Ở đây chúng ta cần lưu ý, trong trường hợp gặp phải những văn bản có tính chuyên môn sâu, nghĩa là nó có hẳn một hệ thống thuật ngữ chuyên môn, thì người dịch nếu chỉ dừng lại ở việc th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
Chủ nhiệm đề tài
TS Lê Đình Khẩn
TP HỒ CHÍ MINH 2008
Trang 2
LỜI DẪN
I Mục đích nghiên cứu
1 Tìm hiểu thêm những điểm mấu chốt nhất về lý luận phiên dịch
2 Làm tài liệu tham khảo, học tập cho sinh viên Việt Nam học ngoại ngữ, đặc
biệt là sinh viên ngành Trung Quốc học
II Nội dung triển khai
Công trình gồm các phần sau:
Phần một: Lý thuyết phiên dịch
Phần hai: Phiên dịch Việt _ Hán
Phần ba: Phiên dịch Hán _ Việt
Phần bốn: Những tranh luận về dịch thuật
(của các học giả Trung Quốc) Phần năm: Một số bài mẫu
Phần sáu: Bài tập luyện dịch Việt _Hán
III Nguồn tư liệu
Tập tài liệu đơn sơ này đã thu thập những ý kiến của các học giả trong và
ngoài nước, cộng thêm quan điểm cá nhân người biên soạn về phiên dich, nhằm
cung cấp những kiến thức cơ bản nhất cho người học
Trong quá trình biên soạn, người nghiên cứu đã sử dụng một số cứ liệu, ngữ
liệu của các học giả uy tín trong và ngoài nước, trong các tài liệu từng dùng làm
giáo trình đại học
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Tp.Hồ Chí Minh 12/2008
Trang 3Phần một
Lý thuyết phiên dịch
Trang 42
1.1 Khái quát
Trong nội bộ một dân tộc, người ta dùng tiếng nói chung để giao tiếp, để trao đổi những
suy nghĩ, thống nhất hành động, sáng tạo ra văn minh và thúc đẩy xã hội phát triển Nhưng
xã hội loài người thì lại do nhiều dân tộc bất đồng ngôn ngữ tạo nên, giữa các dân tộc
không có ngôn ngữ chung để làm công cụ giao tế Dân tộc này và dân tộc kia muốn hiểu
được nhau nhất định lại phải nhờ những người am hiểu ngôn ngữ của cả hai dân tộc làm
môi giới, nối liền họ với nhau, quá trình ấy gọi là phiên dịch
Để làm nổi bật đặc trưng cơ bản của phiên dịch, trong những tài liệu chuyên về lý
thuyết phiên dịch, người ta đã có khá nhiều cách cắt nghĩa về khái niệm này Chẳng hạn
như:
- Phiên dịch tức là dùng một loại ngôn ngữ B để biểu đạt một cách chính xác và đầy đủ
một ngôn ngữ A khi mà ngôn ngữ A vốn là một thể hoàn chỉnh không thể tách rời giữa hai
mặt nội dung và hình thức
- Phiên dịch là quá trình cải biến một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác trong điều
kiện không có sự thay đổi về nội dung và ý nghĩa
- Phiên dịch là dùng một văn bản tài liệu tương đương về giá trị để thay thế một văn
bản tài liệu
- Phiên dịch là kiểu hoạt động ngôn ngữ, nó dùng một loại ngôn ngữ biểu đạt lại một
cách hoàn chỉnh và chính xác nội dung tư duy mà một ngôn ngữ khác đã biểu đạt
- Phiên dịch là dùng ý nghĩa một loại ngôn ngữ văn tự để tái hiện lại một loại ngôn ngữ
khác có phương thức biểu hiện thích ứng
Những định nghĩa trên tuy lối diễn đạt có khác nhau, nhưng nội dung cơ bản của chúng
thì giống nhau Mọi người đều cho rằng phiên dịch tức là dùng ý nghĩa một ngôn ngữ văn
tự để diễn đạt ý nghĩa của một loại ngôn ngữ khác Đó chính là bản chất của phiên dịch
Những khái niệm như là “biểu đạt”, “cải biến”, “thay thế” v.v nếu đem so sánh nội dung
và hình thức nguyên bản, liệu có “hoàn chỉnh”, “chính xác” hay “tương đương” không? Đó
chính là vấn đề chất lượng văn bản dịch mà chúng ta sẽ bàn kỹ trong một phần khác
1.2 Các hình thức phiên dịch
Ngôn ngữ là phương tiện giao tế và phương tiện tư duy quan trọng nhất của nhân loại,
vì thế phạm vi hoạt động của nó cực kỳ rộng lớn Tất cả mọi hoạt động của xã hội loài
người đều được phản ánh trong lĩnh vực ngôn ngữ Phiên dịch là một hoạt động ngôn ngữ,
nên phạm vi của nó tất nhiên cũng nhất định phải rộng lớn
Có thể chia ra thành các kiểu loại chính như sau:
Trang 51.2.1 Dịch nói và dịch viết
Đó là cách phân loại dựa theo phương thức tiến hành Gọi là dịch nói khi mà cả nguyên
văn lẫn lời dịch đều được thể hiện ở hình thức khẩu ngữ, bằng miệng Còn dịch viết thì cả
nguyên văn và bản dịch đều được thể hiện dưới hình thức bút ngữ, viết
Chúng ta cần lưu ý điều này, khi nói đến khẩu ngữ và bút ngữ là nói về phong cách
ngôn ngữ Ở đây, như đã trình bày, kiểu phân loại này chỉ chú trọng phương thức tiến hành,
chứ không nói về phong cách Bởi vì trong thực tế, có khi người ta “dịch miệng” một văn
bản viết, và ngược lại, có khi người ta lại phải “dịch viết” cả một đoạn đàm thoại
Dịch miệng cũng có thể chia ra hai tiểu loại:
1) Dịch phân đoạn: tức là người phiên dịch đợi cho người nói phát ngôn hết
một câu hay một đoạn rồi mới dịch
2) Dịch đuổi: tức là nghe đến đâu dịch đến đấy, dịch ngay những phát ngôn
ngắn gọn Vì thế, người ta có cảm giác như bản dịch liền mạch và có tốc độ nhanh
Khi tiến hành dịch phân đoạn, người phiên dịch không tài nào có thể nhớ tất cả mọi từ
ngữ trong câu trong đoạn Họ chỉ cần nắm bắt lấy những từ ngữ quan trọng, những “nhãn
tự” Đó là cốt lõi, là nội dung chủ yếu của thông báo mà người phát ngôn cần chuyển đạt
Chẳng hạn với một câu như: “Xin ông vui lòng làm ơn đóng giùm cái cửa sổ kia lại cho
tôi” Người dịch (nghe để dịch) cần giữ lại trong trí nhớ của mình các từ như: ông, đóng,
cửa Vì đó là điều cốt lõi mà người nói muốn chuyển đạt đến người nghe Công việc này
đòi hỏi người phiên dịch nhạy bén, nghe và chọn lọc nhanh trước khi cần ghi nhớ Khả
năng này chỉ có thể có được nhờ vào quá trình rèn luyện kỹ năng thông qua hoạt động thực
tiễn để tích lũy kinh nghiệm; nó rất cần đến những hiểu biết cơ bản về lý luận hoạt động
ngôn ngữ học, và trong chừng mực nào đó cũng rất cần đến một chút năng khiếu có tính
thiên bẩm
Dịch đuổi là kiểu phiên dịch thường được sử dụng trong các hội nghị quốc tế có quy
mô lớn Nó đòi hỏi người phiên dịch có khả năng cùng một lúc có thể xử lý được nhiều
việc khác nhau; vừa nghe vừa nói, vừa tiếp thu vừa chuyển đạt v.v nghĩa là phải có một kỹ
năng thuần thục về phiên dịch, hay còn gọi là kỹ xảo phiên dịch Để có được thứ kỹ xảo ấy,
người phiên dịch không thể không trải qua một thời gian dài khổ công rèn luyện và tìm
kiếm trong hoạt động thực tiễn
1.2.2 Dịch đồng đại và dịch lịch đại: Đó là kiểu phân loại dựa theo tình trạng
tiếp xúc của ngôn ngữ
1) Dịch đồng đại: Tức là dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia (giữa hai
ngôn ngữ khác nhau) Chẳng hạn, dịch tiếng Anh sang tiếng Hán, dịch tiếng Hán sang tiếng
Trang 64
Việt, dịch tiếng Nhật sang tiếng Hàn, dịch tiếng Nga sang tiếng Đức v.v
2) Dịch lịch đại: Trong cùng một ngôn ngữ, nhưng có thể ở thời kỳ cổ xưa
không giống với thời hiện đại (do quá trình phát triển và biến đổi không ngừng của ngôn
ngữ sinh ra) Để thế hệ con cháu ngày nay hiểu được tiếng nói của tổ tiên xa xưa, phải có
phiên dịch Việc phiên dịch từ ngôn ngữ cổ ra ngôn ngữ hiện đại gọi là dịch lịch đại Chẳng
hạn, dịch từ tiếng Hán cổ ra tiếng Hán hiện đại, dịch từ văn bản Hán Nôm ra tiếng Việt
hiện đại v.v
Trong thời đại toàn cầu hóa, mối quan hệ giao lưu giữa các quốc gia, các dân tộc trên
thế giới ngày càng mật thiết Ngôn ngữ với tư cách là một công cụ, đã đóng vai trò cực kỳ
quan trọng, không thể thiếu Chính vì thế, dịch đồng đại là một hoạt động rất được coi
trọng Nhưng trong nội bộ của một ngôn ngữ, một dân tộc thì hoạt động dịch lịch đại phải
là một hoạt động không một giây được ngưng nghỉ Chúng ta thử hình dung, nếu không có
bước phiên dịch từ tiếng Hán cổ ra tiếng Hán hiện đại, thì quảng đại quần chúng nhân dân
Trung Quốc làm sao có thể đọc hiểu nổi những tác phẩm vô giá về mọi lãnh vực được viết
từ hàng nghìn năm trước đây Và tất nhiên, nguy cơ đánh mất kho di sản đồ sộ về văn hóa
dân tộc là điều khó tránh khỏi Thiệt thòi ấy không chỉ thuộc riêng người Trung Quốc, mà
là của cả nhân loại Nếu không có nhiều thế hệ người phiên dịch cần mẫn kiên trì, thì làm
sao nhân loại biết đến Kinh thánh, đến những tác phẩm triết học, thiên văn học, đến những
bộ sử thi, những tác phẩm văn học dân gian bất hủ thời cổ xưa Cũng tương tự, nếu không
có công sức của các nhà Hán Nôm học đổ ra để chuyển đổi các văn bản ở dạng Hán Nôm
sang tiếng Việt hiện đại, thì đại đa số người Việt Nam làm sao cảm thụ được những tuyệt
tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du v.v
1.2.3 Phân loại dịch thuật theo phong cách của văn bản dịch (Cũng có thể
gọi là theo ngữ thể)
Người ta có thể từ góc độ tu từ học xem xét các văn bản theo đặc điểm phong cách của
chúng, rồi gọi tên cho các tiểu loại phiên dịch các văn bản ấy Chẳng hạn, có thể có các loại
Mỗi thể loại văn bản đều được thể hiện bằng những phong cách ngôn ngữ riêng Ví dụ,
