ biết mong mỏi vào thế hệ