Để đạt được mục tiêu mong muốn trên, Phú Quốc cần có những chiến lược gì để hạn chế nguy cơ đang đe dọa về môi trường sinh thái mà vẫn tận dụng tốt được những tiềm lực và cơ hội của mình
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐỊA LÝ
X W
BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI KHCN
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA TRỌNG ĐIỂM
TÊN ĐỀ TÀI:
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG DU LỊCH HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Y Z
Đề tài “Xây dựng chiến lược phát triển bền vững du lịch huyện đảo Phú Quốc Tỉnh Kiên Giang đến năm 2020” đã nhận được sự hỗ trợ và hợp tác nhiệt tình của các
đơn vị trong và ngoài nước Nhóm nghiên cứu đề tài xin chân thành cảm ơn:
UBND Tỉnh Kiên Giang, Sở Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Khoa học
và Công nghệ, Sở Nông nghiệp, Sở Thủy sản, Sở Thương mại, TT Xúc tiến Thương mại Du lịch Tỉnh Kiên Giang, UBND huyện đảo Phú Quốc, TT Xúc tiến Thương mại Du lịch huyện đảo Phú Quốc, Trung tâm Bảo tồn biển Phú Quốc, BQL Vườn quốc gia Phú Quốc đã tạo điều kiện để nhóm nghiên cứu thu thập dữ liệu, tiến hành khảo sát thực tế, tổ chức Hội thảo khoa học tại địa phương
Ông Lê Minh Hoàng - Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch Tỉnh Kiên Giang
Ông Nguyễn Văn Phát - Phó giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch Tỉnh Kiên Giang
TS Ngô Thanh Loan - Trưởng khoa Địa lý-ĐHKHXH&NV
ThS Nguyễn Văn Hợp - Nguyên Trưởng khoa Địa lý-ĐHKHXH&NV
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và đóng góp nhiều ý kiến có giá trị cho đề tài
GS.TSKH Lê Huy Bá, Viện trưởng viện KHCN& QLMT, Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh
GVC Vương Tường Vân, Nguyên Tổ trưởng Bộ môn Địa lý Du ĐHKHXH&NV
lịch-đã cố vấn về chuyên môn cho đề tài
Th.S Phan Thị Thu Hương, Giảng viên khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Kinh
tế TP Hồ Chí Minh đã góp ý kiến cho phần cơ sở lý luận để xây dựng chiến lược
Lãnh đạo Đại học Quốc gia, Lãnh đạo Trường ĐHKHXH&NV TP Hồ Chí Minh, đã tạo mọi điều kiện, hỗ trợ về kinh phí, cơ sở vật chất để đề tài được thực hiện
GS.TS.Barbara Paker, Trường Management Alberts School of Bussiness and Economics (Hòa Kỳ), đã chia sẻ tài liệu và kinh nghiệm về xây dựng chiến lược phát triển bền vững
Trang 3 GS Steingrube Wilhelm (Trường Đại học Greifswald - CHLB Đức)
Mr Horst Wessel, Tobias Matusch, Jorg Hartleib (công ty Moskito)
đã phối hợp tổ chức Hội thảo về Phát triển du lịch bền vững và xây dựng WEBGIS tại Kiên Giang
Ngoài ra, đề tài đã được thực hiện với sự nỗ lực và cố gắng của tất cả các thành viên trong nhóm nghiên cứu
Để thực hiện được báo cáo chính và các sản phẩm khác của đề tài, nhóm nghiên cứu đã có sự phân công và chịu trách nhiệm cụ thể như sau:
Phần mở đầu: TS Trương Thị Kim Chuyên, ThS Nguyễn Văn Thanh
Phần nội dung
• Cơ sở lý luận: ThS Sơn Thanh Tùng, GV Châu Ngọc Thái, ThS Nguyễn Thị
Phượng Châu, ThS Nguyễn Văn Hoàng, ThS Nguyễn Văn Thanh
• Hiện trạng chung của Phú Quốc: ThS Phạm Gia Trân, ThS Nguyễn Văn
Thanh, ThS Sơn Thanh Tùng, ThS Nguyễn Thu Cúc, GV Phan Thị Hồng Dung, GV Phạm Thị Hồng Cúc, ThS Ngô Thị Thu Trang, Nguyễn Văn Chất, ThS Nguyễn Văn Hoàng
• Đánh giá hiện trạng Phú Quốc: ThS Phạm Gia Trân, ThS Sơn ThanhTùng,
ThS Nguyễn Thu Cúc, GV Phan Thị Hồng Dung, GV Phạm Thị Hồng Cúc, ThS Ngô Thị Thu Trang
• Định hướng chiến lược: ThS Nguyễn Thị Phượng Châu, GV Phan Thị Hồng
Dung, GV Phạm Thị Hồng Cúc, ThS Ngô Thị Thu Trang, GV Phạm Thị Bích Ngọc
Phần kết luận: TS Trương Thị Kim Chuyên, ThS Nguyễn Văn Thanh
Phụ lục:
• Website: TS Lê Minh Vĩnh, Trần Duy Minh
• Tổng hợp chính sách: GV Nguyễn Quang Việt Ngân, NCS Trương Minh Chuẩn
• Bảng hỏi, kết quả xử lý: ThS Phạm Gia Trân
• Bộ chỉ số: ThS Phạm Gia Trân, ThS Nguyễn Văn Thanh, GV Phạm Thị Bích Ngọc, TS Trương Thị Kim Chuyên, NCS Trương Minh Chuẩn, GV Nguyễn Đức Quảng, ThS Nguyễn Thu Cúc, ThS Nguyễn Văn Hoàng, ThS Nguyễn Thị Phương Dung, ThS Sơn Thanh Tùng, ThS Ngô Thị Thu Trang, GV Phạm Thị Hồng Cúc, ThS Lê Hải Nguyên, GV Phan Thị Hồng Dung, CN Nguyễn Văn Chất
Thay mặt nhóm nghiên cứu Chủ nhiệm đề tài
TS Trương Thị Kim Chuyên
Trang 4DANH SÁCH CÁN BỘ THAM GIA ĐỀ TÀI
1 TS Trương Thị Kim Chuyên ĐH KHXH&NV TPHCM
2 GS.TSKH Lê Huy Bá Viện trưởng viện KHCN& QLMT, Trường Đại học Công
5 CN Phạm Thị Hồng Cúc Bộ môn Du lịch-Khoa Địa lý, ĐHKHXH&NV TP.HCM
6 ThS Nguyễn Thu Cúc Bộ môn Du lịch-Khoa Địa lý, ĐHKHXH&NV TP.HCM
7 NCS Trương Minh Chuẩn Nghiên cứu sinh Khoa Địa lý
8 CN Phan Thị Hồng Dung Bộ môn Du lịch-Khoa Địa lý, ĐHKHXH&NV TP.HCM
9 ThS Nguyễn Văn Hoàng Bộ môn Du lịch-Khoa Địa lý, ĐHKHXH&NV TP.HCM
10 Trần Quốc Khanh Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Du lịch Phú Quốc
11 CN Trần Duy Minh Bộ môn Du lịch-Khoa Địa lý, ĐHKHXH&NV TP.HCM
12 CN Phạm Thị Bích Ngọc Bộ môn Địa lý Môi trường-Khoa Địa lý, ĐH KHXH&NV
17 ThS Sơn Thanh Tùng Bộ môn Đô thị học, ĐH KHXH&NV TPHCM
18 ThS.Bàng Anh Tuấn Bộ môn Địa lý Môi trường-Khoa Địa lý, ĐH KHXH&NV
Trang 5MỤC LỤC
Trang PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 1
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Nội dung và sản phẩm của đề tài 6
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
Khái niệm phát triển bền vững và du lịch bền vững 8
1.1.1 Phát triển bền vững 8
1.1.2 Du lịch bền vững 10
1.1.2.1 Du lịch và phát triển bền vững 10
1.1.2.2 Thúc đẩy du lịch bền vững 12
1.1.2.3 Các mục tiêu trong chương trình du lịch bền vững 13
Phát triển du lịch bền vững vùng biển, đảo 15
Sức tải sinh thái 15
Sức tải vật lý (Physical carrying capacity) 15
Sức tải môi trường (Environmental carrying capacity) 16
Sức tải xã hội (Social carrying capacity) 16
Sức tải kinh tế (Economic carrying capacity) 17
Sức tải đối với hoạt động du lịch biển 17
Vùng ven biển 17
Vùng đảo 18
Một số công thức để tính toán sức tải 20
Sức tải tiềm năng (Potential Carrying capacity - PCC) 20
Sức tải thực (Real Carrying capacity - RCC) 22
Xây dựng chiến lược 23
1.3.1 Thiết lập tầm nhìn 24
Trang 61.3.2 Phân tích hiện trạng 25
1.3.3 Xác định vấn đề ưu tiên 30
1.3.4 Phát triển mục tiêu và chiến lược 30
1.3.5 Xây dựng chương trình hành động 32
1.3.6 Giám sát và lượng giá 33
CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC 34
2.1 Điều kiện tự nhiên .34
2.1.1 Vị trí địa lý 34
2.1.1.1 Vị trí tuyệt đối - thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên 34
2.1.1.2 Vị trí tương đối – cơ hội phát triển 35
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 36
2.1.2.1 Khí hậu 36
2.1.2.2 Địa chất - địa hình 37
2.1.2.3 Tài nguyên đất 39
2.1.2.4 Tài nguyên nước 40
2.1.2.5 Biển và sinh vật biển 41
2.1.2.6 Rừng 43
2.1.2.7 Khoáng sản 44
2.2 Dân số và các vấn đề xã hội 45
2.2.1 Dân số và lao động 45
2.2.1.1 Dân số 45
2.2.1.1 Lao động và việc làm 46
2.2.2 Các vấn đề khác 47
2.2.2.1 Đói nghèo 47
2.2.2.2.An ninh trật tự địa phương 47
2.3 Kinh tế 48
2.3.1 Hiện trạng phát triển kinh tế 48
2.3.1.1 Sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 48
2.3.1.2 Đặc điểm các ngành kinh tế 50
2.3.2 Cơ sở hạ tầng-kỹ thuật 54
Trang 72.3.2.1 Giao thông vận tải 54
2.3.2.2 Cấp điện 57
2.3.2.3 Cấp nước 58
2.3.2.4 Bưu chính viễn thông 60
2.3.2.5 Hệ thống xử lý chất thải 60
2.3.3 Cơ sở hạ tầng xã hội 63
2.3.3.1 Y tế 63
2.3.3.2 Giáo dục 63
2.3.3.3 Công trình thương mại – dịch vụ 64
CHƯƠNG III MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ - KINH TẾ -
VĂN HÓA - XÃ HỘI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 66
3.1 Dân số - lao động 66
3.1.1 Dân số 66
3.1.2 Lao động 67
3.2 Tổng quan về điều kiện cư trú của người dân 69
3.2.1 Đất 69
3.2.2 Nhà ở 70
3.2.2.1 Số lượng nhà ở
70
3.2.2.2 Khả năng tiếp cận nhà ở mới 70
3.2.2.3 Chất lượng nhà ở 71
3.2.2.4 Các chương trình nhà ở 72
3.2.3 Cơ sở hạ tầng 73
3.2.3.1 Điện 74
3.2.3.2 Nước sinh hoạt
75
3.2.3.3 Giao thông-vận tải 76
3.2.3.4 Bưu chính - viễn thông 79
3.2.4 Vấn đề y tế - xã hội 83
3.2.4.1 Chăm sóc y tế 83
3.2.4.2 Đói nghèo 84
Trang 83.2.4.3 Đời sống tinh thần 84
3.2.4.4 Các tác động tiêu cực 85
3.3 Kinh tế và du lịch 87
3.3.1 Các ngành kinh tế 87
3.3.1.1 Cơ cấu các ngành kinh tế 87
3.3.1.2 Đặc điểm chính các ngành sản xuất 87
3.3.2 Kinh tế du lịch 89
3.3.2.1 Du khách 89
3.3.2.2 Cơ sở kinh doanh du lịch 90
3.3.2.3 Sản phẩm du lịch 91
3.3.2.4 Nguồn nhân lực 92
3.3.2.5 Các hoạt động hỗ trợ 92
3.4 Du lịch và kinh tế 98
3.4.1 Tác động của du lịch đến hoạt động kinh tế 98
3.4.1.1 Tác động tích cực 98
3.4.1.2 Tác động tiêu cực 100
3.4.2 Đánh giá và đề nghị của người dân về hoạt động kinh doanh du lịch 100
3.4.2.1 Ý kiến người dân về hoạt động kinh doanh du lịch hiện nay 100
3.4.2.2 Đề nghị cải thiện hoạt động du lịch trong thời gian tới 101
3.4.3 Tham gia của cộng đồng trong hoạt động du lịch 101
3.4.3.1 Loại hình và mức độ tham gia 101
3.4.3.2 Kế hoạch và dự định 102
3.4.3.3 Các hỗ trợ 102
3.5 Môi trường 103
3.5.1 Tài nguyên và vấn đề môi trường 103