đặc trưng chủ yếu của phong cách ngôn ngữ trong những tác phẩm văn học nghệ thuật là
tính hình tượng Hiện thực khách quan được phản ánh thông qua hình tượng nghệ thuật
Tác phẩm chính luận thì trình bày các vấn đề liên quan đến đời sống chính trị xã hội, cho
Trang 7nên nó có tính chất cổ vũ và tính khuynh hướng rõ rệt Tài liệu khoa học kỹ thuật thì phản
ánh những hiện tượng tự nhiên, những hiện tượng về tư duy của con người, cũng như
những quy luật nội tại của chúng Ngôn ngữ ở những loại tài liệu này đòi hỏi phải chính
xác, nghiêm túc và súc tích Các loại công văn là công cụ chủ yếu để cơ quan nhà nước
truyền đạt chủ trương chính sách, phổ biến pháp luật, thỉnh thị và phúc đáp, chỉ đạo và bàn
bạc công tác, báo cáo tình hình, trao đổi kinh nghiệm v.v Vì thế, đặc điểm cơ bản về mặt
ngôn ngữ của loại văn bản này là phải chính xác, cô đọng và bài bản
Phiên dịch những văn bản loại này không chỉ đòi hỏi phải chính xác, trôi chảy, mà phải
phù hợp về mặt phong cách ngôn ngữ
Yêu cầu cụ thể về mặt ngôn ngữ ở từng loại là gì, chẳng hạn phải sử dụng lớp từ vựng
nào, mẫu câu nào cho phù hợp v.v Chúng ta sẽ bàn tiếp ở một mục khác
Ở đây chúng ta cần lưu ý, trong trường hợp gặp phải những văn bản có tính chuyên
môn sâu, nghĩa là nó có hẳn một hệ thống thuật ngữ chuyên môn, thì người dịch nếu chỉ
dừng lại ở việc thông thạo hai thứ tiếng là chưa đủ, mà phải thực sự am hiểu về chuyên
môn mình muốn dịch Hoặc ít nhất phải có chuyên gia làm cố vấn, mới có hy vọng làm tốt
công việc dịch thuật của mình
1.2.4 Dịch toàn văn và trích dịch (hay lược dịch)
Khi tiến hành dịch một văn bản, tùy theo nhu cầu mà người ta có thể dịch toàn bộ văn
bản, không bỏ phần nào cả, gọi là dịch toàn văn Nhưng cũng có thể chỉ tuyển chọn để
phiên dịch những phần nội dung nào đó của văn bản, gọi là trích dịch hoặc lược dịch
1.3 Các bước tiến hành phiên dịch
Như đã bàn ở phần trên, phiên dịch là một hoạt động ngôn ngữ đầy tính sáng tạo, nó
phải trải qua một quá trình rất phức tạp Ít nhất cũng phải trải qua hai bước chính, đó là:
bước tìm hiểu và bước diễn đạt Gọi là hai bước để cho dễ hình dung, còn trong hoạt động
thực tiễn phiên dịch, mọi người đều thấy rằng, chúng khó có thể phân đoạn rạch ròi Chẳng
hạn, chúng ta định dịch một văn bản từ ngôn ngữ A sang ngôn ngữ B, thì việc đầu tiên
(bước 1) là tìm hiểu ý nghĩa của A Chính trong lúc tìm hiểu nội dung ý nghĩa ấy thì đồng
thời cũng xuất hiện trong đầu hình thức diễn đạt ở ngôn ngữ B một cách rất tự nhiên Và,
khi đi tìm hiểu hình thức diễn đạt ở B có nghĩa là người phiên dịch đang tiến hành so sánh
giữa A và B Điều đó giúp người phiên dịch tìm hiểu sâu hơn nội dung nguyên bản Có thể
nói, tìm hiểu và diễn đạt là hai bước không thể tách rời nhau trong quá trình phiên dịch
1.3.1 Tìm hiểu nguyên văn (ngôn ngữ nguồn)
Tìm hiểu kỹ nguyên văn có thể xem là tiền đề của công việc phiên dịch Một nhu cầu
không thể thiếu và là rất cơ bản đối với người phiên dịch là phải hiểu một cách thấu đáo
nội dung và phong cách của nguyên văn
Trang 86
1) Tìm hiểu về mặt ngôn ngữ
Ngôn ngữ vừa như là công cụ vừa như là chất liệu để tạo nên nội dung một văn bản
Muốn tìm hiểu nội dung văn bản, cần làm một thao tác ngược, phân tích các đơn vị ngôn
ngữ đã tạo nên nó Có thể bắt đầu từ những đơn vị ở cấp độ thấp (như: từ, ngữ) đến những
đơn vị ở cấp độ cao (như: câu, đoạn, bài…) Dù là ở đơn vị nào thì chúng cũng được xem
xét từ những góc độ khác nhau để tìm ra bản chất thực sự của chúng Chẳng hạn, khi cần
làm rõ một từ T nào đó trong văn bản, thì hướng tiếp cận của chúng ta sẽ là đi tìm các loại
“nghĩa” của T, bao gồm nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp, nghĩa tu từ, nghĩa văn bản v.v
Một loạt các câu hỏi về T như là
- T đồng nghĩa hay trái nghĩa với từ nào?
- T thuộc từ loại nào?
- T là từ bản ngữ hay từ ngoại lai?
- T là từ cổ hay từ hiện đại?
- T là từ phổ thông hay từ địa phương?
- T là từ khẩu ngữ hay bút ngữ?
- T có sắc thái biểu cảm âm tính (chê bai), dương tính (khen ngợi) hay trung tính
(khách quan)?
- T mang nghĩa đen (nghĩa ban đầu, nghĩa gốc) hay nghĩa bóng (nghĩa phái sinh)?
Và, còn nhiều thông tin khác cần biết về T Dĩ nhiên, T phải đặt trong bối cảnh cụ thể mà
nó xuất hiện trong văn bản cần dịch Nếu những câu hỏi trên được trả lời đúng, thì công
việc tìm kiếm một đơn vị tương ứng trong bản dịch sẽ trở nên đơn giản và chính xác Ví dụ,
trong câu tục ngữ tiếng Việt “Đời cha ăn mặn đời con khát nước”, từ “ăn mặn” được hiểu
theo nghĩa đen, thì câu nói trở nên phi hiện thực, vô nghĩa Nhưng “ăn mặn” được hiểu
theo nghĩa phái sinh, nghĩa bóng: “làm điều không tốt”, thì câu nói trở thành câu triết lý
nhân sinh được diễn đạt bằng hình ảnh ví von, rất bóng bẩy và có giá trị giáo dục cao
Cũng tương tự như vậy, từ “vuông”, “tròn” trong câu thành ngữ quen thuộc “mẹ tròn
con vuông” đã không còn mang nghĩa gốc, nghĩa cụ thể nữa Nghĩa của “vuông”, “tròn” ở
đây là sự hoàn chỉnh, hoàn thiện, trọn vẹn theo thế giới quan của người Việt Thành ngữ
này chuyên dùng trong trường hợp nói về phụ nữ sinh con, nên “vuông tròn” ở đây là “an
toàn khỏe mạnh”
Cứ theo cung cách như vậy, người dịch phải hiểu rõ mọi đơn vị ngôn ngữ trong nguyên
văn trước khi nghĩ đến những đơn vị tương ứng trong bản dịch
2) Tìm hiểu những yếu tố ngoài ngôn ngữ
Trang 9Trong quá trình phiên dịch, có lúc người phiên dịch đã làm chủ được các hiện tượng
ngôn ngữ trong nguyên văn, nhưng vẫn không dịch được hoặc dịch sai nội dung mà một số
từ ngữ trong nguyên văn muốn biểu đạt (xem bản đối chiếu sau):
Tại sao như vậy? Đó là vì người phiên dịch thiếu những hiểu biết về lịch sử, văn hóa,
xã hội, v.v của dân tộc nguyên ngữ (ngôn ngữ nguồn) Những yếu tố ngoài ngôn ngữ này
thường hay gặp trong khi phiên dịch các tác phẩm văn học nghệ thuật Do vậy, để có thể
trở thành người phiên dịch chuyên nghiệp, người ta không chỉ phải rèn luyện kỹ năng ngôn
ngữ, mà còn cần tích lũy tri thức về đất nước học
Ví dụ, một người nước ngoài không am hiểu về lịch sử Việt Nam sẽ cảm thấy khó dịch
cụm từ “hồi chín năm” trong câu: “… cha bị Tây bắn chết hồi chín năm, mẹ mới bị đại bác
của giặc giết hồi năm ngoái” (Nguyễn Thi, Những đứa con trong gia đình) Bởi vì “chín năm”
là cách rút gọn, cách gọi tắt một thời kỳ kháng chiến chống xâm lượt của nhân dân Việt
Nam Đó là thời kỳ “chín năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược”
Những người cách mạng ở miền Nam Việt Nam khi nhắc đến thời kỳ này, chỉ nói gọn “hồi
Trang 108
chín năm”
Cũng tương tự như vậy, người ta sẽ lúng túng khi phải dịch cụm từ “trên chữ S này”,
xuất hiện trong câu “… Đó là vì con người sống bằng lao động trí óc đơn thuần chưa ra
đời trên chữ S này.” (Phan Ngọc, Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới)[Sđd,trích lại] Ở
đây, một chút hiểu biết về địa lý Việt Nam, sẽ giúp ích cho công việc này Trên bản đồ, Việt
Nam có hình dáng giống chữ S, nên tác giả tạm thời lấy tên chữ để thay cho tên nước, một
kiểu hoán dụ nghệ thuật Chữ S = đất nước Việt Nam “Trên chữ S này” = “trên đất nước
Việt Nam này”
3) Tìm hiểu những hiện tượng mơ hồ về ngôn ngữ trong nguyên văn
Trong nguyên văn cũng có thể có những hiện tượng mơ hồ Đó là những trường hợp
mà một từ, một ngữ, một câu nào đó có khả năng tạo ra hai hay nhiều cách hiểu khác nhau
Tức là tạo hiện tượng đa nghĩa Người phiên dịch cần xác định nghĩa nào là nghĩa mà
nguyên văn thực sự muốn diễn đạt Đây là công việc không đơn giản Nó yêu cầu người
phiên dịch biết dựa trên vốn tri thức và kinh nghiệm sống, phân tích tỉ mỉ mối quan hệ
logic giữa các thành tố trong văn cảnh để tìm ra nghĩa đích thực (hợp lý nhất) của những
đơn vị tạo ra mơ hồ
Trong bước tìm hiểu nội dung nguyên văn, chúng ta chú ý đến 3 phương diện: yếu tố
ngôn ngữ, yếu tố ngoài ngôn ngữ, và hiện tượng mơ hồ Tuy tách làm ba, nhưng chúng là
những khâu trong hệ thống móc xích liên quan lẫn nhau, bổ sung cho nhau Vì vậy trong
thực tiễn phiên dịch, người ta thường tiến hành tìm hiểu cùng một lúc chứ không tách bạch
từng khâu một Tìm hiểu nội dung nguyên văn là bước khởi đầu quan trọng quyết
định chất lượng của bản dịch Để hiểu chính xác nội dung nguyên văn, người phiên dịch
không thể không khảo sát kỹ càng ba phương diện nói trên
1.3.2 Diễn đạt
Nếu như tìm hiểu nguyên văn là bước khởi đầu, bước chuẩn bị, thì diễn đạt là bước đi
đến đích cuối cùng của công việc phiên dịch Nó phản ánh kết quả và chất lượng của suốt
cả một quá trình – quá trình phiên dịch
Như thế nào gọi là diễn đạt?
