Về phương diện khoa học xã hội và nhân văn, cho đến nay, vấn đề đạo đức trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu dường như chỉ được nhìn nhận, đánh giá chủ yếu trên các lĩnh vực: lịch sử, tư
Trang 1HUỲNH THỊ THÙY TRINH
VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC TRONG TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
HUỲNH THỊ THÙY TRINH
VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC TRONG TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60 31 70
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN HIỆU
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009
Trang 33
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được
sự động viên, giúp đỡ tận tình từ phía nhà trường, thầy cô, người thân
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô ở Khoa Văn hóa học đã dạy bảo trong quá trình đào tạo cao học, để tôi có được những kiến thức như ngày hôm nay, cụ thể là qua kết quả luận văn này
Tôi xin gởi lời tri ân đến Ban quản lý lăng mộ Nguyễn Đình Chiểu đã giúp
đỡ, tạo điều kiện cho tôi thăm viếng cũng như ghi lại được những hình ảnh nơi
an nghỉ và một số thông tin về cuộc đời - sự nghiệp của cụ Đồ Chiểu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Hiệu – người đã tận tình hướng dẫn, khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn Bên cạnh đó, tôi xin cảm ơn sự trợ giúp, động viên to lớn về mặt vật chất và tinh thần từ gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp
Mặc dù đã cố gắng hoàn thành luận văn nhưng chắc chắn tôi không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong Quý thầy cô chỉ bảo
TP.HCM, ngày tháng năm 2009
Tác giả
Huỳnh Thị Thùy Trinh
Trang 44
MỤC LỤC
MỤC LỤC 4
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 7
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
3 Lịch sử vấn đề 8
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 16
5 Ý nghĩa khoa học 17
6 Bố cục của luận văn 17
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 19
1.1 Cơ sở lý luận 19
1.1.1 Văn hóa 19
1.1.2 Văn hóa đạo đức 20
1.1.3 Tiếp biến văn hóa 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu 28
1.2.2 Cơ sở hình thành văn hóa đạo đức thể hiện qua tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu 33
CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC TRONG TÁC PHẨM NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU 38
2.1 Quan điểm đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu 38
2.2 Phạm trù Nhân - Nghĩa 46
2.3 Phạm trù Trung - Hiếu 62
2.4 Các phạm trù khác 71
CHƯƠNG 3: ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU ĐỐI VỚI VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC NAM BỘ 75
3.1 Nguyễn Đình Chiểu - Biểu tượng của văn hóa đạo đức Nam Bộ 75
Trang 55
3.2 Phổ biến hệ giá trị văn hóa đạo đức tiến bộ và mang màu sắc Nam Bộ 82
3.3 Đóng góp đối với sự phát triển của một số lĩnh vực văn hóa Nam Bộ 88
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 108
Trang 66
Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888)
Trang 77
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà văn – nhà thơ tiêu biểu của văn học Nam Bộ, đồng thời là nhà tư tưởng, một nhà đạo đức có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống nhân dân Nam Bộ nói riêng và người dân Việt Nam nói chung Sự nghiệp sáng tác của ông phản ánh rõ nét tình hình văn hóa xã hội thời bấy giờ Do đó, nghiên cứu văn hóa đạo đức trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu sẽ góp phần làm nổi bật tư tưởng đạo lý xuyên suốt của ông trong một giai đoạn lịch sử và góp phần hiểu thêm về văn hóa đạo đức Nam Bộ
Về phương diện khoa học xã hội và nhân văn, cho đến nay, vấn đề đạo đức trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu dường như chỉ được nhìn nhận, đánh giá chủ yếu trên các lĩnh vực: lịch sử, tư tưởng, chính trị, văn học, giáo dục mà chưa được quan tâm nhiều trên lĩnh vực văn hóa Vì vậy, nghiên cứu văn hóa đạo đức trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu sẽ góp phần hiểu thêm vai trò và vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn hóa Nam Bộ Đây là việc làm có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Về phương diện văn hóa sử, Nguyễn Đình Chiểu là người sống trong giai đoạn triều đình nhà Nguyễn suy thoái, đất nước rơi vào cuộc chiến tranh xâm lược
Ở Nam Bộ, sự du nhập văn minh – văn hóa phương Tây đã làm thay đổi diện mạo
xã hội thời ấy với nhiều chuyển biến mạnh mẽ, trong đó, vấn đề đạo đức được đặt
ra Nguyễn Đình Chiểu được xem như người tiên phong trong việc dùng sáng tác để nêu rõ sự sa sút của các giá trị đạo đức dân tộc; đồng thời ông cũng nhằm giáo dục, khuyên mọi người giữ vững những giá trị đạo đức cao đẹp, những phong tục tập quán truyền thống từ ngàn đời của dân tộc Nghiên cứu văn hóa đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu là góp phần tìm hiểu văn hóa đạo đức Nam Bộ trong buổi đầu
Trang 8cơ sở những tư liệu mang tính chất khái quát Vì vậy, việc thực hiện công trình nghiên cứu văn hóa đạo đức trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu là cơ hội để tìm hiểu sâu hơn và có cái nhìn tổng quan về những đóng góp của ông trong sự nghiệp văn hóa dân tộc; đồng thời cũng là góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất Bến Tre và tự hào là người con của quê hương Đồ Chiểu
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa đạo đức trong tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu trong bối cảnh văn hóa đạo đức Nam Bộ
2.2 Phạm vi nghiên cứu: Vì văn hóa đạo đức là khái niệm rộng nên phạm vi nghiên cứu tập trung chủ yếu ở khía cạnh quan niệm đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu qua các phương diện: văn hóa nhận thức, và văn hoá ứng xử với môi trường
xã hội… trong giai đoạn trước khi thực dân Pháp xâm lược miền Nam (1820 - 1858) và sau khi thực dân Pháp xâm lược miền Nam (1858 – 1888) Các phương diện này sẽ được nghiên cứu dưới góc độ văn hóa
Trang 99
Viết về Nguyễn Đình Chiểu đã có rất nhiều công trình, từ công trình nghiên cứu về văn học, lịch sử đến y học, tư tưởng, kể cả các tư liệu về tiểu sử tác giả Mỗi lĩnh vực đều nhấn mạnh đến khía cạnh đạo đức trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu cũng như trong đời sống Nguyễn Đình Chiểu
Trong Sưu tập các bài báo viết về Nguyễn Đình Chiểu (1973), Phủ Quốc vụ
khanh đặc trách văn hóa (của Chính quyền Sài Gòn)có bài viết của Nguyễn Bá Thế
“Tinh anh bất tử - Nguyễn Đình Chiểu hiện thân của đạo đức, chính khí” Tác giả
đã nêu bật được tấm lòng trọn đạo, thương đời của Nguyễn Đình Chiểu với sự tôn kính dành cho một “đấng tài hoa” Đặc biệt, ông rất tâm đắc khúc ca “chính khí”
trong tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp mà theo ông thì “tinh thần đạo đức và cái
chính khí của cụ thật đáng được muôn đời ngưỡng mộ” [Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa 1973: 70]
Trong tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu - đạo làm người (1983), tác giả Trần Văn Giàu đã đúc kết: “Bất kỳ tác phẩm nào của Nguyễn Đình Chiểu cũng đều có
nói tới đạo làm người và trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời cụ, người ta cũng đều rút ra được những bài học lớn về đạo làm người… trước nay chưa có một nhà đạo đức luân lý nào, chưa có một bậc phụ huynh nào phản đối hay ngần ngại việc cho thanh niên, cho con em đọc các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu…” [Trần Văn Giàu 1983: 28]
Trong Kỷ yếu Hội nghị khoa học về Nguyễn Đình Chiểu nhân kỷ niệm lần
thứ 160 ngày sinh của nhà thơ (1822 – 1982), tác giả Huỳnh Như Phương có bài
viết “Suy nghĩ về yếu tố đạo lý trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu” với những phân tích khá sâu sắc làm nổi rõ quan niệm đạo lý của Nguyễn Đình Chiểu: “Nếu trong Lục Vân Tiên, đạo lý Nho giáo đã nhập thân vào những con người bằng xương bằng thịt, thì trong thơ văn yêu nước chống Pháp, hầu như đạo lý đó không vượt ra khỏi phạm vi của những khái niệm […] Cách giải quyết của nhà thơ ngày càng cải hóa đạo lý ấy bằng cách nhấn mạnh những gì là tinh hoa nhất, vừa đưa vào đó, với
Trang 1010