3.5.1.1 Tài nguyên biển 103
3.5.1.2 Tài nguyên rừng 106
3.5.2 Vệ sinh môi trường 106
Trang 93.5.2.1 Rác thải 106
3.5.2.2 Nước thải 108
3.5.2.3 Xử lý vi phạm môi trường 109
3.5.3 Du lịch và vấn đề môi trường 110
3.5.3.1 Tác động tích cực 110
3.5.3.2 Tác động tiêu cực 110
3.5.3.3 Đề nghị giải pháp 111
3.5.4 Kiến thức và hành vi đối với môi trường 111
3.5.4.1 Kiến thức về môi trường 111
3.5.4.2 Thông tin môi trường 112
3.5.4.3 Hành vi bảo vệ môi trường 112
3.5.4.4 Chương trình vệ sinh và giáo dục môi trường 112
3.6 Văn hóa 116
3.6.1 Làng nghề truyền thống 116
3.6.1.1 Tổng quan 116
3.6.1.2 Tồn tại 118
3.6.1.3 Nguyên nhân 118
3.6.1.4 Các giải pháp hiện hữu tại địa phương 119
3.6.1.5 Đề nghị 119
3.6.2 Di tích văn hóa-lịch sử và hoạt động văn hoá lễ hội 120
3.6.2.1 Tổng quan 120
3.6.2.2 Tồn tại 123
3.6.2.3 Nguyên nhân 124
3.6.2.4 Các giải pháp hiện hữu tại địa phương 125
3.6.2.5 Đề nghị 125
CHƯƠNG IV ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH ĐẢO PHÚ QUỐC 127
4.1 Bối cảnh phát triển du lịch đảo Phú Quốc 127
4.1.1 Bối cảnh hình thành chiến lược 127
4.1.1.1 Sự hỗ trợ của Chính phủ 127
4.1.1.2 Các yếu tố kinh tế 127
Trang 104.1.1.3 Các yếu tố xã hội 128
4.1.2 Hoàn cảnh địa phương 128
4.1.2.1 Điều kiện tự nhiên 128
4.1.2.2 Tài nguyên thiên nhiên 128
4.1.2.3 Cơ sở hạ tầng 131
4.1.2.4 Thành phần kinh tế địa phương trong hoạt động du lịch 133
4.1.2.5 Hoạt động quảng bá du lịch 135
4.1.2.6 Sản phẩm du lịch 136
4.1.2.7 Năng lực quản lý địa phương 137
4.1.3 Môi trường tác động hình thành chiến lược 138
4.1.3.1 Cơ hội thu hút đầu tư phát triển du lịch Phú Quốc 138
4.1.3.2 Khách hàng tương lai 139
4.1.3.3 Phát triển du lịch của các đảo lân cận và các đảo khác trong khu vực 139
4.2 Phân tích ma trận SWOT phục vụ cho phát triển du lịch Phú Quốc 140
4.3 Định hướng xây dựng chiến lược phát triển du lịch Phú Quốc 143
4.3.1 Định hướng phát triển du lịch gắn liền với bền vững môi trường sinh thái 143
4.3.2 Định hướng xây dựng chiến lược đa dạng hóa sản phẩm du lịch Phú Quốc 143
4.3.2.1 Đa dạng hóa sản phẩm du lịch tự nhiên 143
4.3.2.2 Đa dạng hóa sản phẩm du lịch nhân văn 144
4.3.2.3 Đa dạng hóa các dịch vụ du lịch 145
4.3.2.4 Đa dạng hóa các sản phẩm hàng hóa 145
4.3.3 Định hướng xây dựng chiến lược quảng bá hình ảnh và marketing du lịch Phú Quốc 146
4.3.4 Định hướng xây dựng chiến lược thu hút đầu tư phát triển giao thông và hạ tầng kỹ thuật cơ sở 146
4.3.4.1 Thu hút đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng 146
4.3.4.2 Thu hút đầu tư phát triển hệ thống vận tải công cộng 147
Trang 114.3.5 Thu hút các thành phần kinh tế đầu tư trong du lịch 147
4.3.6 Chiến lược nguồn nhân lực 148
4.3.7 Tổ chức quản lý du lịch 148
4.4 Nội dung và chương trình hành động cụ thể 150
4.4.1 Phát triển du lịch ưu tiên bảo vệ môi trường và phát triển bền vững 150
4.4.2 Phát triển du lịch theo hướng đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ du lịch 151
4.4.3 Quảng bá du lịch Phú Quốc 153
4.4.4 Chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng 154
4.4.5 Chiến lược thu hút các thành phần kinh tế đầu tư trong phát triển du lịch 158
4.4.6 Tổ chức quản lý du lịch 160
KẾT LUẬN 161
TÀI LIỆU THAM KHẢO 166
PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1 BỘ CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH ĐẢO PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG THEO TIÊU CHÍ CỦA TỔ CHỨC DU LỊCH THẾ GIỚI (WTO)
PHỤ LỤC 2 WEBSITE QUẢNG BÁ DU LỊCH PHÚ QUỐC PHỤ LỤC 3 TÓM TẮT CÁC CHÍNH SÁCH, ĐỊNH HƯỚNG, ĐƯỜNG LỐI CHUNG PHỤ LỤC 4 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA BẢNG HỎI, PHỎNG VẤN SÂU, HỘI THẢO PHỤ LỤC 5.LƯỢC ĐỒ, HÌNH ẢNH DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU A Hình Hình 1.1 Giản đồ mô tả mối quan hệ không gian giữa hệ thống lãnh thổ du lịch, môi trường ven bờ và khả năng mang tải du lịch theo Pearce và Kirk 1986 18
Hình 1.2 Những nhóm chỉ số quan trọng trong đánh giá sức tải 20
Hình 1.3 Mối quan hệ giữa du lịch, môi trường và cộng đồng 23
Hình 1.4 Tiến trình xây dựng chiến lược 23
Hình 1.5 Từ phân tích hiện trạng đến xây dựng chiến lược 24
Hình 1.6 Các chỉ số về môi trường xếp theo cách tiếp cận DPSIR 30
Hình 1.7 Ma trận SWOT trong phân tích và xây dựng chiến lược phát triển 32
Trang 12B Biểu đồ
Biểu đồ 2.1 Hiện trạng và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2010 40
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu các ngành kinh tế Phú Quốc năm 2000, 2005 và 2010 (dự báo) 50
Biểu đồ 3.1 Lượng khách du lịch đến Phú Quốc thời kỳ 2000 – 2006 và 2010 (dự báo) 89
Biểu đồ 3.2 Số lượng cơ sở lưu trú tại Phú Quốc thời kỳ 2000-2006 và 2010 (dự báo) 90
C Bảng biểu Bảng 2.1 Hiện trạng phân bố diện tích đất theo độ cao và độ dốc 39
Bảng 2.2: Dân số huyện Phú Quốc giai đoạn 2000 – 2007 45
Bảng 2.3: Nguồn lao động tại huyện Phú Quốc giai đoạn 2000-2005 .46
Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu giai đoạn 2000-2007 39
Bảng 2.5: Số lượng giếng khoan và bể nước mưa trong thời kỳ 2000- 2005 58
Bảng 2.6 Tỉ lệ số hộ sử dụng nước sạch trong thời kỳ 2000 – 2005 59
Bảng 3.1 Cơ cấu lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân tại huyện Phú Quốc giai đoạn 2000-2006 68
Bảng 3.2 Lao động đang làm việc trong các ngành khách sạn- nhà hàng tại huyện Phú Quốc giai đoạn 2000-2006 68
Bảng 3.3 Cơ cấu diện tích đất khu dân cư ở giai đoạn 2000-2006 69
Bảng 3.4 Diện tích đất đường giao thông ở giai đoạn 2000-2006 70
Bảng 3.5 Số căn nhà trong thời kỳ 2000-2005 .70
Bảng 3.6 Ý kiến về tác động của du lịch đến tiếp cận nhà ở mới phân theo thu nhập bình quân tháng/ người 71
Bảng 3.7 Ý kiến về sự tác động của du lịch đến tiếp cận nhà ở mới phân theo qui mô gia đình 74
Bảng 3.8 Cơ cấu nhà ở trong thời kỳ 2000-2007 .78
Bảng 3.9 Một số chỉ tiêu về điện 78
Bảng 3.10 Ý kiến về tác động du lịch đến số lượng và chất lượng nước sinh hoạt 79
Bảng 3.11 Ý kiến về tác động du lịch đến đường sá .80
Bảng 3.12 Sản lượng vận tải thời kỳ 2000 – 2005 .84
Bảng 3.13 Khối lượng vận tải phân theo các loại đường 85
Trang 13Bảng 3.14 Hoạt động bưu chính trong thời kỳ 2000-2005 94 Bảng 3.15 Hoạt động viễn thông trong thời kỳ 2000-2005 100
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
7 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, Việt Nam ngày càng chú trọng đầu tư phát triển kinh
tế biển và hải đảo, đặc biệt là trong việc phát triển ngành du lịch nhằm khai thác nguồn tài nguyên sẵn có
Với vị trí địa lý đặc biệt quan trọng, nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú, Phú Quốc có nhiều tiềm năng và cơ hội để có thể phát triển mạnh mẽ và vững chắc trong tương lai Tuy nhiên, khi bắt đầu triển khai thực hiện các mục tiêu quy hoạch của Chính phủ1, Phú Quốc đã bắt đầu phát sinh những tiêu cực làm ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đầu tư cũng như môi trường sinh thái, đang ngày càng phải đối diện với nguy cơ bị hủy hoại môi trường nghiêm trọng Rõ ràng,việc phát triển du lịch của huyện đảo này chưa đáp ứng được mục tiêu phát triển bền vững
Để đạt được mục tiêu mong muốn trên, Phú Quốc cần có những chiến lược gì để hạn chế nguy cơ đang đe dọa về môi trường sinh thái mà vẫn tận dụng tốt được những tiềm lực và cơ hội của mình trong phát triển du lịch? Làm thế nào để phát huy được tối
đa tiềm năng sẵn có mà không làm tổn hại đến môi trường sinh thái và môi trường văn hóa – xã hội ? Để trả lời những câu hỏi trên, huyện đảo Phú Quốc đang phải đối diện với khó khăn rất lớn trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược, Phú Quốc cần có một qui trình thiết kế, xây dựng, thực hiện chiến lược một cách khoa học và khả thi Đồng thời với quy trình đó, xây dựng một bộ chỉ số với độ tin cậy cao để có thể giám sát, theo dõi liên tục sự phát triển của đảo trong tương lai là rất cần thiết
8 Mục tiêu của đề tài
Đề tài “Xây dựng chiến lược phát triển bền vững du lịch 2 huyện đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang đến năm 2020” được thực hiện nhằm các mục tiêu sau đây:
- Xây dựng cơ sở lí luận phục vụ cho chiến lược phát triển bền vững du lịch huyện đảo Phú Quốc nói riêng cũng như cung cấp cơ sở cho việc nghiên cứu các lãnh thổ khác
- Định hướng, góp phần xây dựng chiến lược cho việc phát triển bền vững du
lịch huyện Phú Quốc đến năm 2020
1 Quyết định 178/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 5/10/2004 về việc Phê duyệt Đề án Phát triển Tổng thể Đảo
Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2010 và Tầm nhìn đến năm 2020
2 Khái niệm “Phát triển du lịch bền vững “(Development of sustainable tourism) hay “Phát triển bền vững du lịch” (Sustainable development of tourism) được xem là đồng nghĩa trong nghiên cứu này Cả hai đều chỉ sự phát triển của ngành
du lịch một cách bền vững
Trang 15- Nâng cao năng lực nghiên cứu các vấn đề phát triển bền vững các đảo cho cán
bộ, các nhà quản lý
