1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của các yếu tố dân số, tổ chức không gian sống và ý thức cộng đồng đến hiện tượng ngập nước đô thị thành phố hồ chí minh đề tài nghiên cứu

149 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 18,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giải pháp đề xuất...37 Giải pháp thứ nhất: Giảm thiểu beton hoá mặt đất, giảm nhà hình ống liên kế, giảm các công trình xây dựng có khối tích lớn và tải trọng nặng…………...31 Giải phá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA – TP HỒ CHÍ MINH Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Đề tài nghiên cứu:

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ DÂN SỐ,

TỔ CHỨC KHÔNG GIAN SỐNG VÀ Ý THỨC CỘNG ĐỒNG ĐẾN HIỆN TƯỢNG NGẬP NƯỚC ĐÔ THỊ THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH

PGS.TS Nguyễn Minh Hòa

Thành phố Hồ Chí Minh 2007-2008

Trang 2

NHÓM NGHIÊN CỨU

Nguyễn Minh Hòa –Chủ nhiệm đề tài

Nguyễn Diệp Quý Vy

Nguyễn Thị Huyền Anh

Đoàn Hoàng Anh

Trang 3

MỤC LỤC

Phần thứ nhất: Dẫn Luận 5

Phần thứ hai: Kết quả nghiên cứu và các giải pháp 18

I Nhận định chung 18

II Các giải pháp đề xuất 37

Giải pháp thứ nhất: Giảm thiểu beton hoá mặt đất, giảm nhà hình ống liên kế, giảm các công trình xây dựng có khối tích lớn và tải trọng nặng………… 31

Giải pháp thứ hai: Khống chế dân số vùng ngập, tái cấu trúc và phân bố lại dân cư nội thành 46

Giải pháp thứ ba: Giảm bớt các công trình chiếm bề mặt quá lớn, sử dụng tiêu thoát nước cụ bộ theo hướng “kỹ thuật sinh thái” 52

Giải pháp thứ tư: Nghiên cứu kỹ khi nâng đường lộ, nâng hẻm, và nâng code nền của khu dân cư, của công trình công cộng và nhà dân 56

Giải pháp thứ năm: Nâng cao ý thức giự gìn vệ sinh môi trường, trật tự xây dựng 64

Giải pháp thứ sáu: Huy động nguồn lực cộng đồng nhằm làm giảm thiểu tình trạng ngập nước và hệ quả xấu do ngập nước gây ra 70

Kết luận 77

Tài liệu tham khảo 80

Phụ lục: Ứng dụng kỹ thuật sinh thái… 82

Bảng hỏi 01 và 02……… 97

Nhiệm vụ nghiên cứu…… 108

Danh sách các hộ dân được phỏng vấn……… 114

Danh mục bảng biểu Bảng 1: Ý kiến đánh giá của cộng đồng mạng 23

Bảng 2: Ý kiến của cộng đồng đánh giá về tình trạng ngập nước 23

Bảng 3: Tự đánh giá mức độ thiệt hại do ngập nước gây ra 24

Trang 4

Bảng 8: Đánh giá của người dân về mức gia tăng dân số… 50

Bảng 9: Ý kiến về khả năng gia tăng dân số trong thời gian tới 50

Bảng 10: Khả năng tăng nhân khẩu trong 10 năm tới 51

Bảng 11: Các công trình công cộng chiếm mặt bằng lớn 53

Bảng 12: Thống kê số lần nâng nền nhà 58

Bảng 13: Thống kê mức nâng nền và chi phí… 59

Bảng 14: Ý kiến của người dân về việc nâng đường và hẻm…… 62

Bảng 15: Tự đánh giá về trật tự xây dựng… 65

Bảng 16: Tự đánh giá của người dân về tình trạng vệ sinh MT… 67

Bảng 17: Các hành động đối phó của người dân với ngập nước 70

Bảng 18: Thái độ ứng phó của người dân với việc ngập nước 71

Bảng 19: Kế họch chống ngập của hộ gia đình…… 71

Bảng 20: Khả năng đóng góp tài chính cho quĩ phòng chống ngập…… 75

Trang 5

Những chi tiết mang tính kỹ thuật và các thông tin khác, người đọc có thể tìm thấy trong các báo cáo chuyên đề kèm theo

Báo cáo kết quả nghiên cứu gồm có:

 1 báo cáo chính (144 trang)

 4 báo cáo chuyên đề của 6 phường trong mẫu khảo sát các phường

gồm có:

 Phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú (81 trang)

 Phường 25, Q Bình Thạnh (64 trang)

 Phường 12, Quận 6 (110 trang)

 Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân và P.13, quận 6 (73 trang)

 Phường Thảo Điền, Quận 2

 4 Phụ lục của 6 phường gồm có hình ảnh, số liệu chính trích ra từ

SPSS, bản đồ các loại (bản đồ vùng ngập, bản đồ hành chính, bản đồ từ GIS)

 1 Phụ lục về chương trình chống ngập bằng kỹ thuật sinh thái đô thị của

PGS.TS Đoàn Cảnh và các hoạt động khác của dự án cũng như các

Trang 6

Ngập nước nội thị là một trong số các vấn nạn nghiêm trọng nhất của các thành phố nằm ven biển và nằm bên cạnh các con sông lớn Nó đe doạ cuộc sống yên bình của người dân và luôn đặt chính quyền vào những tình huống ngặt nghèo, như cha ông ta coi nước ngập là một thiên tai nguy hiểm trong các hiểm họa “thuỷ, họa, đạo tặc” Cùng một lúc trong một thời điểm hoặc riêng rẽ từng thứ một tạo ra hiện tượng ngập nước cho một thành phố là nước biển - nước sông dâng cao, nước mưa trên trời đổ xuống, nước thải sản xuất từ các nhà máy, nước sinh hoạt của người dân đổ ra và nước xả ra từ các

hồ nước tuỷ điện làm cho toàn thành phố hay một khu vực cục bộ rơi vào tình trạng ngập nước

Việc nghiên cứu về tình trạng ngập nước đô thị và đưa ra các giải pháp (cấp thời hay lâu dài) đã được các nhà nghiên cứu của các thành phố trên thế giới dành một sự quan tâm đặc biệt Thực tế cho thấy không ít thành phố bị suy thóai dẫn đến bị huỷ hoại một phần hay toàn bộ bắt đầu từ nguyên nhân ngập nước Một số thành phố của Trung Quốc nằm bên sông Dương Tử đã bị xoá sổ hoàn toàn do nước ngập vào những năm đầu TK 20

Nghiên cứu ngập nước và đưa ra các giải pháp giải quyết cho các thành phố ven biển trở nên cấp thiết và nghiêm trọng hơn khi các dự báo có cơ sở cho thấy trái đất đang ấm dần lên, hiện tượng hiệu ứng nhà kính gia tăng, băng hai cực đang tan và nước biển dâng cao hơn và nhanh hơn những năm trước đây Một ví dụ cụ thể cho trường hợp này là ở TP Hồ Chí Minh trong liên tiếp

từ các năm từ 2005 đến 2008 nước triều cường liên tục tăng theo từng năm từ 1,4 mét, 1,45 mét, 1,47 mét và đỉnh điểm là 1,54 mét (11-2008), nhưng xu thế cho thấy mức nước này chắc chắn sẽ bị phá vào trong năm tới

Vấn đề đặt ra ở đây là các nước trên thế giới đã quan tâm đến các giải pháp chống ngập nước đô thị không chỉ có các giải pháp công trình và kỹ thuật như thiết lập đê bao, hồ điều tiết, chặn chuyển dòng chảy, nâng cao trình (nền, móng), đào kênh mương thoát, khơi dòng chảy, phát triển nhà cao tầng mà

họ còn đặc biệt quan tâm đến các giải pháp “phi công trình” và giải pháp “cấp cộng đồng” còn gọi là giải pháp kinh tế- xã hội như: điều tiết dân số, giảm mật

độ công trình xây dựng tại cộng đồng, tăng cường khả năng tham gia tự điều tiết của hệ thống sinh thái tự nhiên, sống chung hòa bình với tự nhiên, giáo dục ý thức môi trường, nâng cao ý thức công dân, tăng cường sự tham gia cộng đồng trong việc giảm thiểu mức độ ngập nước nội thị cũng như giảm thiểu tác hại của ngập nước gây ra cho cộng đồng dân cư Chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với TS Tô Văn Trường một nhà kỹ thuật nhưng luôn đề cao các giải pháp phi

công trình: “Cần quan tâm đặc biệt đến giải pháp phi công trình Tuyên truyền,

Trang 7

giáo dục cộng đồng không xả rác bừa bãi xuống hệ thống cống và kênh rạch, nói không với rác (3 R: reduce; reuse, recycle) với mục đích thiết thực bảo vệ

và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người Biện pháp phi công trình này rất thiết thực vì nếu không coi trọng ngay từ bây giờ thì khi có dự án đê bao, cống cũng không phát huy được hiệu quả như mong muốn”1

Sau hơn 300 năm hình thành, phát triển và trải qua rất nhiều các thăng trầm biến đổi khác nhau, thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh trở thành thành phố 1ớn nhất cả nước về qui mô dân số với gần 8 triệu dân và thứ nhì về bề mặt diện tích với hơn 2.100 km2 Từ sau 1990, các công trình xây dựng lớn phát triển rất nhanh chóng Đĩ l cc khu cơng nghiệp, khu chế xuất, cc nh my tập trung (15 khu), cc khu dn cư hoàn toàn mới (Bàu Cát, Phú Mỹ Hưng, Phước Long, An Phú An Khánh, Vĩnh Lộc A và B…) các quận, huyện mới được hình thành (Bình Tân, Tân Phú) và phát triển nhanh theo hướng lan tỏa từ trung tâm ra vùng ngoại vi

Sau hơn 20 năm tiến hành công nghiệp hóa và đô thị hóa, TP Hồ Chí Minh đã trở thành một trung tâm phát triển rất năng động về kinh tế, đóng góp lớn nhất cho GDP và ngân sách của cả nước (42%) Nó thực sự trở thành hạt nhân quan trọng nhất của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nhưng bên cạnh

