Cần nói thêm rằng để thực hiện mục tiêu bình đẳng nam nữ và công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường cần chú ý nghiên cứu nhằm góp phần làm thay đổi căn bản đời sống vật chất
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM ĐẠI HỌC KHXH&NV
TRẦN THỊ THUẬN HẢI
VAI TRÒ PHỤ NỮ KHMER NGHÈO TRONG ĐỜI SỐNG KINH TẾ - VĂN HÓA -XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
TP.HCM- 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM ĐẠI HỌC KHXH&NV
TRẦN THỊ THUẬN HẢI
VAI TRÒ PHỤ NỮ KHMER NGHÈO TRONG ĐỜI SỐNG KINH TẾ - VĂN HÓA -XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
Chuyên ngành: Địa lý học
Mã số: 60.31.95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS THÁI THỊ NGỌC DƯ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn trước hết tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn Ban Giám Hiệu trường, Ban chủ nhiệm khoa Địa lý và quý thầy cô các phòng ban đã quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập
Kính gởi lời biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Cô Thái Thị Ngọc
Dư đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Gởi lời cảm ơn tới các Ban lãnh đạo, cán bộ ban xóa đói giảm nghèo, hội phụ nữ, các chị em phụ nữ Khmer trên địa bàn huyện, xã, ấp
Cho tôi kính gởi lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Ba, mẹ, chồng, chị và bạn bè những người đã hết mực quan tâm, giúp đỡ, ủng hộ, động viên cả về vật chất lẫn tinh thần để tôi hoàn thành khóa luận
Tp Hồ Chí Minh, ngày…… Tháng……năm……
HVCH
Trần Thị Thuận Hải
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này là do bản thân tự nghiên cứu và thực hiện theo sự hướng dẫn khoa học của TS Thái Thị Ngọc Dư
Các số liệu, kết quả điều tra nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính pháp lý quá trình nghiên cứu khoa học của luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2009
Người Cam Đoan
Trần Thị Thuận Hải
Trang 6MỤC LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Sự khác biệt thể hiện qua việc phân loại giới tính và giới 21 Bảng 2.2: Người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long 35
Bảng 2.3: Tiêu chí xếp hộ nghèo của người Khmer ấp Chắc Tưng, xã Tài Văn 49
Bảng 2.4: Những khó khăn mà các hộ phụ nữ Khmer nghèo huyện Mỹ Xuyên gặp
phải 52
Bảng 2.5: Những biện pháp đối phó của người nghèo huyện Mỹ Xuyên 54
Bảng 2.6: Tổng hợp xếp hạng các tổ chức mà các hộ phụ nữ Khmer nghèo được
tiếp cận 57
Bảng 3.7: Tỷ lệ sử dụng đất nông nghiệp của hộ Khmer nghèo tại ba xã nghiên
cứu ( đơn vị:%) 64
Bảng 3.8: Phân loại nhà ở trên địa bàn tại 3 xã nghiên cứu (đơn vị:%) 67
Bảng 3.9: Tình trạng nhà ở của hộ Khmer nghèo tại ba xã nghiên cứu (đơn vị:%)
Bảng 3.12: Phân công lao động trong công việc sản xuất (đơn vị: %) 79
Bảng 3.13: Hộ gia đình phụ nữ Khmer tham gia các hoạt động của địa phương
(đơn vị: tỷ lệ %) 80
Bảng 3.14: Phân công lao động trong gia đình phụ nữ Khmer nghèo (đơn vị:%)
82
Bảng 3.15: Phân biệt giữa phụ nữ và nam giới hoạt động trong 24 giờ của hộ
Khmer nghèo trên địa bàn nghiên cứu 82
Bảng 3.16: Vai trò của phụ nữ Khmer trong quyết định nguồn vay (đơn vị: %) 86
Trang 7Bảng 3.17: Mức độ tiếp cận nguồn vốn vay của phụ nữ Khmer nghèo (đơn vị:%)
88
Bảng 3.18: Tỷ lệ tham gia của phụ nữ Khmer nghèo trong các lớp tập huấn ở 3 xã
nghiên cứu (đơn vị:%) 90
Bảng 3.19: Mức độ tiếp nhận thông tin và hưởng thụ văn hóa của người nghèo
(đơn vị:%) 91
Bảng 3.20: Các biện pháp áp dụng tránh thai của hộ phụ nữ Khmer huyện Mỹ
Xuyên (đơn vị:%) 93
Bảng 3.21: Mức độ quyết định chung của các thành viên trong gia đình tại ba xã
nghiên cứu (đơn vị:%) 95
Bảng 3.22: Mức độ đóng góp của các thành viên trong gia đình Khmer (đơn vị:
%) 96
Bảng 4.23: Nhận định về nguyên nhân nghèo so với các hộ khác trong ấp của 3 xã
nghiên cứu (đơn vị %) 116
Bảng 4.24: Nhận định chung theo mức độ dẫn đến nghèo của hộ phụ nữ Khmer tại
3 xã nghiên cứu (đơn vị %) 117
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
+ BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Nguồn nước dùng cho sinh hoạt của hộ Khmer nghèo chia theo 3 địa
bàn (theo số liệu khảo sát tháng 1/2008) 71
Biểu đồ 3.2: Thể hiện sự phân chia giấy chứng nhận quyền sử dụng đất canh tác
và đất thổ cư của các hộ gia đình Khmer nghèo (đơn vị:%) 99
+ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Vòng luẩn quẩn đói nghèo của hộ phụ nữ Khmer nghèo 50
Sơ đồ 3.2: Vấn đề không được đi học của con em phụ nữ Khmer nghèo 74
Sơ đồ 4.3: Vấn đề “ nghèo đói” của hộ Khmer của hộ Khmer nghèo 118
Trang 9DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH
+ BẢN ĐỒ
Bản đồ hành chính tỉnh Sóc Trăng
Bản đồ hành chính huyện Mỹ Xuyên
Bản đồ hành chính xã Viên Bình
Bản đồ hành chính xã Tham Đôn
Bản đồ hành chính xã Tài Văn
+ HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Hội đua ghe ngo mừng lễ Ooc-om-boc của đồng bào Khmer ở Sóc
Trăng
38
Hình 2.2 : Thả đèn gió mừng lễ Ooc-om-boc của đồng bào Khmer ở Sóc Trăng 39
Hình 2.3: Quang cảnh chợ Sóc Trăng xưa kia Ngày nay, quang cảnh đã khác nhiều, mảnh đất trống phía trước là một dãy nhà nhưng kiến trúc chợ thì thì vẫn như cũ
39
Hình 2.4: Quang cảnh Thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng ngày nay .