một tỉ trọng lớn hơn, đạo đức truyền thống của nhân dân”…[Viện KHXH 1983: 72]
Đến công trình nghiên cứu của Lữ Văn Châu Nguyễn Đình Chiểu - Nhà thơ
đạo lý (1996), tác giả có cách nhìn hệ thống và nhất quán về cuộc đời và thơ văn
của cụ khi tập trung đi sâu vào lĩnh vực đạo lý cũng như hệ thống lại quan niệm đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu ở mỗi giai đoạn
Bên cạnh đó còn có công trình khá đồ sộ và công phu của tác giả Ca Văn
Thỉnh và những người khác vào năm 1997 là Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, bao gồm
hai tập Ngoài việc sưu tầm, chú giải một cách tỉ mỉ về nguồn gốc tác phẩm, các tác giả còn nhận xét và đánh giá rất sâu sắc về giá trị to lớn của người mở đầu cho dòng văn học yêu nước Nam Bộ - “ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc” thời cận đại: “Giá trị lớn lao ông để lại cho con cháu chính là những ánh hào quang tư tưởng chiếu tỏa từ những tác phẩm ưu tú của ông đã được kết tụ lại như những viên ngọc quý: đó là đạo đức nhân nghĩa yêu nước của ông kết tinh của nguyện vọng và
ý chí của những người lao động đã từng hy sinh xương máu để dựng nước và giữ nước, ước mơ vươn tới một xã hội công bằng và nhân đạo” [Ca Văn Thỉnh 1997: 48]
Riêng công trình Văn học trung đại dưới góc nhìn Nho giáo (2003), khi so
sánh những quan điểm Nho giáo của các nhà Nho Nguyễn Trãi - Nguyễn Du - Nguyễn Đình Chiểu qua các thời đại, nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn đã nhìn thấy
sự tiến bộ rõ rệt trong quan niệm đạo đức của các tác giả Đó là do “nguyên nhân lịch sử - xã hội chi phối, do yêu cầu nhiệm vụ của lịch sử ở mỗi giai đoạn, do nhận thức xã hội của mỗi tác giả ở mỗi thời đại một khác” Có thể thấy rằng, cách ứng xử
và đạo đức lối sống của Nguyễn Đình Chiểu là sự kế thừa và tiếp nối truyền thống ở một mức độ cao rộng hơn
Trong Nguyễn Đình Chiểu - Tác phẩm và lời bình (2005), hai tác giả Tuấn Thành – Anh Vũ tập hợp những bài viết, đánh giá và phân tích dưới nhiều góc độ
khác nhau về cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu Có người xem xét trên
Trang 1111
toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của ông; có người xét về một khía cạnh trong tư tưởng: yêu nước, thương dân, đạo đức…; có người phân tích một tác phẩm để thấy những đóng góp của ông trong nền văn học nước nhà cũng như nội dung giáo dục Nhưng tựu trung, các tác giả đều đề cập và nhấn mạnh đến quan niệm đạo đức, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu qua việc phân tích tác phẩm
Ngoài ra, còn có một số tác phẩm khác như của Văn Đình Hy – Nguyễn Đình
Chiểu trong cuộc đời – 1912; Nguyễn Bá Thế - Nguyễn Đình Chiểu – Thân thế và thi văn – 1957; Lê Trí Viễn – Nguyễn Đình Chiểu - Ngôi sao càng nhìn càng sáng –
1982; Mấy vấn đề về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu nhân dịp kỷ niệm 75
năm ngày mất Nguyễn Đình Chiểu – 1969; Vũ Tiến Quỳnh - Nguyễn Đình Chiểu – tuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình – bình luận của các nhà văn, nhà nghiên cứu Việt Nam và thế giới – 1991; Bảo Định Giang - Những ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Nam bộ nửa sau thế kỷ XIX – 1995; Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX - 1999; Đoàn Lê Giang - Nguyễn Đình Chiểu - Ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc – 2001; Nguyễn Ngọc Thiện - Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm – 2007, và các kỷ yếu nhân kỷ niệm ngày sinh
của Nguyễn Đình Chiểu mãi về sau này… cũng ít nhiều bàn đến khía cạnh đạo đức
Nguyễn Đình Chiểu được coi là một danh y với tấm lòng đạo đức sánh như những bậc nổi tiếng trong nghề thuốc trước đây như: Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác
Có thể nói, số lượng tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu viết về nghề thuốc còn tản mác, nhưng lại là những tư liệu quý giá có giá trị thực tiễn trong ngành y nói chung và y học dân tộc cổ truyền nói riêng Ở khía cạnh này, người đầu tiên viết
về Nguyễn Đình Chiểu là bác sĩ Nguyễn Văn Thọ với bài viết nhan đề “Mù đôi mắt, sáng tâm linh hay là số mạng và vinh quang của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu” Từ việc phân tích, nghiên cứu về căn bệnh mù và qua các sáng tác văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu, ông đi đến nhận xét: “người mà mù thường mất hết tinh thần, nghị lực, nhưng cụ Nguyễn Đình Chiểu mù lại tìm ra được lẽ sống Cố chính tâm y thân, treo
Trang 12và y đã diễn ra trong toàn bộ kết cấu cốt truyện và ngay trong từng phần một cách
có dụng ý Thực ra, sự kết hợp này diễn ra rất tế nhị, sinh động trong tác phẩm Tất
cả những kiến thức y học đều được trình bày dưới một hình thức văn học Và chủ đề văn học của tác phẩm thì lại ẩn dưới một câu chuyện có hình thức y học” [dẫn lại theo Vũ Tiến Quỳnh 1991: 67] Đồng thời, ông nêu bật tấm lòng đạo đức, “thương người như thể thương thân” của Nguyễn Đình Chiểu trong quá trình tìm học nghề y nhằm mục đích duy nhất là cứu người
Còn tác giả Nguyễn Văn Châu trong bài viết về “Nguyễn Đình Chiểu – nhân cách một nhà văn hóa lớn” thì nhận xét: “Nguyễn Đình Chiểu là một thầy thuốc giỏi, một lương y thông hiểu sâu sắc y lý phương Đông và y lý Việt Nam cả về y thuật và y đức mà y đức của cụ chính là đạo cứu người lồng trong nghĩa vụ cứu dân cứu nước” [Nguyễn Văn Châu, 2006]
Tác giả Lê Trí Viễn thì nhấn mạnh giá trị quan trọng của đạo đức Nguyễn Đình Chiểu, đồng thời ông có cái nhìn sâu sắc hơn khi đánh giá Nguyễn Đình Chiểu trong lĩnh vực y học: “đạo làm thuốc cũng như đạo làm tướng cũng phải đủ nhân, trí, dũng, như “chữa bệnh cho người là nắm mạng người ở trong tay […], giúp dân cũng là giúp nước” [Lê Trí Viễn, 1985: 20] Lúc này, vấn đề đặt ra không đơn thuần
là đạo đức trong mối quan hệ giữa người với người mà liên quan đến vận mệnh đất nước
Cũng tác giả Lê Trí Viễn, trong lời tựa quyển Ngư tiều y thuật vấn đáp lần
xuất bản năm 1982, ông đánh giá: “Y thuật ấy là kết tinh nghề thuốc trong hàng trăm bộ sách của mấy mươi thế kỷ Yêu nước ấy có chiều sâu cá nhân một đời người và chiều sâu lịch sử dân tộc hằng mấy ngàn năm Nhưng cả hai đều đúc lại thành một thang thuốc hồi sinh, một đạo lý sống, một con đường phù hợp cho
Trang 1313
những con người yêu nước bình thường trong tình hình quê hương rơi vào tay giặc: giữ vững khí tiết không phục vụ quân thù, làm một công việc vừa có ý nghĩa vừa giúp dân, vừa giúp nước ” [Nguyễn Đình Chiểu 1982: 5]
Nguyễn Đình Chiểu là người trí thức yêu nước thương dân, giương cao ngọn
cờ đấu tranh giành độc lập dân tộc Ông dìu dắt và truyền đạt cho bao thế hệ học trò tinh thần yêu nước, lối sống nghĩa tình Đồng thời, ông là người đã khơi lên làn sóng đấu tranh, dẫn đầu trong phong trào chống Pháp qua việc hiến kế cho các cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân ở lục tỉnh đạt được những thắng lợi nhất định Trương Định, Đốc Binh Là, Phan Công Tòng, Cử Trị… là những người đã từng cùng ông đàm luận về thời thế, về mưu cơ chiến lược, về con đường chống giặc ngoại xâm…
Theo tác giả Bàng Bá Lân: “Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã biểu lộ ra bằng thái độ và hành động Ông đứng về phe các nhà Nho tiết tháo không chịu hợp tác với “tân trào”; ông khẳng khái từ chối sự giúp đỡ của chính quyền thực dân; tuy mù lòa ông vẫn liên lạc với nghĩa quân và có nhiều ý kiến hay trong kế hoạch kháng địch cứu quốc [Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa 1973: 76]
Trong công trình Nguyễn Đình Chiểu với văn hóa Việt Nam, hai tác giả Cao
Tự Thanh – Huỳnh Ngọc Trảng đã bổ sung một cách đầy đủ hơn bằng nhận định:
“Nguyễn Đình Chiểu ngoài việc thể hiện thái độ trách nhiệm của người trí thức trước những khó khăn của đất nước và xã hội, khuynh hướng này còn đánh dấu một chặng đường mới trên tiến trình tư tưởng ở đó ông bắt đầu hòa mình vào đời sống tinh thần của quần chúng nhân dân” [Cao Tự Thanh – Huỳnh Ngọc Trảng 1983: 16]
Riêng tác giả Nguyễn Văn Châu lại nhận định: “Nguyễn Đình Chiểu thái độ phải lựa chọn lối sống và cách sống như thế nào cho thích hợp với vai trò người trí thức trước thời cuộc “quốc gia lâm nguy thất phu hữu trách”, và ông đã chọn con đường sống, chiến đấu, bằng ngòi bút “chí công” với cái tâm “đã vì nước phải đứng