đó nó cũng làm nảy sinh ra những bệnh tật đô thị như tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo, quá tải dân số, nhà ổ chuột, mâu thuẫn xã hội, trong số đó phải kể đến ngập nước nội thị Đây là một trong hai vấn đề nan giải nhất được gọi là tử huyệt (tắc nghẽn giao thông và ngập nước) của thành phố này không chỉ trong thời gian hiện tại mà còn trong những năm tới, nếu không giải quyết được rốt ráo thì thành quả lao động của nhiều triệu người sẽ bị hủy hoại

Trước khi tái công nghiệp hóa, đô thị hóa vào năm 1986 (công nghiệp hóa, đô thị hóa lần thứ nhất ở thành phố này bắt đầu từ thời Pháp thuộc vào những năm 1860) thì tình trạng ngập nước ở thành phố này hầu như không đáng kể, nước mưa, nước triều gây ngập nước cũng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, mức ngập nông và cũng chỉ ở một vài nơi Do dân số còn ít, các công trình chiếm bề mặt không nhiều, kênh rạch còn phát huy tác dụng, đặc biệt là vùng trũng phía Nam, Tây Nam, Đông Nam chưa bị san lấp vẫn còn là túi chứa nước nguyên thuỷ, nhưng từ sau 1990 và đặc biệt là sau 2001 tình trạng ngập nước trở nên ngày một trầm trọng hơn đến mức chỉ các cơn mưa nhỏ có lượng

Trang 8

nước 30-40 mm cũng đủ làm cho một phần diện tích thành phố bị ngập, nếu lượng mưa từ 50-50 mm thì số điểm ngập không thể đếm được mà khi đó phải đưa ra khái niệm “vùng ngập” và thực sự đến nay chưa thấy có một tương lai nào sáng sủa hơn

Trên thực tế, thành phố Hồ Chí Minh cũng đã có những động thái tích cực, bỏ

ra rất nhiều tiền, nhiều công sức và nhiều dự án (chủ yếu bằng vốn ODA) để chống đỡ với tình trạng này, và đã thu được một số thành quả nhất định Tuy nhiên hàng năm số điểm ngập bị xóa ít hơn số điểm ngập tiếp tục gia tăng Đến nay số điểm ngập lụt là hơn 120, nhưng điều nguy hiểm là nếu trước đây ít năm ngập lụt do mưa và triều cường gây ra vào mùa mưa thì nay nhiều nơi bị ngập ngay cả vào mùa khô ráo Mùa mưa năm 2008 này cho thấy nhiều nơi ở quận 1, 3, 10, Phú Nhuận chưa bao giờ bị ngập thì nay thực sự đã trở thành điểm ngập nặng kéo dài nhiều giờ và ngập sâu 50-60 cm như Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thị Nghĩa, Lê Lợi, Lê Lai, Nguyễn Huệ, Lý Tự Trọng, bùng binh Quách Thị Trang (trước cửa chợ Bến Thành) Trận triều cường lịch sử tại TP

Hồ Chí Minh từ ngày 13 đến 15-11-2008 với mức đỉnh triều 1,54 mét đã làm ngập nặng cùng lúc 9 quận (Q 1, 2, 4, 5, 6, 7, 8, Thủ Đức, Bình Thạnh) và nhiều tuyến giao thông cả chính lẫn phụ bị ngưng trệ hoàn toàn, tính chung toàn thành phố có 99 tuyến đường giao thông bị ngập làm ảnh hưởng đến đời sống của dân là quận 1 (10 tuyến), quận 2 (5 tuyến), quận 4 (6 tuyến), quận 5 (8 tuyến), quận 6 (29 tuyến), quận 7 (6 tuyến), quận 8 (8 tuyến), Bình Thạnh (12 tuyến), Bình Tân (2tuyến), Phú Nhuận (2 tuyến), Thủ Đức (6 tuyến), và Nhà Bè (5 tuyến)

Tình trạng này ngày càng trở nên nguy hiểm khiến cho chúng ta phải có những cách thức tiếp cận mới, tư duy mới và phương pháp mới thực tế và hiệu quả hơn

Từ thực tiễn cho thấy ngoài những lý do khách quan như triều cường, nước mưa ra còn có một loạt các nguyên nhân khác nữa mà các nhà nghiên cứu

có thể kể ra như qui hoạch sai hướng ưu tiên (phát triển thiên về hướng Nam, Tây Nam và Đông Nam Đây là vùng trũng chứa nước mưa và nước triều theo trục tiêu thoát nước của toàn vùng là Bắc-Nam, một ví dụ điển hình cho trường hợp này là để san lấp mặt bằng xây dựng, công ty Phú Mỹ Hưng đã sử dụng 10.000 m3 đất, cát lấp kênh rạch ao hồ tạo mặt bằng, số nước tương ứng với diện tích bị lấp đã tràn sang khu lực lân cận và các quận khác), đô thị hóa thiếu cẩn trọng, xây nhà tự phát, beton hóa hầu hết diện tích bề mặt thấm, hệ thống thoát nước qúa cũ, sông rạch bị bồi lắng, thảm thực vật bị bóc hết, các hồ chứa

Trang 9

đây là tình trạng đào đường, đào cống một cách thiếu cẩn trọng không chỉ làm tắc nghẽn giao thông mà còn khiến cho các khu vực bị ngập nhiều hơn và những nguyên nhân khác nữa về văn hóa- xã hội mà lâu nay chúng ta gần như

bỏ quên

Hơn nữa, những công trình thoát nước mưa và nước thải hiện nay (sinh hoạt cũng như sản xuất) được xây dựng rất tốn kém, chi phí bỏ ra nạo vét, khai thông cống rãnh hàng năm lên đến hàng chục tỷ đồng, hệ thống đê bao được gia cố liên tục nhưng đã bị vô hiệu hóa và mất tác dụng ngay do nhiều nguyên nhân khác nhau, một trong số đó là do việc người dân không có ý thức giữ gìn

và bảo vệ môi trường, dẫn đến tình trạng rác thải lấp kín các miệng cống thoát nước, kênh rạch bị lấp gần hết, các cửa xả bị xây đè lên, các hố ga bị san lấp làm nhà Nhiều dự án chống ngập được thực hiện nhưng rồi tình trạng ngập lại tiếp tục tái diễn, thậm chí còn ở mức độ nặng nề hơn hoặc làm cho những điểm ngập mới xuất hiện, mà đầu mối của nó xuất phát từ sự không hợp tác của nhiều đối tượng, bao gồm cả người dân trong việc gìn giữ những thành quả của

dự án Nói một cách trực tiếp hơn, cái mà chúng ta cần trong quá trình chống ngập không chỉ dừng lại ở những giải pháp quan trọng thiên về kỹ thuật như đào đường, thông cống, nâng cao cao trình mặt đất v.v… mà cả những giải pháp phi kỹ thuật – đặc biệt liên quan nhiều đến ý thức và các hoạt động của người dân trong cộng đồng, hay nói cách khác là tinh thần tự quản trong đô thị

Có thể nói khía cạnh văn hóa và xã hội mang một ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng và chống ngập nước đô thị nếu xem xét trong một tổng thể phát triển mang tính bền vững và lâu dài

2 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi cần khẳng định một số quan điểm quan trọng có tính cách khởi thảo sau đây:

Chống ngập nước trong một thành phố chủ yếu là các giải pháp kỹ thuật và

công trình, các giải pháp về kinh tế- xã hội và đồng tham gia của cộng đồng

(còn gọi là phi công trình) chỉ là bổ sung làm cho hoàn thiện thêm trong một

hệ thống các giải pháp mang tính đồng bộ Thực tế cho thấy ở các nước phát triển như Hà Lan, Ý, Thái Lan khắc phục được ngập nước chủ yếu là nhờ có các công trình đê bao, quai chắn sóng, Điều này cũng được PGS.TS Đoàn Cảnh - người chủ trương phát triển “kỹ thuật sinh thái” vào chống ngập ở thành phố cũng khẳng định rằng “kỹ thuật sinh thái” không thay thế được các

Trang 10

Đoàn Cảnh là “Giải pháp công trình theo hướng tăng cường đầu tư để nâng cao năng lực của hệ thống cống thoát nhằm thoát nhanh nước mưa

để tránh ngâp được chọn làm giải pháp chủ yếu Đó là lựa chọn dường như không cần tranh luận Nghiên cứu của chúng tôi không nhằm thay thế cho giải pháp truyền thống, mà là đóng góp thêm một số giải pháp giảm ngâp bằng việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đã được triển khai có hiệu quả trên thế giới, ngay tại các nước phát triển”

Cùng lúc với đề tài nghiên cứu này là một số đề tài nghiên cứu khác đang tiến hành, chúng cũng nghiên cứu về các giải pháp ngập lụt ở TP Hồ Chí Minh, nhưng trên khía cạnh “công trình và kỹ thuật” của ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh Các đề tài gồm có:

 Kiểm kê và thiết lập hệ thống hồ điều hòa nhằm giảm ngập (PGS.TS Đoàn Cảnh)

 Thoát nuớc đô thị Vùng triều (PGS.TS Nguyễn Văn Điềm)

 Bổ sung nước ngầm bằng nước mưa (giảm ngập gián tiếp, PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ)

 Xây dựng mô hình toán tổng hợp cho tính toán thoát nước đô thị (PGS.TS Lê Song Giang)

 Cơ sở thủy văn –thủy lực cho thoát nước và chống ngập (TS Hồ Phi Long)

Mặc dù tập trung nghiên cứu về các giải pháp “phi công trình”, nhưng nhóm nghiên cứu vẫn dành một số thời gian thích đáng để tìm hiểu và nghiên cứu các giải pháp thuộc nhóm công nghệ và kỹ thuật đang triển khai trên địa bàn thành phố Những kiến thức về ngập nước đô thị dưới khía cạnh kỹ thuật mà chúng tôi tiếp nhận được sẽ bổ sung và làm cho các giải pháp “phi công trình” có cơ