- Xây dựng tài liệu tham khảo cho việc dạy và học chuyên đề về “Phát triển du lịch bền vững” cho sinh viên Khoa Địa lý và Khoa Du lịch ở các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp
9 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Các vấn đề về phát triển bền vững đã được các tổ chức và các nhà khoa học thế giới đặc biệt quan tâm và chú ý từ thập niên 90 Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất thừa nhận vai trò quan trọng của Bộ chỉ số trong việc giúp các quốc gia thực hiện những quyết định về phát triển bền vững Năm 1995, Ủy ban về Phát triển bền vững (CSD) đã xây dựng Chương trình xây dựng các chỉ số phát triển bền vững và kêu gọi các tổ chức trong hệ thống Liên hiệp quốc, các tổ chức quốc tế và phi chính phủ tham gia thực hiện các hợp phần chính của chương trình này Cuộc họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1997 để đánh giá kết quả 5 năm từ sau cuộc họp Thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển (1992) cũng khẳng định tầm quan trọng của Chương trình thiết kế Bộ chỉ số1 phát triển bền vững, một bộ chỉ số cụ thể và thích hợp với các điều kiện của từng quốc gia ,có thể được sử dụng để giám sát tiến trình hướng đến phát triển bền vững ở cấp quốc gia Bộ chỉ số cũng đã được đưa ra thử nghiệm và giám sát việc áp dụng tại một số quốc gia, đánh giá tính ứng dụng thực tiễn và tiếp tục phát triển Bộ chỉ số này (1996-1999),cụ thể như ở châu Phi (Ghana, Kenya, Morocco, South Africa, Tunisia), Châu Á – Thái Bình Dương (China, Maldives, Pakistan, Philippines), Châu Âu (Austria, Belgium, Czech Republic, Finland, France, Germany, United Kingdom), vùng Caribe châu Mỹ (Barbados, Bolivia, Brazil, Costa Rica, Mexico, Venezuela) Và cho đến nay, Bộ chỉ số này đã được WTO xuất bản thành
sách hướng dẫn có tên gọi là Indicator of Sustainable Development for Tourism Destinations – A guidebook, 2004 mà nhóm nghiên cứu đã dịch và sử dụng làm công
cụ nghiên cứu cho đề tài Sách hướng dẫn này bao gồm 7 phần, từ việc giới thiệu, hướng dẫn sử dụng đến chi tiết các nội dung của từng chỉ số cho từng lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, môi trường, dân số, văn hóa
• Bên cạnh đó, nhiều Hội nghị quốc tế được tổ chức có liên quan đến phát triển
bền vững các đảo Cụ thể như Hội nghị toàn cầu do Liên hiệp quốc tổ chức về Phát triển bền vững các đảo nhỏ của các quốc gia đang phát triển năm 1994 tại Barbados Một năm sau đó, Hội nghị thế giới về Du lịch bền vững tại đảo Lanzarote và Canary,
1 Do thói quen, chúng tôi sử dụng khái niệm “chỉ số” trong toàn bộ nghiên cứu này Nó được xem đồng nghĩa với khái niệm
“chỉ thị”, từ tiếng anh là “indicator” Một số tác giả thường dùng từ “chỉ thị” thay cho từ “chỉ số” và cho rằng khái niệm “chỉ
số” tương đượng với thuật ngữ “index” trong tiếng anh Theo họ, index hay chỉ số là tích hợp các chỉ thị thông qua trọng số
để chỉ các chỉ số tổng hợp như chỉ số HDI (Human Development Index), là tích hợp của 3 chỉ thị: GDP/người (chỉ thị về mặt kinh tế), tuổi thọ (chỉ thị về mặt xã hội), nước sạch/người/năm (chỉ thị về mặt môi trường)
Trang 16Tây Ban Nha Đến tháng 12 năm 2000, hội nghị quốc tế về Du lịch bền vững ở các vùng đảo thuộc Châu Á – Thái Bình Dương được tổ chức tại đảo Hải Nam (Trung
Quốc), tại hội nghị này các nhà khoa học đã có sáng kiến xây dựng trang web phục vụ cho nghiên cứu phát triển bền vững du lịch đảo
• Tác giả Buckley, R.C (1999) có bài về Quy hoạch chiến lược du lịch sinh thái
ở Việt Nam (Planning for a national ecotourism strategy in Vietnam), Hội thảo về
chiến lược du lịch sinh thái quốc gia ở Việt Nam, Hà Nội
• Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển du lịch sinh thái và bền vững như:
- Buckley, R.C.(2003), Các nghiên cứu điển hình về du lịch sinh thái,
Oxford:CABI
- Davey, A.G.(1998), Qui hoạch và quản lý các khu vực cần bảo vệ ở Việt Nam, University of Canberra
- Koeman, A (1998) Du lịch sinh thái dựa trên phát triển bền vững, Hội thảo
Du lịch sinh thái trong phát triển bền vững ở Việt Nam, Hà nội
- Nguyen, V.L.(1999), “Phát triển du lịch sinh thái trong bối cảnh quản lý nhà nước”, Hội thảo quốc gia về phát triển chiến lược du lịch sinh thái quốc gia cho Việt Nam, Hà Nội
- Smith, R.A(1998), Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Annals of
Tourism Research
- Trung tâm xúc tiến thương mại và du lịch Phú Quốc – tổ chức WTO, Tài liệu quy hoạch phát triển du lịch đảo Phú Quốc
Cụ thể tại đảo Phú Quốc, trước những yêu cầu mới trong phát triển bền vững
lãnh thổ vùng, ngày 5-10-2004, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt “Đề án phát triển tổng thể đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020”
Quí I, năm 2005 Tổng cục Du lịch trình Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch Phú Quốc theo hướng chủ yếu là du lịch chất lượng cao, gắn với nhiệm vụ bảo đảm an ninh, quốc phòng” Quí II, năm 2005 Bộ Xây dựng trình Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể xây dựng và phát triển đảo Phú Quốc”
Khi nghiên cứu về chiến lược phát triển, SWOT là một trong những công cụ để xây dựng chiến lược khá phổ biến SWOT xuất hiện vào thập niên 60-70, là công cụ cực kỳ hữu ích giúp tìm hiểu vấn đề hoặc ra quyết định trong việc tổ chức, quản lý cũng như trong kinh doanh Và trên thực tế, việc vận dụng SWOT trong xây dựng kế hoạch kinh doanh, hoạch định chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, khảo sát thị trường, phát triển sản phẩm và cả trong các báo cáo nghiên cứu… đang ngày càng
Trang 17được nhiều công ty và đơn vị lựa chọn Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc sử dụng công cụ này vào nghiên cứu, xây dựng chiến lược phát triển cho lãnh thổ còn ít và hạn chế
Ngoài ra, mô hình DPSIR (Driving force-Pressure-State-Impact-Response)
trong những năm gần đây đã bắt đầu sử dụng rộng rãi trong đánh giá tác động của môi trường đối với lãnh thổ nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững
Rõ ràng, trên thế giới và ở Việt Nam, vấn đề phát triển bền vững đã được quan tâm rất nhiều Song, việc vận dụng các công cụ nghiên cứu chiến lược phát triển bền vững cho du lịch, nhất là du lịch ở các đảo, chưa được vận dụng và chú ý Đây chính là cách tiếp cận chủ yếu mà đề tài muốn hướng đến
10 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: góp phần làm phong phú thêm cơ sở lí luận trong việc nghiên cứu các vấn đề về phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững du lịch nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn: qua việc nghiên cứu vấn đề phát triển bền vững du lịch Phú Quốc, đề tài sẽ giúp cơ quan chức năng định hướng phát triển phù hợp cho huyện đảo này Đồng thời, kết quả đề tài sẽ giúp các cấp chính quyền tỉnh Kiên Giang và huyện Phú Quốc có cách tiếp cận và công cụ mới phù hợp
để nghiên cứu và xây dựng chiến lược cho đảo
11 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp thu thập số liệu thứ cấp từ các cơ quan thống kê, các cơ quan quản lý, sách, báo, tạp chí, internet…, nhóm nghiên cứu sử dụng các công cụ phân tích chủ yếu sau:
- Bộ chỉ số của WTO (World Tourism Organization): Nhìn chung, Bộ chỉ số
được dùng làm cơ sở để đánh giá hiện trạng môi trường, kinh tế và xã hội của huyện đảo Phú Quốc, đồng thời cũng là cơ sở để xây dựng chiến lược và đánh giá tiến trình thực hiện chiến lược sau này Bộ chỉ số hỗ trợ tiến trình ra quyết định theo nhiều cách khác nhau Bộ chỉ số có thể diễn dịch các kiến thức khoa học tự nhiên và xã hội thành những đơn vị thông tin có thể quản lý được để hỗ trợ việc ra quyết định, đo lường những thay đổi trong tiến trình tiến đến các mục
tiêu phát triển bền vững Ngoài ra, Bộ chỉ số còn dùng để cảnh báo sớm đối với
những thiệt hại về kinh tế, xã hội và môi trường
- Phân loại các chỉ số theo DPSIR (Driving Response nghĩa là Nguồn tác động – Áp lực – Hiện trạng – Tác động – Ứng phó)
force-Pressure-State-Impact-nhằm đánh giá tác động của môi trường, cụ thể các chỉ số được phân ra thành các nhóm:
Trang 18 D (driving force)-nguồn tác động, các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của con người gây ra các áp lực lên môi trường như đô thị hóa, phát triển công nghiệp, hoạt động nông nghiệp, hoạt động văn hóa…
P (pressure)-áp lực do các hoạt động gây ra như tăng nhu cầu tiêu thụ tài nguyên, xả chất thải vào môi trường…
S (state)-hiện trạng, cụ thể là chất lượng các thành phần môi trường
I (Impact)-tác động: các thiệt hại về kinh tế, sức khỏe, tài nguyên do tình trạng ô nhiễm…
R (Response)-ứng phó nghĩa là đưa ra các giải pháp đã được thực hiện để giải quyết những vấn đề về môi trường
- Ma trận SWOT: (Strengths-Weaknesses-Opportunities-Threats nghĩa là Điểm
mạnh-Điểm yếu-Cơ hội-Nguy cơ) là công cụ quan trọng cho phép kết hợp các yếu tố bên trong (điểm mạnh, điểm yếu) và bên ngoài (cơ hội, đe dọa) để đưa ra các định hướng phát triển cho địa phương theo bốn loại chiến lược sau: chiến lược điểm mạnh – cơ hội (SO), chiến lược điểm mạnh – đe dọa (ST), Chiến lược điểm yếu – cơ hội (WO), Chiến lược điểm yếu – đe dọa (WT) Bằng công