40
Hình 2.5: Quang cảnh chợ Mỹ Xuyên xưa, huyện Mỹ Xuyên- tỉnh Sóc Trăng
41 Hình 2.6: Ủy ban nhân dân xã Tài Văn, huyện Mỹ Xuyên – Sóc Trăng 44
Hình 2.7: Nông dân trong mùa thu hoạch ở xã Tài Văn huyện Mỹ Xuyên
45
Hình 2.8: Ngành nghề thủ công ở xã Tham Đôn huyện Mỹ Xuyên-Sóc Trăng
47
Hình 2.9: Nghề dệt chiếu truyền thống của đồng bào Khmer xã Viên Bình huyện Mỹ Xuyên
48
Trang 10Hình 3.10: Ngôi chùa khang trang của đồng bào khmer xã Viên Bình huyện Mỹ
Xuyên 65
Hình 3 11 : Ngôi chùa khang trang và Sa La rộng lớn của đồng bào khmer xã
Viên Bình huyện Mỹ Xuyên 65
Hình 3.12: Lớp 8A2 trường THCS Tham Đôn (Mỹ Xuyên, Sóc Trăng) có 6/38
học sinh bỏ học, tỷ lệ 15,78% Ảnh: Xuân Lương 75
Hình 3.13: Nghề tiểu thủ công của xã Tham Đôn huyện Mỹ Xuyên 77 Hình 3.14: Nhà tình thương của đồng bào Khmer xã Tài Văn huyện Mỹ Xuyên
102
Hình 3.15: Gia đình chị L.T Siêng thực hiện chương trình Giáo dục hành động
Được sự tài trợ của Tổ chức “Bánh mì cho Thế giới” về cải thiện điều kiện sinh sống, sức khỏe và lao động sản xuất 103
Hình 3.16: Hợp tác xã nông nghiệp Evergrowth huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng
có hơn 80% xã viên là người dân tộc Khmer được dự án nâng cao đời sống nông thôn ở Sóc Trăng (Chính Phủ Canada tài trợ không hoàn lại) 104
Hình 3.17: Công khai dân chủ, nguồn vốn Chương trình 135 ở Mỹ Xuyên phát
huy hiệu quả và sử dụng đúng mục đích Trong ảnh: chuyển giao con giống cho các hộ nghèo 105
Hình 3.18: Bà con Khmer học tập kinh nghiệm của các hộ chăn nuôi giỏi ở xã
Tham Đôn huyện Mỹ Xuyên 106
Hình 3.19: Các hộ thực hiện tiêm chủng mở rộng tại Trạm Y tế xã Tài Văn (Mỹ Sóc Trăng) của Tổ chức “Bánh mì cho Thế giới” 107
Xuyên-Hình 3.20: Dự án nâng cao đời sống nông thôn (chương trình CIDA của chính
phủ Canada) hỗ trợ chăn nuôi bò sữa cho bà con đồng bào Khmer 109
Hình 3.21: Bà con Khmer được giải quyết việc làm qua các ngành công nghiệp,
tiểu thủ công huyện Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) 109
Hình 3.22: Gia đình chị Tr.T Siêng thoát nghèo nhờ Dự án nuôi bò sửa ở Xã Tài
Văn huyện Mỹ Xuyên 110
Hình 4.23: Khu chợ “tự phát” của người dân tại xã Tài Văn huyện Mỹ Xuyên 119
Trang 11Hình 4.24: Những lớp học dành cho con em đồng bào Khmer nằm trong khuôn
viên chùa Tà Mơn ở xã Viên Bình còn thiếu rất nhiều cơ sở vật chất 120
Trang 12CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLĐTBXH: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
CEMMA: Ủy ban dân tộc và miền núi (Committee for Ethnic Minorities and
Mountainous Areas)
DS-KHHGĐ: Dân số - kế hoạch hóa gia đình
Trang 13MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
DANH MỤC BẢNG 3
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ 5
DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH 6
CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
MỞ ĐẦU I Đặt vấn đề 13
II Mục tiêu – phạm vi và đối tượng nghiên cứu 14
II.1 Mục tiêu nghiên cứu 14
II.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 14
III Nội dung nghiên cứu 15
IV Câu hỏi nghiên cứu 15
V Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 15
VI Phương pháp nghiên cứu 15
VI.1 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý tài liệu 17
VI.2 Phương pháp khảo sát thực địa 17
VI.3 Phương pháp điều tra xã hội học 17
VI.4 Phương pháp phân tích giới 18
VI.5 Phương pháp đánh giá nông thôn nhanh cùng tham gia (PRA) 18
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỚI VÀ GIẢM NGHÈO 19
1.1 Khái niệm về giới 19
1.2 Quan niệm từ “Phụ nữ trong phát triển” đến “ giới và phát triển” 22
1.3 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến nghèo và xóa đói giảm nghèo 24
1.3.1 Khái niệm về nghèo 24
Trang 141.3.2 Khái niệm giảm nghèo 27
1.4 Tiêu chí xác định chuẩn nghèo 29
1.4.1 Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của quốc tế 29
1.4.2 Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của Việt Nam 30
(i) Quá trình hình thành chuẩn nghèo 30
(ii) Chuẩn nghèo nhìn từ góc độ giới 32
(iii) Tiêu chí xác định xã nghèo 33
(iv) Hộ nghèo 33
1.5 Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của tỉnh Sóc Trăng 34
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC HỘ KHMER NGHÈO TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG 35
2.1 Tổng quan về tỉnh Sóc Trăng và cộng đồng Khmer 35
2.1.1 Sự hình thành cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ 35
2.1.2 Đặc điểm chung về dân tộc Khmer 36
2.1.3 Vài nét đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng 37
2.2 Tổng quan về huyện Mỹ Xuyên tỉnh Sóc Trăng 39
2.2.1 Tỉnh Sóc Trăng 39
2.2.2 Huyện Mỹ Xuyên 41
2.2.2.1 Đặc trưng kinh tế huyện Mỹ Xuyên 42
2.2.2.2 Đặc điểm văn hóa – xã hội của huyện Mỹ Xuyên 42
2.2.3 Đặc điểm kinh tế-xã hội của 3 xã của huyện Mỹ Xuyên 44
(i) Xã Tài Văn 44
(ii) Xã Tham Đôn 46
(iii) Xã Viên Bình 47
2.3 Vấn đề đói nghèo của các hộ phụ nữ Khmer huyện Mỹ Xuyên 49
Trang 152.3.1 Nhận diện hộ Khmer nghèo với sự tham gia cộng đồng 49
2.3.2 Biện pháp đối phó của hộ nghèo trên địa bàn nghiên cứu 53
2.3.3 Mạng lưới an sinh đối với hộ Khmer nghèo trên địa bàn nghiên cứu 56
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ SỰ CHUYỂN BIẾN VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ KHMER TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ 59
3.1 Thực trạng chung của các gia đình phụ nữ Khmer nghèo trên địa bàn nghiên cứu 59
3.1.1 Những hộ nghèo qua đặc điểm nhân khẩu học 59
3.1.2 Đặc điểm kinh tế và việc làm 62
3.1.2.1 Về ruộng đất 62
3.1.2.2 Nhà ở và phương tiện sinh hoạt 64
3.1.2.3 Điện, nước và điều kiện vệ sinh 70
3.1.3 Đặc điểm văn hóa và xã hội 72
3.2 Tình hình tham gia và sự chuyển biến vai trò của phụ nữ Khmer nghèo trong đời sống kinh tế và xã hội 76
3.2.1 Tình hình tham gia của phụ nữ Khmer nghèo 76
3.2.1.1 Phụ nữ trong lao động sản xuất 76
3.2.1.2 Phụ nữ tham gia vào sinh hoạt cộng đồng và tổ chức đoàn thể 80 3.1.2.3 Sự tham gia của phụ nữ trong gia đình 81
3.1.2.4 Phụ nữ Khmer tiếp cận và sử dụng nguồn vốn 85
3.1.2.5 Sự tham gia của phụ nữ trong văn hóa và xã hội 90
3.2.2 Sự chuyển biến vai trò của phụ nữ Khmer trong gia đình, cộng đồng và xã hội 94
3.2.2.1 Chuyển biến vai trò của phụ nữ trong gia đình 94
3.2.2.1.1 Mức đóng góp và quản lý chi tiêu trong gia đình 95 3.2.2.1.2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất canh tác và đất thổ cư 98