Trang 11

 Chúng tôi nhận thức, các kết quả nghiên cứu về xã hội không mang lại những hiệu quả tức thời như kỹ thuật và công trình (đê bao, đào thêm kênh,

hồ sinh thái, hồ điều tiết ), nhưng nó lại mang có ý nghĩa và tác dụng lâu

dài theo hướng PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG, tức là nghiên cứu

nhằm làm thay đổi được nhận thức, ý thức và hành động của người dân cũng như của cán bộ quản lý cấp (từ thành phố đến cơ sở phường, xã), tăng cường sự tham gia của người dân trong việc phòng chống ngập nước là giải pháp mang tính chiến lược và dài hơi Mọi giải pháp công trình và kỹ thuật

bị hạn chế tác dụng và có thể bị phá sản do sự thiếu ý thức của người dân trong quá trình thụ hương, sử dụng, kiểm soát và bảo hành

 Đề tài nghiên cứu về một khả năng hiện thực là người dân hoàn toàn có thể tham gia làm giảm thiểu tình trạng ngập nước, giảm thiểu tác hại do ngập nước gây cho ra đời sống bằng các hoạt động tại cộng đồng (trình bày ở phần sau) Việc kết hợp các giải pháp công trình và phi công trình là cần thiết trong một thành phố luôn trong tình trạng bị đe dọa ngập nước từ các nguồn khác nhau GS.TS Lê Huy Bá, Viện trưởng Viện Môi trường, ĐH Công nghiệp TP Hồ Chí Minh trong tham luận tại hội thảo Quốc tế “Ngập luật đô thị: Những bài học kinh nghiệm cho phát triển đô thị bền vững” đã

coi hai việc “xây dựng thành phố theo hướng tiêu chí sinh thái đô thị và xã

hội hóa việc thoát nước trên địa bàn cư dân” là một trong số các nhiệm vụ

quan trọng của phát triển đô thị bền vững3

Tác giả đề tài này có quan điểm rất rõ ràng rằng: ngập nước đô thị là bài tóan phức hợp và phức tạp Nó chỉ có thể giải quyết được khi dựa trên rất nhiều các giải pháp khác nhau, chủ yếu là các giải pháp về công trình và kỹ thuật, tuy nhiên các giải pháp về xã hội (giải pháp phi công trình) cũng đóng góp một phần quan trọng trong một loạt các giải pháp đồng bộ Đặc biệt khi cần nhấn mạnh đến tính bền vững của các giải pháp mang tính xã hội Đề tài của chúng tôi như là một sự bổ sung thích hợp phần văn hóa -xã hội cho hệ thống giải pháp đa dạng và đồng bộ

3 NHỮNG NỘI DUNG ĐƯỢC ĐỀ CẬP ĐẾN TRONG ĐỀ TÀI

Trong đề tài nghiên cứu về ngập nước này, chúng tôi sẽ tập trung chủ yếu vào các khía cạnh văn hóa và xã hội của hiện tượng này Thật ra những

Trang 12

vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu không phải là mới so với các nước khác trên thế giới, nhưng chắc chắn là mới ở Việt Nam, bởi vì số công trình nghiên cứu

về khía cạnh xã hội của ngập nước nội thị ở khu vực các tỉnh phía Nam hầu như không có công trình nào, hơn nữa các nhà khoa học quan tâm đến ngập nước chủ yếu là các nhà kỹ thuật cho nên khi đề cập đến khía cạnh xã hội, họ thường dừng lại ở các hệ quả tiêu cực do ngập nước gây ra cho cộng đồng hơn

là các giải pháp xuất phát từ chính cộng đồng Trong một vài hội thảo các giải pháp “phi công trình” có được nhắc đến nhưng không được nghiên cứu sâu Vào tháng 10 năm 2005, Trung tâm nghiên cứu Phát triển Đô thị và Cộng đồng thuộc trường ĐH Khóa học xã hội và Nhân văn có tổ chức một cuộc hội thảo

quốc tế hơn 10 nước với chủ đề “Ngập lụt và nhà ở tại các đô thị Châu Á-Kinh

nghiệm cho TP Hồ Chí Minh”, các tham luận tại hội thảo này là các bài học

kinh nghiệm tốt cho thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là các khía cạnh “phi công trình” và “giảm thiểu rủi ro tại cộng đồng”, “sự tham gia của cộng đồng” của các báo cáo khoa học trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho nhóm nghiên cứu

Trong đề tài nghiên cứu này sẽ có một số nhóm vấn đề mà chúng tôi tập trung nghiên cứu:

1 Một là mối quan hệ giữa dân số (ở đây là sự gia tăng cơ học, dịch chuyển cư, phân bổ dân cư, tích tụ và tập trung dân cư) với thực trạng

ngập nước hiện nay và tương lai (có tính dự báo)

2 Thứ hai là tổ chức không gian sống ở tại cộng đồng tác động đến

ngập nước Ở đây chúng tôi nghiên cứu chủ yếu là ở cấp độ cộng

đồng Đó là việc tổ chức không gian sống ở cộng đồng và hộ gia đình ngay tại những điểm thường xuyên ngập nước Những hoạt động lấn chiếm bề mặt không gian, kiên cố hóa beton trên mặt đất, cơi nới nhà ở, phát triển công trình xây dựng tự phát không quan tâm đến các công trình bên ngoài khuôn viên gia đình đều dẫn tới góp phần làm cho ngập nước thêm trầm trọng

Ngoài ra chúng tôi sẽ khảo sát việc tổ chức không gian các công trình công cộng trong phạm vi phường (hoặc liên phường) làm tăng thêm mức độ ngập nước Đó là việc tổ chức không gian các đơn vị hành chính (qui mô, bề mặt chiếm), tổ chức không gian công cộng (chợ, bệnh viện, trường học, công viên), các công sở công ty, kho bãi ở ngay tại vùng ngập nước làm cho sức chứa bề mặt bị quá tải dẫn đến tình trạng ngập trở nên trầm trọng hơn

Trang 13

3 Thứ ba là nghiên cứu về ý thức công dân đối với việc bảo vệ môi

trường nói chung và liên quan đến ngập nước nói riêng Những vấn

đề cần nghiên cứu là nhận thức của người dân đối với tình trạng ngập nước, những hành động của người dân góp phần làm cho tình trạng ngập nước trở nên trầm trọng trong phạm vi cộng đồng và gia đình của mình

4 Huy động nguồn lực cộng đồng vào việc đối phó với ngập nước một cách chủ động nhằm phòng tránh và làm giảm thiệt hại về người và tài sản tại cộng đồng

Trong phần này chúng tôi làm rõ các nội dung sau đây:

 Các cách thức đối phó truyền thống với ngập nước của người dân

và chính quyền địa phương từ trước tới nay

 Đánh giá chính sách và hoạt động của chính quyền địa phương

về tình trạng ngập nước Ở nghiên cứu này những chính sách và hành động chủ động và bị động đối phó của lãnh đạo cấp phường

sẽ được đề cập và đánh giá một cách tường tận, nhằm phát hiện

ra những điểm nào đó chưa phù hợp trong cơ chế hoạt động, điều

phối ở cấp phường dẫn đến tình trạng ngập nước như hiện nay

 Vấn đề hợp tác giữa các nguồn lực đối phó với tình trang ngập nước tại địa phương trên địa bàn dân cư mỗi phường cũng được quan tâm đến Đó là các tổ chức xã hội tự nguyện, các tổ chức khác (hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh, hội nông dân), các nhà doanh nghiệp, các nhà máy công sở Có thể tình trạng ngập nước sẽ bớt nặng nề một khi các nguồn lực này hợp sức lại với nhau, cùng chung tay chia sẻ khó khăn với chính quyền và đóng góp cho công cuộc chống ngập nước, ít nhất trong địa bàn mà mình sinh sống và làm việc Thực tế có không ít các công ty đã không những không đóng góp mà còn trực tiếp làm cho tình trạng ngập nước tồi tệ hơn, chẳng hạn như thải nước bẩn, lấn chiếm kênh, làm hỏng đường giao thông, phá hủy các hố ga,

Trang 14

thuế tài nguyên, phí nước thải), sức lực (lao động tình nguyện thu gom rác), lập ra tổ chức dân lập tự quản môi trường, khai thông dòng chảy, điều phối giao thông khi ngập nước

 Bên cạnh đó chúng tôi cũng sẽ dành một thời lượng thích đáng nghiên cứu những hoạt động đối phó với nước ngập của người dân khi buộc phải chung sống lâu dài với tình trạng ngập nước trên các phương diện như nhà ở, các công cụ, cách thức di chuyển, tâm lý và thái độ

Tuy nhiên trong báo cáo này, khi chúng tôi trình bày sẽ có những phần lồng vào nhau, bởi vì tách bạch ra là điều khó, chẳng hạn khi trình bày về ý thức của người dân làm trầm trọng thêm tình trạng ngập nước không thể không nói đến việc lấn chiếm đất công, cơi nới, beton hóa bề mặt đất mà những nội dung này cũng có mặt trong khi trình bày về tổ chức không gian sống cộng đồng Như vậy tổ chức không gian vật chất và tổ chức không gian sinh hoạt là lồng ghép vào với nhau

4 NHỮNG HOẠT ĐỘNG MÀ NHÓM NGHIÊN CỨU ĐÃ TIẾN HÀNH

1 Các hoạt động nghiên cứu đã thực hiện

Để thu được kết quả nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành các hoạt động sau đây:

- Sưu tầm và phân tích các văn bản đã được xuất bản chính thức trên báo chí, tạp chí khóa học, các tham luận khóa học, các tài liệu, hồ sơ lưu trữ trong các thư viện công và lưu trữ trong các thư viện tư nhân Các tài liệu liên quan đến đề tài được chúng tôi khai thác từ các hồ sơ của các đơn vị chức năng của thành phố, quận và phường như sở Xây dựng, sở Tài nguyên môi trường, sở Qui hoạch-kiến trúc, phòng địa chính, phòng quản lý đô thị quận và ở các phường,