cụ SWOT, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài của Đảo Phú Quốc để xác định các điểm mạnh – điểm yếu – cơ hội – đe dọa và những kết hợp làm cơ sở đề xuất các chiến lược phát triển cho Phú Quốc Các chiến lược đưa ra từ sự kết hợp có chọn lọc của các yếu tố bên trong
và bên ngoài Đảo Phú Quốc và được sắp xếp lại theo thứ tự ưu tiên phát triển của địa phương Sự sắp xếp ưu tiên phải được dựa trên nhu cầu thực tiễn cần phát triển của địa phương Kết quả của quá trình phân tích SWOT đảm bảo được tính cụ thể, chính xác, thực tế và khả thi vì địa phương sẽ sử dụng kết quả
đó để thực hiện những bước tiếp theo như: hình thành chiến lược, mục tiêu chiến lược chiến thuật và cơ chế kiểm soát chiến lược cụ thể Chiến lược hiệu quả là những chiến lược tận dụng được các cơ hội bên ngoài và sức mạnh bên trong cũng như vô hiệu hóa được những nguy cơ bên ngoài và hạn chế hoặc vượt qua được những yếu kém bên trong Phân tích SWOT được sử dụng nhằm
để đạt được tới mục tiêu chiến lược dài hạn – hay nói khác đi là “tầm nhìn trong phát triển du lịch đảo”
- Phương pháp bản đồ, GIS: nhóm nghiên cứu sử dụng công cụ này để phân
tích không gian, trực quan hóa các dữ liệu thuộc tính và cung cấp các dữ liệu cần thiết cho việc xây dựng trang web
- Điều tra xã hội học (định tính và định lượng):
Trang 19+ Bảng hỏi1: Đối tượng được điều tra bao gồm 150 mẫu (90 mẫu cộng đồng
và 60 mẫu du khách) được thu thập tại hai thị trấn Dương Đông và An Thới
Số lượng mẫu này đủ bảo đảm cho yêu cầu phân tích thống kê Phân bố mẫu cho hai đối tượng này được liệt kê như sau:
Dương Đông 45
1 Cộng đồng
An Thới 45 Dương Đông 30
An Thới 30 Tổng cộng 150
Đối với cộng đồng, phải là cư dân hiện đang cư trú dài hạn tại Phú Quốc vào thời điểm điều tra Tại mỗi địa điểm, chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để bảo đảm tính đại diện của dân số nghiên cứu và yêu cầu của bảng hỏi Cụ thể các
hộ dân cung cấp ý kiến được chia làm 3 nhóm: 1/ là các hộ đang kinh doanh
ở chợ 2/ là các hộ đang kinh doanh ở điểm du lịch (bãi biển, di tích) 3/ là các
hộ kinh doanh/sản xuất nhưng có kinh doanh du lịch Đối với từng nhóm, tiến hành lấy mẫu không xác suất để lấy đủ số mẫu theo qui định Đối với du khách phải là đối tượng đang du lịch tại Phú Quốc vào thời điểm điều tra Tại mỗi địa điểm, số mẫu du khách được chia thành 3 nhóm: khách sạn, di tích và bãi biển Đối với từng nhóm, tiến hành lấy mẫu không xác suất để lấy đủ số mẫu theo qui định
+ Phỏng vấn sâu2: đối tượng phỏng vấn sâu được chia ra làm 4 nhóm: dân số
xã hội (6 đối tượng), văn hóa (13 đối tượng), kinh tế (16 đối tượng), môi trường(7 đối tượng) Dữ liệu được hệ thống hoá và sắp xếp theo các đề mục được định trước Trong nghiên cứu này, dữ liệu phỏng vấn sâu chủ yếu được
sử dụng để minh họa/ giải thích các nhận định từ các dữ liệu thống kê được công bố, kết quả bảng hỏi và các quan sát từ thực trạng
- Phương pháp điền dã: nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực địa, ghi
nhận tình hình môi trường, nhà cửa, cơ sở hạ tầng… để có cái nhìn đúng và toàn diện hơn khi đi sâu vào vấn đề nghiên cứu mà đề tài phân tích
12 Nội dung và sản phẩm của đề tài
Đề tài “Xây dựng chiến lược phát triển bền vững du lịch huyện đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang đến năm 2020” có các nội dung sau đây:
1 Tập hợp các khái niệm về phát triển bền vững du lịch: du lịch bền vững được định nghĩa với nhiều cách khác nhau bởi các tổ chức, các nhà nghiên cứu trên thế giới sẽ được nhóm nghiên cứu hệ thống và phân tích rõ ràng
1 Nội dung bảng hỏi xem phần phụ lục
2 Nội dung phỏng vấn sâu xem phần phụ lục
Trang 202 Nghiên cứu, xây dựng qui trình xây dựng chiến lược dựa trên cơ sở Bộ chỉ
số và phân tích SWOT
3 Thu thập dữ liệu, đánh giá thực trạng kinh tế xã hội của huyện đảo Phú Quốc: các điều kiện tự nhiên phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội, hiện trạng phát triển các ngành kinh tế, các vấn đề xã hội của Phú Quốc đang gặp phải
4 Đưa kết quả đánh giá thực trạng vào Bộ chỉ số, nghĩa là Phú Quốc hóa và đưa các dữ liệu vào Bộ chỉ số Các số liệu được thu thập bao gồm số liệu sơ cấp và thứ cấp được chọn lọc và đưa vào Bộ chỉ số một cách có hệ thống và phù hợp với tiêu chuẩn của WTO
5 Tổng hợp các chính sách, các văn bản pháp lý có liên quan đến Phú Quốc Những Nghị định, Thông tư, Quyết định, Chỉ thị của các cấp, các ngành liên quan đến Phú Quốc sẽ được tập hợp và chia thành các lĩnh vực khác nhau
6 Xây dựng chiến lược phát triển bền vững bằng công cụ SWOT Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của Phú Quốc sẽ được công cụ SWOT mổ xẻ
và đưa vào ma trận, kết hợp các yếu tố để đề ra chiến lược phát triển bền vững du lịch cho huyện đảo Phú Quốc
7 Xây dựng trang web tĩnh
Cụ thể, sản phẩm của đề tài bao gồm:
a Báo cáo chính về thực trạng và chiến lược phát triển bền vững du lịch huyện đảo Phú Quốc
b Bộ chỉ số về phát triển bền vững du lịch đảo Phú Quốc
c Trang web tĩnh về du lịch đảo Phú Quốc
Các tài liệu trên là cơ sở cho việc biên soạn chuyên đề về phát triển du lịch bền vững, được giảng dạy cho sinh viên ngành Địa lý Du lịch nói riêng và ngành Du lịch nói chung
Trang 21CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Khái niệm phát triển bền vững và du lịch bền vững
Phát triển bền vững
Định nghĩa được sử dụng rộng rãi nhất về phát triển bền vững đã được nêu tại
báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Quốc tế (1987) đó là "Sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " (Báo cáo Brundtland, 1987)
Năm 1980, khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong báo cáo “Chiến lược Bảo tồn Thế giới” (World Conservation Strategy) của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (International Union for the Conservation of Nature – IUCN) Tuy nhiên, tính bền vững (sustainability) không phải là một ý niệm hoàn toàn mới, Thomas Jefferson1 đã từng nói “Tôi cho rằng trái đất thuộc về mỗi thế hệ trong suốt tiến trình tồn tại của nó, một cách hoàn toàn đầy đủ và trong quyền hạn của nó, không một thế
hệ nào có thể mắc những khoản nợ lớn hơn khả năng chi trả của chính nó”
(Sustainable Washington 2003)
Trung tâm của phát triển bền vững, toàn bộ mục tiêu của sự phát triển, chính là con người Chính xác hơn, mục tiêu của phát triển là nhằm bảo đảm rằng mỗi người đều tiếp cận với những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Gắn liền với nó, dĩ nhiên, là tạo ra và duy trì một môi trường bền vững cho con người sinh sống
Vì vậy, phát triển bền vững là tạo ra một cuộc sống tốt hơn cho tất cả mọi người bằng những biện pháp thích ứng cả đối với hiện tại và tương lai Nói cách khác, phát triển bền vững là dựa trên những nguyên tắc của việc quản lý vững chắc những nguồn tài nguyên của thế giới và sự công bằng hợp lý trong việc sử dụng những nguồn tài nguyên đó và phân chia lợi ích thu được từ những nguồn tài nguyên đó
Từ định nghĩa năm 1987 đến nay đã có những bước phát triển về quan điểm, nhất là qua Chương trình Nghị sự 21, tức Kế hoạch Hành động, được đề xuất từ Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển (tại Rio, 1992) và Kế hoạch Hành động do Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững đề ra tại Johanesburg, 2002 Hiện tại có ba trụ cột của phát triển bền vững đã được thừa nhận
và được nhấn mạnh Đó là:
1 Thomas Jefferson (1743 – 1826) tổng thống thứ 3 (1801–1809), cha đẻ của Tuyên ngôn độc lập Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ (1776)
Trang 22- Sự bền vững về kinh tế, nghĩa là tạo nên sự thịnh vượng cho tất cả mọi tầng lớp
xã hội và đạt hiệu quả giá trị cho tất cả mọi hoạt động kinh tế Điều cốt lõi, đó
là sức sống và phát triển của các doanh nghiệp và các hoạt động của các doanh nghiệp đó có thể duy trì được lâu dài
- Sự bền vững xã hội, đó là tôn trọng nhân quyền và sự bình đẳng cho tất cả mọi người trong xã hội Nó đòi hỏi phải phân chia lợi ích một các công bằng, với trọng tâm là giảm đói nghèo Cần lưu ý đến những cộng đồng địa phương, duy trì và tăng cường những hệ thống, những chế độ hỗ trợ đời sống của họ, thừa nhận và tôn trọng các nền văn hóa khác nhau, và tránh mọi hình thức bóc lột
- Sự bền vững về môi trường, có nghĩa là bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên, đặc biệt là các nguồn tài nguyên không thể thay mới và quý hiếm đối với cuộc sống con người Nó đòi hỏi phải hành động nhằm hạn chế đến mức độ tối thiểu sự ô nhiễm không khí, đất và nước, bảo tồn sự đa dạng sinh học và các tài sản thiên nhiên đang còn tồn tại
Điều quan trọng là phải thấy rằng ba trụ cột đó phụ thuộc nhau về rất nhiều mặt,
có thể hỗ trợ lẫn nhau hoặc cạnh tranh với nhau Nói đến phát triển bền vững nghĩa là tạo một sự cân bằng giữa ba trụ cột đó
Theo Gibson (2002:37), những nguyên tắc chung của Phát triển bền vững bao gồm:
Tính tổng thể: Xây dựng những mối quan hệ con người - sinh thái để duy trì tính tổng thể của các hệ thống lý - sinh nhằm duy trì đời sống mà con người phụ thuộc