Giả sử A là ngôn ngữ của nguyên văn (ngôn ngữ nguồn), còn B là ngôn ngữ của bản
dịch (ngôn ngữ đích), thì diễn đạt tức là tìm kiếm những hình thức phù hợp và chuẩn mực
nhất trong B để thể hiện một cách chính xác đầy đủ tất cả những nội dung tìm hiểu và lĩnh
hội được từ A Làm thế nào để diễn đạt được tốt? Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào khả
năng lĩnh hội nguyên văn cũng như khả năng vận dụng nhuần nhuyễn linh hoạt ngôn ngữ B
của người phiên dịch
Trang 11Ở bước diễn đạt này, người ta thường hay nhắc đến hai thuật ngữ là đối dịch (cũng gọi
là trực dịch) và dịch ý (diễn dịch) Diễn đạt như thế nào thì gọi là đối dịch, diễn đạt như thế
nào thì gọi là dịch ý? Hãy tìm hiểu một số ý kiến sau đây
Đối dịch là khi mà điều kiện ngôn ngữ B cho phép, bản dịch giữ nguyên cả nội dung
lẫn hình thức của nguyên văn, đặc biệt giữ nguyên văn cả cách ví von, hình ảnh, cũng như
sắc thái dân tộc, màu sắc địa phương của nguyên văn
Còn khi nội dung tư tưởng của nguyên văn không phù hợp với hình thức diễn đạt của
bản dịch, không dùng lối đối dịch thì người ta dùng cách dịch ý
Dịch ý yêu cầu bản dịch diễn đạt chính xác nội dung của nguyên văn, mà không cần
chú ý lắm đến hình thức của nguyên văn
Cũng có người không tán thành với ý kiến trên, vì cho rằng đối dịch và dịch ý là hai
khái niệm không rõ ràng, làm sao phân biệt được đâu là đối dịch, đâu là dịch ý Vả lại, làm
sao có được hai ngôn ngữ giống nhau về từ ngữ cũng như các phạm trù ngữ pháp để người
phiên dịch có thể cứ một đối một mà phiên dịch từ A sang B được
Lại cũng có người cho rằng chỉ có một phương pháp dịch thôi, không phân biệt thành
“đối dịch” và “dịch ý”, mà cách dịch tốt nhất là bao gồm cả hai Còn cái kiểu dịch mà thay
đổi hình thức hoặc lược bỏ cả ý nghĩa của nguyên văn thì đừng gọi là “dịch ý” mà nên gọi
là “cải biên”, cũng không nên lấy cớ “trung thực” với nguyên bản để rồi “đối dịch”, “trực
dịch” một cách sống sượng, đưa luôn cả cấu trúc ngữ pháp xa lạ trong nguyên bản vào bản
dịch
Có người ngay từ đầu đã xác định nhiệm vụ trung tâm của người phiên dịch là phải đưa
những nội dung thông tin mà nguyên văn cần chuyển đạt sang bản dịch, chứ không phải là
đưa từng từ từng từ một trong cách thể hiện của nguyên văn sang bản dịch Những người
này chủ trương lấy câu làm đơn vị phiên dịch, gọi là cú dịch Cú dịch tức là, trước tiên
người phiên dịch cần hiểu chính xác ý nghĩa của một câu, sau đó diễn đạt theo tập quán
ngữ pháp ngôn ngữ dịch Nếu dịch sát được từng từ thì tốt , còn nếu như trong ngôn ngữ
dịch quả không có từ đối ứng thì đành hy sinh những từ không có đối ứng ấy, chứ không
cần phải tìm bằng được sự tương đương
Về vấn đề diễn đạt, cũng có tác giả nhắc đến ba khái niệm: tín 信 , đạt 达, nhã 雅
Căn cứ vào nghĩa từ nguyên thì “tín” là độ tin cậy, tính trung thực, và giá trị thông tin
“?ạt” là thông đạt, đạt đến, thực hiện đ?ợc hoặc chuyển đến, truyền đến Còn “nhã” là
chính quy, chuẩn mực, đẹp và tao nhã
Họ cho rằng, nói chung có ba cách để cố gắng làm cho nội dung và tư tư?ng chủ đề
của bản dịch phù hợp với nguyên tác Một là, dịch thẳng, dịch một cách cứng nhắc, sống
sư?ng từng từ từng câu một Do ngữ pháp của hai ngôn ngữ khác nhau nên từ chỗ theo
Trang 1210
đuổi chữ “tín”, ngư?i dịch đã không thể chuyển tải đ?ợc nội dung nguyên văn sang bản
dịch
Hai là, vừa chú trọng chữ “tín” vừa chú trọng chữ “?ạt” Và như thế thì không thể cứ
dịch theo kiểu một đối một đ?ợc từng từ từng câu Trong trư?ng hợp này ngư?i phiên dịch
phải cố gắng tìm cách hiểu ý nghĩa nội hàm của các từ, dựa vào văn cảnh, phản ánh một
cách chính xác thực chất tinh thần và ý nghĩa của nguyên văn vào bản dịch Phần đông
dịch giả thư?ng sử dụng phư?ng pháp này, nó đòi hỏi suy nghĩ nhiều
Ba là, về phư?ng diện nghĩa từ, chữ “tín” đ?ợc đặt vào hàng thứ yếu, chú ý nhiều đến
“?ạt” và một mức độ nào đó chữ “nhã” Có thể xem cách làm này như một kiểu “tái sáng
tạo”, đôi khi bản dịch như là tác phẩm của chính dịch giả (chứ không còn là bản dịch nữa)
1.4 Tiêu chuẩn đánh giá
Ngành phiên dịch đã đặt ra một số tiêu chuẩn, và xem đó như những chuẩn tắc để đánh
giá, để thẩm đ?nh chất lư?ng của bản dịch Đồng thời qua đó ngư?i làm công tác phiên
dịch có đ?ợc một mục tiêu để phấn đấu, một phư?ng hư?ng để cố gắng nâng cao trình độ
phiên dịch của mình Những ngư?i mới bắt đầu tham gia công tác phiên dịch, thư?ng
không thể biết đ?ợc chất lư?ng của bản dịch của mình ra sao Nhưng khi đã có một tiêu
chuẩn rõ ràng, thiết thực và khả thi, thì họ có thể tự kiểm tra và đánh giá chất lư?ng bản
dịch của mình Điều đó rất có lợi cho việc từng bư?c nâng cao kỹ năng và chất lư?ng phiên
dịch
Về nguyên tác (đối tư?ng của phiên dịch)
Nguyên tác (nguyên văn) bao giờ cũng là một khối thống nhất có quan hệ mật thiết
giữa nội dung và hình thức
Nội dung thư?ng phản ánh về một thực tế, giải thích một sự kiện, miêu tả những cảnh
vật, hay thể hiện những quan điểm, tư tư?ng, lập trư?ng, tình cảm của tác giả v.v Còn
hình thức là hệ thống ngôn ngữ dùng để thể hiện những nội dung ấy, gồm từ vựng, ngữ
pháp, và cả những thủ pháp tu từ mà tác giả đã sử dụng
Khi phiên dịch, nội dung tư tư?ng của nguyên tác cần đ?ợc phản ánh đầy đủ, chính xác,
hình thức ngôn ngữ của nguyên tác cần đ?ợc chuyển đổi sang bản dịch một cách thông
thoát
Có thể nói ngắn gọn về chuẩn tắc phiên dịch như sau: (phiên dịch là) dùng thông thoát
ngôn ngữ dịch để diễn đạt chính xác đầy đủ nội dung tư tư?ng và phong cách ngôn ngữ của
nguyên tác
Vấn đề cần nhấn mạnh là, bản dịch phải trung thực với nguyên văn Bản dịch không
đ?ợc cắt xén, thêm thắt hoặc phóng đại nội dung nguyên văn, mà phải truyền đạt một cách
trung thực nội dung ý nghĩa của nguyên văn
Trang 13Thuật ngữ “phong cách” mà ngư?i ta hay nhắc đến, đó là muốn nói về phong cách
ngôn ngữ của tác giả Có những tác giả thì thích dùng những biện pháp tu từ này, có tác
giả thì thích dùng những biện pháp tu từ khác Tác phẩm mà họ tạo ra do đó cũng không
giống nhau Ngư?i phiên dịch cần thấy đ?ợc đều đó, để không làm biến đổi phong cách
của nguyên tác; càng không thể lấy phong cách của ngư?i dịch thay cho phong cách tác
giả
Một bản dịch đ?ợc xem là thông thoát khi trên cơ bản nó diễn đạt chuẩn xác trôi chảy
và dễ hiểu, không có tình trạng dịch rời rạc cứng nhắc từng từ, tạo trúc trắc khó hiểu
Chuẩn xác và thông thoát là hai mặt của một vấn đề Muốn chuẩn xác thì phải thông
thoát Một bản dịch không thông thoát thì không thể nào diễn đạt chuẩn xác nội dung tư
tư?ng và phong cách của nguyên văn Muốn bản dịch thông thoát thì trư?c tiên phải chuẩn
xác, nếu không, nó sẽ trở thành một kiểu “cải biên” chứ không phải phiên dịch
Cần tránh hai xu hư?ng sau đây: một là quá chú ý mặt hình thức của nguyên văn, đến
mức phụ thuộc hoàn toàn, nên khi dịch bê nguyên xi một cách sống sư?ng cứng nhắc, kết
quả là tuy hình thức của văn dịch giống với hình thức của nguyên văn, nhưng lại không
phù hợp với quy phạm ngôn ngữ dịch do đó trở thành xa lạ khó hiểu đối với ngư?i đọc văn
dịch
So sánh:
Tiếng Hán: 教室?里一个?人?²没有。
Dịch sang tiếng Việt:
a) Trong lớp học đến một ngư?i cũng không có
b) Trong lớp học ngay cả một ngư?i cũng không có