- Tổ chức một nhóm nghiên cứu trong một năm rưỡi gồm có 10 thành viên thường trực Các thành viên là các giáo viên trẻ trong trường, một

số cộng tác viên bên ngoài và các sinh viên mới tốt nghiệp từ khóa địa

lý và khóa Xã hội học

- Tổ chức các tọa đàm bàn tròn theo các nhóm chuyên đề hẹp với một số

chuyên gia đầu ngành có am hiểu sâu sắc về vấn đề nghiên cứu

Trang 15

- Tổ chức các tọa đàm và phỏng vấn với cán bộ địa phương cấp phường (5 phường) nằm trong các vùng ngập Các đối tượng phỏng vấn gồm có: phó chủ tịch quận phụ trách cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cán bộ địa chính quận, cán bộ phòng quản lý đô thị quận, cán bộ phụ trách địa chính và

hạ tầng kỹ thuật của phường, một đến hai tổ trưởng dân phố phụ trách

khu vực ngập nặng nhất của phường (hoặc liên phường)

- Phỏng vấn sâu với một số người dân, người thuê nhà trọ, người bán

hàng có hiểu biết về khu vực ngập lụt

- Khảo sát bằng bảng phỏng vấn 400 hộ dân tại các địa điểm bị ngập lụt nặng nhất thành phố

Từ công trình này tác gỉa đã công bố một bài viết trên diễn đàn quốc tế về biến đổi khí hậu và ngập lụt, ngoài ra đang hướng dẫn một học viên thạc sĩ làm đề tài về ngập lụt từ kết qủa nghiên cứu của đề tài

2 Địa chỉ của mẫu chọn trong nghiên cứu (xem các báo cáo chuyên đề)

 100 hộ dân ở phường 12, quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh Đây là điển hình của trường hợp ngập do triều cường từ kênh Tân Hóa -

Lò Gốm và rạch Hàng Bàng đưa lên và kết hợp với mưa Điểm khảo sát này ở khu vực ngập Vòng xoay Phú Lâm - Bùng Binh Cây Gõ - Tân Hòa Đông - Bà Hom (thuộc lưu vực Tân Hóa-Lò Gốm) quận 6

 100 hộ dân ở phường 25 quận Bình Thạnh Đây là khu vực bị ngập điển hình do lún đất và triều cường từ sông Sài Gòn

 100 hộ dân ở phường Phú Thọ Hòa, Quận Tân Phú Đây là khu vực ngập điển hình vùng đất trũng, ngập do nước mưa và nước thải tích tụ lâu năm

 100 hộ dân ở phường Bình Trị Đông quận Bình Tân, đây là điển hình ngập nước của vùng đất trũng chứa nước mưa và nước thải trong khu vực ngã tư bốn xã (Bình Trị Đông, Bình Hưng Hòa

Trang 16

 Mỗi một phường phỏng vấn sâu 5 người là phó chủ tịch phường, cán bộ phụ trách địa chính và hạ tầng kỹ thuật, cán bộ hội phụ nữ, 2-3 tổ trưởng dân phố

(Đặc điểm kinh tế-xã hội của từng phường, thực trạng ngập nước, hệ quả, nguyên nhân và các vấn đề khác được trình bày trong báo cáo chuyên đề của các nhóm)

Nhóm làm việc với các tổ trưởng dân phố Bình Trị Đông- Q Bình Tân

Trang 17

Làm việc tại phường 25 Quận Bình Thạnh

Phỏng vấn hộ dân tại P 12 Quận 6

Trang 18

Phần thứ hai

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢI PHÁP

Trong phần nhận định chung này có 2 điểm cần nhấn mạnh:

1 Cần phải công khai cho nhân dân thực trạng, diễn tiến của ngập lụt, cũng như các nhân tố (tích cực yếu và tiêu cực) tác động đến việc làm cho ngập lụt thêm nghiêm trọng và mức độ hạn chế của việc đối phó trong những năm tới để nhân dân biết và tự đề ra các phương án chống đỡ một cách hữu hiệu và hợp lý Bên cạnh việc chính quyền thành phố tiếp tục phát triển các dự

án chống ngập lụt bằng giải pháp công trình thì chính quyền và nhân dân cùng bàn bạc để biết trù tính các phương án khác nhau ở cấp độ khác nhau để xây dựng cách thức sống chung với ngập cho phù hợp

2 Cần chú trọng đến các giải pháp làm giảm thiệt hại và phòng chống chủ động ngay tại cộng đồng dân cư Huy động mọi nguồn lực tại chỗ cùng tham gia phòng chống giảm tổn thất và rủi ro đảm bảo cuộc sống bình thường của người dân

Phân tích:

1 Trong tiềm thức của đại đa số người dân thành phố nói chung vẫn tin rằng thành phố một ngày nào đó sẽ hết ngập lụt, các điểm ngập lụt cho dù vẫn gia tăng hàng năm nhưng chỉ là tạm thời Người dân các vùng ngập nước cho rằng tình trạng ngập nước chỉ là vấn đề kỹ thuật, với sự nỗ lực của thành phố, lời hứa của sở Giao thông công chánh tình trạng ngập sẽ hết vào năm 2015 Theo nghiên cứu của chúng tôi thì có thể đây là điều bất lợi

Thể hiện của nó là:

- Thay vì có những động thái tích cực với việc ngập nước như chấp nhận ngập nước như hiện tượng bình thường diễn ra hàng năm (như việc sống với lạnh giá mùa đông ở miền Bắc), sẵn sàng sống chung với ngập, đối phó tích cực nhằm giảm thiểu thiệt hại do ngập nước gây ra (bệnh tật, chết người, tai nạn, hư hỏng đồ đạc, khó khăn trong làm ăn) thì nảy sinh ra một tâm lý sống tạm bợ sao cũng được để chờ và tin tưởng rồi một ngày nào đó ngập sẽ hết

Trang 19

- Các cơ quan quản lý cấp cơ sở phường, xã lẫn người dân hoàn toàn thụ động trong các hành động đối phó làm giảm bớt thiệt hại do ngập nước gây ra,

tư tưởng ỷ lại, trông chờ, phó mặc vào nhà nước và vào trời là rất phổ biến Theo chúng tôi các nhà lãnh đạo cần lắng nghe các nhà khoa học và phải công khai cho dân biết một thực tế là chúng ta không thể khắc phục hoàn toàn tình trạng ngập nước trên địa bàn thành phố bằng các giải pháp kỹ thuật, cho

dù là cải thiện được 50% cũng là khó thực hiện Chúng tôi hoàn toàn đồng ý

với cách đặt vấn đề của TS Tô Văn Trường khi ông cho rằng “Cần phải có

tầm nhìn, cách đặt vấn đề và đề ra các giải pháp chống ngập lụt cho TP Hồ Chí Minh theo hướng tiếp cận khác, khoa học hơn và thực tế hơn để không mâu thuẫn với phương án lâu dài khi biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao Đừng để người dân ngộ nhận rằng khi hoàn thành dự án sẽ giải quyết triệt để việc chống ngập lụt cho thành phố Mục tiêu của hệ thống đê bao và cống như đề xuất trong dự án (của bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) chỉ để chống lũ và triều cường, còn khi gặp các trận mưa lớn thì chắc chắn nhiều khu vực trong thành phố vẫn còn phải bì bõm trong nước ngập, nếu như không có các giải pháp pháp mang tính tổng thể khác (trong đó có các giải pháp phi công trình)”4 Như vậy bên cạnh các giải pháp công trình - kỹ thuật truyền thống thì phải có cả các giải pháp “phi công trình”, cùng với việc đối phó với ngập nước ở cấp thành phố thì phải huy động cả cấp cộng đồng cơ sở Thực tế ở cho thấy:

* Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên là 2 095 km2, nhưng có đến 60% diện tích là vùng đất thấp (120.000 ha) với mạng lưới kênh rạch chằng chịt (7 880 km kênh rạch chính, hàng nghìn các rạch nhỏ và rạch ngầm sâu dưới lòng đất), khoảng 33.500 ha diện tích mặt nước Khoảng 35% diện tích đất toàn thành phố thấp hơn mực nước triều, đặc biệt khi mưa kết hợp với triều thì diện tích đất dưới mức nước triều lên đến 52% và có thể còn cao hơn nữa Trên khu vực vùng đất thấp này hiện có 1,5-1,7 triệu người dân đang sinh sống

* Theo báo cáo của Trung tâm điều hành chương trình chống ngập của TP

Hồ Chí Minh thì có 20/24 quận huyện bị ngập nước ở các mức độ khác nhau

Cho đến 2007, có khoảng 100 điểm ngập nước, trong đó 54 điểm ngập do

nước mưa, 12 điểm ngập do triều cường và 34 điểm ngập do kết hợp cả hai loại mưa và triều cường Các trận mưa từ 40-60 mm đều vượt quá khả

Trang 20

năng tiêu thoát của hệ thống thoát nước mưa, năm 2008 phát sinh thêm 18 điểm ngập mới, đặc biệt sau trận mưa 1-8-2008 có thêm 7 điểm ngập nước chưa bao giờ bị ngập trước đây5 Hiện tượng ngập không chỉ riêng ở vùng đất thấp ngoại thành mà hiện tại các vùng nội thành như quận Bình Thạnh, 6, 7, 8, cũng bị ngập triều, ngập lũ nặng nề do địa hình thấp, nhiều khu vực đang lún dần (theo nghiên cứu của chúng tôi trong mẫu điều tra thì khu vực Thảo Điền, Phường 25 Bình Thạnh mức lún có thể quan sát được bằng mắt thường ở từng nhà dân) Hơn thế nữa hầu như tất cả các cửa cống thoát nước thải, nước mưa nằm dưới mực nước triều từ 0,5 đến 1 mét Thành phố Hồ Chí Minh nằm trên cửa các con sông lớn như Lòng Tàu, Soài Rạp nối thông ra biển, đồng thời là nơi một khối lượng lớn nước sông Đồng Nai đổ dồn về, đặc biệt là mùa mưa lũ

hồ Dầu Tiếng thường xả lũ tiếp thêm áp lực cho việc ngập nước Như thế cùng lúc nó phải chịu áp lực nước dồn đến từ nhiều nguồn khác nhau: nước triều dâng cao, gió bão, nước từ thượng nguồn đổ dồn về, nước từ hồ xả trong mùa mưa lũ, nước mưa