Trang 163.2.2.2 Chuyển biến trong quan hệ cộng đồng 100
3.2.2.3 Những chuyển biến trong đời sống văn hóa và xã hội 100
3.3 Ảnh hưởng của chính sách đến việc nâng cao vai trò phụ nữ dân tộc Khmer huyện Mỹ Xuyên những năm qua 101
3.3.1 Tác động của chính sách kinh tế-xã hội đối với việc nâng cao vị trí phụ nữ Khmer nghèo 101
3.3.2 Những hạn chế của các chính sách xã hội đối với cộng đồng dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng 112
CHƯƠNG 4: ĐỀ NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP ĐÁP ỨNG NHU CẦU NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ KHMER NGHÈO TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC 116
4.1 Một vài nhận định chung 116
4.2 Những giải pháp đề xuất đáp ứng nhu cầu của phụ nữ Khmer nghèo trên địa bàn nghiên cứu 123
4.2.1 Giải pháp về vốn 124
4.2.2 Giải pháp về khuyến nông và chuyển giao khoa học kỹ thuật 126
4.2.3 Giải pháp về nguồn lực và việc làm 127
4.2.4 Nhu cầu nâng cao đời sống văn hóa-tinh thần của phụ nữ nghèo nông thôn 129
4.2.5 Nhu cầu về cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục 130
4.2.6 Tiêu thụ tốt sản phẩm nông nghiệp- nhân tố quan trọng để giúp phụ nữ nghèo 133
4.2.7 Sự kết hợp giữa chống đói nghèo và chống bất bình đẳng giới 134
KẾT LUẬN 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
PHỤ LỤC 150
Trang 17MỞ ĐẦU
I Đặt vấn đề
Tại Việt Nam, việc nghiên cứu về hiện tượng nghèo khổ ở nông thôn mới chỉ được triển khai tương đối có hệ thống trong vòng chục năm trở lại đây Điều này đáp ứng nhu cầu nhận biết các động thái của sự phân hóa các giai tầng xã hội dưới tác động của sự chuyển đổi kinh tế, làm cơ sở cho việc xác lập các chính sách
xã hội phù hợp trong điều kiện kinh tế-xã hội mới nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” Cần nói thêm rằng để thực hiện mục tiêu bình đẳng nam nữ và công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường cần chú ý nghiên cứu nhằm góp phần làm thay đổi căn bản đời sống vật chất cũng như tinh thần của người phụ nữ, mà phụ nữ nghèo ở nông thôn đặc biệt là phụ nữ các dân tộc ít người là một trong những đối tượng cần quan tâm
Họ là người vừa tham gia hoạt động sản xuất ngoài xã hội và cộng đồng, lại là người trực tiếp chăm lo công việc gia đình nên cường độ và thời gian lao động thường quá tải, trong khi mức thu nhập lại quá thấp
Phụ nữ của các dân tộc ít người trong cả nước nói chung, cũng như phụ nữ Khmer ở huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng nói riêng đều có chung hoàn cảnh khó khăn về kinh tế gia đình Trong 10 huyện, thị của tỉnh Sóc Trăng thì Mỹ Xuyên là huyện tập trung dân tộc Khmer khá đông (sau huyện Vĩnh Châu) chiếm 38% dân
số trong toàn huyện (13.985 người), tỷ lệ hộ Khmer nghèo chiếm 52, 08% so với 26,41% hộ nghèo chung toàn huyện Nguyên nhân chủ yếu là còn hạn chế về ngôn ngữ (khá nhiều người Khmer không thạo tiếng Việt), thiếu tư liệu sản xuất, không
có đất, thiếu đất hoặc đất đã bị cầm cố, sang nhượng, cộng với một phần do thiếu vốn để sản xuất, đông con, nhưng người lao động trong hộ lại ít Ngoài ra, tuy sống xen kẽ với các dân tộc khác, nhưng đặc điểm cư trú của người Khmer có những nét riêng, họ thường sống tập trung dầy đặc trong các phum, sóc trên các giồng đất cát cao, xung quanh ngôi chùa, hai bên trục lộ giao thông hoặc ven kênh rạch hay tập trung đông ở vùng sâu, vùng xa mà kết cấu hạ tầng phát triển kém, giao thông đi lại khó khăn, thiếu công trình thủy lợi, điện, nước sạch, trường học,
Trang 18trạm xá, chợ và các dịch vụ khác Đây là khu vực Nhà nước cần có sự đầu tư thích đáng về cơ sở hạ tầng cũng như các chính sách kinh tế-xã hội khác để nâng cao
đời sống người dân đặc biệt là người Khmer
Trong bối cảnh đó, phụ nữ Khmer nghèo bị hạn chế rất nhiều trong cuộc sống vật chất, mức độ bình đẳng giữa nam và nữ Để hiểu rõ hơn thực trạng kinh
tế, văn hóa, xã hội và chuyển biến vai trò của phụ nữ trong gia đình, cộng đồng và
xã hội, nhằm xác định được nguyên nhân của tình trạng nghèo đói và những tác động của chính sách đến đời sống phụ nữ đặc biệt là phụ nữ Khmer nghèo, từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện đời sống, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu : “ Vai trò của phụ nữ Khmer nghèo trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng”
II Mục tiêu – phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Nhằm đánh giá một cách tổng quan về đời sống gia đình của người Khmer nghèo tại 3 xã Viên Bình, Tài Văn và Tham Đôn thuộc huyện Mỹ Xuyên tỉnh Sóc Trăng, đề tài đưa ra mục tiêu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu dựa trên các cứ liệu khoa học và cơ sở khoa học để áp dụng trong quá trình nghiên cứu, thực hiện
đề tài
II.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng và nguyên nhân nghèo của phụ nữ Khmer trong đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội;
- Từ đó tìm hiểu mức độ tham gia và sự chuyển biến về vị trí, vai trò của phụ nữ Khmer trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế;
- Nêu lên những nhu cầu bức thiết của phụ nữ Khmer nghèo và đề xuất một
số giải pháp giúp phụ nữ và gia đình thoát nghèo, nâng cao hơn nữa vai trò phụ nữ
để góp phần phát triển một nền kinh tế năng động, nếp sống văn hóa tiến bộ, đậm
đà bản sắc dân tộc, có cuộc sống gia đình hài hòa trên cơ sở bình đẳng giới
II.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu chủ yếu là phụ nữ Khmer nghèo trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, có so sánh đối chiếu với nam giới Khmer nghèo ở 3 xã Viên Bình, Tài Văn, Tham Đôn trên địa bàn huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng
Trang 19III Nội dung nghiên cứu
1 Những vấn đề lý luận về giới và giảm nghèo
2 Điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng Khmer trên địa bàn nghiên cứu
3 Thực trạng và chuyển biến vai trò của phụ nữ Khmer trong quá trình chuyển đổi kinh tế
4 Đề xuất một số giải pháp đáp ứng nhu cầu nâng cao vai trò của phụ nữ Khmer trong cộng đồng dân tộc
IV Câu hỏi nghiên cứu
1 Xã có những đặc điểm về địa lý tự nhiên, văn hóa, xã hội đặc trưng nào? Với những đặc điểm đó có khó khăn và thuận lợi gì cho việc phát triển kinh tế hộ gia đình của người Khmer đang sinh sống trong địa bàn nghiên cứu?