c) Trong lớp chẳng có ai
d) Trong lớp chẳng có ma nào cả
e) Lớp chẳng có mống nào
Câu a), b) dịch rất sát với nguyên văn, nhưng xa lạ với cách nói của ngư?i Việt
Xu hư?ng thứ hai là, chỉ chú ý đến sự thông thoát của văn dịch, quá “thoáng”, đến
mức phớt lờ ý nghĩa nội dung nguyên văn, tùy tiện thêm thắt hoặc bớt xén, kết quả là bản
dịch tuy thông thoát nhưng nội dung thì xa rời, sai lệch so với nguyên văn
Do đó, muốn có một bản dịch vừa “sát” (trung thực) vừa lưu loát, thì cần sử dụng một
phư?ng thức diễn đạt linh hoạt Trư?c tiên cần chú ý đến tình hình quy phạm của ngôn ngữ
toàn dân của ngôn ngữ dịch, cố gắng bảo lưu diện mạo nguyên tác, nhưng cũng phải biết
cách thoát ra khỏi sự ràng buộc hình thức của nó lúc cần thiết
Trang 1412
Vấn đề tiêu chuẩn đánh giá về phiên dịch là vấn đề đ?ợc đ?a ra tranh luận trong suốt
mấy trăm năm qua, tính thống nhất trong các quan điểm chưa thật cao, thậm chí có những
ý kiến trái ngư?c Những “chuẩn tắc” mà chúng ta vừa bàn ở trên, chỉ có giá trị tư?ng đối,
vì nó đ?ợc nhiều ngư?i thừa nhận Trư?c mắt, những ngư?i phiên dịch cần xem đó như
mục tiêu để phấn đấu
Để có một cái nhìn hệ thống, chúng ta thử điểm lại vài nét cơ bản về lịch sử vấn đề này
trong quá trình phát triển và những diễn biến của nó như sau
Theo sự nghiên cứu về lịch sử dịch thuật thì xưa nay vẫn tồn tại hai khuynh hư?ng trái
ngư?c nhau, từ cổ đại, trung đại, cho đến hiện đại vẫn thế
- Khuynh hư?ng thứ nhất cho rằng, bản dịch phải trung thực với nguyên tác đến từng
câu từng từ Do đó, dù muốn hay không cũng sẽ tổn hại đến sự diễn đạt nội dung tư tư?ng
của nguyên văn Bản dịch cũng sẽ làm tổn hại đến sự trong sáng và tính thông thoát của
ngôn ngữ dịch (ngôn ngữ đch)
- Khuynh hư?ng thứ hai lại cho rằng, bản dịch cần phải tìm cách chuyển tải cái “tinh
thần” của nguyên văn, tức là chuyển tải nội dung tư tư?ng và sức thu hút nghệ thuật của
nguyên văn; không nên quá chú ý đến từ và ngữ pháp của nguyên văn
Những ví dụ điển hình cho xu hư?ng thứ nhất là bản dịch bộ Kinh thánh bằng tiếng Hy
Lạp, tiếng La Tinh; bản dịch những tác phẩm triết học của Aristôt bằng một số ngôn ngữ
khác ở châu Âu v.v
Còn ngư?i dịch cuốn “Cựu ư?c” ra tiếng Hy Lạp đã phát biểu quan điểm của mình
bằng một câu ngắn gọn như sau: “(phiên dịch) không phải là từ một từ đến một từ, mà là từ
một tư tư?ng đến một tư tư?ng”
Vào thời kỳ Văn hóa phục hưng ở châu Âu, khoảng thế kỷ XVI – XVII, Cervantes đã
bày tỏ sự hoài nghi về tính hiệu quả của văn dịch theo một cách nói hình tư?ng, đại ý như
sau: (Khi chúng ta) đọc một bản dịch thì cũng giống như khi chúng ta xem mặt sau của
một bức tranh thêu hoa vậy, vẫn nhìn thấy hoa đấy, nhưng màu sắc và đ?ờng nét đều mờ
nhạt, không còn rõ ràng đẹp đẽ và hấp dẫn như khi xem mặt trư?c của nó nữa.[9]
Đến thế kỷ XVII –XVIII khuynh hư?ng “dịch ý” phát triển mạnh, dư?ng như chiếm ưu
thế Có một hiện tư?ng đáng đ?ợc lưu ý là, giới dịch thuật châu Âu đã đ?a ra chuẩn tắc
“duy mỹ? và chủ nghĩa cổ điển trong phiên dịch Nó đ?ợc khởi xư?ng từ nư?c Pháp rồi
nhanh chóng lan truyền đến khắp các nư?c phư?ng Tây Nó thịnh hành từ cuối thế kỷ XVIII
đến đầu thế kỷ XIX Về vấn đề này, Puskin đã từng phát biểu như sau: cả một thời gian dài,
ngư?i Pháp đã xem thư?ng ngôn ngữ của các nư?c láng giềng, họ cho rằng chỉ có ngôn ngữ
Trang 15của họ là ưu việt Họ luôn đánh giá thấp cách thể hiện của các tác giả nổi tiếng nư?c ngoài
Họ muốn ép buộc mọi ngư?i phải tuân theo những quy tắc và thông lệ do các nhà phê bình
ngư?i Pháp đặt ra
Florlan đã để lộ quan điểm của mình về dịch thuật trong một vài trư?ng hợp cụ thể như
sau: “Trong đó (nguyên văn) có khá nhiều chỗ dư thừa, có khá nhiều biểu hiện tầm thư?ng,
tại sao phải giữ lại những thứ ấy mà không mạnh dạn vứt bỏ chúng đi” [Sđd]
Xuất phát từ những quan điểm ấy một số dịch giả chủ trư?ng cần phải chỉnh lý và sửa
đổi nguyên văn trư?c khi tiến hành phiên dịch
Humboldt, một nhà ngôn ngữ học so sánh ngư?i Đ?c, đã phát biểu: “Theo tôi nghĩ, bất
cứ dịch giả nào cũng đều mong muốn hoàn thành một nhiệm vụ không thể hoàn thành
đ?ợc Hoặc là vì trung thực với nguyên văn mà làm tổn hại đến tính trong sáng của ngôn
ngữ dân tộc; hoặc là vì sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc mà hy sinh một phần nội dung
của nguyên văn Chỉ có thể theo một trong hai con đ?ờng ấy, không có con đ?ờng thứ ba.”
Mopoy Taynt, nhà ngữ học thế kỷ XIX lại có một cái nhìn bi quan về dịch thuật, cho rằng:
“Phiên dịch tức là tiêu diệt nhận thức”
Gơte, nhà thơ nổi tiếng ngư?i Đ?c viết: “ Có hai nguyên tắc về phiên dịch: nguyên tắc
thứ nhất là xem tác giả ngoại quốc như ngư?i trong nư?c rồi giới thiệu với mọi ngư?i;
nguyên tắc thứ hai, trái lại, mọi ngư?i phải tiếp cận ngư?i ngoại quốc xa lạ ấy và thích nghi
hoàn toàn môi trư?ng sống của anh ta Ngư?i phiên dịch giỏi là ngư?i biết kết hợp một cách
khéo léo và có kết quả hai nguyên tắc ấy” (Sđd)
Savery đã khái quát những ý kiến khác nhau về phiên dịch như vừa nêu trên thành sáu
cặp đối lập sau đây:
- Bản dịch phải phản ánh ý nghĩa toàn bộ từ ngữ trong nguyên tác
- Bản dịch phải phản ánh toàn bộ nội dung tư tư?ng của nguyên tác
- Bản dịch đọc lên phải có cảm giác giống như nguyên tác (không để lộ dáng vẻ của
văn dịch)
- Bản dịch đọc lên phải thể hiện rõ màu sắc đặc thù của văn dịch (không giống
nguyên tác)
- Bản dịch phải phản ánh trung thực văn phong của tác giả
- Bản dịch phải có văn phong đặc thù của ngư?i dịch
- Bản dịch đọc lên cảm thấy giống như một tác phẩm xuất hiện cùng thời với nguyên
tác
- Bản dịch đọc lên cảm thấy giống như một tác phẩm xuất hiện đồng thời với bản dịch
- Bản dịch phải ăn khớp với nguyên văn
Trang 1614
- Bản dịch có thể không ăn khớp với nguyên văn
- Bản dịch phải cùng thể loại với nguyên văn (thơ ca thì dịch thành thơ ca, văn xuôi
thì dịch thành văn xuôi)
- Bản dịch có thể khác thể loại với nguyên văn
Tóm lại, lý luận phiên dịch có mấy vấn đề cơ bản mà ngư?i dịch cần lựa chọn như sau:
- Dịch từng từ hay là dịch tự do, dịch ý?
- Dịch trung thực hay là dịch theo cái đẹp?
- Dịch chính xác hay là dịch tự nhiên khoáng đạt?
Chọn giải pháp nào là tùy thuộc vào con đ?ờng tiếp xúc của ngư?i phiên dịch: ngư?i
phiên dịch chú ý ngôn ngữ nguồn (ngôn ngữ của nguyên văn) hay ngôn ngữ đch (ngôn ngữ
của bản dịch)
Có ngư?i cho rằng chỉ có hai con đ?ờng chính để tiến hành phiên dịch:
Phiên dịch ngữ nghĩa (semontie translation)
Phiên dịch giao tiếp (communicative translation)
Con đ?ờng thứ nhất yêu cầu ngư?i phiên dịch sử dụng các cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc
ngữ nghĩa của ngôn ngữ đch để chuyển đạt một cách chính xác, hoàn chỉnh nội dung
nguyên tác
Con đ?ờng thứ hai yêu cầu bản dịch tác động đến độc giả qua hiệu quả cảm thụ vốn có
trong nguyên tác
Phiên dịch giao tiếp là cách làm phù hợp với nguyên tắc cơ bản của ngôn ngữ học, xem
các đ?n vị ngôn ngữ là những đ?n vị thông báo, xem hệ thống ngôn ngữ là công cụ giao
tiếp quan trọng nhất của loài ngư?i
Để đánh giá chất lư?ng bản dịch ngư?i ta cho rằng tiêu chuẩn quan trọng nhất là bản
dịch có trung thực với nguyên văn không Như thế nào mới đ?ợc gọi là tính trung thực?