Những khu vực có hiện tượng lún đất:

 Lún hơn 20 cm tại một số điểm ở quận 2, 7 và Bình Thạnh

 Lún từ 15-20 cm tại khu vực quận 1, 3, 4, 5, 8, 9, 12, Gò Vấp, Bình Chánh

 Lún từ 10-15 cm tại một số khu vực các quận 6, 10, 11, Tân Bình, Tân Phú, Phú Nhuận, Gò Vấp, Bình Tân, Thủ Đức, Bình Chánh

 Lún từ 2,5 -10 cm tại Hóc Môn

Nguồn: PGS.TS Lê Văn Trung, Trung tâm địa Tin học, Khu Công nghệ phần mềm –ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh, trong báo cáo

“Quan trắc biến dạng mặt đất khu vực TP HCM qua sử dụng ảnh

vệ tinh SAR” Những khu vực có hiện tượng lún đất:

 Lún hơn 20 cm tại một số điểm ở quận 2, 7 và Bình Thạnh

 Lún từ 15-20 cm tại khu vực quận 1, 3, 4, 5, 8, 9, 12, Gò Vấp, Bình Chánh

 Lún từ 10-15 cm tại một số khu vực các quận 6, 10, 11, Tân Bình, Tân Phú, Phú Nhuận, Gò Vấp, Bình Tân, Thủ Đức, Bình Chánh

Trang 21

“Quan trắc biến dạng mặt đất khu vực TP HCM qua sử dụng ảnh

Mầu xanh chỉ báo cho thấy vùng đất bị ngập khi nước biển dâng lên khoảng 1

mét, trong đó 43% diện tích TP HCM nằm dưới mặt nước biển

Trang 22

(nguồn “Biến đổi khí hậu toàn cầu, nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” TS Hoàng Minh Hiền, TS Nguyễn Hữu Ninh, Bộ NN và PTNT)

Tổng hợp lại cho thấy về mặt khách quan việc ngập nước là điều không tránh khỏi Cuộc nghiên cứu trên mạng của Vnexpress thực hiện tháng 8-2008 với

11 836 người đã cho kết quả 80.3% người được hỏi cho rằng tình hình ngập ở

TP HCM ngày càng tệ hơn và dường như lòng tin của mọi người về việc chống ngập đã bị giảm đi nhiều theo từng năm

Trang 23

Bảng 1 ý kiến đánh giá của cộng đồng mạng

Ý kiến bạn đọc về tình trạng ngập nước tại TP HCM trên

Trang 24

Bảng 3 Tự đánh giá mức độ thiệt hại do ngập nước gây ra

(số phần trăm gia đình bị thiệt hại trên mỗi điểm khảo sát)

Sự rủi ro P.13 Q.6 Phú Thọ Hòa,

Tân Phú

Bình trị Đông, Bình Tân

Bị hư hại nhà cửa 71.7 20.0 63.0 41.0

Khó khăn trong di chuyển,

vệ sinh, tắm giặt,

Những thiệt hại thường gặp nhất trong khu dân cư là bị bệnh ngoài da,

bị hỏng đồ đạc trong nhà, hư hại nhà cửa và đi lại khó khăn (đi làm, đón con), khó khăn trong sinh hoạt (vệ sinh, tắm giặt, nấu ăn, )

Trong khi đó, các dự án chống ngập nước ở thành phố Hồ Chí Minh chưa cho thấy dự án nào hứa hẹn thực sự thành công; mức khả thi của dự án thấp, rủi ro cao Trong năm 2008, thành phố đã đào 78 đoạn đường với 243

Trang 25

ống thoát nước, hàng trăm đoạn đường bị rào chắn, nhiều đoạn đường vẫn tiếp tục được nâng lên nhưng tình hình tiêu thoát nước chưa thấy khả quan hơn Một vài dự án tầm cỡ được đề xuất, nhưng vẫn còn ở thì tương lai Chẳng hạn

kế hoạch kiểm soát triều ở các cửa sông lớn và kiểm soát lũ từ thượng nguồn

đổ về trong dự án “Qui hoạch Thủy lợi phục vụ tìm kiếm giải pháp chống

ngập lụt cho thành phố Hồ Chí Minh” của nhóm nghiên cứu của Bộ Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn do GS Nguyễn Sinh Huy làm chủ nhiệm Theo

đề án này thì toàn bộ TP Hồ Chí Minh được chia thành ba vùng chống ngập Vùng thứ nhất là toàn bộ bờ hữu sông Sài Gòn-Nhà Bè, vùng thứ hai là toàn bộ khu vực ngã ba sông Đồng Nai-Sài Gòn, và khu vực thứ ba là toàn bộ bờ tả sông Nhà Bè-Soài Rạp Với đề án này mặc dù được bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trình Thủ Tướng chính phủ vào tháng 8-2008, nhưng nhiều nhà khoa học chưa đồng tình cho là chưa đủ cơ sở khoa học thuyết phục cũng như còn khá phiêu lưu Để thực hiện dự án này cần một số tiền khổng lồ, nếu thực hiện ở giai đoạn một sẽ là 11.530 tỷ đồng, nhưng không chắc mang lại một kết quả tạm chấp nhận được Ở đây chúng tôi cần nhấn mạnh một điểm hết sức quan trọng là giả sử trong trường hợp khống chế được ngập nước do triều thì thành phố vẫn không hết ngập Chúng tôi đồng ý với cách đặt vấn đề của GS.TS Lê Huy Bá và TS Tô Văn Trường, hai nhà khóa học này cho rằng một

số khu vực của TP Hồ Chí Minh là vùng đất trũng, bị bao xung quanh bởi các giồng đất cao hơn, thêm vào đó là các con đường trục ngăn nước, các khu dân

cư bao quanh cho nên sẽ có một số khu không thể nào tránh khỏi ngập nước khi mưa xuống với lưu lượng lớn từ 50-60 mm trở lên Do vậy ngoài các giải pháp vĩ mô ra thì rất cần thiết phải có các giải pháp vi mô ở cấp cộng đồng, các giải pháp này được coi như giải pháp bổ sung

Bốn dự án chống ngập cho TP.HCM đang triển khai

Dự án Vệ sinh môi trường TP.HCM, lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè: Sử dụng nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB) với mục tiêu chống ngập cho diện tích lưu vực rộng trên 3.000ha Tổng vốn đầu tư giai đoạn 1 là 199,96 triệu USD, dự kiến hoàn thành vào năm 2008 Mới đây Ban Quản lý dự án đã đề nghị điều chỉnh tổng mức đầu tư lên 251 triệu USD và sau đó tiếp tục đề nghị điều chỉnh lên 300 triệu USD Ngoài các gói thầu tư vấn ((gói thầu số 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 9) thực hiện đúng tiến

độ, các gói thầu xây lắp (gói thầu số 7, 7A, 8) đều chậm

Dự án cải thiện môi trường nước TP.HCM lưu vực Tàu Hủ - Bến Nghé - kênh Đôi - kênh Tẻ: Nguồn vốn vay của Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JIBIC) Dự án

Trang 26

tổng diện tích lưu vực là 3.300ha Tổng vốn đầu tư giai đoạn 1 là 263 triệu USD, dự kiến hoàn thành vào năm 2008

Dự án cải thiện môi trường TP.HCM - Tiểu dự án cải tạo hệ thống thoát nước rạch Hàng Bàng: Nguồn vốn vay từ Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) với tổng vốn đầu

tư là 25 triệu USD, dự kiến hoàn thành vào năm 2007 Theo mục tiêu đề ra, dự án hoàn thành sẽ chống ngập cho diện tích lưu vực là 438ha Dự án được giao cho Sở Tài nguyên Môi trường làm chủ đầu tư nhưng do thực hiện chậm trễ nên ADB đã khóa sổ vay Dự án đã được chuyển về Sở GTVT TP.HCM để tiếp tục đầu tư nhưng đến nay vẫn chưa khởi công và cũng chưa thể biết được ngày hoàn thành

Dự án nâng cấp đô thị TP.HCM (lưu vực Tân Hóa - Lò Gốm): Nguồn vốn vay WB, chống ngập cho Q.6, 8, 11, Tân Phú và Tân Bình với diện tích lưu vực là 1.480ha Hiện dự án do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư là 298 triệu USD Dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2010 (đối với các hạng mục thoát nước thuộc lưu vực Tân Hóa - Lò Gốm)

Trong tháng 6-2008, UBND TP HCM quyết định chi 226, 4 tỷ đồng để làm hệ thống bờ bao trong với chiều dài là 169,4 km nhưng theo đánh giá của các chuyên gia thì đây cũng là một cách đối phó bị động vì không thể giải quyết được triệt để việc ngập nước cho một thành phố có quá nhiều kênh rạch nổi và ngầm, mặt đất thấp hơn mực nước biển, có 6 tháng mưa với lượng nước mưa rất lớn, Hệ thống đê bao này có thể chống được nước mặt, nhưng nước ngầm thì không thể và như thế những mạch nước ngầm sẽ hủy hoại chính các con đê này Thực tế cho thấy nước mưa ở 40-60 mm, hoặc đỉnh triều cường từ 1,3 m trở đi là đã có hiện tượng vỡ đê bao Đợt triều cường trung tuần tháng 11-2008 vừa qua với đỉnh triều là 1,54 mét (cao nhất trong vòng 49 năm qua tính từ năm 1960 thì hầu như các đê bao bị vô hiệu hoá, bị tràn và bị vỡ hàng loạt, thậm chí đê bao bằng beton mới làm năm 2008 theo kế hoạch chống ngập mới đề xuất cũng bị vỡ và bị nước tràn qua)