2 Phụ nữ Khmer nghèo gặp phải những khó khăn gì trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội? So với các dân tộc Kinh, Hoa thì phụ nữ Khmer gặp những trở ngại nào khác? Lý do tại sao?
3 Phụ nữ Khmer nghèo có vai trò gì trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình, cộng đồng và xã hội? Và có cơ hội để thể hiện vai trò của mình trong gia đình, cộng đồng và xã hội? Các loại hình lao động của phụ nữ ở địa bàn nghiên cứu?
4 Phụ nữ trong địa bàn nghiên cứu được hưởng những chính sách nào
để giúp phát triển kinh tế hộ gia đình và thoát nghèo đi lên? Nhu cầu về vay vốn của họ có được đáp ứng đúng mức hay không?
V Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ năm 1987 đến nay, Việt Nam đã có những bước phát triển khá mạnh mẽ trong việc nghiên cứu phụ nữ và gia đình, bình đẳng giới Nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này đã được xuất bản, cùng một số sách, tạp chí, kỷ yếu hội nghị trong và ngoài nước, tài liệu dịch của các tác giả nước ngoài Hiện nay nhiều bài nghiên cứu các chủ đề phụ nữ đã được giới thiệu trên các tạp chí, báo tuần, báo hàng ngày Về một số công trình có liên quan, trước hết phải kể:
Trang 20- “ Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường” của tác giả
Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân, khái quát và phân tích đánh giá thực trạng đời sống người phụ nữ nghèo, thấy được những khó khăn và nhu cầu của họ trong kinh tế-
xã hội
- “ Phụ nữ, giới và phát triển” của tác giả Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng ( 1996); và “ Xã hội học về giới và phát triển” của tác giả Lê Ngọc, Nguyên Thị Mỹ Lộc, nêu lên những khía cạnh của giới và phát triển xã hội, của chính sách phụ nữ, vai trò và vị trí của họ trong xu thế phát triển chung, mặt khác thấy được tình hình và thực trạng của bình đẳng nam nữ nước ta
- “ Gia đình, phụ nữ Việt Nam với đời sống, văn hóa và sự phát triển bền vững” của tác giả Lê Thi, nêu lên vai trò, vị trí của gia đình và người phụ nữ trong mối quan hệ và tác động lẫn nhau với đời sống, văn hóa, xã hội, cũng như sự phát triển bền vững của môi trường tốt nhất cho phụ nữ Việt Nam
- “ Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình, thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu góp phần phác họa bức tranh về thực trạng gia đình Việt Nam trên các phương diện, cơ cấu chức năng các mối quan hệ giới, về đời sống, kinh tế, văn hóa của gia đình trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Các tài liệu khác liên quan đến nghiên cứu vai trò, vị trí và chức năng của người phụ nữ, nhưng rất ít tài liệu nghiên cứu liên quan đến các dân tộc ít người, trong đó có nói đến là phụ nữ dân tộc Chăm, dân tộc Vân Kiều Hiện nay rất ít tài liệu hay đề tài nghiên cứu cụ thể về vai trò của phụ nữ Khmer, nhưng cũng có những nghiên cứu như “ Văn hóa Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Thạch Voi ( 1993), hay “ Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Phan Thị Yến Trang (1993), khái quát lại lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Khmer, khắc họa lại đời sống văn hóa, hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày của họ…Những nghiên cứu này không đi sâu vào nghiên cứu phụ nữ Khmer trong những hộ gia đình nghèo Do đó, việc nghiên cứu vai trò và vị trí phụ nữ Khmer hiện nay đặc biệt là phụ nữ Khmer nghèo là rất cần thiết Đó là lý do chọn đề tài của tác giả
Trang 21VI Phương pháp nghiên cứu
VI.1 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý tài liệu
Tiến hành thu thập thông tin, tư liệu từ nhiều nguồn sách, báo, tạp chí chuyên đề, những hội thảo nghiên cứu về vai trò phụ nữ, các bài nghiên cứu, các báo cáo của Hội Phụ nữ các trang web trên mạng nhằm tổng hợp, so sánh, phân tích các vấn đề có liên quan đến đề tài
VI.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Tiến hành khảo sát tại địa phương có người Khmer sinh sống nhằm thu thập thông tin thực tế về điều kiện sản xuất, phát triển kinh tế, vấn đề bình đẳng giới trong phong tục tập quán, phân công lao động trong gia đình, sinh hoạt cộng đồng của dân tộc Khmer
VI.3 Phương pháp điều tra xã hội học
- Điều tra chọn mẫu theo bảng hỏi bao gồm những nội dung chính, phụ được thiết kế theo một hệ thống cấu trúc thống nhất: Sử dụng phương pháp điều tra định lượng theo bảng hỏi để thu thập thông tin cần thiết có tính đại diện các địa phương có đông người Khmer sinh sống, đồng thời phản ánh một cách trung thực đặc điểm của mỗi địa phương có người Khmer cư trú nhằm phân tích các mặt đời sống của họ (tình trạng gia đình, vấn đề việc làm và thu nhập, tình trạng học hành, tình trạng sức khỏe, mức độ quyết định sử dụng đất hay chi tiêu hằng ngày v.v…) Các cuộc điều tra được tiến hành trên 3 ấp có tính đại diện cho 3 xã tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng Tổng số hộ được chọn khảo sát là 250 hộ, được phân bố như sau: xã Tài Văn 98 hộ, Tham Đôn 100 hộ, Viên Bình 52 hộ
- Phỏng vấn sâu: Trực tiếp phỏng vấn các nhân vật có liên quan như chủ tịch UBND xã, Chủ tịch hội phụ nữ huyện, xã, Ban xóa đói giảm nghèo xã Ngoài
ra còn có các Hội viên hội phụ nữ xã và phụ nữ nghèo Thông qua đó tìm hiểu sâu hơn những nguyên nhân khó khăn, tâm tư nguyện vọng và vai trò của phụ nữ Khmer nghèo trên địa bàn nghiên cứu
- Phỏng vấn nhóm tiêu điểm nhằm bổ sung tư liệu và góp phần giải thích những yếu tố văn hóa, phong tục tập quán đối với quan niệm về giới, quan hệ giới, nhu cầu và biện pháp đối phó, thông qua ý kiến của phụ nữ Khmer nghèo
Trang 22VI.4 Phương pháp phân tích giới
Nhằm xác định vị trí, vai trò của nam giới – nữ giới trong gia đình, cộng đồng và xã hội trên cơ sở bình đẳng giới
VI.5 Phương pháp đánh giá nông thôn nhanh cùng tham gia (PRA)
Nhằm hiểu được họ xác định cái nghèo như thế nào và họ thực hiện chiến lược ổn định và tích lũy như thế nào trong cuộc sống Hơn nữa cần phải nỗ lực tìm hiểu nhu cầu của họ, vai trò của họ trong gia đình, cộng đồng và xã hội, điều quan trọng là tìm hiểu mạng lưới hỗ trợ khác nhau mà người nghèo phụ thuộc
Trang 23CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỚI VÀ GIẢM NGHÈO
Những vấn đề có liên quan đến cơ sở lý luận về giới và giảm nghèo đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới tiến hành nghiên cứu và nêu ra các khái niệm ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX Tuy nhiên, để có được khái niêm về giới và giảm nghèo một cách tương đối thuyết phục, chúng ta phải chờ đến cuối thế kỷ XX, do đó các khái niêm về giới và giảm nghèo được trình bày sau đây chủ yếu dựa vào các công trình nghiên cứu gần nhất, có các khái niệm tương đối hoàn chỉnh nhất để làm căn cứ cho việc nghiên cứu đề tài
1.1 Khái niệm về giới
Khái niệm giới xuất hiện ở các nước nói tiếng Anh cuối những năm 1970, sau đó nhanh chóng trở thành một phương pháp tiếp cận khoa học để nghiên cứu
và được vận dụng trong xây dựng kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia Khoa học về giới được truyền bá về Việt Nam vào cuối những năm 1980, trước đó chỉ có một khái niệm giới tính để chỉ những đặc trưng của nam và nữ không phân biệt đặc tính đó có đặc tính sinh học và xã hội Vậy, giới và giới tính có khác nhau và vì sao chúng ta phải quan tâm đến vấn đế giới?