Sự phồn thịnh và cơ hội: Bảo đảm rằng mọi người đều có được một cuộc sống
tử tế và có cơ hội tìm kiếm những tiến bộ mà không làm tổn hại đến khả năng tìm
kiếm sự phồn thịnh và cơ hội của những thế hệ tương lai
Công bằng: Bảo đảm những lựa chọn về sự phồn thịnh và cơ hội cho tất cả mọi
người, làm giảm những khoảng cách trong sự sung túc và cơ hội (và sức khỏe, an ninh,
sự công nhận về xã hội, ảnh hưởng chính trị, v.v…) giữa người giàu và người nghèo
Hiệu quả: Giảm thiểu toàn bộ những nhu cầu về vật chất và năng lượng ảnh
hưởng đến các hệ thống sinh thái - xã hội
Dân chủ và văn minh: Xây dựng năng lực để ứng dụng những nguyên tắc bền
vững nhờ vào hệ thống tích hợp và am hiểu tốt hơn về quản trị hành chính, thị trường, tập quán…
Phòng ngừa: Chú ý tính có thể thay đổi, tránh những quan niệm cho rằng các
nguy cơ nghiêm trọng hay đe dọa không thay đổi được, cần phải dự kiến những bất ngờ và điều khiển sự thích nghi đối với các tai họa
Trang 23Hòa hợp trong trung và ngắn hạn: vận dụng tất cả các nguyên tắc của tính bền
vững ngay lập tức, tìm kiếm những lợi ích chung giữa ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
Du lịch bền vững
Du lịch và phát triển bền vững
Ngành du lịch có một vị trí đặc biệt, tác động cả tích cực và tiêu cực đến sự phát triển bền vững, trước hết, bởi động lực và sự tăng trưởng của ngành, và những đóng góp to lớn của nó đối với nền kinh tế của nhiều nước, nhiều cộng đồng Tiếp đó,
du lịch còn là một hoạt động có liên quan đặc biệt giữa người tiêu dùng (khách du lịch), ngành công nghiệp du lịch, môi trường và các cộng đồng địa phương
Mối quan hệ đặc biệt này nảy sinh, vì không giống như hầu hết các lĩnh vực khác, khách du lịch đi tới tận nơi người sản xuất và nơi có sản phẩm Điều này sẽ dẫn tới ba khía cạnh quan trọng trong mối quan hệ giữa du lịch và phát triển bền vững như sau:
- Ảnh hưởng lẫn nhau: Tính chất của ngành du lịch, một ngành công nghiệp dịch
vụ dựa trên cơ sở chuyển giao kinh nghiệm về những vùng miền mới, nghĩa là gồm có sự ảnh hưởng khá lớn cả trực tiếp và gián tiếp giữa khách du lịch, các cộng đồng tiếp đón họ và môi trường tại những địa phương đó
- Nhận thức: Ngành du lịch khiến người ta (khách du lịch và chủ nhà) có hiểu
biết sâu rộng hơn về những vấn đề môi trường và những điểm khác nhau giữa các dân tộc và các nền văn hóa Điều này có thể ảnh hưởng tới thái độ và những mối quan tâm của mọi người đối với các vấn đề liên quan đến sự bền vững, không chỉ trong khi đang du hành mà còn trong suốt cuộc đời họ
- Sự phụ thuộc: phần lớn ngành du lịch phụ thuộc nhiều vào khách du lịch Khách
thường tìm đến những nơi môi trường còn nguyên sơ, trong sạch, những nơi có cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, có truyền thống văn hóa và lịch sử đặc sắc và có những người địa phương mến khách, có quan hệ tốt đẹp với họ
Mối quan hệ trực tiếp và chặt chẽ này tạo nên một tình thế nhạy cảm, trong đó ngành du lịch vừa có thể có hại vừa có tác dụng tích cực đối với sự phát triển bền vững
Trang 24tác bảo tồn, và các cộng đồng bản địa thực hiện công tác bảo tồn này ngày càng tăng
- Tạo nên một lực lượng bảo vệ hòa bình và hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa
Ngược lại, ngành du lịch cũng có thể:
- Tạo nên sức ép trực tiếp đối với các hệ thống sinh thái rất dễ bị tác hại, khiến cho môi trường vật thể bị thoái hóa và ảnh hưởng xấu đến sự sống của các loài hoang dã
- Gây một sức ép lớn đối với cộng đồng bản địa, dẫn đến sự chuyển động bất lợi cho các xã hội truyền thống
- Tạo nên sự cạnh tranh trong việc sử dụng những tài nguyên quý hiếm, nhất là đất và nước
- Là tác nhân lớn góp phần vào sự ô nhiễm ở địa phương và toàn cầu
- Tạo nên một nguồn thu nhập mong manh, không ổn định, vì có thể có những biến đổi rất nhạy cảm, thực tế có hại đối với điều kiện môi trường và tình hình
xã hội tại các điểm đến
Một kết quả rõ ràng là tất cả những ai có liên quan đến ngành du lịch đều phải có trách nhiệm to lớn và phải nhận biết tầm quan trọng của sự phát triển du lịch bền vững Nhưng du lịch cũng có thể là một ngành gây rất nhiều áp lực cho sự phát triển của chính nó bởi vì sự phát triển của ngành du lịch nếu không được quản lý tốt, có thể là nguyên nhân hủy hoại những nguồn tài nguyên, cơ sở để nó phát triển Phát triển mà không quan tâm gì đến sự bền vững thì ngành du lịch không chỉ làm tổn hại xã hội và môi trường mà còn chứa đựng những hạt giống hủy hoại chính bản thân nó
Đối với Chính phủ các quốc gia, những chính sách về du lịch nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế, môi trường và xã hội, phát triển du lịch cũng cần phải nhận thức
về cả hai mặt lợi và hại, cần thiết phải hướng về những kết quả tích cực do động lực tăng trưởng của ngành này mang lại Đối với ngành du lịch, chấp nhận trọng trách này không những chỉ là làm tốt nhiệm vụ công dân mà cũng là tăng cường cho mình bằng nguồn lợi dồi dào của chính ngành mình, bởi vì bất kỳ một điều gì gây tổn hại đến môi trường thiên nhiên, môi trường văn hóa – xã hội của địa phương nơi khách đến tham quan đều có thể dẫn đến sự hủy hoại tất yếu hoặc sự tổn thất giá trị của sản phẩm du lịch Nói theo thuật ngữ kinh tế học, sự bền vững có thể bảo đảm một điều cốt lõi: “sức sống và phát triển của các doanh nghiệp và các hoạt động của các doanh nghiệp đó có thể duy trì được lâu dài”
Trang 25Thúc đẩy du lịch bền vững
Theo một số cơ quan và nhà bình luận nói rằng du lịch bền vững là một loại du lịch đòi hỏi một thị trường thích hợp, rất nhạy cảm trước những ảnh hưởng về môi trường và xã hội, với những sản phẩm và người làm du lịch thuộc loại đặc biệt, và thường là ở một quy mô nhỏ – khác với du lịch với một khối lượng lớn Đây là một cách hiểu sai rất nguy hại Cần phải rõ ràng, thuật ngữ “du lịch bền vững” – nghĩa là hoạt động du lịch trên những nguyên tắc của sự phát triển bền vững – bao hàm một ý nghĩa rất cơ bản: thúc đẩy du lịch bền vững Thuật ngữ đó dùng để nói về một điều kiện của du lịch chứ không phải là một hình thức của du lịch Hoạt động du lịch với khối lượng lớn nhưng có sự quản lý tốt có thể và cần thiết phải thế, thực hiện đúng như một hoạt động du lịch bền vững trên quy mô nhỏ phân tán, với một mục đích đặc biệt
Du lịch bền vững không nên dừng lại ở mức độ hạn chế, trong thực tế người ta hay lập luận rằng không bao giờ có thể hoàn toàn là bền vững – phát triển bền vững trong du lịch là một quá trình cải thiện liên tục, không ngừng
Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) định nghĩa du lịch bền vững là sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu cho khách du lịch và những khu vực du lịch (host regions) hiện tại mà vẫn bảo vệ và tạo ra thêm những cơ hội cho tương lai Nó vạch ra
kế hoạch để quản lý toàn bộ nguồn tài nguyên theo cách mà các nhu cầu về kinh tế, xã hội và thẩm mỹ có thể được đáp ứng mà vẫn duy trì được tính nguyên vẹn về văn hóa, các quá trình sinh thái quan trọng, sự đa dạng sinh học và các hệ thống hỗ trợ cuộc sống
Như nhiều định nghĩa về phát triển bền vững cho thấy các lĩnh vực kinh tế, sinh thái và xã hội đều gắn kết với nhau Điều quan trọng là sự phát triển du lịch bền vững
đó có hiệu quả trong việc tham gia và cải thiện đời sống cho người dân địa phương, trong khi vẫn đề cao và bảo vệ môi trường tự nhiên Bất kỳ sự phát triển nào gây ra những bất bình đẳng hay đói nghèo hơn đều là không bền vững
Những nguyên tắc về du lịch bền vững của Tổ chức du lịch thế giới
Tổ chức du lịch thế giới đã đề ra những nguyên tắc chỉ đạo và biện pháp quản lý phát triển du lịch bền vững Những nguyên tắc này có thể áp dụng cho tất cả mọi hình thức du lịch, ở tất cả mọi loại hình, kể cả du lịch với tập thể lớn và các loại hình du lịch đặc biệt Cụ thể như sau:
2 Sử dụng tài nguyên môi trường một cách tối ưu, duy trì những quá trình sinh thái thiết yếu và hỗ trợ cho việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học
3 Tôn trọng bản sắc văn hóa xã hội của các cộng đồng ở các điểm đến, bảo
Trang 26tồn di sản văn hóa và những giá trị truyền thống trong cuộc sống của họ và tham gia vào quá trình hiểu biết và chấp nhận các nền văn hóa khác
4 Bảo đảm những hoạt động kinh tế lâu dài, đem lại lợi ích kinh tế, xã hội, phân phối công bằng hợp lý cho tất cả mọi thành viên và góp phần xóa đói giảm nghèo cho các cộng đồng nơi khách du lịch tới
5 Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi phải có thông tin để tất cả mọi người liên quan có thể tham gia, đồng thời phải có sự lãnh đạo chính trị vững mạnh để bảo đảm sự tham gia và đồng thuận của mọi người Thực hiện du lịch bền vững là một quá trình liên tục, đòi hỏi luôn phải điều chỉnh những tác động ảnh hưởng, áp dụng những biện pháp phòng ngừa và điều chỉnh bất kỳ khi nào cần thiết
6 Du lịch bền vững cần thường xuyên duy trì sự thỏa mãn cao độ của khách