Bảng 4 Ý kiến của người dân đánh giá về hệ thống thoát nước hiện hữu trong khu dân cư đang sinh sống

ĐƠN VỊ P.13 Q.6 Phú Thọ Hoa,

Tân Phú

Bình trị Đông, Bình Tân

Trang 27

Nhận xét của người dân và từ quan sát thực tế của chúng tôi cho thấy quả thật

hệ thống thoát nước của các khu dân cư đô thị hóa mới rất tồi tệ (trên 80% ý kiến đánh giá cho rằng hệ thống thoát nước của khu vực là kém và rất kém), chỉ trừ một vài khu dân cư khá hiện đại do nhà các đầu tư trong nước có năng lực tài chính và kỹ thuật cao như Nam Long, Kiến Á, Thủ Đức Housing, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài như GS (Hàn Quốc), Kaplle Land (Singapore); tất nhiên còn phải kể đến cả sự kiểm soát chặt chẽ của các sở chức năng đối với các dự án có qui mô lớn, còn các khu dân cư do các chủ đầu tư nhỏ lẻ đảm nhiệm tiến hành phân lô bán nền, nhất là các khu dân cư phát triển

tự phát, các đầu nậu mua đất, thuê các kíp thợ xây vội vàng qua mặt chính quyền trong thời gian cực ngắn thì hầu như không có hệ thống thoát nước mưa, nước thải, do vậy mỗi khi mưa cho dù rất nhỏ cũng dẫn tới tình trạng ngập dài ngày, có những nơi ngập hàng tuần lễ liền

Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh là một trong số các quốc gia và khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, do vậy cần công khai và sòng phẳng với người dân về một thực trạng khách quan, không gây cho người dân ngộ nhận, chủ quan và chuyển từ đối phó thụ động

Trang 28

Nam Bộ không còn là hiện tượng bất thình lình mà là một hiện tượng bình thường diễn ra theo chu kỳ mỗi năm một lần (trên 6 tháng mưa), do vậy sự chủ động sống chung với nước ngập hàng năm là điều cần thiết Một ví dụ cần được bàn đến là thành phố cần có một cuộc thi thiết kế nhà ngập nước cho dân

cư vùng bị ngập Một thực tế cho thấy từ năm 2004 đến nay rất nhiều nhà dân

ở khu vực phía Nam và Tây Nam thành phố vào mùa mưa nền nhà bị ngập sâu,

có lúc đến hơn 1,5 mét, các cơn mưa trung bình là ngập 50-60 cm, đồ đạc vật dụng gia đình như giường tủ, bàn ghế đều bị hư hỏng, các thiết bị điện bị ngập nước (xem bảng thống kê số 3) Điều đó cho thấy người dân không hề có ý thức chủ động sống chung với nước ngập trong thời gian rất dài, như vậy việc thiết kế nhà ở theo kiểu tránh nước ngập (tầng dưới chỉ sử dụng vào mùa khô)

và vật dụng tránh nước mùa mưa (ví dụ chỉ nên dùng bàn ghế nhựa hơn là gỗ nhân tạo MDF), bố trí đồ điện trên gác xép, tầng cao là cần thiết, cũng như được trang bị các công cụ chống ngập (máy bơm, ủng) cùng kỹ năng sống chung với nước ngập vào 6 tháng mùa mưa làm giảm thiểu rủi ro là điều rất hệ trọng như phòng ngừa các bệnh tật (ghẻ lở, ngứa), chống muỗi, rắn cắn, điện giật, sụp hố công trình, sập nhà, nứt tường, chết đuối Nhân đây chúng tôi nhắc đến hai trường hợp điển hình sống chung với nước ngập là khu dân cư phía Nam của Bangkok trên bờ sông Chaopraya và khu dân cư sống bên bờ sông Pasis của Manila Họ đã sống chung với nước ngập từ hàng chục năm nay một hoà thuận thảo và hiệu qủa

Trong nghiên cứu của chúng tôi kết quả cho thấy đã có người chết do điện giật, trẻ con chết đuối, hàng chục người bị thương do sụp hố khi nước dâng cao, còn hiện tượng ghẻ, lở, nước ăn chân, tiêu chảy (do dùng nước nhiễm bẩn), nhà sập, tường đổ là rất phổ biến (xem báo cáo chuyên đề)

Nghiên cứu 450 người dân và cán bộ với câu hỏi: Ông bà có nghe nói gì đến hiện tượng biến đổi khi hậu không thì có đến hơn 60% trả lời chưa từng biết đến và không quan tâm là điều mà chúng ta cần suy nghĩ Rõ ràng là nhiều người dân không có ý thức gì về một hiện tượng có tính toàn cầu đang xảy ra

và sẽ tác động trực tiếp đến đời sống của chính mình

Bảng 5 Nhận thức của người dân về tình trạng biến đổi khí hậu

2 Bình Trị Đông, Bình Tân 21.2% 78.8%

3 Phú Thọ Hoà, Tân Phú 82.5% 17.5%

Trang 29

1 Cần phải cho người dân thấy được khả năng tham gia của chính họ trong việc giảm thiểu các thiệt hại và hạn chế bớt các tác hại của ngập nước ngay tại cộng đồng

Nghiên cứu thực tế cho thấy một trong số các nguyên nhân đưa đến tình trạng ngập nước thêm trầm trọng là do chính các hoạt động thiếu ý thức của người dân, nhất là vùng ngập nước do mưa và nước thải sinh hoạt Một khi cán

bộ cấp quận, phường và người dân cĩ ý thức rõ ràng được tác hại từ hành động của mình gây ra, một khi người dân hiểu biết hơn và cĩ ý thức tích cực trong hành động thì chắc chắn tình trạng ngập nước xấu như hiện nay sẽ cải thiện được tốt hơn Những hành động tích cực khơng chỉ trong mỗi gia đình mà phải

cĩ liên kết cộng đồng cùng chung tay gánh vác và chia sẻ trong các hoạt động đĩng gĩp (tài chính, sức người) cho phịng chống ngập nước, trong các tình huống ứng phĩ nhanh do nước ngập cao để giải quyết sự cố xảy ra Sự liên kết cộng đồng (cá nhân, hộ gia đình, tổ chức xã hội, tổ chức tơn giáo, chính quyền

và nhân dân) để đấu tranh chống các hiện tượng hủy hoại mơi trường, phá hoại các cơng trình tiêu thốt nước, lấn chiếm đất cơng, lấp ao hồ, kênh rạch tùy tiện của cá nhân, gia đình và các cơng ty trên địa bàn phường, xã

Một trong số các giải pháp cĩ tính chiến lược trong chương trình hành động tồn cầu là tăng cường khả năng thích nghi của người dân trước mọi biến đổi của khi hậu, thời tiết Những khả năng thích nghi đĩ khơng chỉ là hành động bản năng mà là một chuỗi các hành động cĩ tính tốn từ cấp nhân loại, đến quốc gia, cộng đồng và từng cá nhân Mục tiêu của hành động này là giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất, biến rủi ro thành cơ hội sống mới, thích nghi về kinh tế và xã hội, thích nghi với mơi trường tự nhiên để tạo ra mơi trường sống phi truyền thống, thích nghi một cách hiệu qủa biến sự bất bình thường thành bình thường

(nguồn “Biến đổi khí hậu toàn cầu, nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” TS Hoàng Minh Hiền, TS Nguyễn Hữu Ninh, Bộ NN và PTNT)

Trang 30

Tình trạng ngập tại một khu dân cư vùng ngập phía Nam TP

1 mét nước ngập trong nhà

Mức ngập trong khu

dân cư 1,4 mét

Trang 31

Dưới đây chúng tôi đề ra một số giải pháp nhằm giảm bớt ngập nước và nhằm giảm thiệt hại, rủi ro do nước ngập gây ra Chắc chắn những giải pháp này có thể chưa đủ, nhưng đã được thảo luận với cộng đồng dân cư, với cán bộ địa phương và với một số nhà khóa học có quan tâm chúng tôi hy vọng các giải pháp này sẽ được tiếp tục bổ sung và hoàn thiện thêm trong thời gian tới

II CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT CHO VIỆC GIẢM NGẬP NƯỚC TỪ CHÍNH CỘNG ĐỒNG

Giải pháp thứ nhất:

Giảm thiểu tối đa việc beton hóa bề mặt đất của nơi cộng đồng cư trú, tranh thủ tối đa việc tạo ra các khoảng trống để nước tự thấm, giảm thiếu dần tiến tới cấm phát triển kiểu dãy nhà ống không có khoảng giãn cách cây xanh và thảm thực vật, áp dụng tích cực các giải pháp của “kỹ thuật sinh thái” vào chống ngập nước

1 Giảm thiểu việc beton hóa mặt đất tăng khả năng tự tiêu thoát

Trong khi nghiên cứu 5 khu vực bị ngập nước dưới các hình thức khác nhau (ngập triều, ngập nước mưa, ngập nước thải và kết hợp cùng lúc nhiều loại khác nhau) cho thấy một hiện tượng phổ biến là hiện tượng beton hóa quá cao gần đến 100% bề mặt của diện tích đất cư trú

Một hình ảnh thường thấy là các cơ quan công quyền, công sở, công ty

và người dân luôn tìm mọi cách tráng cement tất cả những chỗ nào có đất hở

ra, kể cả trong nhà, ngoài sân, đường hẻm và không gian chung và coi đó là một việc cần thiết để tạo ra được một môi trường sạch sẽ, nhìn sạch mắt, dễ làm vệ sinh, dễ quét dọn Nhưng chính điều này đã làm cho nước mưa, nước triều và nước thải không còn cơ hội nào để ngấm, các khu dân cư bị phủ một lớp beton giống như các chảo đựng nước, mỗi khi mưa nước bị ứ đọng khắp nơi và hơi nước bốc lên nóng hổi và rất nặng mùi

Từ nghiên cứu ở các cộng đồng kết quả cho thấy mức độ đo lường của Beton hóa như sau:

Trang 32

Bảng 6 Mức độ Beton hóa khu dân cư

Việc giảm beton hóa mang lại rất nhiều tác dụng khác nhau như:

 Tăng bề mặt thấm nước6

,

 Giảm sức nóng do beton toả ra, nhất là sau khi mưa,

 Lợi dụng đất trống trồng cây cung cấp oxy, ngăn bụi, tiếng ồn

 Tạo ra các tiểu công trình cảnh quan môi trường làm cho đời sống dân cư sinh động: công viên, vườn dạo, thảm cỏ, dải cây xanh

 Các hồ nước lưu tạm không chỉ điều tiết nước mà còn tạo ra môi trường vi khí hậu

6Theo nghiên cứu của “công nghệ bảo vệ nguồn nước” của Tourbier và Westmacott (1981) thì đất tự nhiên có khả năng tự thoát tới 90% lượng nước trong đó 50% ngấm xuống đất và 40% bốc hơi Đô thị bề mặt bị cứng hoá chiếm 75-100% diện tích bề

Trang 33

Tình trạng beton hóa phổ biến trong toàn

Trang 34

Thật ra ở vùng đất Nam Bộ xưa nay cách thức chống ngập nước tốt nhất là cùng sống chung với tự nhiên, lợi dụng tự nhiên để tồn tại Nếu đồng bằng Sông Hồng và các tỉnh phía Bắc tập trung vào việc đắp đê, trị thủy, chống đỡ

bị động thì vùng đất phía Nam lại chung sống và nương tựa vào thiên nhiên hàng trăm năm nay trở thành một cách sống truyền thống Rõ ràng trước những năm 1980 tình hình ngập nước ở thành phố này là rất ít, ngập nhanh khi triều lên hay mưa xuống, nhưng rút rất nhanh Một trong số các yếu tố hỗ trợ cho việc thoát nước dễ dàng là nước tự ngấm xuống lòng đất và chảy ra các hồ ao, kênh rạch chằng chịt Sau năm 1990, đô thị hóa nhanh, người dân các nơi đổ về nhiều, lấp hết các hồ ao, kênh rạch, beton hóa bề mặt đất, xây dựng công trình lớn chiếm dụng bề mặt đất, làm các con đường lớn ở vùng ven ngăn dòng thoát, định hướng phát triển đô thị và các khu dân cư sai nên ngập càng trở nên

trầm trọng và dữ dội hơn TS Tô Văn Trường có nhận định “ở Thành phố Hồ

Chí Minh, 20 năm về trước, ngập lụt do mưa không nghiêm trọng vì lúc đó không gian còn thông thoáng, mưa vẫn có đường thoát nhanh ra sông, kênh rạch Hiện nay, khu trữ nước trong dân không còn, bờ bao tạm bợ, lộn xộn, việc xây dựng và nâng cấp công trình hạ tầng cơ sở đã làm cản trở việc tiêu thoát nước mưa ra sông, kênh Đấy chính là một trong số các nguyên nhân làm ngập lụt sau mỗi trận mưa Một thực tế dễ nhận thấy là sau mỗi trận mưa, nước trong kênh rạch khu nội thành dâng lên cao và tiêu thoát chậm, bởi vì kênh mương thu hẹp do lấn chiếm, do nhà tạm Điều này làm cản trở dòng chảy mặt, làm giảm khả năng tiêu thoát nước từ kênh ra sông, kéo theo là các chất thải trên mặt nước gây ô nhiễm nặng cho môi trường”7

Trong bài viết mới đây trên báo Tuổi Trẻ nhân dịp triều cường đạt mức cao nhất trong 49 năm qua có tựa đề “Bài học vẫn chưa thuộc” TS Tô Văn Trường

một lần nữa lại nhấn mạnh thêm điều này: “Đối với TP.HCM, nguyên nhân

ngập lụt được các nhà khoa học xác định là do mưa, thủy triều, xả lũ từ các hồ chứa ở thượng lưu và những hạn chế của hệ thống tiêu thoát nước hiện nay Tuy nhiên, còn nguyên nhân rất quan trọng gây ra ngập úng TP mà ít khi được nhắc đến, ấy chính là “nhân tai” Theo dõi đường mực nước suốt từ năm 1990-2008, hầu như mực nước biển ở Vũng Tàu vẫn nằm ngang nhưng mực nước ở phía trong như các trạm Phú An, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Nhà Bè, Tân

An, Bến Lức tăng trung bình 1,5cm/năm nên nhiều nhà khoa học cho rằng do quá trình đô thị hóa, con người san lấp kênh rạch làm giảm khu trữ nước, thoát nước” (xem Tuổi trẻ ngày 14-11-2008)

7

Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh Kỷ yếu hội thảo góp ý đề án “Qui hoạch thuỷ lợi phục vụ việc tìm kiếm giải pháp chống ngập úng cho TP Hồ Chí

Trang 35

Do vậy kiến nghị của chúng tôi là cố gắng giữ lại bề mặt đất hở ở mức nhiều nhất có thể (ở những nơi đang đô thị hóa mới) và khôi phục các khoảng đất trống cho dù nhỏ nhất để cho nước ngấm, không được tráng cement tất cả các khoảng trống ở khu dân cư Các khoảng trống đó có thể là một góc sân trồng cây xanh, một vạt cỏ xanh, một gốc cây không có khung bao nổi, một dải đất ven đường, các khoảng trống giữa các giao lộ, các khoảng đất giữa các nhà

Một số phường hiện nay có một vài bãi đất trống, thường là các vạt đất dọc theo kênh, hoặc đất của chùa, ao hồ còn sót lại, tuy không nhiều và không lớn nhưng rõ ràng nếu biết tận dụng chúng có tác dụng tham gia giảm ngập, nhưng những bãi đất trống này hiện nay là bãi đổ rác, người dân không có ý thức vệ sinh làm bẩn môi trường và hơn nữa, do ô nhiễm người dân không muốn để lại các vạt đất trống đó, trong khi một số người có tiền cùng với sự trợ lực của quan chức địa phương tìm mọi cách biến các ao, hồ, mảnh đất trống đó thành công trình xây dựng, đôi khi những ý định này lại được chính quyền cấp trên ủng hộ Một trong số các ví dụ điển hình mà nhóm nghiên cứu phát hiện thấy là trước khi xây các chung cư mới, các chủ đầu tư đều có chừa ra trên bản

vẽ thiết kế 1:500 một hai miếng đất làm công viên, vườn cây xanh, hồ điều tiết nước phòng khi mưa to theo đúng tiêu chuẩn xây dựng của bộ xây dựng, nhưng trên thực tế các chủ đầu tư bằng cách này hay cách khác tìm cách thanh toán hết các phần đất trống này để làm nhà (tăng mức lợi nhuận tối đa), trong trường hợp buộc phải chừa đất công viên thì cũng không trồng cây xanh mà cố tình sử dụng làm bãi rác, biến thành đất làm nhà hoặc tráng cement cho đỡ bẩn, khiến cho cả khu dân cư trở thành một cái chảo beton chứa nước

Để việc giảm bề mặt bị “cứng hóa” và tăng mức độ tự thấm theo chúng tôi cần phải thực hiện các hoạt động sau:

 Thiết chế hóa bằng qui định trong các văn bản chính thức về qui hoạch

và xây dựng làm sao cho các nhà thầu, các nhà dân tự xây phải thực hiện việc xanh hóa diện tích xây dựng và diện tích công cộng

 Động viên, thuyết phục người dân về lợi ích đa dụng của công việc này, bên cạnh đó đưa các kỹ thuật mới vào trong cộng đồng dân cư, vận động nhân dân thông qua các hình thức khác nhau, đặc biệt là thuyết phục qua các mô hình, các tiểu dự án cấp cộng đồng

Trang 36

thống (cống hộp, kênh hở, máy bơm, van điều tiết) ra thì các giải pháp “kỹ thuật sinh thái” này có giá trị đa mục tiêu hơn là chỉ có thuần túy thoát nước Những khu dân cư mới hiện nay đang hình thành và tiếp tục phát triển mạnh

mẽ như Nam Sài Gòn, Phước Kiển -Nhà Bè (366 ha), Linh Trung-Thủ Đức (Đô thị ĐH Quốc gia TP HCM có diện tích 644 ha), Thủ Thiêm (737 ha), Đô thị Tây Bắc Củ Chi (6.000 ha) hoàn toàn có thể cùng một lúc sử dụng cả hai giải pháp tiêu thoát nước là kỹ thuật truyền thống và “kỹ thuật sinh thái”

Trong khi đề cập đến việc giải quyết nước thấm cục bộ, ở đây chúng tôi muốn nói đến một phương pháp được gọi là “kỹ thuật sinh học” tạo ra các cách thức ngấm nước, thoát nước cục bộ tốt nhất mà PGS.TS Đoàn Cảnh, cán bộ nghiên cứu Viện sinh học nhiệt đới đang nghiên cứu, phổ biến

Kỹ thuật sinh học là một tư duy mới trong việc ứng xử với nước mưa và nước ngập Nó không chỉ là việc sử dụng các công cụ kỹ thuật, ứng dụng các giải pháp sinh học vào phát triển đô thị mà còn là sự thay đổi trong nhận thức

và hành động của cả cộng đồng

Về nhận thức thì giải pháp kỹ thuật sinh học cũng chỉ là một trong số các giải pháp bổ sung cho giải pháp công trình trong việc phòng chống ngập lụt, nhưng điểm ưu việt của nó là:

- Nó góp phần tái tạo và sử dụng nước mưa, nước triều vào việc bổ sung cho nước ngầm của thành phố bị khai thác ngày càng cạn kiệt khiến cho một số vùng đang bị lún, chất lượng nước bị giảm Việc lưu giữ nguồn nước mưa và nước triều vào mục đích làm tăng độ ẩm của đất và cung cấp nước cho cây xanh

- Sử dụng các cách thức đơn giản, không tốn kém, không đòi hỏi các kỹ thuật phức tạp góp phần giảm bớt tình trạng ngập nước trên toàn thành phố và ở cộng đồng Bất cứ cá nhân, hộ gia đình, công sở, trường học, bệnh viện nào cũng có thể ứng dụng được trong phạm vi khuôn viên của mình miễn là có ý thức Biện pháp này đơn giản đến mức những người

áp dụng nó (kể cả người già, thiếu nhi) không thấy khó khăn và khá nhẹ nhàng Chẳng hạn các góc sân trong gia đình trồng một vài bụi cây, tuy rất nhỏ nhưng hàng nghìn những khoảng đất trống nhỏ nhoi đó hợp sức lại sẽ góp phần tiêu thoát một lượng nước khổng lồ (tiêu và thoát ở đây được hiểu là “tiêu dùng” và thoát đi khỏi bề mặt đất)8, những cây trồng ven đường thay vì làm khung bao cho rác khỏi vào gốc cây thì phá bỏ

Trang 37

và làm trũng xuống để tiêu và thoát nước khi mưa xuống Hàng triệu gốc cây như thế trong thành phố sẽ góp phần làm cho tình trạng ngập nước tiêu cực bị giảm bớt Các công sở không quá tham khi tráng cement toàn bộ bề mặt sân và đường bao mà tạo ra các dải cỏ thấm nước, các hố lưu nước tạm thời, các mương thấm thực vật

- Các giải pháp kỹ thuật sinh học ở đây là:

 Ao, hồ lưu nước tạm thời

 Hồ điều hòa kết hợp cảnh quan với điều tiết nước

 Sử dụng các vật liệu thấm trong xây dựng các công trình công cộng

và gia đình

 Hạn chế bề mặt không thấm, mở rộng bề mặt thấm trong các không gian sống

………

Bằng nghiên cứu của mình, ông đã chứng minh rằng khả năng tự ngấm,

tự tiêu thoát của chính thiên nhiên là rất lớn Nhóm nghiên cứu của ông đang

áp dụng thử nghiệm phương pháp này ở khu vực dân cư xung quanh công viên Hoàng Văn Thụ, bước đầu đã cho kết quả và có thể nhân rộng ra nhiều khu dân

cư khác Theo chúng tôi các phương thức đề xuất của ông rất khả thi trong khi

áp dụng vào thành phố, đặc biệt là ở các khu đô thị hóa mới và trong các cộng đồng cư dân đang bị ngập nước hiện hữu Tuy nhiên để thực hiện kỹ thuật này đòi hỏi sự nhất quán và quyết tâm cao của chính quyền các cấp từ thành phố tới chính quyền địa phương, từ các doanh nghiệp tới các gia đình Việc tiếc một mảnh đất nhỏ trong khu dân cư làm vườn dạo, một góc sân làm vườn trũng lưu trong khuôn viên gia đình mà ưa thích beton hóa toàn bộ bề mặt là hiện tượng phổ biến trong các thành phố của Việt Nam Về giải pháp kỹ thuật này chúng tôi giới thiệu ở phần phụ lục bài viết của PGS.TS Đoàn Cảnh Trong phần này chúng tôi chỉ giới thiệu một vài hình ảnh dễ nhận biết của phương pháp này

Trang 38

Biến hồ nước tự nhiên thành hồ điều tiết tại khu dân cư (dự án 415)

Không nên làm bờ bao đối với cây dọc đường phố nhằm tạo cơ hội thấm nước

bề mặt

Trang 39

Dải phân cách bằng máng thảm cỏ tốt hơn so với bằng cement

Sân tự thấm hiệu quả hơn so với sân gạch và cement

Bờ bao sân cỏ ít hiệu quả hơn không sử dụng bờ bao

Trang 40

Những ô đất trống hiếm hoi trong khu dân cư cần được giữa lại cải tạo thành hồ điều tiết sinh thái nhằm phục vụ cho việc thấm nước cục bộ

2 Giảm bớt phát triển nhà hình ống liên kế ở vùng ngập

Một điểm nữa mà chúng tôi muốn nhấn mạnh trong phần này là kiểu nhà ống liên kế theo dãy ở TP Hồ Chí Minh đang phát triển quá nhanh ở khu vực ngoại thành, trong đó có cả ở các khu vực ngập nước

Nhà dãy hình ống là những dãy nhà kéo dài liên tục hàng km Nó là sự kết hợp của hàng nghìn căn nhà hẹp chiều ngang, thiên về chiều dài, chiều ngang thường chỉ từ 3 mét đến 4 mét và dài từ 12 đến 18 mét Loại nhà nay do người Hoa di cư mang đến Việt Nam từ các tỉnh Phía Nam sông Dương Tử của Trung Quốc như Quảng Châu, Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến vào khoảng đầu TK 17 Ngày nay nó được coi là một kiểu nhà điển hình của các thành phố lớn của Việt nam như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Đặc tính chung của chúng là các nhà liền nhau, chung vách tạo thành dãy, chạy cặp theo đường phố và trong các con hẻm, không cây xanh, không vỉa hè (nếu có thì rất hẹp), không có dải phân cách mềm (cây xanh, thảm cỏ) giữa đường đi và nhà ở, không có các vườn dạo, công viên mini xen kẽ giữa các dãy nhà cắt chia dãy nhà ra từng ô phố

Ngày đăng: 30/03/2021, 00:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Qui hoạch thủy lợi phục vụ việc tìm kiếm giải pháp chống ngập lụt cho TP. HCM. tháng 3- 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
2. Báo cáo thường niên của các quận và phường (trong mẫu nghiên cứu) về hành chính, dân số, đất đai và hoạt động xã hội từ năm 2001 đến 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên của các quận và phường
3. Đồ án qui hoạch tổng mặt bằng chung đến năm 2010. Chính phủ phê duyệt ngày 16-01-1993 theo quyết định 20/TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ án qui hoạch tổng mặt bằng chung đến năm 2010
4. Đồ án điều chỉnh qui hoạch chung thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định 123/1998/QĐ- TTg ngày 10/7/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ án điều chỉnh qui hoạch chung thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020
5. Nguyễn Thị Thủy, Quá trình đô thị hóa ở ven đô TPHCM, Luận án tiến sĩ lịch sử , Trường ĐHKHXH và NV, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình đô thị hóa ở ven đô TPHCM
6. Nguyễn Đình Đầu, From Saigon to HoChiMinh City, 300 year history. Science and Technics Publishing House, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: From Saigon to HoChiMinh City, 300 year history
7. Nguyễn Minh Hòa. Vùng đô thị châu Á và TP. Hồ Chí Minh, NXB TP. Hồ Chí Minh, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng đô thị châu Á và TP. Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB TP. Hồ Chí Minh
8. Thực trạng ngập nước tại TP. HCM: Nguyên nhân và giải pháp. Kỷ yếu hội thảo tại Viện Kinh tế TP. HCM, 4-8-2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng ngập nước tại TP. HCM: Nguyên nhân và giải pháp
9. Thành phố Hồ Chí Minh tự giới thiệu, tập 1 và 2, NXB TP. Hồ Chí Minh, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phố Hồ Chí Minh tự giới thiệu, tập 1 và 2
Nhà XB: NXB TP. Hồ Chí Minh
10. Trung tâm nghiên cứu phát triển Đô thị và Cộng đồng, Nhiều tác giả, Những vấn đề của phát triển không gian đô thị, NXB Đại học quốc gia TP. HCM, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của phát triển không gian đô thị
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TP. HCM
11. Trung tâm nghiên cứu phát triển đô thị và Cộng đồng. Ngập lụt và nhà ở tại các đô thị Châu Á - Kinh nghiệm cho TP. Hồ Chí Minh.NXB TP. Hồ Chí Minh, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngập lụt và nhà ở tại các đô thị Châu Á - Kinh nghiệm cho TP. Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB TP. Hồ Chí Minh
12. Trường ĐH Khóa học xã hội và Nhân văn TP. HCM, Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, Những vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, Những vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
13. Võ Kim Cương. Quản lý đô thị - Thời Kỳ chuyển đổi. NXB Xây Dựng. 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đô thị - Thời Kỳ chuyển đổi
Nhà XB: NXB Xây Dựng. 2004
14. Viện qui hoạch xây dựng TP. Hồ Chí Minh. Hiện trạng và dự báo phát triển dân số đến 2025. TP. HCM, 3-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng và dự báo phát triển dân số đến 2025
15. Viện kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Thực trạng ngập nước tại TP. Hồ Chí Minh: Nguyên nhân và Giải Pháp. Kỷ yếu hội thảo, 8-2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng ngập nước tại TP. Hồ Chí Minh: Nguyên nhân và Giải Pháp
16. MARD (2003). Living with floods in the Mekong River Delta of Vietnam. Proceeding of the International Seminar on Flood Management, Hanoi. 17-21 Nov. 2003, pp85-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Living with floods in the Mekong River Delta of Vietnam
Tác giả: MARD
Năm: 2003
17. Government of Vietnam (2001). Second National Strategy and Action Plan for Disaster Mitigation and Management in Vietnam – 2001 to 2020. Government of Vietnam, Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Second National Strategy and Action Plan for Disaster Mitigation and Management in Vietnam – 2001 to 2020
Tác giả: Government of Vietnam
Năm: 2001
18. Dang Quang Tinh (2003). Flood kindergarten: community need to community solution. In World Disaster Reduction Campaign Living with risk: Turning the tide on disasters towards sustainable development Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dang Quang Tinh "(2003). "Flood kindergarten: community need to community solution
Tác giả: Dang Quang Tinh
Năm: 2003
19. Pham Thi Lan (2000): Need assessment in response to flood disaster in Mekong River Delta. Unpublished report. Save the Children in Vietnam, Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Need assessment in response to flood disaster in Mekong River Delta
Tác giả: Pham Thi Lan
Năm: 2000
20. Wickramanayake, E. (1994): Flood mitigation problems in Vietnam. Disasters 18, 81-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flood mitigation problems in Vietnam
Tác giả: Wickramanayake, E
Năm: 1994

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w