Hai khái niệm căn bản trong nghiên cứu về giới, cần phân biệt giới tính (dịch từ tiếng Anh là Sex) và giới (dịch từ tiếng Anh là Gender)
Vậy thế nào là giới?
Thuật ngữ giới được dùng trong nghiên cứu về phụ nữ mang một ý nghĩa
khác, không phải để miêu tả các đặc điểm của giới tính sinh học: “ Giới là một phạm trù khoa học xã hội, được sử dụng để nói về các vai trò, thái độ và giá trị của giới tính do các cộng đồng xã hội gán cho” 1 Giới là bao gồm các mối liên hệ
1
Thái Thị Ngọc Dư (2006), Tài liệu hướng dẫn học tập: Giới và phát triển, Đại
học Mở bán công Tp.HCM, 199 trang.(Trích dẫn trang 32)
Trang 24và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội
cụ thể Nói cách khác, nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới xét về mặt xã hội
Ví dụ: nam giới thường nắm giữ các chức vị lãnh đạo, phụ nữ thường làm các công việc thừa hành
Giới tính là gì?
Giới tính chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới xét về mặt y – sinh học
Sự khác biệt này có liên quan đến quá trình tái sản xuất nòi giống, cụ thể là phụ nữ
có thể mang thai và sinh con, còn nam giới là một trong các yếu tố tạo ra quá trình thụ thai
Từ hai khái niệm giới và giới tính có thể suy ra như sau:
Giới tính nói lên tính ổn định về tương quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản Chức năng sinh sản của phụ nữ và nam giới là không thể thay đổi hay chuyển dịch cho nhau Giới tính là bất biến về thời gian cũng như không gian Xét
về giới tính, phụ nữ cổ xưa cũng như phụ nữ ngày nay và phụ nữ ở mỗi vùng trên trái đất đều giống nhau ở chức năng mang thai và sinh con, cũng giống như nam giới giống nhau về vai trò sinh sản của mình
Ngược lại với giới tính, giới luôn luôn biến đổi Tương quan về địa vị của
nữ giới và nam giới không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội cụ thể Ví dụ: địa vị xã hội của người phụ nữ ngày nay hoàn toàn khác với thời phong kiến Ngay cả ở thời kỳ hiện nay thì địa vị của phụ nữ nông thôn không hoàn toàn giống với phụ nữ thành thị Vì vậy, khi nói đến quan hệ giới, cần quan tâm đến các đối tượng cụ thể và hoàn cảnh xã hội của nó
Trang 25
Bảng 1.1: Sự khác biệt thể hiện qua việc phân loại giới tính và giới
Bẩm sinh
Sinh học
Không tự nhiên có Học được từ gia đình và xã hội Đồng nhất (ở mọi nơi đều giống nhau) Đa dạng (khác nhau giữa các xã hội) Không thể thay đổi, ví dụ: chỉ phụ nữ
mới sinh con, chỉ có nam giới mới có
tinh trùng
Có thể thay đổi, ví dụ: Phụ nữ có thể làm Thủ Tướng, nam giới có thể chăm sóc con cái
Khái niệm thứ hai trong nghiên cứu giới thường được đề cập đến là khái niệm bình đẳng xã hội giữa nam và nữ (được gọi tắt là bình đẳng nam – nữ hay bình đẳng giới) Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới
Nam giới và phụ nữ cùng có vị thế là bình đẳng và được tôn trọng như nhau Phụ nữ và nam giới cùng:
Có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình
Có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển
Được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng
Được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực xã hội
Khái niệm quan trọng thứ ba rất cần thiết được nghiên cứu sâu là vấn đề phát triển năng lực, nâng cao vị trí và vai trò của người phụ nữ trong các hoạt động
xã hội, cộng đồng, tham gia một cách tích cực vào công tác quản lý và điều hành
xã hội Cũng như ở khái niệm công bằng xã hội, công bằng, bình đẳng giới, khái niệm phát triển năng lực hay cụ thể là nghiên cứu, đánh giá vai trò người phụ nữ trong xã hội, sẽ cùng là mục tiêu và nội dung cơ bản của chính sách xã hội vấn đề nghiên cứu phát triển con người, sẽ được coi là động lực và điều kiện phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời là thước đo của tiến bộ xã hội
Trang 26Các dạng công việc do phụ nữ và nam giới thực hiện 2
Sản xuất: làm kiếm tiền ( thông qua nghề nghiệp, cơ quan)
* Vai trò giới: Tái sản xuất: sinh đẻ (gia đình); nuôi dưỡng; việc nhà
(ai cũng phải làm nếu sống một mình)
Cộng đồng: sinh hoạt tổ dân phố (xã hội) gắn bó với địa phương
1.2 Quan niệm từ “Phụ nữ trong phát triển” đến “ giới và phát triển”
Phương pháp tiếp cận “Giới và phát triển” (dịch từ tiếng Anh “Gender and Development” viết tắt là GAD) được đưa ra từ những năm 80 nhằm khắc phục
những bất cập của phương pháp tiếp cận “Phụ nữ trong phát triển” ( Women in Development – WID)
Giữa WID và GAD có mối quan hệ liên thông, nhưng cũng có những khác biệt – Sau đây là sơ đồ so sánh 3
Phụ nữ trong phát triển
Women in Development (WID)
Giới và phát triển Gender and Development (GAD)
- Phụ nữ bị loại trừ ra khỏi quá trình - Những mối quan hệ bất bình đẳng về
quyền lực (giàu và nghèo, phụ nữ và
2
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội (2006), Tài liệu tập huấn cán bộ làm công
tác giảm nghèo cấp tỉnh, huyện và xã năm 2006 (Trích dẫn trang 3)
3
Thái Thị Ngọc Dư (2006), Tài liệu hướng dẫn học tập: Giới và phát triển, Đại
học mở bán công Tp.HCM, 199 trang.(Trích dẫn trang 67)
Trang 27phát triển nam giới) ngăn cản một sự phát triển
bình đẳng và sự tham gia đầy đủ của phụ nữ
4 Mục tiêu
Một sự phát triển hiệu quả hơn Phát triển bình đẳng bền vững trong đó
phụ nữ và nam giới đều là những người quyết định
5 Giải pháp
- Hòa nhập phụ nữ vào trong quá
trình phát triển hiện hữu
- Tăng quyền lực cho những người bị thiệt thòi và cho phụ nữ
- Thay đổi mối quan hệ bất bình đẳng
- Tăng năng suất của phụ nữ
- Tăng thu nhập của phụ nữ
- Tăng khả năng chăm lo gia đình
của phụ nữ
- Xác định những nhu cầu thực tế (do nam và nữ xác định) để cải thiện hoàn cảnh của họ
- Đồng thời, nêu ra những nhu cầu, lợi ích lâu dài của phụ nữ
- Nêu ra lợi ích của người nghèo thông qua sự phát triển cho dân
Tóm lại, cách tiếp cận “Phụ nữ trong phát triển” là không để phụ nữ bị gạt
ra ngoài quá trình phát triển; coi phụ nữ là trọng tâm của vấn đề; dự án phát triển cần có thành tố dành cho phụ nữ Vì phụ nữ thường gặp nhiều yếu thế hơn trong cuộc sống và trong xã hội, do đó trong lúc thực hiện chương trình, chủ yếu là hỗ trợ phụ nữ (hoặc hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ) và các dự án có khuyến khích