Thực ra chúng ta không nên hiểu một cách máy móc về khái niệm “trung thực”, rằng từng
câu từng chữ trong bản dịch phải tư?ng ứng một đối một với nguyên văn Điều đó phi thực
tế Bản dịch chỉ có thể giúp ngư?i đọc có sự cảm thụ không thua kém gì mấy so với khi đọc
trực tiếp nguyên văn, bản dịch phải truyền đ?ợc cái “thần” của nguyên văn Cái “thần” ấy
tất nhiên nằm ở trong từng câu từng chữ, nhưng cũng có trư?ng hợp nằm ngoài Quan hệ
giữa cái “thần” và câu chữ trong tác phẩm là một mối quan hệ có tính biện chứng Nó luôn
đòi hỏi ở ngư?i dịch một phư?ng pháp xử lý linh hoạt
Trang 171.5 Sự tu dư?ng cần thiết đối với ngư?i phiên dịch
Thoạt nhìn, có một số ngư?i đã cho rằng, phiên dịch là một công việc đ?n giản, ai cũng
có thể làm đ?ợc, chỉ cần ngoài tiếng mẹ đẻ ra biết thêm một ngoại ngữ là đủ Đó là kiểu
suy nghĩ từ thực tế học ngoại ngữ, một thứ ngôn ngữ có sau tiếng mẹ đẻ Ngư?i học đã
phải dùng cái có sẵn để tiếp nhận cái chưa biết, những đ?n vị thể hiện những khái niệm ở
ngoại ngữ đ?ợc đem ra so sánh với những đ?n vị tư?ng đ?ơng trong tiếng mẹ đẻ Đó là
bư?c sơ bộ của phiên dịch Từ vỡ lòng đến khi nắm đ?ợc một ngoại ngữ, ngư?i ta đã lặp đi
lặp lại thao tác ấy trong vô số lần với những hình thức khác nhau, lúc thì ngấm ngầm khi
thì bộc lộ Nó đã trở thành động hình
Nhưng đối với phần đông những ngư?i đã thực sự tham gia công tác phiên dịch và làm
đúng với tên gọi của công việc ấy thì đều có chung một nhận xét: phiên dịch là một việc
khó khăn Đại văn hào Lỗ Tấn sau khi tham gia phiên dịch, đã có một sự so sánh như sau:
Trư?c đây tôi vẫn luôn nghĩ rằng phiên dịch thì dễ hơn sáng tác, vì ít nhất thì việc phiên
dịch cũng chẳng mất công cấu tứ (tìm tòi ý tư?ng) Nhưng sau khi bắt tay vào phiên dịch
mới phát hiện ra những vấn đề nan giải Chẳng hạn, khi sáng tác nếu bí một từ nào đó
(một danh từ, một động từ?), không nghĩ ra thì bỏ luôn; nhưng ở trư?ng hợp này nếu là
phiên dịch thì không thể, mà phải tìm cho bằng đ?ợc cái từ cần dịch… (Sđd, trích lại)
Đối với những ngư?i mới chập chững đến với phiên dịch thì, đây quả là con đ?ờng đầy
chông gai, khó khăn chồng chất Vậy thì, chúng ta phải làm gì để có thể tham gia tốt công
tác phiên dịch?
Mỗi cá nhân đều phải không ngừng cố gắng để nâng cao trình độ cả ngoại ngữ lẫn
tiếng mẹ đẻ về hoạt động thực tiễn ngôn ngữ Khả năng song ngữ như là một nhu cầu thiết
yếu, giống như con ngư?i phải đi bằng cả hai chân vậy Chỉ giỏi tiếng mẹ đẻ nhưng trình
độ ngoại ngữ còn thấp thì không thể dịch tốt đ?ợc Ngư?c lại chỉ lo học ngoại ngữ trong
khi kiến thức về tiếng mẹ đẻ lại có nhiều lỗ hổng thì cũng không thể nào làm tốt phiên dịch
đ?ợc Khi nói về hai bư?c cơ bản tiến hành phiên dịch với bư?c một là tìm hiểu nguyên văn,
bư?c hai là biểu đạt, diễn đạt, thì cũng có nghĩa là chúng ta đã đặt yêu cầu nắm vững cả
ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đch rồi Chỉ cần một trong hai bư?c ấy không tốt thì cả quá
trình cũng sẽ không thể tốt đ?ợc
Khi so sánh tiếng Hán với tiếng Việt, ngư?i ta thấy chúng rất giống nhau Giống về cấu
trúc, về hoạt động cú pháp v.v Đặc biệt trong tiếng Việt có một số lư?ng lớn từ ngữ vay
mư?n tiếng Hán Thế là, có ngư?i vội nghĩ rằng vấn đề phiên dịch Việt – Hán, hay Hán –
Việt chẳng có gì phải bàn Nó đ?n giản lắm Đó là một kiểu suy nghĩ phiến diện rất dễ dẫn
đến nhầm lẫn Bởi vì, chỉ ra chỗ khác nhau giữa hai đối tư?ng gần giống nhau là một công
việc cần có sự nghiên cứu tỉ mỉ, kỹ càng và tinh tế, không hề đ?n giản
Trang 1816
Các đ?n vị Hán (tiếng, từ, ngữ?) khi vào hoạt động trong tiếng Việt đã bị Việt hóa,
chúng có diện mạo mới, thậm chí bản chất cũng khác hẳn Nghĩa, cũng như phư?ng thức
hoạt động, khác với khi còn là những đ?n vị thành viên của tiếng Hán.( sẽ trở lại vấn đề
này trong những phần sau)
Ở đây, chúng ta cũng chưa nhắc đến những yếu tố ngoài ngôn ngữ, những đặc điểm văn
hóa của mỗi dân tộc trong sử dụng ngôn ngữ Chẳng hạn, ngư?i Trung Quốc lấy “máu”
(huyết) để đ?nh nghĩa màu đỏ Ngư?i Việt thì nói “đỏ như gấc” Trong khi ngư?i Việt
muốn đánh giá trí tuệ ai đó là thấp kém thì nói là “ngu như bò”, ngư?i Trung Quốc lại dùng
“lão hoàng ngưu” (con bò) để ví với mẫu ngư?i siêng năng, cần mẫn, không khoe khoang
Ngư?i phư?ng Tây xem con chó như là ngư?i bạn gần gũi thân mật, ngư?i Trung Quốc và
ngư?i Việt Nam lại dùng để ví với kẻ thù đáng khinh bỉ: “Cẩu Nhật đch” (bọn chó ngư?i
Nhật), hoặc “má thét lớn, tụi bay đồ chó” v.v Khi cần chỉ đ?ờng đi cho ai đó, ngư?i Trung
Quốc thư?ng lấy vũ trụ làm chuẩn, chẳng hạn nói : đi về phía đông, đi về phía bắc v.v., còn
ngư?i Việt thì thư?ng lấy con ngư?i làm chuẩn, như là bên trái, bên phải, phía trư?c v.v.,
hoặc những vật chuẩn gần gũi như, cái cầu, ngã ba, cây đa v.v
Hiểu đ?ợc những điều đó, ngư?i phiên dịch sẽ tránh đ?ợc những lỗi ngớ ngẩn khi
chuyển trực tiếp những cách nói trên sang văn bản dịch
Nói tóm lại, để có thể tham gia và hoàn thành tốt nhiệm vụ phiên dịch, ngư?i phiên dịch
cần am hiểu và sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ và ít nhất là một thứ tiếng nư?c ngoài
Ngoài ra những tri thức về đất nư?c học (lịch sử, văn hóa, dân tộc, …) cũng có vai trò quan
trọng không kém trong việc quyết đ?nh chất lư?ng của văn bản dịch Đó là những thứ cần
có trư?c khi đ?ợc trang bị những tri thức cơ bản về lý thuyết phiên dịch
Trang 19Phần hai
Phiên dịch Việt - Hán
_
Trang 2018
2.1 Những vấn đề về từ ngữ
2.1.1 Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt
Có thể nói, đại từ nhân xưng trong tiếng Việt là một loại từ hết sức phức tạp Bởi vì, nó
có số lượng lớn, lại luôn luôn mang giá trị biểu cảm (cảm tình sắc thái) Tất cả các danh từ
chỉ quan hệ gia tộc thân thuộc đều có thể dùng làm đại từ nhân xưng Có một vài đại từ
như: tôi, họ v.v người ta tưởng như chúng khách quan, là trung tính; nhưng trong thực tế
không phải thế, chúng luôn luôn tiềm ẩn khả năng biểu cảm, và sẵn sàng bộc lộ khi cần đến
Trong nói năng giao tiếp để có được cách xưng hô phù hợp, nhiều khi cũng phải trải qua
những bước tìm hiểu, đánh giá Chẳng hạn, cần phải biết người đối thoại với mình bao
nhiêu tuổi, nghề nghiệp, chức vụ gì v.v Đó là những “thao tác” mà đối với những người
sử dụng những ngôn ngữ lớn khác là thừa Người ngoại quốc (kể cả người Trung Quốc) khi
học tiếng Việt đều cảm thấy việc sử dụng đại từ nhân xưng là một việc khó khăn Hình
thức đối ứng giữa xưng (ngôi 1) và gọi (ngôi 2) cũng không đơn giản chút nào (Xin xem
bảng liệt kê)
Bảng đại từ nhân xưng ngôi I và ngôi II
mình, bố nó, bố mày, mẹ mày, ba nó, má nó, nhà, ông anh, bà chị, chú em,
cô em
thiếp chàng
ta ngươi, các người,nàng
tớ cậu,
Trang 21chúng tớ các cậu
tao chúng tao, tụi tao
mày chúng mày, tụi mày, bay, tụy bay
mình chúng mình
bạn, cậu các bạn, các cậu
đây đấy, đằng ấy
cháu, mày, các cháu, chúng mày, chúng bay
bà các bà
cháu, mày, các cháu, chúng mày, chúng bay
anh các anh
em, chú (mày), cô (em), dì (nó), cậu (nó)
em
chúng em
anh, chị, bác (cháu), ông,
bà, cậu các anh, các chị, các bác, các ông, các bà, các cậu…
bác cháu, chú (nó), mày
Trang 22các cháu, các anh, các chị, chúng mày, tụi bay
cậu
các cậu
cháu, anh (nó), chị (nó), mày
các cháu, các anh, các chị, chúng mày, tụi bay
cô
các cô
cháu, anh (nó), chị (nó), mày
các cháu, các anh, các chị, chúng mày, tụi bay
em (học sinh), con (học sinh), các em (học sinh), các con (học sinh)
dì
các dì
cháu, anh (nó), chị (nó), mày,
các cháu, các anh, các chị, chúng mày, tụi bay
thím
các thím
cháu, anh (nó), chị (nó), mày
các cháu, các anh, các chị, chúng mày, tụi bay
cha, ba, bố con
Trang 23Đại từ nhân xưng ngôi thứ 3 trong tiếng Việt cũng khá phong phú và đa dạng Ở mỗi từ,
mỗi cách nói, bao giời cũng để lộ thái độ đối lập tôn/ty, yêu/ghét, thân/sơ của người nói đối
với nhân vật được nhắc tới (Xem bảng đại từ nhân xưng ngôi 3)
Bảng đại từ nhân xưng ngôi III
Trang 2422
Trong phương ngữ nam bộ Việt Nam, có một số trường hợp được chuyển đổi cả
cách phát âm lẫn cách viết so với tiếng Việt phổ thông như sau:
ông ấy = ổng; bà ấy = bả; chị ấy = chỉ; thằng cha ấy = chả; con mẹ ấy = mẻ v.v
Trong khi dịch tiểu thuyết nếu gặp những trường hợp này thì chúng ta quy về cách nói
phổ thông đã được số đông biết và sử dụng
2.1.2 Đại từ nhân xưng trong tiếng Hán
Hệ thống đại từ nhân xưng trong tiếng Hán phổ thông đã và đang tiến dần đến việc
chuẩn hóa, tương đối ổn định (Xem bảng đại từ nhân xưng tiếng Hán)
Bảng đại từ nhân xưng tiếng Hán hiện đại
chỉ có từ您mang nghĩa biểu cảm (chỉ sự tôn kính), những từ còn lại đều là trung tính
Chúng dường như không hề biểu thị thái độ của người nói, mà hoàn toàn khách quan(trong
văn cảnh thông thường) Chúng được dùng phổ biến và chính thức trong giao tiếp xã hội
như là chuẩn mực của tiếng Hán Trong chừng mực nhất định, trong bối cảnh nhất định,
người Trung Hoa cũng có dùng một số danh từ chỉ quan hệ gia tộc thân thuộc lâm thời làm
từ xưng hô (chẳng hạn như 伯, 叔 兄, 弟, 姐, 妹…) Nhưng tính biểu cảm không rõ ràng và
mạnh mẽ như trong tiếng Việt
2.1.3 Xử lý như thế nào khi dịch các đại từ nhân xưng Tiếng Việt sang
tiếng Hán?
Sự khác biệt giữa hai hệ thống đại từ nhân xưng giữa hai ngôn ngữ rất rõ ràng Một bên
thì khá đơn giản, một bên thì rất phức tạp (phức tạp về cách dùng và nhiều về số lượng);
một bên thì tương đối khách quan, còn một bên thì rất chủ quan Có thể nói, khó tìm thấy
những cặp đại từ nhân xưng hoàn toàn tương ứng về mọi phương diện nghĩa giữa tiếng
Việt và Tiếng Hán Trong hầu hết các trường hợp, người phiên dịch đành bỏ mất nét nghĩa
biểu cảm khi phải dịch những đại từ nhân xưng tiếng Việt sang tiếng Hán
Trang 25Ví dụ, đây là câu nói của một chiến sĩ cách mạng trước đòn tra khảo của kẻ địch: “Mày
và tất cả chúng mày đều là một lũ chó săn, chúng mày có giết chết tao, tao cũng không bao
giờ đầu hàng!”.
Qua cách xưng hô, bất cứ người Việt bình thường nào cũng có thể nhận ra thái độ của
người nói đối với người nghe Nhưng khi dịch câu này ra tiếng Hán thì những đại từ mày,
chúng mày, tao, cũng chỉ có thể dịch laø 你, 你们, 我 Mà những đại từ đó trong tiếng
Hán thì chỉ là những từ có biểu cảm trung tính(khi thiếu những yếu tố ngoài ngôn ngữ phụ
họa)
Trong câu “cần gì mày cứ gặp tao.”, thì tao, mày, lại có giá trị biểu thị sự thân mật bình
dị không hề khách sáo giữa người nói và người nghe Còn như “需要什么 你来找我”,
thì không có sắc thái đó
Nói như thế không có nghĩa là người phiên dịch chịu bó tay hoàn toàn trước hiện
thực khách quan đó, chịu để cho bản dịch làm rơi rụng cái ý nghĩa biểu cảm vốn có trong
nguyên văn Những người phiên dịch có kinh nghiệm luôn luôn tìm cách khắc phục bằng
nhiều phương thức khác nhau Thử tìm hiểu vài câu ví dụ sau:
(a) Hồ chủ tịch thường mặc bộ quần áo kaki, đi giầy vải đen, tóc Người đã hoa râm
(b) Chúng tôi xin trình bày với các ngài một quan niệm văn hóa mới
Trong ví dụ (a) đại từ Người (viết hoa) thể hiện sự tôn kính và trìu mến Người phiên
dịch đã không dùng 他 một cách đơn độc, mà dịch là他老人家 :
发已经花白。
Trong ví dụ (b) đại từ các ngài biểu thị sự tôn trọng, lịch sự, vì vậy người dịch đã
không dịch你们, mà chọn từ诸位 để sát với nghĩa biểu cảm của nguyên văn hơn
我跟诸位谈谈一种新的文化观念。
(Lưu ý thêm, trong tiếng Việt người ta thường dùng chúng tôi để thay từ tôi với ý nghĩa tỏ
sự khiêm tốn, vì thế câu (b) tác giả dùng我 để dịch chúng tôi)
Ở mục 2.1.1 chúng ta đã nhắc đến hiện tượng dùng danh từ chỉ quan hệ gia tộc để làm
đại từ nhân xưng trong tiếng Việt Vì thế nên đã xảy ra tình trạng một từ có thể đóng nhiều
vai, phải dựa vào tình huống giao tiếp mới biết nó thuộc ngôi nào Trong trường hợp ấy,
người phiên dịch cần phải xác định nghĩa từ trong tiếng Việt trước khi dịch sang tiếng Hán
Ví dụ:
(a) Con ăn cơm chưa?
(b) Con ăn cơm rồi
Trang 2624
Có thể đây là mẩu đàm thoại giữa bố hoặc mẹ với con Như thế thì con ở câu (a) là ngôi
thứ hai (dịch là你), con ở câu (b) là ngôi thứ nhất (dịch là 我)
Nhưng đây cũng có thể là mẩu đàm thoại giữa hai vợ chồng về con của mình Trong
tình huống này thì con ở câu (b) thuộc ngôi thứ ba (dịch là他), con ở câu (a) có thể để
dạng danh từ nguyên gốc hoặc đại từ ngôi thứ ba như ở câu (b)
2.1.4 Từ ngữ gốc Hán trong tiếng Việt
Do hoàn cảnh địa lý và điều kiện lịch sử, hiện tượng tiếp xúc văn hóa và ngôn ngữ Hán
– Việt đã xẩy ra hàng ngàn năm trước đây và hiện vẫn còn tiếp diễn
Kết quả của quá trình tiếp xúc ấy là tiếng Việt đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của ngôn ngữ
Hán Người Việt đã vay mượn một khối lượng lớn từ ngữ Hán đưa vào kho từ vựng của
ngôn ngữ dân tộc Lớp từ ngoại lại này có vị trí cực kỳ quan trọng trong tiếng Việt Nó
chẳng những có ưu thế về số lượng mà còn có khả năng chi phối sự hoạt động của tiếng
Việt Vì thế khi bàn về vấn đề phiên dịch Việt – Hán chúng ta cần hết sức chú ý đến bộ
phận từ ngữ này Từ ngữ gốc Hán trong tiếng Việt có tổ chức phức tạp (xem Lê Đình Khẩn,
Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia TPHCM, 2002), ở đây chúng tôi chỉ
nhắc đến một số trường hợp mà trong khi tiến hành công việc của mình người phiên dịch
thường bị nhầm lẫn
Về nguyên tắc, tất cả các đơn vị từ vựng Hán (từ tố, từ, ngữ …) khi muốn trở thành
thành viên của tiếng Việt thì đều phải chịu sự chi phối của tiếng Việt Hay nói cách khác là,
chúng đều có khả năng bị Việt hóa về các mặt như ngữ âm, ngữ nghĩa, hoạt động ngữ pháp,
đặc điểm tu từ v.v Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của từ ngữ Hán sau khi vào
tiếng Việt Và sự thay đổi của chúng cũng ở những mức độ khác nhau, thậm chí có những
từ không còn liên quan gì về nghĩa so với từ gốc Thường chúng đi theo hai xu hướng trái
ngược là thu hẹp hoặc mở rộng hàm nghĩa từ Đứng ở góc độ đồng đại mà xét thì có thể
nói một số trường hợp tiếng Việt chỉ mượn cái vỏ hình thức của từ Hán để chứa đựng một
nội dung nghĩa mới
Lại cũng có một số từ ngữ có cấu trúc hai từ tố trở lên được tạo thành trong quá trình
hoạt động của tiếng Việt, hoàn toàn không thể có trong kho từ vựng tiếng Hán Loại này
tuy có số lượng không lớn nhưng sự nhầm lẫn mà chúng gây ra trong quá trình dịch Việt –
Hán là đáng cảnh báo
Chúng ta lần lược xem xét các bảng đối chiếu sau:
tương đương về nghĩa
Trang 27Từ ngữ Việt gốc Hán Từ ngữ Hán hiện đại tương
đương
bác sĩ 博士 tiến sĩ 进士
学士
秘书
书记 副部长 代理(部长)
退休
经常
稿费
去世
Trang 28游行, 示威
可怜
工具, 手段, 资料 爱面子
精细, 详细, 详尽, 细致 最终目的
坏蛋, 无赖
残破, 残缺, 破烂
放心, 安心, 宽心 委员会
忍心, 发狼
Trang 29
Trong tiếng Việt cũng tồn
tại những từ ngữ Hán Việt
có cấu trúc hoàn toàn giống với từ Hán trong tiếng Hán nhưng không hề có trong các từ
điển Hán, vì chúng là sản phẩm mà người Việt tạo ra trong quá trình vay mượn từ ngữ Hán
Những từ ngữ nêu làm ví dụ trong các bảng đối chiếu trên đã cảnh báo chúng ta một
điều là: trong quá trình tiến hành dịch Việt – Hán, cần hết sức thận trọng khi ta lợi dụng
những từ ngữ Hán có sẵn trong tiếng Việt Sự khác nhau giữa từ ngữ Hán trong tiếng Hán
với từ ngữ Hán trong tiếng Việt là điều đương nhiên, hợp với quy luật phát triển của ngôn
团
歌手, 歌星 音乐家
诗人
观众
…
Trang 3028
Khi gặp những từ ngữ gốc Hán (nhất là loại từ Hán - Việt) chúng ta cần có sự thẩm định
trước khi dịch Trong quá trình học môn luyện dịch Việt – Hán, cũng như sau này có dịp
tham gia công việc này, chúng ta cần có tối thiểu 4 cuốn từ điển có chất lượng thuộc các
loại sau:
- Từ điển tiếng Hán hiện đại
- Từ điển tiếng Việt hiện đại
- Từ điển Việt – Hán hiện đại
- Từ điển Hán – Việt hiện đại
Chúng sẽ giúp chúng ta tìm hiểu những từ ngữ dễ nhầm lẫn trên
Một số từ Hán sau khi vào hoạt động trong tiếng Việt, đã trở thành từ đa nghĩa Vì thế,
việc xác định nghĩa từ cần dựa vào ngữ cảnh cụ thể
2.1.5 Thành ngữ và việc dịch thành ngữ
1) Thành ngữ:
Thành ngữ đóng vai trò quan trọng trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ Về
phương diện ngữ pháp, nó tương đương với từ Đó là một loại “từ” đặc biệt, nó không
chuyển tải thông tin bằng khái niệm, mà chủ yếu là bằng hình tượng qua mô tả Vì thế giá
trị tu từ của thành ngữ rất cao Lượng thông tin do nó chuyển tải phong phú, sâu sắc về nội
dung và hấp dẫn về mặt hình thức Ngoài việc làm công cụ cho một ngôn ngữ, nó còn là
tấm gương phản chiếu văn hóa của một dân tộc Ngành tu từ học rất xem trọng đơn vị ngôn
ngữ này chính là vì thế Một thành ngữ nếu được dùng đúng lúc đúng chỗ sẽ tiết kiệm lời,
mà vẫn chuyển tải được thông tin cần thiết, đồng thời tạo được sự hấp dẫn cho người tiếp
thu và gây được ấn tượng sâu sắc
Vì vậy việc sử dụng thành thạo hệ thống thành ngữ trong một ngôn ngữ đã là khó, việc
dịch thành ngữ từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác lại càng khó khăn hơn Việc dịch
thành ngữ Việt sang tiếng Hán cũng không nằm ngoài quy luật nghiệt ngã ấy
Đơn vị như thế nào được gọi là thành ngữ? Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định
nghĩa, tựu trung có những đặc trưng để nhận diện như sau:
(1) Thành ngữ là tổ hợp từ gồm hai từ trở lên luôn tồn tại trong đầu óc người sử dụng
dưới dạng có sẵn khi cần đến là có ngay
(2) Nghĩa của thành ngữ là nghĩa bóng, ẩn dụ, quy ước, có tính võ đoán, không phải chỉ
là phép cộng của nghĩa các thành viên cấu tạo nên nó Đó là điểm khác nhau cơ bản giữa
thành ngữ với tổ hợp tự do
(3) Thành ngữ có cấu trúc cố định, nói chung không thể đảo lộn vị trí các thành tố, cũng
không thể chêm xen các yếu tố khác vào giữa các thành tố
Trang 31(4) Thành ngữ luơn cĩ tính thống nhất về từ vựng - ngữ pháp Một thành ngữ khơng kể
cĩ quy mơ cấu trúc tương đương với từ hay câu, trên tổng thể nhất định phải thuộc về một
từ loại, khi hoạt động trong câu cĩ chức năng cú pháp nhất định
Tiếng Hán xem trọng tiêu chí 1 và 3, cịn tiếng Việt lại rất chú ý đến tiêu chí thứ 2
Tiếng Việt đã vay mượn một số lượng lớn thành ngữ Hán Trong số gần 4000 thành ngữ
(trong “Thành ngữ thục ngữ từ điển” do Thương Vụ Ấn thư quán Bắc Kinh ấn hành năm 1995) cĩ
khoảng 2500 thành ngữ cĩ mặt trong tiếng Việt, và phần lớn cịn giữ được nghĩa gốc
2) Việc dịch thành ngữ Việt sang tiếng Hán
Theo kinh nghiệm của những người đã trải qua cơng việc này thì thường cĩ những cách
thức sau:
(1) Cố gắng tìm kiếm những thành ngữ Hán cĩ cả ý nghĩa lẫn hình thức tu từ (hình
tượng, ví von …) tương tự với thành ngữ Việt cần dịch để thay thế
Ví dụ:
khơng khảo mà xưng : 不打自招
ăn khơng ngồi rồi : 游手好闲
một trời một vực : 天渊之别
mềm nắn rắn buơng : 欺软怕硬
ngồi trên lưng cọp : 骑虎难下
Khi tìm kiếm thành ngữ Hán tương tự để dịch thành ngữ Việt, chúng ta cần lưu ý đến
nét nghĩa biểu cảm của thành ngữ Chẳng hạn câu thành ngữ Việt “ngựa quen đường cũ”
nĩi về người khơng bỏ được tật xấu, cịn “lão mã thức đồ”老马识途 thì lại nĩi về người
cĩ kinh nghiệm cĩ thể giúp người khác Trong trường hợp này thì chúng ta phải ưu tiên
nghĩa thành ngữ Phải dịch là 恶习难改
(2) Cố gắng giữ lại hình tượng sinh động trong thành ngữ Việt Một trong những đặc
trưng về hình thức của thành ngữ Việt cũng như thành ngữ Hán là dùng những hình tượng
sinh động để “ngầm chỉ” một điều gì đĩ Điều ngầm chỉ ấy chính là “nghĩa của thành ngữ”
Mỗi dân tộc, mỗi địa phương đều cĩ cách lựa chọn hình tượng của mình Vì thế, hình
tượng luơn mang màu sắc văn hĩa của dân tộc của địa phương Khi phiên dịch ngồi
“nghĩa” ra, cần cố gắng bảo lưu màu sắc văn hĩa ấy trong chừng mực vẫn cĩ thể Điều này
đơi khi cịn khĩ hơn cả việc dịch nghĩa thành ngữ
Thử xem một vài ví dụ sau:
đứng núi này trơng núi nọ : 站在这山望着那山高
Trang 3230
đóng cửa bảo nhau : 关起门来互相提醒
mượn lược thầy tu : 向和尚借梳子
chó chê mèo lắm lông : 狗笑猫毛多
ông nói gà bà nói vịt : 你说鸡他说鸭
ăn cháo đái bát : 吃完稀饭就往碗里撒尿
chùa đất phật vàng : 土砌的庙里住的都是金菩萨
liệu bò lo chuồng : 看牛垒圈
Đối chiếu từng cặp một chúng ta thấy phần dịch đã rất trung thực với nguyên văn, về
nghĩa cũng như cách dùng hình tượng Tuy nhiên, có một đặc điểm rất tinh tế mà ngôn ngữ
dịch chưa thể hoặc không thể làm được đó là: tiết tấu và vần điệu của thành ngữ Việt Ví dụ:
“ông nói gà bà nói vịt” (gà/bà = vần, gà/vịt = đối, ông/bà = đối, nói/nói = điệp) “Chùa đất
phật vàng” (đất/phật = vần, chùa/phật = đối, đất/vàng = đối) “Liệu bò lo chuồng” (bò/lo =
vần, liệu/lo = điệp nghĩa, bò/chuồng = đối) “Ăn cháo đái bát” (ăn cháo/đái bát = nhịp)v.v
Đây cũng là minh chứng cho sự rơi rụng về mặt nghệ thuật của văn dịch
(3) Bỏ qua hình thức, chỉ xem trọng nội dung ý nghĩa mà thành ngữ Việt muốn biểu đạt
Đó là trường hợp những hình tượng sử dụng trong thành ngữ Việt không phù hợp với văn
hóa Hán, nếu dịch bám sát nguyên bản có thể người Hán sẽ không cảm thụ được, không
miệng hùm gan sứa : 气装如牛胆小如鼠
cú nói có vọ nói không : 各执一词
Trang 33chính sau:
1) Thành ngữ Hán Việt
2) Thành ngữ cải biên
3) Thành ngữ sao phỏng
Trừ một số ít đã bị Việt hóa sâu sắc đến mức xa lạ đối với tiếng Hán về mặt ý nghĩa, còn
hầu hết vẫn giữ được nghĩa gốc Đó là một thuận lợi lớn trong quá trình dịch thành ngữ
Việt ra tiếng Hán Tuy nhiên việc nhận diện chúng cũng là điều mà người dịch cầu quan
tâm, trong ba loại nêu trên, thì thành ngữ Hán Việt là loại dễ dàng nhận ra nhất, bởi vì nó
giữ nguyên hình thái – ngữ nghĩa và đọc theo âm Hán Việt Đây là loại thành ngữ Hán có
số lượng lớn nhất, chúng vào tiếng Việt bằng con đường văn tự, sách vở
quyết chiến quyết thắng : 决战决胜
Vị thế của loại này trong kho thành ngữ tiếng Việt rất vững vàng vì các lý do như: có
cấu trúc ổn định (bốn chữ, bốn tiếng), ít tính bóng bẩy (kém hình tượng), có khả năng bù
đắp “ô trống” cho thành ngữ tiếng Việt (tiếng Việt hầu hết diễn tả ý nghĩa bằng hình tượng)
Loại thành ngữ cải biên khác loại vừa nêu ở chỗ, một số thành tố tạo nên thành ngữ đã
được thay thế bằng các yếu tố tiếng Việt, hay nói cách khác nó đã được “dịch bộ phận”
Loại này nghe rất gần với thành ngữ Việt
Ví dụ:
gạo châu củi quế : 米珠薪桂
rồng bay phượng múa : 龙飞凤舞
bán nước cầu vinh : 卖国求荣
nghiêng nước nghiêng thành : 倾国倾城
(chữ gạch dưới là thành tố Việt, hoặc yếu tố Hán đã việt hóa cao độ)
Loại thành ngữ sao phỏng là kiểu “dịch hoàn toàn” sang tiếng Việt
Trang 34ngậm máu phun người : 含血喷人
Loại thành ngữ này không khác gi thành ngữ Việt chính gốc Cũng có tính hình tượng,
cũng có tính bóng bẩy, và rất dễ hiểu, rất thông dụng trong tiếng Việt hàng ngày
Chính vì thế mà cũng có những ý kiến cho rằng việc sao phỏng có thể được tiến hành
trước đây theo chiều ngược lại từ xa xưa, nhưng tiếng Hán nhờ có văn tự ghi chép lại, nên
người ta cứ nghĩ rằng loại thành ngữ này ra đời ở đó (tiếng Hán)
Do chỗ, thành ngữ Hán có số lượng lớn, nội dung đề cập đến mọi mặt trong đời sống xã
hội, nên khi cần dịch các thành ngữ Việt người dịch có rất nhiều cơ hội để lựa chọn những
thành ngữ phù hợp nhất Chẳng những thế, mà trong khi dịch còn có thể sử dụng thành ngữ
Hán để thể hiện một cụm từ nào đó, nếu thấy “đắt”, có hiệu quả cao
Các nhà dịch thuật và lý luận dịch thuật đi trước, khi nói về việc dịch thành ngữ loại
này hay nhắc đến những hiện tượng có hình thức Hán nhưng nội dung thì lại là Việt, kiểu
như “lang bạt kỳ hồ” (狼跋其胡), “kiến giả nhất phận” (见者一分) v.v Thực ra loại
này số lượng không nhiều, vả lại, chúng ta sẽ có từ điển giúp đỡ, rồi ngữ cảnh cụ thể cũng
sẽ là một hướng quan trọng cho người dịch xác định nghĩa thực của thành ngữ muốn dịch
2.1.6 Xử lý những hiện tượng mơ hồ trong tiếng Việt trước khi dịch sang
tiếng Hán
Mơ hồ (模糊) là thuật ngữ ngôn ngữ học chỉ sự diễn đạt không rõ ràng không dứt
khoát, tạo khả năng đa nghĩa, gây lúng túng cho người tiếp nhận thông tin (người nghe,
người đọc) Hiện tượng mơ hồ vừa có vai trò tích cực vừa có tác dụng tiêu cực Nó xẩy ra
có khi do vô ý nhưng cũng có khi người ta cố tình tạo ra Cái mơ hồ trong cách diễn đạt
của thơ Hồ Xuân Hương là kết quả của quá trình lao động nghệ thuật của nhà thơ để có
được Nó được dùng như một biện pháp tu từ rất hữu hiệu Mơ hồ xẩy ra do trình độ thấp
kém của người nói, người viết lại là điều đáng tiếc Ví dụ, có cách viết như sau: “…… thái
độ quyết tâm cao chống tệ nạn buôn lậu của chính phủ” Người đọc sẽ băn khuăn là không
biết ai chống ai buôn lậu (xem thêm Nguyễn Đức Dân, Tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1998) Tuy
mơ hồ có thể do những cấp độ, những phương thức khác nhau tạo ra, nhưng người ta
thường gọi là câu mơ hồ, vì xem nó là đơn vị thông báo cơ bản
Ý kiến này xuất phát từ cảm tính, thiếu sức thuyết phục Dầu sao đó cũng là một gợi ý cho các nhà nghiên cứu.(L.Đ.Kh)
Trang 35Khi phiên dịch Việt – Hán chúng ta cũng lấy câu làm đơn vị Việc xem xét một câu nào
đó có phải là câu mơ hồ hay không trước khi dịch nó là rất cần thiết Mặc dầu trong một
ngữ cảnh cụ thể, trong một tình huống cụ thể thì nghĩa câu thường được xác định tương đối
rõ ràng, nhưng khả năng xẩy ra mơ hồ là rất có thể Việc này liên quan trực tiếp đến văn
dịch của chúng ta Ví dụ:
(a) Người sinh viên mới đi đến
Ở câu này, từ mới sẽ được dịch sang tiếng Hán là 新 hay 刚?Việc này tùy thuộc vào cách
hiểu của người dịch về vai trò của từ mới Nó là định tố của danh từ sinh viên, hay là trạng
tố của động từ đi ?
(b) Mẹ con đi chợ chiều mới về
Câu tiếng Việt có vẻ đơn giản này, lại có thể làm người nghe, người đọc hiểu không dưới
10 cách khác nhau Nếu người nói (viết) thể hiện sự ngưng ngắt bằng các dấu phẩy [,] thì
câu nói chắc không quá mơ hồ như vậy:
Mẹ con đi chợ chiều mới về
… Trong trường hợp này người phiên dịch cần phải xử lý như thế nào ?
Một là, tìm một câu mơ hồ tương tự trong tiếng Hán, nếu biết chắc đó là một kiểu mơ
hồ cố ý trong thơ ca, hay là kiểu chơi trò chữ nghĩa trong văn phong nghệ thuật Nhưng
trong thực tế, giải pháp này “phi hiện thực” Vì cách đó vốn dĩ là “nỗi khiếp sợ” của những
người chuyên dịch thơ và văn phong nghệ thuật xưa nay
Hai là, người dịch phải tự quyết định chọn một nghĩa trong thế giới nghĩa mơ hồ ấy,
bằng cách dựa vào ngữ cảnh, vào tình huống giao tiếp như truyền thống xưa nay người ta
vẫn làm Đó là biện pháp khả thi Nhưng liệu người đọc (ở đây là người dịch) có hiểu đúng
nghĩa mà người viết muốn diễn đạt không, đó lại là một chuyện Dẫu sao cũng không thể
làm khác được
(c) “Cảm nghĩ nhân chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Pháp”
Đó là tựa đề một bài báo Người dịch chắc chắn sẽ rất bối rối, không biết dịch thế nào
cho đúng ý của người viết Một câu hỏi được đặt ra là “cảm nghĩ” ở đây là “cảm nghĩ của
tổng thống” hay “cảm nghĩ của người viết bài trước một sự kiện”? Câu hỏi này chỉ có thể
được giải đáp sau khi đã đọc hết bài báo
(d) Em cũng yêu ba anh như anh
Câu này ít nhất có hai cách hiểu, và do đó cũng không dưới 4 cách dịch ra tiếng Hán:
,
Trang 3634
+ Em yêu ba anh (giống) như anh yêu ba anh
+ Em yêu ba anh (giống) như yêu anh
(e) Tôi có người bạn học ở Bắc Kinh
Dịch là:
我有一个朋友,他在北京学习。
我有一个同学,他住在北京。
Vấn đề cần xác định là mức độ gắn bó giữa người, bạn và học
- Tấm ảnh người con trai để trên bàn
Một câu như vậy nếu không có sự trợ giúp của ngữ cảnh, của tình huống giao tiếp thì
chắc chắn người dịch đành bó tay Rõ ràng từng từ một đều hiểu nhưng toàn câu thì không
hiểu Hay nói đúng hơn là nó cho phép chúng ta có trên 10 cách hiểu
- Tôi học với anh nó
Trang 372.2 Những vấn đề về đoản ngữ
Nhìn tổng thể, cú pháp tiếng Việt và cú pháp tiếng Hán có những nét tương đồng cơ bản:
- Chúng đều lấy phương thức trật tự từ, hư từ và ngữ điệu làm trọng
- Câu đơn được cấu tạo theo mô hình cơ bản
chủ ngữ + động từ + tân ngữ (bổ ngữ): S + V + O
Nhìn cục bộ thì giữa chúng có nhiều chỗ khác nhau, thậm chí trái ngược nhau:
- Vị trí của định ngữ với danh từ trung tâm
- Vị trí của trạng ngữ, bổ ngữ với động từ nòng cốt
- Sự biểu cảm hay không biểu cảm của câu bị động
- Sự đảo lộn cấu trúc SVO v.v
Người phiên dịch bao giờ cũng cần lợi dụng triệt để sự tương đồng giữa hai ngôn ngữ,
nhưng đồng thời cũng phải chỉ ra được sự khác nhau đó để tránh lầm lẫn trong quá trình
dịch thuật
Chúng ta lần lượt tìm hiểu những vấn đề vừa nêu trên, như một dịp hệ thống hóa lại
những hiểu biết về hai ngôn ngữ mà chúng ta cần dịch
2.2.1 Danh ngữ (cụm danh từ)
Danh ngữ là một kiểu kết cấu chính phụ, gồm hai phần: (1) trung tâm ngữ (danh từ
trung tâm), (2) định ngữ (định tố)
1 Danh ngữ tiếng Hán ( 名词性词组,名词短语 )
Trật tự các bộ phận trong danh ngữ tiếng Hán là: danh từ trung tâm luôn luôn đứng sau,
định tố luôn luôn đứng trước, giữa hai bộ phận thường được nối bằng trợ từ的
Trang 3836
工作和学习 伟大勇敢而勤劳 我们征服黄河 又宽又平 苦难深重 宋师傅病了 (懂得) 中国工人 阶级为什么那样 积极地参加抗美 援朝斗争
Sắp xếp thứ tự các thành tố nói chung như sau:
(1) Thành tố biểu thị lãnh thuộc (trả lời 谁的)
(2) Đại từ chỉ thị, lượng từ (trả lời多少)
Trang 392 Danh ngữ tiếng Việt
Ngữ là đơn vị ngữ pháp ở bậc trung gian giữa từ và câu
Ví dụ:
Những người cơng nhân ấy đang xây dựng khu cư xá
Ngữ được cấu tạo bởi một chính tố (C) và một số phụ tố (P) chính tố giữ vai trị trung
tâm về nghĩa, phụ tố làm cho nghĩa của ngữ và nghĩa của chính tố được thực tại hĩa Chính
tố do thực từ (danh, động, tính) đảm nhiệm Chính tố cĩ thể cĩ phụ tố trước (t) và phụ tố
sau (s)
Ví dụ:
Tất cả những bộ sách giá trị ấy đều đã lưu hành khắp nơi
Ngữ do danh từ đảm nhiệm phần chính tố gọi là danh ngữ Ngữ do động từ, tính từ làm
chính tố thì gọi là động ngữ, tính ngữ
Mơ hình hồn chỉnh của danh ngữ tiếng Việt cĩ cấu trúc như sau:
Các phụ tố (định tố) của danh từ trung tâm cĩ loại đứng trước danh từ trung tâm (gọi là
tiền tố, t), cĩ loại đứng sau danh từ trung tâm (gọi là hậu tố, phụ tố sau, s) Tiền tố gồm ba
loại, sắp xếp theo trình tự tương đối ổn định và cĩ quy luật Trật tự này giống với trật tự
định ngữ tiếng Hán, lúc dịch sang tiếng Hán sẽ khơng gặp khĩ khăn gì Riêng phần hậu tố
thì phải chuyển ra đằng trước danh từ trung tâm [10]
Tổng thể
định
t3 t2 t1 C s1 s2
tất cả hết thảy tồn bộ tất cả
cả
ba những các hai trăm hai triệu
cái con bức người tấn
bàn trâu tranh cơng nhân gạo
gỗ
rất quý lành nghề
ấy kia này
đĩ này
động ngữ
động ngữ danh ngữ
C
t t danh ngữ
C
Trang 40Phần hậu tố danh ngữ tiếng Việt tiềm tàng khả năng mở rộng, kéo dài, nhiều khi
vượt khỏi phạm vi từ Điều này khiến người dịch lúng túng, khĩ nhìn nhận và dễ sai sĩt
Các hậu tố đồng loại cĩ quan hệ liên hợp (bình đẳng, khơng cĩ cái nào quan trọng hơn
cái nào) thì trật tự trước sau tương đối tự do (kể cả tiếng Hán lẫn tiếng Việt)
Động ngữ khơng cĩ mơ hình xác định một cách tương đối rõ ràng như danh ngữ, vì nĩ
lệ thuộc vào tính chất của động từ trung tâm Chẳng hạn ngoại động từ(外动词,他动
词,及物动词)thì nhất thiết phải cĩ phụ tố sau đi kèm, nhưng nội động từ (内动词,
自动词,不及物动词)thì khơng nhất thiết phải cĩ phụ tố, vì bản thân nĩ khơng cĩ
nhu cầu
C