du lịch, bảo đảm những hoạt động có ý nghĩa cho khách du lịch, nâng cao nhận thức của họ về những vấn đề thuộc về bền vững
Đã có sự nhầm lẫn về ý nghĩa của du lịch bền vững ở một số nước do cách sử dụng thuật ngữ “du lịch sinh thái” đồng nghĩa với “du lịch bền vững” Đúng là du lịch sinh thái bao gồm cả những nguyên tắc về sự bền vững, nhưng rõ ràng đó là một sản phẩm đặc biệt Đó là du lịch ở những vùng miền tự nhiên, thường liên quan đến quá trình trải nghiệm ở vùng tài nguyên thiên nhiên hay một vùng văn hóa, hỗ trợ cho việc bảo tồn của những cộng đồng bản địa, và thường được tổ chức cho những nhóm nhỏ Phát triển du lịch sinh thái có thể là một công cụ hữu ích trong những chiến lược rộng lớn hơn, cho du lịch bền vững hơn, theo như giải thích tại bản Tuyên bố Quebec về Du lịch sinh thái, năm 2002
Tổ chức Du lịch Thế giới đã đưa ra những nguyên tắc đầy đủ về du lịch bền vững với điểm nhấn là sự cần thiết phải thúc đẩy du lịch bền vững Nói một cách đơn giản, có thể coi du lịch bền vững là:
“Hoạt động du lịch có suy tính đầy đủ đến những ảnh hưởng kinh tế, xã hội và môi trường hiện nay và mai sau, đến nhu cầu của khách du lịch, của ngành du lịch, của môi trường và của sự phát triển các cộng đồng”
Thúc đẩy du lịch bền vững có nghĩa là xem xét những ảnh hưởng và nhu cầu đó trong việc xây dựng kế hoạch phát triển và triển khai các hoạt động du lịch Đây là một quá trình cải thiện liên tục, được áp dụng đồng đều trong những hoạt động du lịch ở thành phố, danh lam thắng cảnh, nông thôn, bãi biển, miền núi và những khu vực bảo tồn, cũng có thể áp dụng cho mọi hình thức du lịch kinh doanh và du lịch nghĩ dưỡng
Các mục tiêu trong chương trình du lịch bền vững
12 mục tiêu trong chương trình của du lịch bền vững là:
Trang 271 Hiệu quả kinh tế: Đảm bảo tính hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh để các doanh nghiệp và các điểm du lịch có khả năng tiếp tục phát triển phồn thịnh và đạt lợi nhuận lâu dài
2 Sự phồn thịnh cho địa phương: Tăng tối đa đóng góp của du lịch đối với sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế địa phương tại các điểm du lịch, bao gồm phần tiêu dùng của khách du lịch được giữ lại địa phương
3 Chất lượng việc làm: Tăng cường số lượng và chất lượng việc làm tại địa phương do ngành du lịch tạo ra hoặc được ngành du lịch hỗ trợ, bao gồm mức thu nhập, điều kiện và khả năng dịch vụ, không có sự phân biệt đối xử về giới, chủng tộc, tôn giáo…
4 Công bằng xã hội: Cần có sự phân phối lợi ích kinh tế và xã hội thu được từ hoạt động du lịch một cách công bằng và rộng rãi cho tất cả những người trong cộng đồng đáng được hưởng, kể cả những cơ hội để cải thiện cuộc sống, nâng cao mức thu nhập và cung cấp dịch vụ cho người nghèo
5 Sự thỏa mãn của khách du lịch: Cần cung cấp những dịch vụ an toàn, thỏa mãn đầy đủ những yêu cầu của khách du lịch, không phân biệt đối xử về giới, chủng tộc, tôn giáo…
6 Khả năng kiểm soát của địa phương: Thu hút và trao quyền cho các cộng đồng địa phương trong việc xây dựng kế hoạch và đề ra quyết định về quản lý du lịch và phát triển du lịch trong tương lai tại địa phương, có sự tham khảo tư vấn của các thành phần hữu quan khác
7 An sinh cộng đồng: Duy trì và tăng cường chất lượng cuộc sống của người dân địa phương, bao gồm cơ cấu tổ chức xã hội và cách thức tiếp cận các nguồn tài nguyên, hệ thống hỗ trợ đời sống, tránh làm suy thoái và khai thác quá mức môi trường cũng như xã hội dưới mọi hình thức
8 Đa dạng văn hóa: Tôn trọng và tăng cường giá trị các di sản lịch sử, bản sắc văn hóa, truyền thống và những bản sắc đặc biệt của cộng đồng tại các điểm
Trang 2812 Môi trường trong lành: Giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước, đất và rác thải từ
du khách và các hãng du lịch
Trên đây không phải là thứ tự ưu tiên của 12 mục tiêu Tất cả các mục tiêu đều quan trọng ngang nhau Nhiều mục tiêu chứa đựng sự kết hợp tương tác các yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội, cụ thể như những ví dụ dưới đây:
- Tính hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch phụ thuộc rất nhiều vào việc duy trì chất lượng của môi trường địa phương
- Đáp ứng yêu cầu của khách du lịch là làm cho họ hài lòng và tạo nên những
cơ hội cho cộng đồng địa phương (mục tiêu xã hội) Đây cũng là yếu tố rất quan trọng cho sự bền vững về kinh tế
- Đa dạng về bản sắc văn hóa thường được xem xét trong phạm vi bền vững xã hội, nhưng nó mang nhiều khía cạnh môi trường trong xây dựng mối quan hệ tương tác giữa xã hội và tự nhiên, xây dựng văn hóa và môi trường
- Đời sống người dân địa phương được coi như một mục tiêu xã hội, nhưng lại
có liên quan chặt chẽ với việc quản lý tài nguyên môi trường, ví dụ như vấn
đề cung cấp nước sạch chẳng hạn
- Chất lượng việc làm và vấn đề bình đẳng trong xã hội, ví dụ như xóa đói giảm nghèo có liên quan chặt chẽ với những vấn đề bền vững kinh tế và bền vững xã hội
Phát triển du lịch bền vững vùng biển, đảo
Sức tải sinh thái
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới năm 1981:
«Sức tải sinh thái trong hoạt động du lịch là số lượng khách du lịch cực đại có thể viếng thăm một điểm du lịch trong cùng một thời gian mà không phải là nguyên nhân phá hủy môi trường vật lý, kinh tế và văn hóa xã hội và không làm giảm đi chất lượng, ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách»
Như vậy, sức tải sinh thái trong hoạt động du lịch là một khái niệm rộng và sức tải sinh thái được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau:
Sức tải vật lý (Physical carrying capacity)
a Khái niệm
Sức tải vật lý là giá trị giới hạn tuyệt đối về số lượng khách du lịch tại một vùng
mà nguồn lực tại đó có thể chịu đựng được Sức tải vật lý bao gồm hệ thống cung cấp điện, hệ thống cung cấp nước, hệ thống xử lý chất thải rắn, lỏng, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông vận tải…
b Thiết lập những tiêu chuẩn khi nghiên cứu về sức tải vật lý
Trang 29Khi nghiên cứu sức tải vật lý cần chú ý những tiêu chuẩn như: Diện tích khu vực, không gian sử dụng, những tác động có thể nhìn thấy được, điều kiện thời tiết, khí hậu, mỹ học, mỹ quan, chất lượng nơi ăn, ở, tiện nghi có sẵn để sử dụng, hoạt động vận tải, số người có thể được đáp ứng về tiện nghi…
c Định lượng sức tải vật lý
Khi định lượng sức tải vật lý, chúng ta cần xem xét điều kiện thay đổi về không gian và thời gian:
- Về thời gian: thời gian cao điểm, theo ngày, theo tuần, theo tháng, theo mùa…
- Về không gian: hệ số không gian, đánh giá đo lường từng đơn vị, diện tích của vùng nghiên cứu, khu vực dày đặc, tỷ số phương tiện vận tải/khách…
- Sức tải chỗ lối vào (đầu vào): khả năng phát triển về kinh tế, tài nguyên nước…
- Những tiêu chuẩn không đo được: tác động sinh thái, tác động văn hóa, ảnh hưởng đến tinh thần, tâm lý…
Sức tải môi trường (Environmental carrying capacity)
a Khái niệm
Sức tải môi trường được hiểu là số lượng cực đại khách du lịch tại một vùng có thể có được mà hệ sinh thái không bị ảnh hưởng
b Thiết lập những tiêu chuẩn khi nghiên cứu sức tải môi trường
Khi thiết lập những tiêu chuẩn về sức tải môi trường cần chú ý đến những tiêu chuẩn như: Bảo tồn sinh thái, mức độ phá vỡ về môi trường, tài nguyên động vật hoang dã, địa hình, nơi trú ẩn của động vật, thói quen của những loài nhạy cảm, sự phong phú – đa dạng sinh học, tính độc nhất của loài nhạy cảm, chỗ ẩn náu, khả năng phục hồi của hệ sinh thái, tác động của việc sử dụng lên diện tích lưu vực…
c Định lượng sức tải môi trường
Khi định lượng sức tải môi trường cần xem xét mức độ, khả năng chống chọi của vùng sinh thái Cần phải thiết lập ngưỡng giới hạn về khả năng chống chọi của vùng sinh thái
Xem xét những tác động bao gồm: xói mòn đất, ô nhiễm nguồn nước, sự lở đất, hủy diệt những giống loài đặc biệt…
Sức tải xã hội (Social carrying capacity)
a Khái niệm
Sức tải xã hội là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống văn hóa – xã hội của khu vực,
Trang 30cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có nguy cơ bị phá vỡ, bị tác động theo chiều hướng tiêu cực
b Thiết lập những tiêu chuẩn khi nghiên cứu về sức tải xã hội
Khi nghiên cứu sức tải xã hội cần phải tìm hiểu, đánh giá sự lựa chọn, thăm dò
ý kiến, xem xét hành vi và thái độ, sự ưa chuộng và mong đợi, nhận thức và hưởng ứng, hoạt động của du khách, mức độ chấp nhận về sự đông đúc của du khách, những vấn đề xã hội của cộng đồng địa phương…
c Định lượng sức tải xã hội
• Thiết lập bảng hỏi để phỏng vấn
Mối quan hệ giữa mức độ hoặc tham số quản lý và tham số kinh nghiệm, sự hài lòng hoặc chấp nhận về các loại hình, kinh nghiệm của dịch vụ du lịch cung cấp, sự hài lòng về mức độ thích hợp theo tham số kinh nghiệm…
Nắm bắt những tư liệu về hoạt động của du khách, cũng như sự mong đợi và sự hài lòng của du khách Sau đó thiết lập ngưỡng giới hạn có thể chấp nhận được để tiến hành đánh giá
b Thiết lập những tiêu chuẩn khi nghiên cứu sức tải kinh tế
Cần chú ý đến những tiêu chuẩn về: sự đầu tư trong hoạt động du lịch, số lượng
du khách, giá thành của một kỳ nghỉ (giá tour), mức độ lợi ích về phân phối thu nhập cho các thành phần kinh tế tham gia du lịch, sự hài lòng về dịch vụ lưu trú…
c Định lượng sức tải kinh tế
Việc định lượng sức tải kinh tế có thể dựa vào tổng giá trị đầu tư về cơ sở hạ tầng trong du lịch, giá thành của một tour du lịch có quá đắt hay không, mức độ chấp nhận về giá cả tăng lên như giá đất, giá thuê nhà, giá các dịch vụ khác của du khách và cộng đồng địa phương như thế nào khi du lịch ở nơi đó được phát triển…
Sức tải đối với hoạt động du lịch biển
Vùng ven biển
Trang 31Mô hình tổng quát về những tác động du lịch có liên quan với các dạng sức tải khác nhau ở 4 khu vực khác nhau của bờ biển được khái quát hơn như sau: từ đất liền tiến ra phía bờ biển, ta có 4 vùng với các dịch vụ du lịch và các loại sức tải tương ứng như sau:
1) Vùng nội địa (khu vực cung cấp dịch vụ và tiện nghi cho du khách), chú ý sức tải vật lý;
2) Cồn cát (khu vực chuyển tiếp, dành cho lối đi), chú ý sức tải môi trường; 3) Bãi biển (khu vực diễn ra các hoạt động nghỉ ngơi và giải trí), chú ý sức tải xã hội;
4) Biển (khu vực diễn ra các hoạt động vui chơi giải trí), chú ý sức tải môi trường (xem hình 1.1)
Tuy nhiên, việc đánh giá sức tải sinh thái cho vùng ven bờ chưa được ứng dụng rộng rãi và gặp nhiều khó khăn do khả năng tải của vùng ven bờ còn bị chi phối bởi những tác động về môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội khác
Khi đánh giá sức tải sinh thái trong hoạt động du lịch biển, chúng ta có thể dựa vào giản đồ trên như là một khung nghiên cứu cho sự lựa chọn đánh giá các dạng sức tải ở vùng ven bờ
Nghiên cứu về sức tải
Môi trường ven biển
tiện nghi cho du
Sức tải môi trường
Hình 2.1 Giản đồ mô tả mối quan hệ không gian giữa hệ thống lãnh thổ du lịch, môi
trường ven bờ và khả năng mang tải du lịch theo Pearce và Kirk 1986
Nguồn: UNEP Industry and Environment/February/March 1986
Vùng đảo
Trang 32Khi đánh giá sức tải sinh thái trong hoạt động du lịch cho một vùng đảo, chúng
ta có thể dựa vào những chỉ số dùng để đánh giá sức tải ở đảo Vis (Croatia) thuộc vùng biển Địa Trung Hải (tham khảo từ nguồn: PAP/RAC, 1991) Những chỉ số chính này bao gồm: diện tích mặt nước (km2), số dân cư trú, mật độ dân số, tổng số giường khách, tổng số giường trong khách sạn và cơ sở tương tự, tổng số giường ở những cơ
sở dự phòng, tỷ lệ phần trăm số khách sạn và cơ sở tương tự đủ tiện nghi trong tổng số
cơ sở dịch vụ, số chỗ trong những cơ sở giải trí, tổng số khách du lịch, tổng số khách nước ngoài, tổng số khách lưu trú qua đêm, tỷ lệ số khách nước ngoài trong tổng số khách qua đêm, tỷ lệ số khách lưu trú qua đêm trong mùa cao điểm, hệ số luân chuyển (số ngày trong một năm), thời gian lưu trú trung bình, tổng số dân có việc làm, số dân làm việc phục vụ trong giải trí và du lịch, phần trăm số người có việc làm trong tổng
số dân, phần trăm số người hoạt động trong ngành du lịch trong tổng số dân có việc làm, tổng thu nhập GNP, tổng thu nhập từ giải trí và du lịch, thu nhập bình quân đầu người, GNP trên mỗi người dân địa phương, thu nhập từ du lịch và dịch vụ trên mỗi lao động trong hai ngành này, số gia đình phụ thuộc, số giường trên mỗi dân thường trú, số giường trong toàn bộ cơ sở đủ tiện nghi cho mỗi 100 dân thường trú, số giường trên mỗi 1km2, số chỗ trong cơ sở giải trí cho mỗi 100 dân, số du khách cho mỗi dân thường trú, số khách qua đêm trên mỗi du khách
• Các chỉ số cần lưu ý khi đánh giá sức tải
1) Chỉ số về sinh thái – tự nhiên
Chỉ số về sinh thái tự nhiên là sự hợp thành của tất cả những chỉ số cố định và biến động của môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Những chỉ số này bao gồm sức tải về sinh thái, sức tải của các di sản thiên nhiên, chiều dài vùng ven bờ, môi trường khí hậu…
Xem xét những thông số biến động trước hết là hệ thống cơ sở hạ tầng, đó là nguồn cung cấp nước, hệ thống thoát nước, cung cấp điện và gas, giao thông vận tải (đường giao thông riêng biệt), dịch vụ công cộng (dịch vụ bưu điện và thông tin liên lạc, dịch vụ y tế, dịch vụ pháp luật và nhân phẩm, ngân hàng, mua sắm và những dịch
vụ khác)
2) Chỉ số về nhân khẩu – xã hội
Bao gồm tất cả những yếu tố có liên quan và ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng như nơi ở của cộng đồng dành cho khách du lịch và mối quan hệ giữa cộng đồng và khách du lịch Không giống như những chỉ số về nhân khẩu học phổ biến tương đối dễ dàng khi thu thập và đánh giá (nguồn nhân lực, trình độ nhân công lao động), những chỉ số về văn hóa, xã hội, cụ thể như tính đồng nhất của cộng đồng địa phương, kinh
Trang 33nghiệm du lịch, khả năng tiếp nhận nguồn lao động mới và du khách mới đến của cộng đồng địa phương… khá trừu tượng và không dễ dàng để có thể thu thập và đánh giá 3) Thông số về kinh tế – chính trị
Chủ yếu bao gồm dự kiến vốn đầu tư và tác động kinh tế khi phát triển du lịch Lấy ví dụ nguồn cung cấp nước là giới hạn chính để phát triển Nếu chính quyền quản
lý tạo cơ hội đầu tư xây dựng những đường ống dẫn mới, tạo điều kiện cho những nhà đầu tư có tiềm năng trong du lịch, sau đó việc xác định khả năng cung cấp nguồn nước nên dựa vào tình trạng của những đường ống mới đã được lắp đặt hơn là tình trạng đã
có Tương tự vấn đề này, những giới hạn liên quan đến nguồn nhân sự, lấy ví dụ nên điều chỉnh lại nếu các văn bản chính thức của chính quyền đề nghị di dân tới một khu vực sẽ được khuyến khích (chẳng hạn như một vài hòn đảo), và nếu cư dân địa phương bằng lòng chấp nhận những người mới đến
Thông số vật lý – sinh thái – cơ sở hạ tầng Thông số nhân khẩu – xã hội
Những nhân tố kinh tế – chính trị
Hình 1.2 Những nhóm chỉ số quan trọng trong đánh giá sức tải
Một số công thức để tính toán sức tải
Sức tải tiềm năng (Potential Carrying capacity - PCC)
Việc định lượng sức tải sinh thái trong hoạt động du lịch khá phức tạp Khó có thể ứng dụng một công thức riêng cho các dạng sức tải khác nhau cũng như cho các dạng du lịch tương tự ở những vùng khác nhau trên thế giới do có sự khác nhau về điều kiện địa lý, sinh thái và cả điều kiện chính trị, kinh tế và văn hóa, xã hội Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này, nhằm xác định được sức tải cho các điểm du lịch biển, chúng ta có thể lựa chọn các công thức dưới đây để xác định, tính toán sức tải
Mathieson, Wall (1982) và Innskeep (1991) đưa ra 3 công thức tính toán sức tải
như sau:
Sức tải thường xuyên
CPI =
a AR
(1)
Trang 34Trong đó:
CPI : Sức tải thường xuyên (Instantaneous carrying capacity)
AR : Diện tích của khu vực (Size of area)
a : Tiêu chuẩn không gian (Diện tích cần cho một người)
Sức tải hàng ngày
(2)
ARxTR a
CPD = CPI x TR =
Trong đó:
CPD : Sức tải hàng ngày (Daily capacity)
TR : Công suất sử dụng mỗi ngày (Turnover rate of users per day)
Sức tải hàng năm
Trong đó:
CPY : Sức tải hàng năm (Yearly capacity)
PR : Ngày sử dụng (Tỷ lệ ngày sử dụng liên tục trong năm),
(Sử dụng cả đêm 1/365 x OR)
OR: : Công suất sử dụng giường (Occupancy rate)
Theo Boullón (1985) đưa ra công thức tính toán sức tải như sau:
Tổng diện tích sử dụng cho du lịch
(4) Sức tải =
Tiêu chuẩn trung bình cho một du khách Tổng lượng khách đến hàng ngày = sức tải x hệ số luân chuyển (5)
Giờ mở cửa (hoặc thời gian hoạt động) Thời gian tham quan trung bình của một khách
Hệ số luân chuyển =
(6)
PR a
TR AR PR
CPD
×
×
=CPY =
Nhìn chung, qua những công thức trên ta thấy rằng việc xác định tiêu chuẩn trung bình cho một du khách có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ về mặt sinh thái, vật
lý, môi trường và cả về mặt kinh tế Chúng ta có thể sử dụng công thức tính toán sức tải của Boullón (1985) để làm cơ sở cho việc đánh giá, tính toán sức tải sinh thái cho các điểm du lịch ở đảo Phú Quốc
Do khái niệm sức tải bao gồm cả định tính và định lượng vì vậy khó có thể xác định một con số chính xác về sức tải cho một khu vực Mặt khác mỗi khu vực khác
Trang 35nhau sẽ có những chỉ số sức tải khác nhau Các chỉ số này có thể xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm
Tuy nhiên, phải thừa nhận việc xác định sức tải sinh thái của một điểm du lịch là một công việc phức tạp và không thể có được một số định lượng chính xác Phân tích sức tải không thể thay thế công tác đánh giá chi tiết tác động kinh tế – xã hội và môi trường của hoạt động phát triển du lịch
Sức tải thực (Real Carrying capacity - RCC)
Các công thức tính toán sức tải mà chúng tôi đã trình bày ở trên chỉ là sức tải ở dạng tiềm năng Việc xác định sức tải thực tại một điểm du lịch còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác đó là những hệ số hiệu chỉnh (Corrective factor – Cf) Những hệ
số hiệu chỉnh này có thể xác định được bằng cách tính toán những biến số sinh lý, môi trường, sinh thái, xã hội và quản lý
Công thức tính toán sức tải thực (RCC):
1 2 100
n Cf
(7) Trong đó:
PCC: Sức tải tiềm năng
M1: Cường độ giới hạn của biến số (Limiting magnitude of the variable)
Mt: Tổng cường độ của biến số (Total magnitude of the variable)
Như vậy, khi nghiên cứu sức tải thực, chúng ta cần chú ý phân tích các yếu tố: sức tải theo không gian, sức tải theo thời gian và tính toán sức tải sinh thái cũng phải chú ý đến những hệ số hiệu chỉnh đã trình bày
Phân tích, đánh giá sức tải sinh thái cần phải chú ý đến mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau giữa các yếu tố về hoạt động du lịch, các nhà ủng hộ môi trường và cộng đồng, chính quyền địa phương Ngành công nghiệp du lịch sẽ có tác động đến cộng đồng địa phương, chính quyền địa phương, cần phải tạo điều kiện cho hoạt động du lịch phát triển, đồng thời những người ủng hộ bảo vệ môi trường phải đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực của du lịch đến môi trường Khi và chỉ khi 3 đối tượng này phối hợp đồng bộ lẫn nhau, lúc bấy giờ ngành công nghiệp du lịch mới thực sự
Trang 36góp phần cải thiện được chất lượng cuộc sống cho cộng đồng Sơ đồ dưới đây mô tả mối tương quan giữa du lịch – môi trường và cộng đồng địa phương trong đánh giá sức tải sinh thái nhằm hướng đến mục tiêu phát triển du lịch bền vững
Từ những cơ sở lý luận về sức tải sinh thái trong hoạt động du lịch, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu về hiện trạng hoạt động du lịch tại đảo Phú Quốc, xác định những nguy cơ và thách thức của du lịch đến môi trường biển làm cơ sở cho việc đánh giá sức tải sinh thái cho các điểm du lịch nơi đây
Công nghệ
du lịch
Những người ủng
hộ môi trường
Cộng đồng/chính quyền địa phương
Cải thiện chất lượng cuộc sống
Xây dựng chiến lược
Việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững tại đảo Phú Quốc được thực hiện theo một chu trình khép kín, bao gồm các giai đoạn sau:
2 Phân tích hiện trạng
7 Giám sát
và lượng giá
6 Xây dựng
Trang 37Hình 1.4 Tiến trình xây dựng chiến lược
Trang 381.3.1 Thiết lập tầm nhìn
Tầm nhìn để xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững cho huyện đảo Phú Quốc được xác định căn cứ vào Quyết định 178/2004/QĐ - TTg, Quyết định 1197/2005/QĐ - TTg, và Quyết định 14/2006/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng và phát triển bền vững đảo và giao thông Phú Quốc đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
ho huyện đảo Phú Quốc được xác định căn cứ vào Quyết định 178/2004/QĐ - TTg, Quyết định 1197/2005/QĐ - TTg, và Quyết định 14/2006/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng và phát triển bền vững đảo và giao thông Phú Quốc đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Theo Quyết định 178/2004/QĐ - TTg và Hội nghị triển khai Quyết định trên vào tháng 10/2006, sẽ ưu tiên cho Phú Quốc phát triển kinh tế - xã hội bền vững gắn với giữ gìn cảnh quan và môi trường sinh thái; tập trung xây dựng đảo Phú Quốc thành trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng, giao thương quốc tế lớn, hiện đại của vùng ĐBSCL, từng bước hình thành một trung tâm du lịch, giao thương mang tầm cỡ khu vực, quốc tế; tập trung ưu tiên phát triển du lịch và từng bước hình thành khu du lịch chất lượng cao theo quy hoạch Phú Quốc được áp dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi cao nhất
mà Nhà nước ban hành về khuyến khích đầu tư trong nước, ngoài nước, phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất… cho các khu kinh tế cửa khẩu, khu kinh tế thương mại tự
do, khu kinh tế mở
Theo Quyết định 178/2004/QĐ - TTg và Hội nghị triển khai Quyết định trên vào tháng 10/2006, sẽ ưu tiên cho Phú Quốc phát triển kinh tế - xã hội bền vững gắn với giữ gìn cảnh quan và môi trường sinh thái; tập trung xây dựng đảo Phú Quốc thành trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng, giao thương quốc tế lớn, hiện đại của vùng ĐBSCL, từng bước hình thành một trung tâm du lịch, giao thương mang tầm cỡ khu vực, quốc tế; tập trung ưu tiên phát triển du lịch và từng bước hình thành khu du lịch chất lượng cao theo quy hoạch Phú Quốc được áp dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi cao nhất
mà Nhà nước ban hành về khuyến khích đầu tư trong nước, ngoài nước, phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất… cho các khu kinh tế cửa khẩu, khu kinh tế thương mại tự
do, khu kinh tế mở
Khái niệm PTBV và PTDLBV
Bộ chỉ số PTDLBV đảo
D P S I R
Xây dựng Bộ chỉ số PTBVDL đảo Phú Quốc
Đánh giá hiện trạng kinh tế-xã hội-môi trường sử dụng Bộ chỉ
số PTDLBV đảo
Xây dựng chiến lược PTBVDL cho đảo Phú Quốc dựa trên kết quả đánh giá hiện trạng
S W O T
Chiến lược PTBVDL cho đảo Phú Quốc
Bộ chỉ số PTBVDL đảo Phú Quốc
Báo cáo, phân tích hiện trạng kinh tế-xã hội-môi trường đảo
Hình 1.5 Từ phân tích hiện trạng đến xây dựng chiến lược
Trang 39Trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững, sẽ sử dụng Bộ chỉ
số làm cơ sở để đánh giá hiện trạng môi trường, kinh tế và xã hội của huyện đảo Phú Quốc, đồng thời cũng là cơ sở để xây dựng chiến lược và đánh giá tiến trình thực hiện chiến lược sau này
Về chức năng của Bộ chỉ số, JoAnne DiSano, giám đốc Ban phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc (Division of Sustainable Development), trong báo cáo “Bộ chỉ số phát triển bền vững: tài liệu hướng dẫn và phương pháp luận” (Indicators of sustainable development: guidelines and methodologies), trình bày như sau: “Bộ chỉ số
hỗ trợ tiến trình ra quyết định theo nhiều cách khác nhau Bộ chỉ số có thể diễn dịch các kiến thức khoa học tự nhiên và xã hội thành những đơn vị thông tin có thể quản lý được để hỗ trợ việc ra quyết định, đo lường những thay đổi trong tiến trình tiến đến các mục tiêu phát triển bền vững Bộ chỉ số cảnh báo sớm đối với những thiệt hại về kinh tế, xã hội và môi trường, là những công cụ để truyền thông các tư tưởng và giá trị”
Tiến trình xây dựng Bộ chỉ số phát triển bền vững của Ủy ban phát triển bền vững (Committee on Sustainable Development, viết tắt là CSD) của Liên Hiệp Quốc
cụ thể như sau:
Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất thừa nhận vai trò quan trọng của
Bộ chỉ số trong việc giúp các quốc gia thực hiện những quyết định về phát triển bền vững Sự thừa nhận này được ghi trong chương 40 của Agenda (Chương trình nghị sự)
21, trong đó kêu gọi các quốc gia, và các tổ chức quốc tế, tổ chức phát triển chính phủ
và phi chính phủ nhận dạng Bộ chỉ số về phát triển bền vững để làm cơ sở vững chắc
để chính quyền các cấp có thể ra các quyết định liên quan Hơn nữa, Agenda 21 kêu gọi sự kết hợp và dung hòa các nỗ lực để xây dựng các Bộ chỉ số phát triển bền vững ở cấp độ quốc gia, vùng và toàn cầu Mỗi cấp độ sẽ có một Bộ chỉ số chung thích hợp nhất, thường xuyên được cập nhật và có những dữ liệu và thông tin có thể dễ dàng tiếp cận
Đáp ứng lại lời kêu gọi này, năm 1995, Ủy ban về Phát triển bền vững (CSD)
đã xây dựng Chương trình xây dựng các chỉ số phát triển bền vững và kêu gọi các tổ
Trang 40chức trong hệ thống Liên hiệp quốc, các tổ chức quốc tế và phi chính phủ tham gia thực hiện các hợp phần chính của chương trình này
Mục tiêu chính của Chương trình là thiết kế các chỉ số phát triển bền vững Những chỉ số này phải tiếp cận được các nhà ra quyết định cấp quốc gia với những định nghĩa, chỉ dẫn, giải thích phương pháp luận, tập huấn và các hoạt động cần thiết khác Cùng lúc, các chỉ số được các quốc gia sử dụng trong các chính sách của quốc gia có thể được sử dụng trong những báo cáo cấp quốc gia lên Ủy ban về phát triển bền vững và các Ủy ban khác của Liên Hiệp Quốc
Cuộc họp đặc biệt của Hội Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1997 để đánh giá kết quả 5 năm từ sau cuộc họp Thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển (1992) cũng khẳng định tầm quan trọng của Chưong trình thiết kế Bộ chỉ số phát triển bền vững trong việc đi đến một Bộ chỉ số thực tế và đạt được sự thống nhất, thích hợp với các điều kiện của từng quốc gia và có thể được sử dụng để giám sát tiến trình đi đến phát triển bền vững ở cấp quốc gia
Qui trình xây dựng Bộ chỉ số phát triển bền vững gồm các hợp phần chính sau:
1 Thúc đẩy sự trao đổi thông tin giữa các bên liên quan về hoạt động nghiên cứu, xây dựng phương pháp luận liên quan các chỉ số phát triển bền vững trong đó bao gồm việc thành lập bộ dữ liệu có thể tiếp cận miễn phí (từ 1995
và đang tiếp tục)
2 Phát triển các tài liệu về phương pháp luận trong đó mô tả các chính sách liên quan, các phương pháp luận cơ sở, đánh giá tính khả thi của dữ liệu và nguồn thông tin của từng chỉ số (1995 - 1996)
3 Tập huấn và nâng cao năng lực cấp khu vực và cấp quốc gia về việc sử dụng các chỉ số để giám sát tiến trình phát triển bền vững (1995 - 1999)
4 Thử nghiệm các chỉ số và giám sát việc áp dụng Bộ chỉ số tại một số quốc gia, đánh giá tính ứng dụng thực tiễn và tiếp tục phát triển Bộ chỉ số này (1996 - 1999)
Africa Ghana, Kenya, Morocco, South Africa, Tunisia
Asia and the Pacific China, Maldives, Pakistan, Philippines
Europe Austria, Belgium, Czech Republic, Finland, France, Germany,
United Kingdom Americas and the