Trang 28phụ nữ tham gia Quan điểm này cho đến nay vẫn còn giá trị, mặc dù sau này quan điểm “phụ nữ trong phát triển” đã dần dần chuyển sang “Giới và phát triển” “Phụ
nữ trong phát triển” khác với “Giới và phát triển” ở chỗ “phụ nữ trong phát triển” tập trung vào phụ nữ để phát triển phụ nữ, còn “ giới và phát triển” thì đề cập đến nam giới và nữ giới, xác định nhu cầu của nam giới và nữ giới trong phát triển, làm thế nào để tạo cơ hội bình đẳng cho cả hai
1.3 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến nghèo và xóa đói giảm nghèo
1.3.1 Khái niệm về nghèo
Vì sao người ta lại quan tâm đến vấn đề nghèo đói? Trước những năm 1990 của thế kỷ trước, người ta quan tâm nhiều đến tăng trưởng kinh tế, nhưng kinh tế càng tăng trưởng càng nảy sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc và chi phí khắc phục hậu quả của nó ngày một tốn kém hơn Trong các vấn đề xã hội bức xúc đó, vấn
đề nghèo đói nổi lên hàng đầu và được cả cộng đồng quan tâm Đến những năm đầu của thế kỷ 21 có tới 78 quốc gia thuộc nhóm các nước nghèo và đang phát triển xây dựng các chiến lược giảm nghèo toàn diện và gần 30 tổ chức quốc tế bao gồm cả tổ chức đa phương, song phương và các tổ chức phi chính phủ (NGO) xây dựng chiến lược hỗ trợ các nước nghèo trong cuộc chiến chống đói nghèo
Để nhìn nhận vấn đề rõ hơn nhằm tìm ra hướng giải quyết, rất nhiều hội nghị, nhiều nhà khoa học, nhiều quốc gia đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau như nghèo, nghèo đói, nghèo khổ và phân hóa giàu nghèo Trong lĩnh vực xã hội học còn đề cập đến thuật ngữ: phân tầng xã hội, phân hóa giai cấp, phân cực xã hội; ngay khái niệm về nghèo cũng được nhiều học giả, các nhà khoa học định nghĩa dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau như nghèo về vật chất, nghèo về tri thức, nghèo về văn hóa, nghèo về điều kiện sinh hoạt v.v…Nghèo và khái niệm về nghèo cho đến nay vẫn còn được hiểu một cách chưa thống nhất Bởi vậy, trước khi nghiên cứu những vấn đề cụ thể chúng tôi muốn tập trung phân tích, làm rõ hơn một số khái niệm cơ bản
Trang 29Theo cách hiểu thông thường của nhiều nhà nghiên cứu thì: “Nghèo là túng thiếu” 4 (deprivation), mà “túng thiếu” có thể xem là một tiêu chuẩn mà xã hội đã
áp đặt cho người nghèo
Hội nghị bàn về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 9/1993 tại Băng Cốc (Thái
Lan) đã đưa ra khái niệm và định nghĩa về nghèo như sau: “ Nghèo khổ là tình trạng một bộ phân dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương” 5
Có thể xem đây là định nghĩa chung nhất về nghèo, một định nghĩa có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về nghèo, những nhu cầu cơ bản mà người nghèo đôi khi chưa được đáp ứng đủ như
ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại và giao tiếp xã hội… Ngoài mức độ tiếp cận cũng như mức độ hưởng thụ thì người nghèo còn dựa vào mức thu nhập của họ Nhà
kinh tế học người Mỹ Galbraith đồng tình với quan niệm: “ Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức” 6
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1996 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau:
“Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi
4
Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân (1996), Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh
tế thị trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 299 trang.(trích dẫn trang 30)
Trang 30ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” 7
Còn theo tháp tiếp cận khái niệm về nghèo đói đã đưa ra 8
1 Tiêu dùng
2 Tiêu dùng + Tài sản
3 Tiêu dùng + Tài sản + Con người
4 Tiêu dùng + Tài sản + Con người + Văn hóa- Xã hội
5 Tiêu dùng + Tài sản + Con người + Văn hóa- Xã hội + Chính trị
6 Tiêu dùng + Tài sản + Con người + Văn hóa- Xã hội + Chính trị + Bảo vệ Quan niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người Sự khác nhau chung nhất là thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế- xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia
Ngân hàng phát triển Châu Á ADB đã đưa ra khái niệm nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối như sau:
Nghèo tuyệt đối: “Là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống của con người” Đó
là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu
cơ bản cho cuộc sống của con người, mà những nhu cầu này được thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế -xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương
7
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội (2006), Tài liệu tập huấn cán bộ làm công
tác giảm nghèo cấp tỉnh, huyện và xã năm 2006 (Trích dẫn trang 2)
8
Theo Ngân hàng thế giới năm 2000
Trang 31 Nghèo tương đối: “Là tình trạng của bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương” Đây là cách tiếp cận nghiên cứu
nghèo khổ tập trung vào phúc lợi của tỷ lệ số dân nghèo nhất, có tính đến mức phân phối phúc lợi của toàn xã hội Với cách hiểu như trên, có thể thấy nghèo tương đối thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào mức sống chung của xã hội Về ranh giới nghèo (ngưỡng nghèo), nhìn chung các tổ chức quốc tế đều cho rằng một người nào đó có mức sống dưới mức tối thiểu tại một thời điểm nào đó được gọi là ranh giới nghèo và thường được xác định bằng một chỉ tiêu về định lượng 9
Vậy nghèo ở khía cạnh kinh tế được hiểu như thế nào? Nghèo là do thiếu sự
lựa chọn đến mức cùng cực và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế- xã hội của quốc gia chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế Định nghĩa này muốn nhấn mạnh đến hai nhân tố khách quan ( thiếu sự lựa chọn) và nhân tố chủ quan ( thiếu năng lực) trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh tế-xã hội dẫn đến nghèo đói Đây là hai nhân tố quan trọng quyết định đến quá trình phát triển một quốc gia, vùng, miền, hộ gia đình và cá nhân người lao động Ví dụ: những người tàn tật, người mất sức lao động, người do thiếu vốn, không có kiến thức, không có kinh nghiệm làm ăn, trình độ văn hóa thấp, vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh…dễ rơi vào nghèo đói
1.3.2 Khái niệm giảm nghèo
Như trên đã trình bày có nhiều quan niệm và cách đánh giá về nghèo dưới
các góc độ khác nhau Vậy thế nào là giảm nghèo?