về một phía” [Nguyễn Văn Châu, 2005]
Trang 1414
Đối với tác giả Trần Thanh Mại, trong bài viết: “Nguyễn Đình Chiểu, lá cờ đầu trong nền thơ văn yêu nước thời kỳ cận đại” đã khẳng định: “Tật mù đã đến với ông giữa tuổi thanh xuân cường tráng, đầy mộng đẹp, và ông phải sống bốn mươi năm trời trong cảnh tối tăm mờ mịt ấy Nhưng chính trong đêm dài ảm đạm đó, đã bừng lên, sáng trong, rực rỡ ánh rạng đông của nền văn chương mới, nền văn chương yêu nước chống ngoại xâm thời kỳ cận đại mà bản thân ông là người dựng
lá cờ đầu” [dẫn theo Tuấn Thành – Anh Vũ 2007: 205]
Ngoài ra còn có những công trình của tác giả như: Mai Huỳnh Hoa - “Tiểu
sử cụ Đồ Chiểu – 1935, Trịnh Thu Tiết - Nguyễn Đình Chiểu – 1999, Văn Đình Hy
và những người khác - Nguyễn Đình Chiểu trong cuộc đời – 1982, Ty VH-TT Bến Tre - Lục Vân Tiên: trong chương trình hợp tác giữa Viện KHXH tại TP.HCM & Ty
VH-TT tỉnh Bến Tre nhân kỷ niệm 160 năm ngày sinh nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu –
1983, Bảo Định Giang - Nhớ về đôi mắt – 1987, Vũ Khiêu - Trí thức Việt Nam thời
xưa – 2006, Xuân Diệu - Bình luận các nhà thơ cổ điển Việt Nam – 2001…
Ở khía cạnh văn hóa, cũng có nhiều tác giả đề cập nhưng tất cả đều tập trung xem xét Nguyễn Đình Chiểu ở góc độ là một chủ thể văn hóa, một “hiện tượng văn hóa” chứ chưa đi sâu vào đặc điểm nổi bật trong tư tưởng của ông Có thể kể đến
công trình của tác giả Cao Tự Thanh – Huỳnh Ngọc Trảng: Nguyễn Đình Chiểu với
văn hóa Việt Nam (1983) Đây là công trình đã xác định một cách cụ thể và rõ nét vị
trí và vai trò quan trọng của Nguyễn Đình Chiểu trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam Đồng thời, chỉ rõ các giá trị tư tưởng, triết lý, đạo đức, phong tục tập quán… do con người tạo nên là phần không thể thiếu trong tiến trình đó Tác giả Cao Tự Thanh cho rằng: “Nói Nguyễn Đình Chiểu là một hiện tượng văn hóa, trước hết là đề cập tới tư tưởng và hệ thống quan niệm đạo đức – thẩm mỹ của ông trong mối tương quan chung với đời sống văn hóa Việt Nam ở những địa phương và vào thời kỳ ông sống và sáng tác” [Cao Tự Thanh – Huỳnh Ngọc Trảng 1983: 8]
Tác giả Ngô Huy Khanh trong bài viết “Nguyễn Đình Chiểu – Nhà văn hóa lớn” in trong tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số tháng 7/1998 đã trải lòng bằng một
Trang 1515
niềm xúc cảm chân thành khi viết về con người tiêu biểu cho nhân cách Việt Nam - Nguyễn Đình Chiểu Với ông, “nhìn từ góc độ văn hóa, Nguyễn Đình Chiểu là một con người Việt nam trọng đạo lý nặng tình người, đậm đà bản sắc dân tộc, yêu ghét
rõ ràng, khen chê dứt khoát Vì người, cụ sẵn sàng hy sinh xả thân không màng danh lợi Vì đời, cụ chấp nhận mọi thử thách trước khó nghèo, khổ cực, không sợ
uy vũ, không sợ cường quyền”
Người đề cập trực tiếp đến khía cạnh văn hóa đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu là tác giả Nguyễn Văn Hiệu Trong bài viết “Văn hóa đạo đức truyền thống (từ bối cảnh văn hóa Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX”, ông cho rằng: “Về mặt văn hóa đạo đức, có thể thấy rõ ý thức dân tộc qua ứng xử của trí thức và nhân dân Việt Nam, cụ thể ở đây là trí thức và nhân dân Nam Bộ, trong việc không chỉ phân ra rạch ròi yêu nước và bán nước xét từ bình diện nhân cách mà còn ở tinh thần “thà đui mà giữ đạo nhà” như một trong những tiêu chí đạo đức được Nguyễn Đình Chiểu nêu cao và chính ông là tấm gương sáng [Nguyễn Văn Hiệu, 2006]
Với Cao Huy Đỉnh trong bài viết “Đồ Chiểu với sự chuyển mình của văn hóa dân tộc”: “Hoàn cảnh chung, riêng càng hiểm nghèo thì Nguyễn Đình Chiểu càng hướng mạnh vào mục đích đấu tranh văn hóa và giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc Trí tuệ và ngòi bút nỗ lực thực hành và truyền thụ cái tinh thần văn hóa vì dân,
vì nước mà ông hằng nuôi dưỡng và ấp ủ Văn hóa đó, ông đã tóm tắt trong bài thơ Đạo người” [NXB Văn học 2006: 34]
Bên cạnh đó, có thể thấy một vài công trình có đề cập đến Nguyễn Đình
Chiểu với vai trò là chủ thể văn hóa, chẳng hạn: Nguyễn Lộc – Những cống hiến
đặc sắc của Nguyễn Đình Chiểu trong lịch sử văn hóa dân tộc – 1984; Trần Nho
Thìn - Văn học trung đại Việt Nam: dưới góc nhìn văn hóa - 2003, Đoàn Tứ (chủ biên) - Địa chí Bến Tre – 1995 và sau này, rải rác có một số bài viết ngắn cũng viết
về hiện tượng văn hóa Nguyễn Đình Chiểu được in trên các tạp chí, báo,…
Như vậy, các công trình nghiên cứu đều ít nhiều nhắc đến yếu tố đạo đức trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu Tuy một số công trình nghiên cứu về văn
Trang 1616
hóa đã ra đời, nhưng trên bình diện văn hóa học vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về đối tượng này nên chưa có cơ sở vững chắc cho việc xác định tầm quan trọng của văn hóa cho “hiện tượng văn hóa” Nguyễn Đình Chiểu trong tiến trình lịch sử văn hóa của dân tộc Song, kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước là nền tảng, tạo điều kiện để chúng tôi thực hiện luận văn này
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận văn tiếp cận văn hóa đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu từ góc nhìn văn hóa với quan điểm lịch sử - cụ thể trong việc xem xét, nhận định và đánh giá Đồng thời, tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành trong văn hóa học
để nghiên cứu đối tượng
Ngoài ra, chúng tôi vận dụng quan điểm tính hệ thống, không tách rời văn hóa đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu khỏi truyền thống văn hóa đạo đức của Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung
Để thực hiện luận văn, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử để
mô tả, giải thích nhằm làm sáng tỏ những đặc trưng cơ bản của văn hóa đạo đức Nguyễn Đình Chiểu Bên cạnh đó, chúng tôi cũng vận dụng những phương pháp nghiên cứu khác như:
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Xem xét cuộc đời và các tác phẩm của tác giả Nguyễn Đình Chiểu trong mối quan hệ với bối cảnh văn hóa – lịch sử Nam Bộ thời bấy giờ
- Phương pháp so sánh: Trong quá trình có sự so sánh văn hóa đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu với hệ giá trị đạo đức của Khổng Tử - người sáng lập Nho giáo Trung Hoa, cũng như các nhà Nho ở thời đại trước hoặc cùng thời với Nguyễn Đình Chiểu để làm nổi bật những đặc điểm riêng biệt chỉ có ở nhà thơ Nam Bộ này
4.2 Nguồn tư liệu
Trang 17- Các tư liệu, hình ảnh được tập hợp từ các thư viện, cá nhân hoặc bản thân người viết đi thực tế ghi nhận lại, hay từ các phương tiện thông tin đại chúng và trên mạng Internet…
5 Ý nghĩa khoa học
5.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần nghiên cứu có hệ thống về văn hóa đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu trên bình diện văn hóa Việc phân tích, đánh giá bước đầu nhằm xác định vị trí của văn hóa đạo đức Nguyễn Đình Chiểu trong tiến trình lịch sử văn hóa của dân tộc
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nguyễn Đình Chiểu là một danh nhân văn hóa lớn của Nam Bộ nói riêng và của cả nước nói chung Việc nghiên cứu văn hóa đạo đức trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu có ý nghĩa quan trọng, giúp nhìn nhận những giá trị đạo đức trong xã hội truyền thống trước kia và trong đời sống văn hóa xã hội hiện nay Qua
đó, có thể làm nền tảng cho việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Trình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, những tiền đề làm nền tảng cho việc nghiên cứu văn hóa đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu Đồng thời, luận
Trang 18để giải quyết các vấn đề: quan điểm đạo đức, các phạm trù: nhân - nghĩa, trung - hiếu, tiết - hạnh,… Từ đó, thấy rõ quan niệm đạo đức của ông có nhiều điểm đặc trưng riêng so với những nhà Nho cùng thời và tư tưởng Nho giáo chính thống đã ngự trị và ăn sâu vào văn hóa Việt Nam hàng ngàn năm
Chương 3: Qua cơ sở lý luận ở chương 1 và những nội dung về văn hóa đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu đã trình bày cụ thể trong chương 2, luận văn trình bày những đóng góp và ảnh hưởng của văn hóa đạo đức Nguyễn Đình Chiểu Chương này tập trung vào việc tìm hiểu sự phổ biến và sức sống bền bỉ của văn hóa đạo đức Nguyễn Đình Chiểu trong đời sống tinh thần của quần chúng nhân dân lao động ở Nam Bộ Từ đó, thấy được điểm nổi bật của văn hóa đạo đức Nguyễn Đình Chiểu, cũng như những đóng góp của ông cho truyền thống văn hóa đạo đức Nam Bộ
Trang 19Đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa Trong đó, thành
tố văn hóa đạo đức được nhiều tác giả coi trọng và xem như một phần không thể thiếu cho việc hình thành nên các giá trị chuẩn mực của đời sống xã hội
Từ năm 1871, trong định nghĩa được coi là định nghĩa đầu tiên về văn hóa, E.B Tylor đã xem đạo đức (morals) là một trong những thành tố cơ bản của văn hóa: “Văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội” [E B Tylor 2001: 13] Theo Tylor, văn hóa bao gồm giá trị vật chất lẫn tinh thần, gắn bó với đời sống tinh thần của một cộng đồng người Chúng ta có thể hiểu, văn hóa ở đây mang nội dung đặc biệt của xã hội, là thước đo tính người, là sự “nhân hóa” xã hội (thể hiện ở tính cộng đồng) và tất cả những gì nằm trong xã hội do con người tạo nên Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua học hỏi, rèn luyện, tìm tòi và phát triển Đạo đức là một trong những giá trị tinh thần cần thiết, là giềng mối mang tính ổn định cho sự phát triển xã hội về mọi mặt, được giữ vững và bền chặt trong tâm thức của mỗi người trong tận gốc rễ sâu xa của lịch sử dân tộc
Cũng trình bày dưới dạng miêu tả, nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Trung Quốc Đàm Gia Kiện quan niệm: “Nghĩa của văn hóa có rộng có hẹp, song trong đó
có các mặt chủ yếu không ngoài chế độ điển chương (văn trị), tập tục xã hội, văn học, nghệ thuật, triết học, tôn giáo, khoa học kỹ thuật” [Đàm Gia Kiện 1993: 818] Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn chưa bao quát hết nội dung của văn hóa
Trang 2020
Ở Việt Nam, nhà văn hóa học Vũ Khiêu thì cho rằng: “Văn hóa thể hiện trình
độ được vun trồng của con người, của xã hội Văn hóa là trạng thái con người ngày càng tách khỏi giới động vật, ngày càng xóa bỏ những đặc tính của động vật, để khẳng định những đặc tính của con người” [Vũ Khiêu 1987: 8] Như vậy, theo tác giả, con người là nhân tố quan trọng trong việc hình thành và sáng tạo nên các giá trị văn hóa
Tiếp theo, chúng tôi muốn nhắc đến một định nghĩa theo hướng tiếp cận hệ thống – loại hình của tác giả Trần Ngọc Thêm Tuy định nghĩa này ngắn gọn nhưng bao quát được văn hóa với tư cách là hoạt động của con người gắn với các quá trình
lịch sử nhất định: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm
2006: 25] Có nghĩa, khi xem xét mọi sự vật và hiện tượng cần xem xét trong một chuỗi tương quan lẫn nhau dưới nhiều góc độ khác nhau, để từ đó bao quát gần như đầy đủ và toàn vẹn các lĩnh vực Có thể nói, mỗi lĩnh vực, mỗi hoạt động của khách thể nếu gắn với chủ thể qua không gian văn hóa, và tất cả có mối liên hệ, tương tác với nhau thành một chuỗi, một hệ thống thì tất sẽ là văn hóa – văn hóa truyền thống dân tộc
Nhìn chung, các định nghĩa nêu trên đều có những cái nhìn khác nhau về văn hóa nhưng đều có điểm chung: xem văn hóa cấu thành từ nhiều thành tố và thông qua các hoạt động tương tác giữa người và người, hoặc giữa con người với tự nhiên Trong giới hạn luận văn, chúng tôi căn cứ trên kết quả nghiên cứu của hai tác giả Tylor và Trần Ngọc Thêm vì nội dung văn hóa gần với quan điểm tiếp cận, với cách giải quyết vấn đề mà nội dung luận văn đặt ra
1.1.2 Văn hóa đạo đức
Theo tiếng La tinh, đạo đức: mos (moris) có nghĩa là lề thói, đạo nghĩa Còn
ở chữ Hy Lạp là Ethicos nghĩa là lề thói, tập tục Như vậy, khi nói đạo đức là đề cập
đến những lề thói, tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người
Trang 2121
trong giao tiếp hàng ngày Sau này, người ta thường phân biệt hai khái niệm: moral
là đạo đức, ethicos là đạo đức học Vào thời Hy Lạp cổ đại, những bài học giáo dục đạo đức được thể hiện thông qua những thần thoại (thần Dớt, thần Athena…), sử thi (Iliat và Odixe), hay những di sản văn hóa khác như: tượng, tranh…
Người Trung Quốc cổ đại cũng tìm hiểu về đạo đức, mà trước hết bắt nguồn
từ cách hiểu về đạo và đức của họ Người đại diện tiêu biểu của Nho giáo Trung Hoa cổ đại là Khổng Tử (thế kỷ VI TCN) Ông quan niệm: “Tiên học lễ, hậu học văn” với mục đích xã hội phát triển, gia đình sống hạnh phúc, con người giữ được đạo lý Mặc dù Khổng Tử không phải là người đầu tiên đề cập đến đạo đức nhưng ông đã tổng kết được những kinh nghiệm thực tiễn của đời sống xã hội, và xây dựng nên học thuyết đạo đức
Ở Ấn Độ cổ đại, các nhà nghiên cứu cũng bàn nhiều về vấn đề đạo đức qua học thuyết của đạo Phật Cốt lõi chủ yếu là khuyên người ta sống lương thiện, biết yêu thương, giúp đỡ nhau theo kiểu: “Ở hiền gặp lành”, “Gieo gió gặt bão”
Ở Việt Nam, vấn đề đạo đức được xem trọng Đạo đức truyền thống thể hiện
rõ nét qua ca dao, thành ngữ: “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”,
“Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”…; sau đó đến các
truyện cổ tích, truyền thuyết như truyện: Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Quả bầu
mẹ… với nội dung chủ yếu là đề cao những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, giáo
dục con người biết thương yêu, gắn bó với nhau trong tình cảm giữa người với người, với cộng đồng, dân tộc
Vì vậy, để có khái niệm về đạo đức một cách hoàn chỉnh, các nhà nghiên cứu
đã dày công tìm hiểu và đúc kết Hiện nay, có khá nhiều định nghĩa về đạo đức Ở đây, chúng tôi chỉ chọn một vài định nghĩa có tính khái quát và đáp ứng được yêu cầu cho đề tài luận văn
Với tác giả của Giáo trình đạo đức học thì “Đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống những quan điểm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội Nhờ đó,
Trang 2222
con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [Trần Hậu Kiêm 1996: 12]
Còn tập thể tác giả của công trình Đạo đức học Mác - Lênin lại định nghĩa:
“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá
nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [Đinh Ngọc Quyên, Hồ Thị Thảo, Lê Ngọc Triết 2007: 5]
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, thì: “Đạo đức là những
chuẩn mực, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội” [Viện ngôn ngữ học 2002: 290]
Như vậy, các định nghĩa có nội dung gần như thống nhất nhau ở một đặc điểm là đều cho rằng đạo đức được hình thành từ những quy tắc, chuẩn mực trong
xã hội, mà ở đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp
Theo đó, các nhà nghiên cứu về văn hóa cũng thấy tầm quan trọng của đạo đức trong xu thế phát triển văn hóa, và đây là một trong những vấn đề được quan tâm
Hà Thúc Minh với Văn hóa đạo đức gần 400 trang là một tập hợp, hệ thống
lại những bài viết bàn về đạo đức của ông Tuy vậy, Hà Thúc Minh vẫn chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về văn hóa đạo đức Tác giả chỉ cho rằng “Văn hóa đạo đức
là văn hóa mà nội dung chủ yếu của nó là đạo đức” [Hà Thúc Minh 2005: 9], và nội dung này dựa trên cơ sở của mối quan hệ huyết thống và tự nhiên của văn hóa phương Đông Từ việc phân tích một cách cụ thể mối quan hệ giữa người và người xoay quanh các chuẩn mực đạo đức trong phạm vi gia đình và xã hội, tác giả nhấn mạnh vai trò quan trọng của truyền thống văn hóa đạo đức – một trong những nét bản sắc văn hóa dân tộc cần được giữ gìn và phát huy Đồng thời, tác giả phân tích ảnh hưởng Đông – Tây đối với Việt Nam qua các giai đoạn để làm rõ cái chuẩn
Trang 2323
mực đạo đức Song, tác giả chưa nêu được nội dung cụ thể của văn hóa đạo đức như thế nào, đặc điểm của nó ra sao cũng như tính hệ thống mà một khái niệm cần có…
Trong tác phẩm Cơ sở lý luận văn hóa Mác – Lênin (do Hoàng Vinh và
Nguyễn Văn Huy dịch), tác giả A I Acnônđốp quan niệm: “Nói văn hóa đạo đức là phải nói tới hành vi con người Bởi vì văn hóa đạo đức không thể tồn tại ngoài những hình thức cụ thể của hành vi, không thể chỉ dừng lại ở ý nghĩ đạo đức Cho nên, ở đây nói đến văn hóa đạo đức của hành vi con người là rất đúng Văn hóa hành vi không đơn thuần chỉ là những hiểu biết về các nguyên tắc đạo đức, yêu cầu đạo đức này nọ của xã hội, mà là một tổng hợp những quan điểm, biểu tượng tình cảm, và tập quán đạo đức được con người lĩnh hội và thực hiện trong hoạt động của mình” [A I Acnônđốp 1984: 204] Như vậy, quan niệm văn hóa đạo đức của tác giả phù hợp với hoạt động thực tiễn của đời sống xã hội Tuy nhiên, tác giả không nêu rõ những hành vi đạo đức này có tính liên tục, kế thừa qua nhiều thế hệ hay chỉ
ở một giai đoạn nào đó Vì vậy, chưa đảm bảo đầy đủ nội hàm cho khái niệm văn hóa đạo đức
Còn nhóm tác giả của công trình Văn hóa đạo đức và tiến bộ xã hội thì nhấn
mạnh các yếu tố và vai trò của văn hóa đạo đức bao gồm: “tư tưởng”, “giá trị”,
“chuẩn mực”, “phong tục tập quán, niềm tin, điều thiêng liêng, việc cấm kỵ của những cộng đồng”, “tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc”,… [Trường Lưu 1998: 99] nhưngchưa đưa ra được một định nghĩa cụ thể
Quan niệm của tác giả Thành Duy trong Văn hóa đạo đức - Mấy vấn đề lý
luận và thực tiễn về văn hóa đạo đức cũng chưa thật rõ Ở chương 4, tác giả đề cập
đến: khủng hoảng về lý tưởng, lẽ sống của cá nhân trước những thay đổi của thế giới và những quan điểm cơ bản xác định chuẩn mực đạo đức từng tồn tại trên thế giới và đang phổ biến hiện nay
Giáo trình Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt
Nam (2002) thì cho rằng: “Thuật ngữ văn hóa đạo đức để chỉ một bộ phận của văn
hóa tinh thần xã hội Bộ phận ấy không chỉ là ‘văn hóa đạo đức của hành vi con
Trang 2424
người’ mà còn ‘bao gồm những nguyên lý đạo đức (đạo lý), quy tắc chuẩn mực điều tiết hành vi con người và cả chuẩn mực đạo đức được vận thông trong đời sống xã hội’ Vì vậy, văn hóa đạo đức là một bộ phận (thành tố) của văn hóa tinh thần xã hội, biểu hiện trình độ của các quan hệ xã hội, bao gồm tổng thể các giá trị, chuẩn mực đạo đức của một cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận và chấp nhận Chúng được đem vào vận thông trong đời sống cộng đồng qua các thiết chế xã hội – văn hóa và được biểu hiện hành vi đạo đức của cá nhân, nhóm, cộng đồng” [Trần Văn Bính 2002: 147] Có thể nói khái niệm này tương đối đầy đủ Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến một yếu tố quan trọng của văn hóa đạo đức đó là biểu tượng đạo đức (danh nhân văn hóa) – một mẫu hình đạo đức được lưu truyền và được toàn dân xem trọng
Qua các định nghĩa về đạo đức, văn hóa đạo đức và những phân tích nêu trên, có thể thấy hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở điểm chung: văn hóa đạo đức bao gồm những giá trị, những chuẩn mực được con người xây dựng và tích lũy qua nhiều thế hệ, dùng để điều chỉnh hành vi trong các mối quan hệ xã hội được tốt hơn, hoàn thiện hơn Tuy nhiên, chưa có công trình nào đưa ra một định nghĩa xác đáng về văn hóa đạo đức
Dựa trên cơ sở lý thuyết về văn hóa (văn hóa học) và đạo đức (đạo đức học),
có thể hiểu: Văn hóa đạo đức là một thành tố quan trọng của văn hóa, bao gồm các thang bậc giá trị, các chuẩn mực, các biểu tượng đạo đức được sáng tạo và tích lũy qua nhiều thế hệ; là hệ giá trị gắn với một cộng đồng người nhất định, có tính lịch sử Các giá trị, các chuẩn mực, các biểu tượng đạo đức này được ứng dụng trong đời sống xã hội nhờ các thiết chế văn hóa – xã hội Ở đây, văn hóa
đạo đức biểu hiện trình độ ứng xử của con người với con người, với xã hội và với tự nhiên
1.1.3 Tiếp biến văn hóa
Ở luận văn này, chúng tôi chọn cách hiểu về tiếp biến văn hóa để làm cơ sở
nghiên cứu, vì Nguyễn Đình Chiểu sống trong giai đoạn giao thời– thời cận - hiện
Trang 25Theo Linton Redfield và Herskovits thì Tiếp biến văn hóa bao gồm những
hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có nền văn hóa khác nhau, có sự tiếp xúc lâu dài và trực tiếp với nhau sẽ mang lại những biến đổi hình mẫu văn hóa ban đầu của một hoặc của cả hai nhóm1
Khi chuyển ngữ sang tiếng Việt, thuật ngữ “acculturation” được các nhà nghiên cứu hiểu theo nhiều cách khác nhau như: “hỗn dung văn hóa”, “đan xen văn hóa”, “thẩm thấu văn hóa”,… Theo nhà văn hóa Hữu Ngọc thì đó là “tương tác văn hóa”, tức là “sự tiếp xúc giữa các cộng đồng văn hóa khác nhau và kết quả là những thay đổi về văn hóa trong mỗi nhóm” [Hữu Ngọc 2006]
Từ góc nhìn địa – văn hóa, nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng đã có những đóng góp ban đầu mang giá trị khoa học cho lịch sử nghiên cứu về tiếp biến văn
1
Acculturation comprehends those phenomena which result when groups of individuals having different
cultures come into continuous first-hand contact, with subsequent changes in the original culture patterns of either or both groups” [Linton Redfield và Herskovits].
Trang 2626
hóa ở Việt Nam Theo ông, sự tiếp xúc văn hóa gây ra những biến đổi về ăn, mặc, ở,… nhưng vẫn giữ được những giá trị đạo đức mà ông bà ta từ xưa đã truyền lại, cái chính là “đường ăn nết ở”, cái thế ứng xử giữa người với người Sự tiếp xúc và giao thoa văn hóa diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau Trong đó, “quá trình diễn tiến văn hóa xảy ra nơi mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng và toàn thể xã hội vô cùng phức tạp Đó một là sợi dây tết, xoắn xuýt nhiều quá trình diễn ra bên trong
và cùng với mối quan hệ trong – ngoài” [Trần Quốc Vượng 2000: 99], cụ thể là các quá trình: nhập thân văn hóa, chuyển biến văn hóa, giao lưu – tiếp xúc văn hóa, hỗn dung hay đan xen văn hóa, sự truyền bá, chống đan xen văn hóa, giải thể văn hóa, tái lập văn hóa, hỗn thể văn hóa và thích nghi văn hóa Nói theo H R Ferraye thì nét đặc sắc văn hóa của Việt Nam là tính cách “không chối từ” (non refus) Thật
ra, văn hóa Việt Nam mang tính dung hòa và là kết tinh từ nhiều nền văn hóa Mỗi nền văn hóa để lại dấu ấn đậm nhạt khác nhau, tạo cho nền văn hóa Việt Nam vừa
có những điểm chung vừa có những điểm riêng đặc sắc
Trong công trình Bản sắc văn hóa Việt Nam, tác giả Phan Ngọc đã có những
góc nhìn, cách nhận định sâu sắc và biện luận chặt chẽ về sự tiếp biến văn hóa Việt
- Trung, Việt - Pháp mà ông dùng bằng những thuật ngữ khoa học khác nhau Để chứng minh Nho giáo ở Việt Nam mang chứa nhiều đặc điểm khác biệt so với Nho giáo Trung Hoa, Phan Ngọc đưa ra khái niệm “độ khúc xạ trong giao lưu văn hóa”
mà với ông “khi nghiên cứu văn hóa theo quan điểm văn hóa học cần phải chú ý đến độ khúc xạ” [Phan Ngọc 2004: 20]
Như vậy, theo những quan niệm trên, tiếp biến văn hóa đánh dấu sự gặp gỡ của những nền văn hóa khác nhau, giống như sự chiếm đóng dài hạn của những đội quân xâm lược ở một nơi nào đó, thì đòi hỏi làm sao để họ từ hai nền văn hóa khác nhau hiểu được và tìm thấy một sự thích hợp mới, từ đó có thể ứng xử, giao tiếp… Điều này có nghĩa, giữa các nền văn hóa khác nhau sẽ có sự giao lưu và tiếp biến trên cơ sở thích nghi những cái mới Như vậy, không có nền văn hóa nào mà tự thân của nó luôn ổn định mà có sự du nhập từ bên ngoài vào (yếu tố ngoại lai) Song, tất cả những yếu tố ngoại sinh này, không phải tất cả đều được thừa nhận và
Trang 2727
phát huy hiệu quả như những yếu tố đã được tích tụ hàng ngàn năm (yếu tố nội sinh) mà có sự đào thải, chọn lọc những gì gọi là tinh túy, phù hợp với điều kiện tự nhiên - xã hội ở đó Cái nội tại bên trong là cái vốn cơ bản nhưng sự giao lưu, tiếp thu cái bên ngoài, những cái mới có vai trò quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của toàn dân tộc Văn hóa Việt Nam cũng không thoát khỏi quy luật tất yếu này
Từ xưa đến nay, đó là một quá trình vừa giao lưu, học hỏi vừa bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc
Nhìn chung, vì văn hóa luôn có nhu cầu giao lưu, trao đổi, hội nhập và xu hướng tự làm mới mình nhưng không bao giờ được đánh mất bản sắc riêng nên tiếp biến văn hóa là một quá trình tiếp tục, tiếp nhận trong xu hướng biến đổi không ngừng Sự tiếp biến văn hóa bị chi phối bởi ý thức giao lưu văn hóa trong mỗi giai đoạn Dù trong sự cưỡng bức hay tự nguyện thì việc tiếp xúc này cũng có
sự phân biệt rõ ràng, tách bạch với chính trị, chủ quyền lãnh thổ dân tộc và hơn hết
là vẫn giữ cái riêng, cái truyền thống tốt đẹp của mình Trong thời kỳ hiện đại - thời kỳ giao lưu và hội nhập quốc tế, chủ trương của Đảng ta “hòa nhập” nhưng
“không hòa tan” cũng là một hình thức tiếp nối ý thức giao lưu văn hóa đó
Đối với truyền thống văn hóa phương Đông, cụ thể là với văn hóa Trung Hoa, Nguyễn Đình Chiểu tiếp thu nhưng có sự nhào nặn, sáng tạo sao cho gần gũi với tâm thức người dân Nam Bộ Những yếu tố Nho giáo Trung Hoa dường như
mờ nhạt dần, thay vào đó là tố chất Nam Bộ đậm nét hẳn Theo nhà nghiên cứu Đoàn Lê Giang thì “Nho giáo của Nguyễn Đình Chiểu đang trên quá trình Việt hóa một cách sâu sắc” [Đoàn Lê Giang 2001: 15] Đó là các giá trị văn hóa đạo đức gần gũi với đời sống tinh thần người Việt Dựa trên lý luận về tiếp biến văn hóa, chúng tôi xác định khi nghiên cứu văn hóa đạo đức Nguyễn Đình Chiểu cần chú ý đến nền tảng của văn hóa truyền thống Đây là cơ sở để nhận thấy được trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, Nguyễn Đình Chiểu đã có sự tiếp thu, chọn lọc những tinh hoa văn hóa bên ngoài, từ đó phát huy tạo thành những nét bản sắc văn hóa đặc trưng của Nguyễn Đình Chiểu nói riêng và của văn hóa dân tộc nói chung
Trang 2828
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) tự là Mạch Trạch, hiệu là Trọng Phủ (sau khi bị mù có hiệu là Hối Trai) ở làng Tân Khánh, tổng Bình Trị Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (thuộc Sài Gòn ngày nay) Đó là quê mẹ Nguyễn Đình Chiểu Theo các nguồn tư liệu cho rằng Nguyễn Đình Chiểu là con lớn dòng thứ của ông Nguyễn Đình Huy (quê ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, làm một chức quan nhỏ trong dinh Tổng trấn Lê Văn Duyệt) và bà Trương Thị Thiệt Nhưng, mẹ là người mà ông chịu ảnh hưởng nhiều nhất
Qua những ghi chép theo lời kể của ông Nguyễn Đình Chiêm (con trai Nguyễn Đình Chiểu) thì từ nhỏ Nguyễn Đình Chiểu được nghe mẹ kể nhiều truyện
cổ dân gian, được theo mẹ đi xem hát ở vườn Ông Thượng Qua đó, bà giáo dục cho ông những điều thiện ác, trung nịnh, chính tà, nhân nghĩa… Năm lên sáu, bảy tuổi Nguyễn Đình Chiểu được thầy Nghè Chiêu (một học trò của cụ Võ Trường Toản) dạy học
Năm 1832, Lê Văn Duyệt bị khép tội chết vì bất đồng ý kiến với triều đình: không tán thành việc vua Gia Long chọn hoàng tử Đảm kế ngôi, không thi hành đúng lệnh cấm đạo Thiên chúa… Sau cái chết của Lê Văn Duyệt, Lê Văn Khôi (con nuôi và là bộ tướng của Lê Văn Duyệt) dấy loạn giết Bạch Xuân Nguyên Cha Nguyễn Đình Chiểu bị cách chức Ông cải trang vào Nam đưa Nguyễn Đình Chiểu
về Thừa Thiên gởi cho một người bạn làm Thái phó để hầu hạ điếu đãi và học tập
Đến năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu thi đỗ tú tài Đây cũng là thời điểm quân Pháp có cuộc gây hấn đầu tiên ở nước ta (tại Đà Nẵng) nhằm đòi tự do cho các giáo
sĩ bị xử tử và bị giam cầm ở Huế Hai năm sau, chúng lại tiếp tục tấn công, lần này
đã tạo nên làn sóng phản đối mãnh liệt của nhà vua và cả sĩ phu trong nước, khiến cho mối quan hệ vua – tôi ngày càng trở nên xấu đi
Năm 1847, Nguyễn Đình Chiểu ra Huế thi Hội và thi Đình cũng là lúc thực dân Pháp lại nổ súng ở cửa Hàn đe dọa xâm lược Năm 1848, mẹ mất, ông phải trở
Trang 29y, đến xin tạm trú cầu điều trị Bệnh tình quá nặng, dầu lương y cũng vô khả nại hà: hai mắt Nguyễn Đình Chiểu đành phải mù luôn đến chết Nhưng ở
đó, Đình Chiểu được thầy Trung dạy cho học thuốc [dẫn lại theo Nguyễn Ngọc Thiện 2007: 34]
Cũng trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác Lục Vân Tiên và
Dương Từ Hà Mậu
Năm 1858, thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược nước ta, bắt đầu ở
Đà Nẵng, sau đó lần lượt chiếm trọn Nam Kỳ Nguyễn Đình Chiểu “chạy giặc” (một hình thức gọi là “tị địa”2 của các sĩ phu ngày xưa) nên phải lưu trú nhiều nơi Vùng đất Ba Tri - Bến Tre là điểm dừng chân cuối cùng của ông cho đến cuối đời
Truyện Ngư tiều y thuật vấn đáp được ông sáng tác trong thời gian này về sau Bên cạnh đó, còn có một số bài thơ yêu nước tiêu biểu như: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc,
Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh, Thơ điếu Trương Định, Phan Công Tòng
Xoay quanh cuộc đời ông có rất nhiều giai thoại nói lên thái độ bất hợp tác của Nguyễn Đình Chiểu đối với thực dân Pháp Chẳng hạn, có lần Michel Ponchon đến thăm và cho hay chính quyền thực dân sẽ cấp dưỡng cho Nguyễn Đình Chiểu thì ông cho rằng ông “sống trong cảnh dư dả khả vinh, giữa đám môn đệ cầu học”,
“giữa người đồng bào mà ông được lòng quý mến” [dẫn lại theo Nguyễn Ngọc Thiện 2007: 38] Hoặc ông không ưa chữ quốc ngữ và những thứ vật phẩm của Pháp
2 Tị địa (避地) có nghĩa là vùng đất tị nạn, không phải là chạy trốn mà là tìm vùng đất mới, căn cứ mới để
lo việc sinh sống, khôi phục chủ quyền Ở đây, các sĩ phu miền Đông chẳng những dời gia đình mình đi mà còn dời cả hài cốt của bậc thầy của họ là Võ Trường Toản từ Hòa Hưng về Ba Tri, không chịu để nắm xương của thầy gởi trên đất giặc chiếm đóng”.
Trang 3030
Năm 1888, ông qua đời, “cả cánh đồng Ba Tri rợp trắng màu khăn tang” Người dân Bến Tre nói riêng và người dân Nam Bộ nói chung tiếc thương ông như tiếc thương một người cha, vì những đóng góp to lớn của ông cho nền văn hóa - giáo dục và y học cổ truyền, vì cuộc sống lam lũ và gắn bó mật thiết với người dân trong hoàn cảnh gian khó của chiến tranh cùng tấm lòng ông không bao giờ nguôi trước cảnh nước mất nhà tan…
Cả cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu đi theo sự thăng trầm của đất nước Nói như Phạm Đình Khiêm, “con đường ‘thập tự giá’ của ông […] dẫn ông đến tận đỉnh “núi sọ” của người dân vong quốc… Ông còn phải kéo dài kiếp sống để chứng kiến “xứ Bắc – gốc rễ của giống nòi, rồi xứ Trung – nguyên quán của gia đình ông, lần lượt rơi vào cạm bẫy của thực dân” [Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, 1973: 57], sau đó là miền Nam - quê mẹ của ông Chính hoàn cảnh lịch sử đã tạo nên những con người anh hùng của đất nước Với Nguyễn Đình Chiểu, cuộc đời khí tiết và tài năng của ông đã làm nên một sự nghiệp vẻ vang - sự nghiệp văn chương - đánh thẳng vào kẻ thù xâm lược Mặt khác, còn thể hiện rõ bản lĩnh và chí khí của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, trọn đời hy sinh vì nghĩa lớn Hình tượng của ông đã được nhân dân Nam Bộ tạc vào thế kỷ, là ngọn đuốc soi chung cho bao thế hệ Nguyễn Đình Chiểu là một tác gia lớn của nền văn học Nam Bộ và mở đầu cho dòng văn học yêu nước thời cận đại Vì vậy, sự nghiệp sáng tác của ông thật đồ
sộ và có một bề dày phong phú về số lượng lẫn thể loại Đặc biệt, cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu gắn chặt, hòa quyện với nhau đến mức chúng ta khó
có thể phân biệt được yếu tố trong tác phẩm là thật hay cuộc đời tác giả hư cấu nên truyện
Có thể chia sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu làm hai giai đoạn, tương ứng với quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của ông: trước khi thực dân pháp xâm lược và sau khi thực dân Pháp xâm lược Mỗi giai đoạn thể hiện rõ tính cách, con người của ông mà văn hóa đạo đức là điểm nổi bật nhất
Trang 3131
Giai đoạn trước khi thực dân Pháp xâm lược
Trong giai đoạn này, ngoài việc dạy học và làm thuốc, Nguyễn Đình Chiểu đã
sáng tác hai tập truyện thơ dài: Lục Vân Tiên và Dương Từ Hà Mậu Đây là thời kỳ
hoàn thành và khẳng định tư tưởng yêu nước thương dân, tư tưởng nhân nghĩa – được xem như một bộ phận trong triết lý nhân sinh của ông
- Lục Vân Tiên là tác phẩm truyện thơ Nôm đầu tiên của Nguyễn Đình Chiểu,
gồm 2.082 câu Xoay quanh mối quan hệ gia đình và xã hội, truyện chia làm hai tuyến nhân vật thiện và ác, phản ánh được tâm tư và nguyện vọng của nhân dân Nam Bộ thời ấy Lục Vân Tiên là nhân vật lý tưởng mang đầy đủ phẩm chất đạo đức tốt đẹp được tác giả gửi gắm bao ước mơ, hy vọng Toàn bộ tác phẩm nhằm mục đích giáo huấn, gắn liền với những bài học đạo đức trong cuộc sống đời thường Đồng thời, ông muốn khẳng định mối tương thân tương ái giữa người và người trên cơ sở đạo đức nhân nghĩa Với một phong cách văn chương bình dân, dễ hiểu, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân Nam Bộ nên những bài học đạo đức ấy được lưu truyền trong đông đảo quần chúng hệt như một câu chuyện khuyết danh văn học dân gian
- Dương Từ Hà Mậu: Theo nhiều tư liệu nghiên cứu, tác phẩm này được soạn
từ năm 1851 và hoàn chỉnh vào những năm trước khi thành Gia Định rơi vào tay giặc Pháp Trong giai đoạn này, Pháp lợi dụng tôn giáo - đạo Công giáo - thông qua các giáo sĩ truyền giáo nhằm tìm cách ru ngủ, mê hoặc, chia rẽ hàng ngũ đấu tranh của nhân dân Việt Nam Nguyễn Đình Chiểu dự đoán được cảnh “dưa chia khăn xé” đó nên đã dùng ngòi bút thay cho tiếng nói vạch trần âm mưu xâm lược của Pháp, đồng thời cũng là cách để thức tỉnh toàn dân đứng lên cứu nguy đất nước
Tác phẩm Dương Từ Hà Mậu được viết với một tinh thần yêu nước mãnh liệt
Vấn đề tôn giáo nói chung và Nho giáo nói riêng đều được ông nêu ra để xét duyệt lại Nguyễn Đình Chiểu muốn mọi người phải theo chính đạo, đạo đó không ở đâu
xa mà ở ngay trong lòng mỗi người, trong lòng nhân dân Vì vậy, mỗi cá nhân phải
lo “tu thân” theo những truyền thống đạo đức của dân tộc để đi đến hành động thiết
Trang 3232
thực mà nước nhà trong cơn biến loạn đang cần “trị quốc” Đó là thước đo mọi giá trị trí tuệ và đạo đức của mỗi người, bất luận thuộc giáo phái nào
Giai đoạn sau khi thực dân Pháp xâm lược
Lúc này, thực dân Pháp đã chính thức xâm lược nước ta, tràn vào chiếm toàn
bộ sáu tỉnh Nam Kỳ Đây là giai đoạn đánh dấu sự phát triển rực rỡ trong sự nghiệp văn chương cũng như về tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu qua mảng thơ văn yêu nước Ngòi bút của ông đã phát huy được sức mạnh đấu tranh với bầu nhiệt huyết: trừ bạo, diệt gian mang lại cảnh thái bình cho nhân dân
Trong giai đoạn này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác một số bài thơ, văn tế và
một truyện thơ dài Ngư tiều y thuật vấn đáp
- Thơ và văn tế mang tính chất thời sự, tính chiến đấu mãnh liệt Một mặt,
ông vạch trần tội ác của giặc cùng bọn tay sai, nói lên ước mơ đất nước được độc lập, thoát khỏi cảnh chiến tranh, tang tóc Mặt khác, ông “ca ngợi những người anh hùng suốt đời tận trung với nước, và than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân Ngòi bút - tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả thật sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân vốn
là người nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước” [dẫn lại theo Nguyễn Ngọc Thiện 2007: 56 -57] Có thể nói, Nguyễn Đình Chiểu là người đầu tiên nói đến chiến tranh nhân dân, đề cao vai trò của người
“dân ấp, dân lân” và dành cho họ những tình cảm trân trọng nhất
- Ngư tiều y thuật vấn đáp: Qua nhiều tư liệu, tác phẩm được sáng tác từ sau
khi Nguyễn Đình Chiểu về sống ở Ba Tri (Bến Tre) Đây là một tác phẩm văn vần dạy về nghề thuốc cổ truyền dân tộc Thông qua đó, Nguyễn Đình Chiểu mượn lời các nhân vật để nói lên lòng yêu nước, căm thù giặc, tiếp tục biểu dương và bảo vệ đạo đức làm người Ngoài ra, ông còn phản ánh những hiện tượng tiêu cực của xã hội thời bấy giờ (thầy thuốc lang băm, sự du nhập nhiều tôn giáo làm người dân mất phương hướng trong niềm tin, ) Có thể xem đây là tác phẩm thể hiện rõ con người
ưu thời mẫn thế, trọn tình trọn đạo với dân với nước ở Nguyễn Đình Chiểu
Trang 3333
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu là một quá trình đấu tranh không mệt mỏi Trong đó, cuộc đấu tranh giữ vững các giá trị đạo đức được ông đặc biệt quan tâm và truyền lại bao thế hệ người đọc ngày nay là đáng trân quý Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: “Nguyễn Đình Chiểu là một người chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu
là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao
sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa và tư tưởng” [dẫn lại theo Tuấn Thành – Anh Vũ 2007: 139]
1.2.2 Cơ sở hình thành văn hóa đạo đức thể hiện qua tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu
So với các vùng văn hóa khác, vùng văn hóa Nam Bộ mang những “tính cách” riêng, bởi đây là vùng đất mới và “trẻ” Những cư dân đầu tiên đến khẩn hoang đều từ Đàng Ngoài Hầu hết họ là những con người tứ xứ, xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau, số phận khác nhau: từ những người mang tội, trốn tránh binh dịch, tù nhân bị lưu đày, binh lính đào ngũ hoặc giải ngũ đến thầy lang, thầy đồ nghèo, hoặc là những người dân lưu tán đến những lưu quan, những kẻ giàu có mang trong lòng hoài bão làm giàu thêm nên chiêu mộ người nghèo cùng nhau đi tìm “vùng đất hứa” khai phá, cư trú và làm ăn… Họ mang theo bên mình những lề thói, tập quán xưa cũ từ nơi chôn nhau cắt rốn để tập hợp và “khai sinh” trên mảnh đất mới những phong tục, những nếp sống mới, “vừa quen” nhưng cũng “vừa lạ” Với sự ưu đãi của thiên nhiên, đa phần người dân Nam Bộ sống theo lối phóng khoáng, an nhiên, tự tại, không đề cao việc trau dồi học vấn Họ đi học chủ yếu để biết đọc, biết viết cái chữ, để làm người, còn việc khoa cử thì không màng tới, không chú trọng Bên cạnh đó, nhà nước phong kiến không quan tâm đến việc học hành thi cử của người dân Nam Bộ, chủ yếu chỉ bắt nộp tô thuế, bắt sưu, tuyển lính… Vì vậy, “Nam Kỳ lục tỉnh nổi tiếng ‘ít chữ’[Trần Văn Giàu 1987: 245] Tuy nhiên, vẫn có một số người chăm học và học rất giỏi Họ chính là những đại diện tiêu biểu cho tầng lớp tri thức Nam Bộ Quyển sách “gối đầu giường” của tầng lớp
tri thức này là sách Minh Tâm bửu giám Đây là quyển sách tập hợp những trích
Trang 3434
đoạn của những sách Nho, Lão, Phật, gồm những câu nói đạo đức, triết lý nhân sinh, nhằm rèn luyện tâm hồn, bồi dưỡng đức hạnh, hướng dẫn việc ứng xử hằng ngày Do đó, vấn đề đạo đức, lễ nghĩa ở Nam Bộ rất được xem trọng Nguyễn Đình Chiểu là một trong những đại diện cho tri thức Nam Bộ thời ấy, nên từ cách sống đến cách nghĩ mang đậm màu sắc Nam Bộ Cụ thể, qua các sáng tác của ông đều bộc lộ rõ tâm tư, tình cảm của những con người Nam Bộ trọng đạo lý, sống có nghĩa có tình
Nghiên cứu văn hóa đạo đức có ý nghĩa thực tiễn cao, nhất là vận dụng lý luận nghiên cứu văn hóa đạo đức từ góc nhìn văn hóa vào một trường hợp cụ thể và đặc biệt Cuộc đời kém may mắn của Nguyễn Đình Chiểu diễn ra trong bối cảnh Nam Bộ đầy biến động vào khoảng giữa thế kỷ XIX đã thể hiện một bức tranh đa diện, nhiều chiều kích Ở đấy, chúng ta không chỉ tìm thấy không gian lịch sử - xã hội mà còn có một không gian văn hóa thấm đẫm chất Nam Bộ
Ngoài tính cách phóng khoáng, thoáng mở của người Nam Bộ, ta bắt gặp ở vùng đất mới này một đặc điểm nổi bật: càng xa cái nôi dân tộc, càng thấm sâu văn hóa truyền thống Việt Nam, càng kiên quyết trên con đường xây dựng, bảo vệ độc lập vẹn toàn của Tổ quốc
Theo quy luật, trong giai đoạn đầu tiếp xúc văn hóa phương Tây hay các nền văn hóa khác, chúng ta thường có sự chống đối lại làn sóng bên ngoài, nhất là đối với sản phẩm vật chất và tinh thần của kẻ xâm lược Nhưng dần dần về sau, sự chống đối mang tính chọn lọc Đó là khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam vào khoảng nửa cuối thế kỷ XIX, chúng mang theo bên mình văn hóa và văn minh bản địa Điều này gặp phải sự chống đối quyết liệt của nhân dân Việt Nam vì ngọn cờ “khai sáng” của Pháp Tuy nhiên, dân tộc ta chỉ đấu tranh chống lại chính sách thôn tính, đàn áp về mặt chính trị chứ không chống những yếu tố mang tính văn minh Bởi các lĩnh vực khoa học kỹ thuật phương Tây đã mang lại cho Việt Nam sự cách tân và tiến bộ trong lao động, xã hội…, dù thực chất đây chính là các chiêu bài để Pháp mở đường cho mưu đồ đồng hóa trên con đường chính trị
Trang 3535
Thời gian Pháp làm chủ được Nam Kỳ cũng là thời kỳ chúng đứng trước cuộc kháng chiến quyết liệt của nhân dân ta dưới ngọn cờ của các sĩ phu yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cùng một số sĩ phu đã có những động thái tích cực, góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm Ông dùng ngòi bút để viết lời kêu gọi, khuyến khích tinh thần nghĩa quân Hiệu quả trên mặt trận tư tưởng này không thua kém trên mặt trận quân sự Mãi cho đến khi cuộc chiến không cân sức bị thất bại, họ mới lùi bước Tuy nhiên, vẫn không chùn bước, tất cả các sĩ phu “tị địa” về
ba tỉnh miền Tây để tiếp tục chuẩn bị cho kế hoạch chiến đấu mới Và cứ thế, thực dân Pháp không bao giờ dập tắt được ngọn lửa đấu tranh luôn âm ỉ trong lòng mỗi người dân Có lẽ vì vậy mà Cultru - một nhà sử học Pháp, nhận xét rằng: “Nếu vì một phép màu nào mà sĩ phu Việt Nam phản lại vua của họ để hợp tác với Pháp, thì việc cai trị xứ Nam Kỳ sẽ dễ dàng như một trò chơi Nhưng người Việt Nam có học thức, hạng thượng lưu đều trung thành với luật pháp của đất nước họ, họ chỉ có thể xem chúng ta là cừu thù” [dẫn lại theo Trần Văn Giàu 1987: 254] Điều này chứng
tỏ vai trò quan trọng không thể thiếu của giới trí thức nói riêng và nhân dân cả nước nói chung trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm
Bên cạnh hình thức “tị địa”, Nguyễn Đình Chiểu còn tỏ rõ thái độ bất hợp tác
với Pháp từ việc bài xích đạo Thiên Chúa (tác phẩm Dương Từ Hà Mậu), không
dùng chữ quốc ngữ (không cho con học trường dạy chữ Quốc ngữ của thực dân Pháp), không sử dụng những công nghệ của Pháp (xà phòng, cầu đường…) Đấy là cuộc va chạm văn hóa mạnh mẽ “gây một cú sốc đối với văn hóa truyền thống Việt Nam nặng ảnh hưởng Khổng học” [Hữu Ngọc, 2007] Vua quan triều Nguyễn và nhân dân cả nước phản kháng quyết liệt bằng cách bảo vệ và giữ vững những giá trị văn hóa dân tộc trên cái nền Nho học của Trung Hoa Thêm vào đó, ảnh hưởng hàng ngàn năm của văn hóa Trung Hoa đã bồi đắp thêm sự vững chắc cho việc chống lại văn hóa Pháp Nguyễn Đình Chiểu đã sống và đồng hành cùng với dân chúng, nghĩa binh để góp phần chống Pháp bằng chính ngòi bút đạo nghĩa của ông dành cho dân cho nước Trong cuộc gặp gỡ và đối thoại với tỉnh trưởng Bến Tre - Michel Ponchon khi ông này ngỏ ý trả lại đất đai, Nguyễn Đình Chiểu khẳng khái
Trang 36*
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà văn yêu nước, thương dân Nội dung xuyên suốt tác phẩm của ông đều hướng đến đạo lý, đạo đức ở đời Nguyễn Đình Chiểu vinh danh đạo làm người và trân quý những giá trị “đạo đời” Với ý thức không cầm
vũ khí chống giặc thì dùng ngòi bút làm phương tiện đấu tranh và tuyên truyền, Nguyễn Đình Chiểu là ngọn cờ đầu cho phong trào “tị địa” của các văn thân sĩ phu yêu nước
Từ Lục Vân Tiên (tác phẩm đầu tiên) đến Dương Từ Hà Mậu rồi Ngư
Tiều y thuật vấn đáp là một chuỗi hệ thống các giá trị đạo đức mà Nguyễn Đình
Chiểu muốn chuyển tải đến người đọc, chủ yếu là nhân dân Nam Bộ với một tấm lòng trân trọng, thương yêu
Theo Trần Quốc Vượng, “từ cuối thế kỷ XIX và đặc biệt từ đầu thế kỷ XX
đã có một sự đứt gãy truyền thống trong lĩnh vực văn hóa Việt Nam và mở đầu một
kỷ nguyên acculturation mới của văn hóa Việt Nam [Trần Quốc Vượng 2000: 120] Với thực tiễn ngày nay, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc đang đứng trước nguy cơ suy thoái và đôi khi bị lợi dụng như một chiêu thức nhằm phục vụ
Trang 3737
cho lợi ích riêng tư Vì vậy, nghiên cứu văn hóa đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu có một ý nghĩa rất quan trọng Từ đó thấy được nhân cách văn hóa cao đẹp của ông - một nhân cách đạo đức lớn của vùng đất Nam Bộ
Trang 3838
CHƯƠNG 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC TRONG TÁC PHẨM
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
2.1 Quan điểm đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu
Là một nhà trí thức xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, Nguyễn Đình Chiểu tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức Nho giáo Mặt khác, Nguyễn Đình Chiểu là người Việt Nam, lại sống trong không gian văn hóa Nam Bộ nên chịu ảnh hưởng tư tưởng học thuật và quan điểm đạo đức của dân tộc, của một vùng đất Do vậy, quan niệm đạo đức ở Nguyễn Đình Chiểu là một sự kết hợp giữa mới và cũ, giữa nội sinh
và ngoại sinh Xuyên suốt các tác phẩm của ông đều bàng bạc tinh thần đạo lý, tư tưởng nhân nghĩa vừa chịu ảnh hưởng của Nho giáo, vừa thấm nhuần đạo lý dân tộc Có thể xem đây là nền tảng cho mọi hành động trong cuộc đời và trong sự nghiệp sáng tác của ông
Quan điểm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu nhằm mục đích chuyển tải nội dung đạo đức, nhân nghĩa theo truyền thống “văn dĩ tải đạo” Song, bên cạnh
đó, Nguyễn Đình Chiểu có sự cách tân, sáng tạo linh hoạt theo đặc điểm hoàn cảnh
và tâm hồn Nam Bộ Dựa trên hình thức văn hóa truyền thống, ông đã thổi vào đó một luồng gió mới, một nội dung tiến bộ làm tan đi hệ tư tưởng phong kiến lỗi thời Sáng tác văn học vừa nhằm thể hiện “thi dĩ ngôn chí” (mượn thơ để bày tỏ chí khí) vừa mang tính giáo dục và chiến đấu, khơi dậy tinh thần đấu tranh của quần chúng nhân dân lao động Thông qua nội dung này, Nguyễn Đình Chiểu chủ trương dùng văn chương để giáo dục cho nhân dân những cách ứng xử đạo đức mới
Trên cơ sở thế giới quan phương Đông, Nguyễn Đình Chiểu nhìn thấy vạn vật tuân theo quy luật của thuyết “ngũ hành” Mọi vật ở trên đời do năm nguyên tố:
Trang 3939 kim, mộc, thủy, hỏa, thổ mà thành, và năm yếu tố này tương khắc tương sinh với nhau trong quá trình sinh tồn Từ đó, ông chứng minh thực tế đất nước Việt Nam đang đứng trước cảnh ngoại xâm Học thuyết ngũ hành với những yếu tố duy vật tích cực
đã tác động vào tư tưởng và nhận thức của nhà Nho này, đưa ông đến những quan điểm tiến bộ:
Ai mà rõ lẽ ngũ hành Việc trong trời đất dữ lành trước hay
(Ngư tiều y thuật vấn đáp)
Chính thuyết ngũ hành đã làm nền tảng vững chắc cho cơ sở lý luận của Nguyễn Đình Chiểu trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn ở cuộc đời và vận
mệnh của đất nước Trước đây trong tác phẩm Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu
quan niệm đơn thuần theo luật nhân quả ở đời “gieo gió gặt bão”, “ở hiền gặp lành” Ông xây dựng các nhân vật theo ước mơ của bản thân và của đông đảo quần chúng lao động nghèo, muốn vươn lên thoát khỏi cảnh khốn cùng, áp bức Mặt khác, ông gởi gắm nơi họ một niềm tin lạc quan vào cuộc sống Đến khi, đất nước rơi vào cảnh màn trời chiếu đất, mâu thuẫn giữa nhân dân và chính quyền phong kiến, giữa nhân dân và thực dân Pháp ngày càng trở nên gay gắt và mạnh mẽ, Nguyễn Đình Chiểu đã củng cố thêm bằng lý luận biện chứng khách quan và tiến bộ, giúp nhân dân nhận thức được nỗi mất nước:
Trời Đông mà gió Tây qua Hai hơi ấm, mát chẳng hòa, đau dân
(Ngư tiều y thuật vấn đáp)
Vì thế, khi chống lại kẻ thù xâm lược, Nguyễn Đình Chiểu tin rằng đất nước
sẽ chuyển biến theo những quy tắc của tự nhiên “vật cực thời phản”, tắc cùng lại thông” Ông nhấn mạnh:
Đạo trời có thịnh có suy Hết cơn bĩ bế, đến kỳ thái thanh
Trang 4040
(Ngư tiều y thuật vấn đáp)
Nguyễn Đình Chiểu dựa trên quan niệm đạo đức của Nho giáo Trung Hoa để phản ánh nội dung đạo lý dân tộc và nhân dân Nam Bộ Có nghĩa, ông đã làm mới lại học thuyết Nho giáo theo tâm thức người Việt ở vùng đất phương Nam bằng những quan điểm tiến bộ Đó là do sự “khúc xạ” trên con đường “Nam tiến” (ảnh hưởng Nho giáo nhẹ hơn, cộng thêm tư tưởng phóng khoáng và bộc trực vốn có của người Nam Bộ) nên đã giải phóng được khá nhiều gông xiềng của văn hóa phong kiến Trung Hoa Nguyễn Đình Chiểu “nhào nặn lại Nho giáo, đem vào trong đó những nhân tố mới từ trong cuộc sống, và những ý nghĩa mới” [Vũ Khiêu, Nguyễn Đức Sự, 1982: 24] “Cụ Đồ Chiểu đề xướng ‘đạo nhà’, một Nho giáo Việt Nam trong đó số phận người trí thức là gắn liền với Tổ quốc” [Phan Ngọc, 2004: 209]
Từ Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Ngư tiều y thuật vấn đáp đến thơ văn yêu
nước đều bàng bạc tấm lòng nhân nghĩa, đạo đức ở đời Lẽ sống, cách cư xử trong các mối quan hệ gia đình và xã hội không phải thuyết lý khô cứng mà đi kèm với thực tiễn xã hội Nam Bộ Cho nên, người Nam Bộ không xa lạ gì với kiểu nói mà nhiều người nhận xét đó là những cách nói riêng, chỉ có trong văn chương Đồ Chiểu: “khoan khoan”, “chớ”, “thôi thôi”, “sao hay”…
Ở quan điểm Nguyễn Đình Chiểu có hai mặt bổ sung cho nhau: một mặt tôn vinh những giá trị tích cực, một mặt phê phán những cái lỗi thời, lạc hậu:
Những người theo đạo Nho ta Tiếng đồn thời khá, thế mà lăng nhăng
(Dương Từ Hà Mậu)
Có thể nói, giá trị văn hóa đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu được tích lũy từ triết lý Nho giáo của Trung Hoa, từ kinh nghiệm của nhân dân cùng những di sản tinh thần phong phú, đa dạng của dân tộc Việt Nam Vấn đề đạo đức, đối nhân xử thế của con người ở đời luôn là những giá trị tiêu biểu:
Sự đời thà khuất đôi tròng thịt