Giảm nghèo là làm cho bộ phân dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng
bước thoát khỏi tình trạng nghèo Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống Nói một cách khác giảm nghèo là quá trình chuyển đổi một bộ
phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn sẽ thoát khỏi ngưỡng nghèo
9
Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp ( 2003), Thực trạng kinh tế -xã hộ ivà những giải
pháp xóa đói giảm nghèo ở người Khmer tỉnh Sóc Trăng, Nxb Đại học quốc gia
Tp.HCM, 211 trang.( trích dẫn trang 12)
Trang 32Ở khía cạnh khác giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của nhiều người
Nói giảm nghèo trong đó bao hàm xóa đói và cũng giống như khái niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo có tính tương đối Bởi nghèo có thể tái sinh khi giải pháp giảm nghèo có tính hữu hiệu ngắn hạn, hoặc khái niệm và chuẩn nghèo đã có
sự thay đổi, hoặc có những biến động khác tác động đến như khủng hoảng, lạm phát, thiên tai…Do đó việc đánh giá mức độ giảm nghèo cần được xem xét trong một không gian, thời gian nhất định
Ở nước ta hiện nay nghèo đói vẫn tồn tại do nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế lạc hậu kém phát triển sang nền kinh tế phát triển hiện đại, trong nền kinh tế này đang tồn tại và đang xen nhiều trình độ sản xuất khác nhau Trình độ sản xuất cũ, lạc hậu bị trầm tích, lưu giữ trong nền kinh
tế, trong khi đó trình độ sản xuất mới tiên tiến chưa đóng vai trò chủ đạo, thay thế các trình độ sản xuất cũ và lạc hậu này Do đó dẫn đến có sự giàu nghèo khác nhau trong các tầng lớp dân cư
Ở góc độ nước nghèo: “Giảm nghèo ở nước ta chính là từng bước thực hiện quá trình chuyển đổi các trình độ sản xuất cũ, lạc hậu còn tồn đọng trong xã hội sang trình độ sản xuất mới, cao hơn” 10 Mục tiêu hướng tới là trình độ sản xuất
hiện tại và công bằng xã hội
Ở góc độ người nghèo: “Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều lựa chọn hơn, giúp họ từng bước thoát ra khỏi tình trạng nghèo.”11
Trang 33Quá trình chuyển đổi nền kinh tế, của phương thức sản xuất có thể coi là một cuộc cách mạng trong kinh tế diễn ra hết sức khó khăn và lâu dài Hồ Chí
Minh đã từng nói “ Thắng đế quốc và phong kiến tương đối dễ, thắng bần cùng và lạc hậu còn khó khăn hơn nhiều” Do đó bên cạnh quá trình chuyển đổi phải có
chính sách xã hội có tính chất bảo trợ đối với người nghèo, trước hết đảm bảo cho
họ những nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống Mặt khác, chính sách xã hội có tính chất hỗ trợ giúp người nghèo vươn lên vượt qua cửa ải nghèo đói
1.4 Tiêu chí xác định ngưỡng (chuẩn) nghèo
Để xác định ngưỡng nghèo có nhiều chỉ tiêu và chuẩn mực đánh giá khác nhau
Chỉ tiêu chất lượng cuộc sống (PQLI) chỉ số PQLI bao gồm ba mục tiêu cơ
bản: tuổi thọ, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và tỷ lệ mù chữ
Chỉ tiêu phát triển con người (HID) do UNDP đưa ra bao gồm hệ thống ba chỉ
tiêu tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn, thu nhập bình quân đầu người trong năm
Chỉ tiêu nhu cầu dinh dưỡng: tính mức tiêu dùng qui ra Kilocalo cho một người
trong một ngày
Chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người Đây là chỉ tiêu
chính mà hiện nay nhiều nước và tổ chức quốc tế đang dùng để xác định giàu nghèo
Tóm lại, sự kết hợp chỉ tiêu GDP, HDI và PQLI cho phép nhìn nhận các nước giàu, nghèo chính xác và khách quan hơn Bởi nó cho phép đánh giá khách quan, toàn diện sự phát triển con người trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội
1.4.1 Tiêu chí xác định ngưỡng (chuẩn) nghèo của quốc tế
Phương pháp xác định đường đói nghèo được thế giới xác định hiện nay:
Đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo lương thực thực
phẩm
Trang 34 Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm)
Đường đói nghèo về lương thực thực phẩm được xác định bằng lương Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi người là 2.100 Kcal/người/ngày Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm
Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm như: học tập, chữa bệnh, đi lại Tính cả chi phí này với 70% chi cho lương thực thực phẩm và 30% chi cho những phần còn lại
1.4.2 Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của Việt Nam
(i) Quá trình hình thành ngưỡng (chuẩn) nghèo
Đây là chuẩn nghèo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội xác định dựa trên kết quả nghiên cứu nghèo và khả năng áp dụng cho phân loại hộ và đánh giá tình trạng nghèo của các địa phương trên toàn quốc như sau:
Nước ta đã 5 lần điều chỉnh chuẩn nghèo từ 1993-2006 như sau:
+ Vùng nông thôn, miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/ người/ tháng
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/ người/ tháng
+ Vùng thành thị: dưới 25 kg / người/ tháng
Trang 35 Giai đoạn 1997-2000 công văn số 175 1/ LĐTBXH
Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ/ tháng qui ra gạo dưới 13 kg, tương đương 45 ngàn đồng (giá năm 1997, tính cho mọi vùng)
Hộ nghèo: là hộ có thu nhập tùy theo từng vùng ở các vùng, các nước tương ứng như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/ người/ tháng (tương đương 55 ngàn đồng)
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/ người/ tháng ( tương đương 70 ngàn đồng)
+ Vùng thành thị: dưới 25 kg / người/ tháng ( tương đương 90 ngàn đồng)
Giai đoạn 2001-2005 ( quyết định số 1143/2000 QĐ-LĐTBXH)
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/ người/ tháng
+ Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/ người/ tháng
Trước năm 2006 chuẩn nghèo cho khu vực nông thôn đồng bằng cao hơn chuẩn nghèo cho khu vực nông thôn miền núi, mức chênh lệch là 1,25 lần Khi áp dụng chuẩn nghèo chung cho vùng nông thôn đồng bằng và nông thôn miền núi đều này sẽ có lợi hơn cho người dân khu vực nông thôn miền núi Đây cũng là sự
Trang 36thể hiện quan điểm bình đẳng hơn, toàn diện hơn và bền vững hơn xét về khía cạnh xác định chuẩn nghèo
+ Khu vực thành thị có chuẩn nghèo mới cao gấp 1,73 lần chuẩn nghèo cũ
và tương đương 2,8 USD một ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005
+ Khu vực nông thôn đồng bằng có chuẩn nghèo mới cao gấp 2 lần chuẩn nghèo cũ, khu vực nông thôn miền núi chuẩn nghèo mới cao gấp 2,5 lần tương đương 2,2 USD một ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005
(ii) Chuẩn nghèo nhìn từ góc độ giới
Cách xác định chuẩn nghèo đói dựa trên lương thực mặc dù rất cụ thể, dễ
đo lường và khá đơn giản để áp dụng và so sánh giữa những vùng khác nhau, song xét từ góc độ giới thì còn có những hạn chế Việc sử dụng duy nhất phép tính bình quân lương thực và calo trên đầu người đã không cho thấy sự khác biệt có thể có trong việc tiếp cận và sử dụng lương thực, thực phẩm giữa các thành viên trong từng gia đình
Trên thực tế, có thể việc sử dụng lương thực trong hộ gia đình là bình đẳng
và theo nhu cầu, nghĩa là giữa các thành viên không có sự phân biệt có chủ ý nào Song cũng có thể do tập quán hoặc do thái độ phân biệt mà một số thành viên có điều kiện và khả năng sử dụng khoản tài chính dành cho tiêu dùng của gia đình cao hơn các thành viên khác Đối với các gia đình thường xuyên ở các tình trạng thiếu đói về lương thực thì có nhiều khả năng việc phân phối khẩu phần giữa các thành viên thường phải theo các thứ tự ưu tiên nào đó Và đối tượng ưu tiên có thể
là người già, trẻ em, đàn ông đang làm việc v.v…tùy theo tập quán và thói quen Bản thân người phụ nữ thì ít khi thuộc vào các đối tượng được ưu tiên trong gia đình Trong gia đình nghèo, người phụ nữ thường nhường phần lương thực thực phẩm cho các thành viên còn lại trong gia đình
Vì vậy, phải tạo điều kiện cho phụ nữ tăng nguồn thu nhập, nâng cao vị trí
và vai trò của họ, đồng thời nâng cao đời sống vật chất và tinh thần để trở thành chủ thể tham gia vào các quá trình phát triển như tham gia phát triển kinh tế, phát triển nguồn nhân lực và quản lý
Trang 37(iii) Tiêu chí xác định xã nghèo
Ngoài việc đề ra tiêu chí hộ nghèo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, còn xác định tiêu chí xã nghèo với mục đích ưu tiên tập trung các nguồn lực của Nhà nước và của cộng đồng để sớm xóa đói giảm nghèo ở các xã về chương trình phát triển kinh tế- xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010 (chương trình 135 giai đoạn II) Các tiêu chí đó là:
+ Tỷ lệ hộ nghèo chiếm từ 25 % trở lên so với tổng số hộ trong xã
+ Cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm y tế, nước sạch…) không có hoặc rất thiếu về số lượng và về chất lượng thì không đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
+ Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ chiếm từ 40% trở lên trên tổng số người trong độ tuổi
(iv) Hộ nghèo
Giới hạn nghèo đói được thể hiện ở mức thu nhập bình quân tính theo đầu người Các hộ có thu nhập bình quân tính theo đầu người nằm dưới góc hạn nghèo đói được gọi là hộ nghèo
Theo đánh giá chung của nhiều nước, hộ có mức thu nhập dưới 1/3 mức
trung bình của xã hội là hộ nghèo Tiêu chí để đánh giá thế nào là hộ nghèo ở Việt Nam hiện nay đang còn là vấn đề chưa thống nhất tại Bộ LĐTBXH cho rằng chỉ
tiêu chính để phân định hộ nghèo là dựa vào thu nhập bình quân nhân khẩu của một tháng (hoặc năm) được đo bằng giá trị hoặc hiện vật quy đổi Ngoài việc lấy mức thu nhập bình quân để đo lường mức độ nghèo đói cũng cần phải xem xét tới các chỉ tiêu phụ như dinh dưỡng trong các bữa ăn, tình trạng nhà ở, ăn, mặc, các phương tiện và điều kiện học tập và chữa bệnh v.v…
1.5 Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của tỉnh Sóc Trăng
Để xây dựng căn cứ cho việc quản lý, đánh giá và thực hiện tiếp chương trình “ xóa đói giảm nghèo” nhằm giải quyết chính sách xã hội giúp người nghèo
Trang 38ổn định cuộc sống và phát triển sản xuất, định hướng cho việc phát triển kinh tế,
xã hội, ngày 26/6/1998 UBND tỉnh Sóc Trăng đã chỉ thị số 07/1998 CT.UBND về việc tổng điều tra mức sống hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng theo quy định của Tổng cục thống kê, thu nhập bình quân đầu người/ tháng như sau:
2007, tiêu chí xác định hộ nghèo giai đoạn 2006-2010 theo Quyết định số 170/2005/ QĐ-TTg đối với thành thị hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới: 260.000 đồng/ người/ tháng; vùng nông thôn (cho cả miền núi và đồng bằng) hộ nghèo là
hộ có thu nhập dưới: 200.000 đồng/người/ tháng cao gấp 1,7 lần đối với thành thị
và gấp 2 lần đối với nông thôn, với tiêu chuẩn này tỷ lệ hộ nghèo của huyện Mỹ Xuyên không thay đổi do chuẩn nghèo đã được nâng lên theo sự cải thiện của mức sống trung bình trong vùng Tính đến năm 2007 huyện Mỹ xuyên đã có trên 5.533
hộ thoát nghèo vươn lên làm giàu chính đáng, phấn đấu đến cuối năm 2010 giảm
tỷ lệ nghèo theo tiêu chí mới xuống dưới 10%, tăng mạnh hộ khá, hộ giàu
Trang 39CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
2.1 Tổng quan về tỉnh Sóc Trăng và cộng đồng Khmer
2.1.1 Sự hình thành cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ
Người Khmer là một tộc người hiện sinh sống ở trên nhiều quốc gia Trong khu vực Đông Nam Á, người Khmer hiện có mặt ở các quốc gia Campuchia, Việt Nam, Thái Lan, Lào…
Vào cuối thế kỷ XVIII người Khmer ở Nam Bộ mới có 180.000 người đến năm 1965 ( theo thống kê của chính quyền Sài Gòn) thì người Khmer Nam Bộ có 567.000 người Như vậy, sau 35 năm số nhân khẩu ấy đã tăng hơn gấp đôi, tập trung đông nhất là ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng và khu vực tứ giác Long Xuyên (An Giang, Kiên Giang), vùng bán đảo Cà Mau và một số huyện của Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long Đây là một tộc người có dân số cao nhất trong nhóm Môn Khmer thuộc ngữ hệ Nam Á Trải qua hơn ba thế kỷ, đồng bào dân tộc Khmer đã cùng với đồng bào Kinh, đồng bào Hoa, đồng bào Chăm khai khẩn vùng đất mới
và tạo nên sự giao lưu những giá trị văn hóa riêng của dân tộc Khmer
Bảng 2.2: Người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long (số người và %)
Trang 40Nguồn: Thống kê năm 1999, ước tính của AusAID năm 2003 về tỷ lệ đói
nghèo của các dân tộc thiểu số và ước tính của VHLSS năm 2002 về tỷ lệ nghèo của tỉnh
2.1.2 Đặc điểm chung về dân tộc Khmer
Đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ thường sống tập trung ở những giồng đất, dải đất cao Họ xây dựng cộng đồng thành những, phum, sóc, trong đó các hộ gia đình thường sống gần kề nhau
Về tổ chức xã hội, trước đây phum, sóc chủ yếu hoạt động theo chế độ tự quản với một ban điều hành gồm những người có hiểu biết, có kinh nghiệm và uy tín Ban tự quản phum, sóc kết hợp với sư sãi trong các chùa để bảo tồn và phát triển cộng đồng, ổn định trật tự xã hội, hình thành một thiết chế xã hội truyền thống mà đạo Phật có vị trí đặc biệt
Về gia đình, hiện nay người Khmer Nam Bộ không duy trì chế độ mẫu hệ nhưng chế độ mẫu hệ vẫn còn để lại nhiều ảnh hưởng rõ nét
Về trình độ dân trí và kinh nghiệm sản xuất, nhìn chung so với cộng đồng dân cư khác như người Kinh, người Hoa thì trình độ dân trí người Khmer thấp hơn Kinh nghiệm sản xuất còn lạc hậu, thô sơ và chưa áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất