1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở việt nam hiện nay

157 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 812,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu của các tác giả như: Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng chính trị trong thời kỳ phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Vũ Văn Gầu

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2009

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Hồ Trần Hùng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU .1

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ, CHÍNH TRỊ VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM 7

1.1 Kinh tế, chính trị và mối quan hệ giữa chúng 7

1.1.1 Khái niệm kinh tế 7

1.1.2 Khái niệm chính trị……… 9

1.1.3 Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị……… 12

1.2 Quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện nay……… 23

1.2.1 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam23 1.2.2 Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay……… 31

1.2.3 Đặc điểm về quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam 39

1.3 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị và đảm bảo công bằng xã hội………… 43

1.3.1 Khái niệm, mục tiêu, nhiệm vụ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa……….43

1.3.2 Nội dung và đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.ở Việt Nam……… 47

1.3.3 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và vấn đề tăng trưởng kinh tế gắn với ổn định chính trị và đảm bảo công bằng xã hội………… 53

Trang 4

Chương 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ

TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM 61

2.1 Thực trạng kinh tế và chính trị Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện

2.1.1 Thành tựu và một số mâu thuẫn cơ bản của kinh tế Việt Nam từ

2.1.2 Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay – thành tựu và những hạn chế cơ bản……… 72 2.1.3 Sự thống nhất và một số mâu thuẫn giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa……… 83

2.2 Những yêu cầu, giải pháp nhằm tăng tính thống nhất giữa phát triển kinh tế thị

trường và xây dựng hệ thống chính trị trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2.2.1 Một số yêu cầu mang tính định hướng……… 96 2.2.2 Tăng cường vai trò của chính trị trong phát triển kinh tế… 101 2.2.3 Đổi mới hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế

……….115

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang vững bước tiến vào thế kỷ XXI với vị thế của một nước độc lập, tự chủ và phát triển Toàn Đảng, toàn dân đang một lòng quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hướng tới mục tiêu xây dựng một chế độ xã hội mới “công bằng, dân chủ, văn minh”, tiến lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, bước vào những năm đầu của thế kỷ mới, thế giới đang đối diện với nhiều biến động phức tạp trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị Xu thế hội nhập quốc tế rộng rãi đã và đang mang lại nhiều thời

cơ thuận lợi cho con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, nhưng cũng chính xu thế ấy đang đặt vận mệnh đất nước trước những nguy cơ hiện hữu, mà nếu thiếu thận trọng trong nhận thức, trong từng bước đi thì rất có thể chúng ta sẽ phải trả giá đắt và mục tiêu tiến lên chủ nghĩa xã hội sẽ chỉ mãi là mục tiêu

Kinh tế và chính trị vốn là hai lĩnh vực nền tảng của xã hội, là biểu hiện tập trung nhất của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định Chính vì thế, xem xét, tìm hiểu về mối quan hệ biện chứng giữa hai yếu tố này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đặc biệt quan trọng, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Những thành tựu đạt được trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua chắc chắn không thể tách rời công lao của Đảng, Nhà nước trong việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và ổn định chính trị trong từng giai đoạn phát triển đất nước

Chế độ chính trị chúng ta đang xây dựng hiện nay là nhất nguyên chính trị do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Trong khi mô hình kinh tế tất yếu mà chúng ta lựa chọn cho thời kỳ quá độ là kinh tế thị trường định

Trang 6

hướng xã hội chủ nghĩa Vậy liệu có sự thống nhất, phù hợp giữa kinh tế thị trường nhiều thành phần với chế độ chính trị nhất nguyên không? Lựa chọn mô hình phát triển nào là tối ưu cho Việt Nam trong thời kỳ quá độ?

Các thế lực thù địch, phản động vẫn đang bền bỉ thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” với mức độ và tính chất ngày càng tinh vi, hòng chống phá sự nghiệp cách mạng của chúng ta Chúng rêu rao rằng Việt Nam đang xây dựng chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa trên nền tảng hạ tầng kinh tế tư bản chủ nghĩa; rằng kinh tế thị trường nhất định không thể dung hòa với chủ nghĩa xã hội, và với một nền kinh tế đa thành phần như ở nước ta hiện nay nhất thiết phải xây dựng một chế độ đa đảng, đa nguyên chính trị tương ứng…vv Đưa ra những luận điểm này, kẻ thù muốn lợi dụng tình hình khó khăn, phức tạp của thời kỳ quá độ hòng làm suy giảm lòng tin của nhân dân ta vào con đường phát triển của dân tộc, vào chế độ, mục tiêu và lý tưởng cách mạng Đó thực sự là những kết luận vô căn cứ, thiếu cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn, thể hiện sự non nớt trong nhận thức hoặc là biểu hiện của những âm mưu chống phá, phản động Nhưng cũng qua đó để thấy rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc tìm ra con đường tối ưu cho bước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn là một vấn đề nan giải Yêu cầu có ý nghĩa sống còn lúc này là phải giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với ổn định chính trị và đảm bảo công bằng xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển Trong điều kiện đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ đó có những giải đáp mới cho vấn đề này nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiển phát triển đất nước là một yêu cầu bức thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Như đã nói, vấn đề về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là một trong những vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, nhất là

Trang 7

trong giai đoạn phát triển đất nước ta hiện nay Vì vậy, thời gian qua vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu của đông đảo các học giả, các nhà khoa học trong và ngoài nước Liên quan đến đề tài, trước những năm 1975 ở Việt Nam có xuất bản một số cuốn sách của các

tác giả nước ngoài về vấn đề lý luận có liên quan như: Bàn về cơ sở hạ

tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kỳ quá độ ở Trung Quốc (Đinh

Tư), Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, năm 1957; Kinh tế và chính trị trong

thời đại chuyên chính vô sản (V.I.Lênin), Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội,

năm 1970 Đối vối các học giả trong nước, vấn đề này cũng thu hút được khá nhiều sự quan tâm Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu của

các tác giả như: Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng

chính trị trong thời kỳ phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam (Trần Phúc Thăng), Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội, năm 2000; Một số vấn đề về định hướng XHCN ở nước ta, (Trần Xuân Trường), Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000; Về định hướng xã hội chủ

nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, (Nguyễn Phú

Trọng) (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2001;

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, (Nguyễn Duy Quý), Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia, Hà Nội, năm 2002; Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ

nghĩa xã hội ở Việt Nam, (Nguyễn Đức Bình (chủ biên)), Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2003; Nền kinh tế quá độ trong thời kỳ

quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, (Vũ Văn Phúc), Nhà xuất bản Lý

luận chính trị, Hà Nội, năm 2005; Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận

của Đảng, (2 tập), (Tô Huy Rứa – Hoàng Chí Bảo – Trần Khắc Việt – Lê

Ngọc Tòng (đồng chủ biên)), Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, năm 2005…

Trên phương diện báo chí, đề tài cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả Dù rất ít bài viết đề cập trực tiếp đến mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, nhưng bằng nhiều hướng tiếp cận khác nhau, các tác

Trang 8

giả đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận có liên quan Trong số

đó có thể kể đến một số bài viết như: Phát triển kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân và phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế (Phan Văn Khải), Tạp chí cộng sản, số 6, năm

2002; Quan hệ giữa kinh tế với chính trị trong công cuộc đổi mới ở Việt

Nam, (Đoàn Quang Thọ), Tạp chí triết học, số 2, năm 1997; Tiến trình 15 năm xây dựng quan hệ sản xuất mới và cơ chế quản lý mới trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta (Lương Minh Cừ) Tạp chí triết học, số 4, năm

2000; Phát triển các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa, (Nguyễn Nhâm), Tạp chí lý luận chính trị, Số 3,

năm 2006; Một số luận đề về định hướng xã hội chủ nghĩa và đổi mới hệ

thống chính trị ở Việt Nam, (Hoàng Chí Bảo), Tạp chí lý luận chính trị, Số

5, năm 2006; Phát triển kinh tế tư nhân và vấn đề đảng viên làm kinh tế tư

nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, (Vũ Văn

Gầu), Tạp chí triết học, số 9, 2007…

Tóm lại, dù vấn đề về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam chưa được nghiên cứu nhiều nhưng từ những góc độ khác nhau, bằng hình thức trực tiếp hay gián tiếp, vấn đề này đã được các học giả, các nhà khoa học tiếp cận, nghiên cứu và bước đầu làm sáng tỏ một số nội dung quan trọng trên cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn Đó thực sự là những nguồn tư liệu quý giá giúp tác giả hoàn thành luận văn này

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm giới hạn của luận văn

- Mục đích:

Làm rõ mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

- Nhiệm vụ:

Trang 9

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản sau:

- Hệ thống hóa các khái niệm kinh tế, chính trị, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, từ đó xem xét biểu hiện của mối quan hệ ấy ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích nội dung và những đặc điểm cơ bản của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam, từ đó chỉ ra những yêu cầu mà công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra nhằm đảm bảo phát triển kinh tế gắn với ổn định chính trị và đảm bảo công bằng xã hội

- Phân tích thực trạng nền kinh tế và hệ thống chính trị Việt Nam để thấy được những thành tựu và hạn chế của từng yếu tố, đồng thời chỉ

ra sự thống nhất và một số mâu thuẫn giữa kinh tế và chính trị hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế gắn với xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, làm cho chính trị ngày càng phù hợp hơn với kinh tế và tác động tích cực lên kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Giới hạn nghiên cứu:

Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ cố gắng giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trên cơ sở xem xét những biểu hiện cơ bản của mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cụ thể là giữa việc phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng một hệ thống chính trị phù hợp với nền tảng kinh tế và phát huy tốt vai trò lãnh đạo kinh tế phát triển

Về mặt thời gian, luận văn chủ yếu tập trung phân tích các nội dung của đề tài từ sau ngày đất nước bước vào sự nghiệp đổi mới (1986), đặc biệt là những năm đầu thế kỷ XXI

Trang 10

4 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu của luận văn

Phương pháp luận: Luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan và phương

pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiện cứu: Tác giả vận dụng kết hợp các phương pháp

như: phân tích và tổng hợp, trừu tượng và cụ thể, lôgic và lịch sử, so sánh và phương pháp hệ thống nhằm đạt mục đích nghiên cứu

Nguồn tài liệu: Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh; các Văn kiện Đại hội, Hội nghị của Đảng; kết hợp nghiên cứu, kế thừa các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả có liên

quan đến đề tài

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận, luận văn góp phần làm rõ thêm về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị theo quan điểm mácxít và biểu hiện mối quan hệ ấy ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Qua đó, tác giả mong muốn đóng góp phần khiêm tốn sức mình vào việc làm phong phú thêm lý luận về thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Về mặt thực tiễn, những kết quả mà luận văn đạt được có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đối tượng là sinh viên, học viên trong các trường đại học, cao đẳng khi có nhu cầu tìm hiểu và nghiên cứu về những vấn đề liên quan

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 11

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ, CHÍNH TRỊ VÀ CÔNG

NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM

1.1 KINH TẾ, CHÍNH TRỊ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÚNG

1.1.1 Khái niệm kinh tế

Thuật ngữ kinh tế xuất hiện lần đầu tiên ở Phương Đông trong sách cổ “Chu dịch” của Trung Quốc với hai chữ “Kinh” và “Tế” Sau đó trong các văn bản cổ đời Tùy, đời Tống, thuật ngữ “kinh tế” tiếp tục được đề cập với nguyên nghĩa là “Kinh quốc tế dân” hoặc “Kinh bang tế thế”, với hàm nghĩa là công việc quản lý, trị vì đất nước và cứu giúp dân nghèo

Ở Phương Tây, thuật ngữ “Kinh tế” xuất hiện sớm nhất trong tác phẩm “Kinh tế luận” của nhà tư tưởng Hy Lạp Xénophon, với nghĩa

“quản lý gia đình”, tức quản lý các mặt sản xuất và sinh hoạt trong gia đình chủ nô

Ngày nay, thuật ngữ kinh tế mang nội hàm phong phú hơn rất nhiều Hàm nghĩa của khái niệm kinh tế (Economy), thứ nhất là để chỉ các hoạt động kinh tế bao gồm những hoạt động về sản xuất, phân phối, trao đổi hoặc tiêu dùng; thứ hai là để chỉ nền kinh tế quốc dân của một nước, hoặc các ngành của nền kinh tế quốc dân như kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp, kinh tế thương nghiệp, vv; thứ ba là dùng để chỉ cơ cấu kinh tế với tư cách là tổng hòa các quan hệ sản xuất xã hội

Để bàn về phạm trù kinh tế, cơ sở đầu tiên cần phải đề cập là hoạt động lao động sản xuất của con người với ba yếu tố cơ bản: hoạt động có mục đích của con người (chủ thể), đối tượng lao động (khách thể) và công cụ lao động Trong đó con người sử dụng công cụ lao động do mình chế tạo tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra của cải vật chất đáp

ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mình Như vậy, khái niệm kinh tế

Trang 12

hiểu một cách chung nhất là toàn bộ hoạt động có mục đích của con người trong quá trình “sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt vật chất” [49, 500]

Xét ở góc độ hình thái tổ chức, kinh tế bao gồm các ngành hoạt động của nó Một nền kinh tế chỉnh thể có thể gồm các ngành kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp, kinh tế thương nghiệp, kinh tế dịch vụ, kinh tế tri thức Ngoài kinh tế ngành, còn có kinh tế vùng, kinh tế đối nội, kinh tế đối ngoại, kinh tế khu vực, kinh tế thế giới, kinh tế quốc dân của một nước, kinh tế toàn cầu trong xu thế hội nhập, vv

Qua đó có thể thấy nội hàm khái niệm kinh tế có thể được hiểu rất

đa dạng theo những cách thức, góc độ tiếp cận khác nhau, chưa kể sự tác động của những biến đổi có tính lịch sử Nhưng dù hiểu theo hướng tiếp cận nào thì kinh tế vẫn là nội dung vật chất cốt yếu của xã hội, là chỉ số quan trọng nhất (dù không phải duy nhất) để đo mức độ phát triển và tiến bộ của một xã hội nhất định

Kinh tế thể hiện sự kết hợp qua lại giữa chủ thể và khách thể kinh tế, con người kinh tế và môi trường kinh tế trong một nền kinh tế nhất định Kinh tế là hệ thống các quan hệ kinh tế, các quy luật kinh tế luôn tác động đan xen, chằng chịt, và vận động, biến đổi không ngừng Trong đó, mấu chốt của khái niệm kinh tế là các quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội

Theo C.Mác, để tiến hành quá trình sản xuất, con người đồng thời phải thực hiện hai quan hệ “song trùng” Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được phản ánh trong phạm trù lực lượng sản xuất Mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất được gọi là quan hệ sản xuất Tổng hợp tất cả các quan hệ sản xuất ấy tạo nên cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định (cơ sở hạ tầng), và đó cũng là cốt lõi của vấn đề kinh tế mà chúng ta nghiên cứu trong mối quan hệ với chính trị – nhân tố quyết định của kiến trúc thượng tầng “Trong sự sản xuất xã hội ra đời

Trang 13

sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ – tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị, và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó” [50, 14 - 16]

Xét về nội dung, cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định bao giờ cũng là “tổng hợp toàn bộ những quan hệ sản xuất” của xã hội đó Trong đó, bên cạnh các quan hệ sản xuất thống trị đặc trưng cho chế độ kinh tế hiện tồn còn có các quan hệ sản xuất “tàn dư” của chế độ cũ và các quan hệ sản xuất “mầm mống” của phương thức sản xuất tương lai Tuy vậy, chế độ kinh tế của một xã hội cụ thể bao giờ cũng được đặc trưng bởi kiểu quan hệ sản xuất thống trị tiêu biểu cho xã hội ấy Các quan hệ sản xuất “thống trị” này luôn ở vị trí trung tâm, giữ vai trò chủ đạo, quyết định tính chất, đặc trưng của nền kinh tế Nó tác động chi phối một cách thường trực đối với các kiểu quan hệ sản xuất “tàn dư”, “mầm mống”, dù các kiểu quan hệ sản xuất “có tính chất quá độ” ấy có vai trò lịch sử nhất định và bản thân sự tồn tại của chúng cũng hoàn toàn khách quan

1.1.2 Khái niệm chính trị

Thuật ngữ chính trị có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Politic” chỉ công việc nhà nước Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, dù tiếp cận ở những góc độ khác nhau nhưng chính trị đều được quan niệm là những công việc liên quan đến nhà nước Ở xã hội Trung Quốc cổ đại, với quan niệm

“nhân đạo chính vĩ đại”, chính trị được hiểu là những hoạt động liên quan đến trị quốc - bình thiên hạ, những việc trọng đại của con người Trong tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại, Platon đã xem chính trị là “nghệ thuật cung đình liên kết trực tiếp các chuẩn mực của người anh hùng và sự thông minh, sự liên kết cuộc sống của họ được thực hiện bằng sự thống nhất tư tưởng và tình cảm hữu ái” Chính tư tưởng này đã để lại

Trang 14

dấu ấn đậm nét trong quan niệm về chính trị của các học giả tư sản phương Tây sau này, khi họ coi chính trị là sự khôn khéo, khả năng đạt đến sự phân chia chức năng mà vẫn đảm bảo duy trì sự tác động qua lại trong hệ thống mang tính chỉnh thể

Khác với khái niệm kinh tế luôn gắn liền ngay từ đầu và mãi mãi với sự tồn tại của xã hội loài người, chính trị theo nghĩa cô đọng nhất là khái niệm có tính lịch sử Chính trị gắn liền với sự xuất hiện giai cấp và các xã hội có giai cấp; nó thể hiện tập trung các quan hệ giai cấp, dân tộc, trong quyền lực chính trị mà trung tâm của quyền lực ấy là nhà nước

Theo V.I.Lênin, chính trị là những hoạt động liên quan đến lợi ích của các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các quốc gia, mà vấn đề quan trọng nhất của nó chính là tổ chức chính quyền nhà nước Trên cơ sở những quan điểm mácxít ấy, Từ điển triết học định nghĩa: “Chính trị là sự tham gia vào công việc nhà nước, việc quy định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước Lĩnh vực chính trị bao gồm các vấn đề về chế độ nhà nước, quản lý đất nước, lãnh đạo giai cấp, vấn đề đấu tranh đảng phái, vv Những lợi ích căn bản của các giai cấp và những quan hệ qua lại của các giai cấp biểu hiện ra trong chính trị” [86;

85, 86] Như vậy có thể khẳng định nhà nước là vấn đề trung tâm của chính trị nhưng hoạt động nhà nước không bao quát hết lĩnh vực chính trị Nói cách khác, chính trị không chỉ và không thể chỉ là vấn đề quyền lực nhà nước (dù suy cho cùng tất cả các hoạt động chính trị đều có mục đích tham gia hoặc gây ảnh hưởng nhất định đến quyền lực của nhà nước) Quan niệm coi chính trị là công việc nhà nước thì vẫn chưa thấy hết nội dung cơ bản của chính trị Nội dung cơ bản của chính trị là mối quan hệ của con người với nhiều cấp độ khác nhau của nó (công dân, tập đoàn người, giai cấp, dân tộc…) với nhà nước

Hiểu theo nghĩa rộng thì chính trị là lĩnh vực quan hệ giữa người và người về mặt xã hội; là quan hệ giữa các cộng đồng người, các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia trong quá trình giải quyết những vấn đề sinh

Trang 15

tồn và phát triển liên quan đến số phận con người, số phận nhân dân và quốc gia Vì vậy quan hệ cá nhân hay quan hệ gia đình không phải là quan hệ chính trị Nói đến chính trị là nói đến hoạt động chính trị, đấu tranh chính trị của công dân, của tập đoàn người, của giai cấp vì những nhu cầu vàø lợi ích chính trị nhất định Một nền chính trị cụ thể luôn là sự thống nhất giữa thể chế chính trị tổ chức và thể chế chính trị hành vi Trong đó thể chế chính trị tổ chức chính là hệ thống thiết chế chính trị thể hiện tập trung quyền lực chính trị của giai cấp thống trị Đó là hệ thống tổ chức của chính đảng, Nhà nước, và các tổ chức chính trị xã hội phi chính phủ khác Mặt khác, đề cập đến chính trị còn là đề cập đến hệ

tư tưởng chính trị của giai cấp thống trị và các biểu hiện của nó như lý luận, lý thuyết, khuynh hướng chính trị, hệ thống hiến pháp, pháp luật, vốn là công cụ không thể thiếu để thực hiện quyền lực nhà nước

Chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội nhưng chính trị không đồng nhất hoàn toàn với kiến trúc thượng tầng Chính trị chỉ là bộ phận quan trọng nhất, đặc trưng nhất của kiến trúc thượng tầng xã hội Những yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng như ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, ý thức khoa học và các thiết chế tương ứng của nó, dù không thể hoàn toàn đứng ngoài chính trị, càng không thể không chịu sự tác động chi phối của chính trị nhưng bản thân các yếu tố ấy không phải là những bộ phận hữu cơ cấu thành phạm trù chính trị “Chính trị là bộ phận tạo thành quan trọng nhất của kiến trúc thượng tầng, biểu hiện của chế độ kinh tế thống trị trong một xã hội nhất định Lĩnh vực chủ yếu của chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, việc thực hiện chính quyền nhà nước Chính trị thể hiện một cách tập trung quyền lợi của các giai cấp trong xã hội” [86, 86]

Vấn đề chính trị cần phải được phân tích một cách cụ thể trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể và ở những quốc gia cụ thể, chẳng hạn đó là chế độ chính trị trong thời kỳ phong kiến phương Đông hay phương Tây, trong chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa xã hội…

Trang 16

1.1.3 Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị

1.1.3.1 Vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị

Với việc “phát minh” ra quan điểm duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định “Nhân tố quyết định trong quá trình sản xuất lịch sử xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực” [52, 641] Theo quan điểm duy vật lịch sử, lao động sản xuất là hoạt động thực tiễn cơ bản và nguyên thủy nhất trong lịch sử phát triển của nhân loại Từ hoạt động ấy hình thành nên những lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất tương ứng mà trên cơ sở đó, một kiến trúc thượng tầng xã hội được dựng lên Đó cũng là kết cấu cơ bản của một xã hội cụ thể trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử mà C.Mác gọi là Hình thái kinh tế - xã hội Sự vận động và phát triển của hình thái kinh tế – xã hội đến một trình độ nhất định làm xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp, hình thành giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, sự ra đời của nhà nước, đảng phái vv

Xuất phát từ lập trường duy vật lịch sử ấy, chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Trong đó, kinh tế giữ vai trò quyết định; xét đến cùng, kinh tế là nguồn gốc, là cơ sở, quyết định cả nội dung, hình thức biểu hiện, sự vận động và bản chất của chính trị

Kinh tế là nguồn gốc của chính trị vì lịch sử phát triển của xã hội loài người không phải bao giờ cũng có vấn đề chính trị Vấn đề chính trị là vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, vì thế chỉ khi xã hội có giai cấp và nhà nước xuất hiện thì vấn đề chính trị mới xuất hiện, mà sự xuất hiện của giai cấp, nhà nước đều bắt nguồn từ nguyên nhân kinh tế V.I.Lênin cho rằng “chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế” Nói cách khác, chính trị là sự phản ánh kinh tế, là biểu hiện tập trung, thăng hoa của kinh tế và là phương tiện phục vụ cho sự phát triển kinh tế Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào đại diện cho lực lượng sản xuất đang phát triển sẽ là lực lượng chủ yếu sở hữu những tư liệu sản xuất chính của xã hội, tức

Trang 17

là nắm quyền lực kinh tế và từ đó nắm quyền lực chính trị, trở thành giai cấp thống trị xã hội “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần… Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng” [49; 66, 67]

Trung tâm của vấn đề chính trị là vấn đề đấu tranh giữa các giai cấp, các lực lượng xã hội nhằm giành, giữ chính quyền nhà nước và sử dụng chính quyền đó làm công cụ bảo vệ cho chế độ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền Điều đó có nghĩa là vấn đề chính trị ra đời, vận động và phát triển hoàn toàn do kinh tế quyết định Chính trị không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện để thực hiện mục tiêu kinh tế Khi phê phán quan điểm của Đuyrinh về vai trò quyết định của bạo lực chính trị đồi với kinh tế, Ph.Ăngghen cho rằng “Bạo lực chỉ là phương tiện, còn lợi ích kinh tế, trái lại là mục đích” [54, 226] Trong tác phẩm

“Lutvich Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” Ph.Ăngghen tiếp tục khẳng định: “Để thỏa mãn những lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trị chỉ được sử dụng làm một phương tiện đơn thuần” [55, 410] Các cuộc đấu tranh chính trị (đấu tranh giai cấp) trong lịch sử thực chất đều là biểu hiện về mặt xã hội cuộc đấu tranh trong lĩnh vực kinh tế, cuộc đấu tranh giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất “Bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng là đấu tranh chính trị, xét đến cùng đều xoay quanh vấn đề giải phóng về kinh tế” [55, 412]

Vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị còn thể hiện ở chỗ: một chế độ chính trị tiến bộ hay lạc hậu, suy cho cùng là do chế độ kinh tế của xã hội ấy tiến bộ hay đang lỗi thời, lạc hậu; nghĩa là ở đó quan hệ sản xuất có phù hợp với tính chất và trình độ thực tế của lực lượng sản

Trang 18

xuất hay không Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với lực lượng sản xuất thì quan hệ sản xuất phải tự điều chỉnh, hoặc sớm muộn cách mạng xã hội cũng sẽ nổ ra để xóa bỏ chế độ kinh tế cũ, thay bằng chế độ kinh tế mới, trên cơ sở đó, một chế độ chính trị mới được xác lập Điều đó càng chứng tỏ vai trò quyết định (xét đến cùng) của kinh tế đối với chính trị

Nhìn từ góc độ sự hình thành và phát triển của các thể chế chính trị, vai trò quyết định của kinh tế còn biểu hiện ở một số nội dung sau:

- Cơ sở kinh tế quyết định sự ra đời của các thể chế chính trị Nhà nước, bộ phận quan trọng nhất của kiến trúc thượng tầng chính trị vốn ra đời từ sự ra đời của chế độ tư hữu và đấu tranh giai cấp Khi chế độ tư hữu ra đời, mâu thuẫn và đối kháng giai cấp xuất hiện Để duy trì trật tự xã hội trong quỹ đạo mong muốn và có điều kiện trấn áp bộ phận xã hội còn lại, giai cấp chiếm địa vị thống trị về mặt kinh tế đã thiết lập nên bộ máy quyền lực đặc biệt đó là Nhà nước Đến lượt mình, Nhà nước trở thành công cụ giúp gai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính trị và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Không chỉ có nhà nước mà tất cả các thiết chế chính trị khác như đảng phái, các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội xét đến cùng đều ra đời từ những cơ sở kinh tế nhất định của nó Ví dụ, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, khi giai cấp tư sản đã giành được ưu thế về mặt kinh tế so với giai cấp phong kiến, lập tức các đảng phái chính trị ra đời và tập hợp cho mục tiêu đấu tranh giành quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị

- Lợi ích kinh tế quyết định các thể chế chính trị Trong xã hội có giai cấp, các thể chế chính trị bao giờ cũng là sự thể hiện cho lợi ích, ý chí và nguyện vọng của giai cấp nào nắm quyền thống trị về mặt kinh tế Trong một nền kinh tế xác định nào đó, các thể chế chính trị bao giờ cũng phản ánh các lợi ích kinh tế cơ bản Ví dụ Công đoàn lao động, Đảng cộng sản là sự phản ánh và đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân

Trang 19

Trong tác phẩm “Lại bàn về công đoàn”, V.I.Lênin khẳng định : “Cũng như bất cứ một thượng tầng chính trị nào nói chung, bất cứ nền dân chủ nào, xét đến cùng cũng đều phục vụ sản xuất và xét đến cùng đều do các quan hệ sản xuất trong một xã hội nhất định quyết định.” [44, 345]

- Cơ cấu kinh tế quy định cơ cấu của thể chế chính trị Xét cho cùng,

cơ cấu thể chế chính trị của một nước chỉ là sự biểu hiện, sự phản ánh cơ cấu kinh tế và các quan hệ kinh tế Xã hội Việt Nam ở thập kỷ 80 của thế kỷ XX có cơ cấu kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, nên tương ứng với nó, phản ánh nó là một thể chế chính trị được xây dựng và tổ chức theo nguyên tắc tập trung Điều này thể hiện ở các quy phạm của hiến pháp năm 1980 quy định: Chính phủ là cơ quan chấp hành và hành chính cao nhất của quốc hội, tính chất tập thể và hội đồng trong tổ chức; hoạt động của chính phủ, thể chế Hội đồng Nhà nước – Chủ tịch nước tập thể Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế chuyển từ cơ cấu tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì lúc này cơ cấu của thể chế chính trị cũng đã có những thay đổi tương ứng Trong đó chính phủ vừa là cơ quan hành pháp của Nhà nước, nhưng đồng thời cũng là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, được Hiến pháp mở rộng thẩm quyền trong lĩnh vực hành chính Thủ tướng chính phủ được tăng thêm nhiều quyền hạn Hội đồng Nhà nước được tách thành Ủy ban thường vụ quốc hội và Chủ tịch nước Qua đó, thể chế Chủ tịch nước cá nhân được tái lập

- Tính chất các quan hệ kinh tế quyết định tính chất các quan hệ chính trị và các thể chế chính trị Thực tiễn phát triển của nước ta cũng như các nước tư bản cho thấy các quan hệ chính trị và thể chế chính trị có mối liên hệ chặt chẽ và chịu sự quy định của các quan hệ kinh tế Tính chất các quan hệ kinh tế thay đổi như thế nào thì tính chất các thể chế chính trị cũng vận động tương ứng Trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, khi nền kinh tế thị trường vận động theo cơ chế tự điều chỉnh của

“bàn tay vô hình” thì Nhà nước rất ít can thiệp vào lĩnh vực kinh tế

Trang 20

Chính phủ các nước tư bản trong thời kỳ này cũng ít có cơ hội can thiệp vào lĩnh vực kinh tế do quyền lực hạn chế và chịu sự chi phối của Nghị viện Nhưng khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển lên giai đoạn

tư bản độc quyền nhà nước, lúc này Nhà nước thực sự trở thành một thế lực điều tiết mạnh mẽ các quan hệ kinh tế, có khả năng can thiệp sâu vào đời sống kinh tế Theo đó, quan hệ giữa các thể chế chính trị cũng có nhiều thay đổi Lúc này nhà nước không còn là cơ quan chấp hành luật của Nghị viện một cách thuần túy, mà còn có khả năng tác động chi phối trở lại Nghị viên Thậm chí ở một số nước tư bản, Nhà nước đã biến Nghị viện thành một cơ quan hoạt động mang tính hình thức - “hữu danh vô thực”

Như vậy, qua phân tích có thể thấy sự ra đời và cách thức tổ chức quyền lực của một chế độ chính trị là sự phản ánh trực tiếp chế độ kinh tế, do bản chất của chế độ kinh tế quy định Một chế độ chính trị dân chủ hay chuyên chế phụ thuộc vào tính chất các quan hệ sản xuất xã hội như quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối kết quả lao động xã hội, tất nhiên các mặt quan hệ sản xuất ấy chịu sự quy định của trình độ thực tế của lực lượng sản xuất Nhìn vào lịch sử phát triển của nhân loại chúng ta dễ dàng nhận ra điều đó khi nền kinh tế chủ nô sinh ra chế độ chính trị chủ nô; chế độ chính trị phong kiến dựa trên chế độ kinh tế phong kiến, chính trị tư sản dựa trên

cơ sở kinh tế tư bản chủ nghĩa… Chính các quan hệ kinh tế và cơ cấu kinh tế là cơ sở trực tiếp cho các quan hệ chính trị và cơ cấu chính trị Tuy nhiên, cũng không nên hiểu máy móc rằng kinh tế là nhân tố duy nhất quyết định nội dung và tính chất của chính trị Trong sự vận động của đời sống xã hội, các nhân tố khác như truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, điều kiện địa lý mội trường, xu thế lịch sử và yếu tố thời đại, hay điều kiện cụ thể của các cuộc đấu tranh giai cấp…, tất cả đều có ảnh hưởng nhất định đến chính trị Đó là lý do vì sao dù cùng chế độ phong kiến hay tư bản chủ nghĩa, nhưng ở những quốc gia khác nhau thì sắc thái

Trang 21

chính trò cuõng khođng hoaøn toaøn gioâng nhau Cuøng nhaø nöôùc quađn chụ nhöng coù nöôùc laø quađn chụ laôp hieân, coù nöôùc laø quađn chụ chuyeđn cheâ hay quađn chụ nhò nguyeđn Cuøng nhaø nöôùc dađn chụ nhöng coù nöôùc theo theơ cheẩ dađn chụ coông hoøa, coù nöôùc lái theo theơ cheâ dađn chụ ñái nghò; coù nöôùc moôt ñạng laõnh ñáo, lái coù nöôùc ña ñạng thay nhau caăm quyeăn

1.1.3.2 Söï taùc ñoông trôû lái cụa chính trò ñoâi vôùi kinh teâ

Kinh teâ quyeât ñònh chính trò, nhöng ñoù khođng ñôn thuaăn laø quan heô moôt chieău xô cöùng Sinh thôøi, caùc nhaø kinh ñieơn cụa chụ nghóa Maùc (ñaịc bieôt laø trong giai ñoán V.I.Leđnin) ñaõ kòch lieôt pheđ phaùn vaø khaĩc phúc lyù luaôn cụa caùc nhaø “maùcxít” theo khuynh höôùng chụ nghóa duy vaôt maùy moùc Töø choê quaù tuyeôt ñoâi hoaù vai troø cụa cô sôû há taăng kinh teâ, caùc hóc giạ thuoôc khuynh höôùng naøy ñaõ hoaøn toaøn phụ nhaôn tính ñoôc laôp, naíng ñoông cụa kieân truùc thöôïng taăng noùi chung vaø thöôïng taăng chính trò noùi rieđng Hó xem chính trò chư laø phieđn bạn thaíng hoa duy nhaât, laø söï phạn aùnh sao cheùp, coù tính chaât moôt chieău cụa cô sôû kinh teâ Vì theâ, chính trò trong caùch nhìn nhaôn cụa hó chư laø sạn phaơm thú ñoông, khođng coøn tính hieôn thöïc soâng ñoông, khođng coøn tính ñoôc laôp töông ñoâi so vôùi kinh teâ Töø quan ñieơm ñoù, nhöõng ngöôøi theo khuynh höôùng naøy khođng thöøa nhaôn coù böôùc quaù ñoô, cuõng khođng thöøa nhaôn nhöõng böôùc tieân coù tính caùch máng trong ñôøi soâng xaõ hoôi Ñoâi vôùi hó thì lòch söû chư laø quaù trình tieôm tieân moôt caùch tuaăn töï vaø chaôm cháp

Ñoâi laôp vôùi nhöõng quan ñieơm duy vaôt maùy moùc, sieđu hình ñoù, chụ nghóa duy vaôt bieôn chöùng luođn luođn nhaân mánh ñeân tính ñoôc laôp töông ñoâi vaø söï taùc ñoông trôû lái moôt caùch mánh meõ cụa chính trò ñoâi vôùi kinh teâ

Duø nạy sinh töø cô sôû kinh teâ nhöng toaøn boô heô thoâng chính trò coù tính ñoôc laôp töông ñoâi cụa noù Söï phú thuoôc cụa chính trò vaøo kinh teâ khođng phại luùc naøo cuõng tröïc tieâp vaø giạn ñôn Trong böùc thö göûi I-ođ-deùp Bloâc, ngaøy 21 thaùng 9 naím 1890, Ph.AÍng ghen vieât : Theo quan nieôm duy

vaôt veă lòch söû, nhađn toâ quyeât ñònh trong quaù trình lòch söû xeùt ñeân cuøng laø

Trang 22

sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế Còn nếu có ai đó xuyên tạc luận điểm này theo ý nghĩa nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất, thì người đó biến câu khẳng định này thành một câu trống rổng, trừu tượng, vô nghĩa [52, 641] Hơn một tháng sau, trong bức thư gữi Côn- rát Smít, ngày 27 tháng 10 năm 1890, Ph.Ăng ghen tiếp tục nhấn mạnh: “Sự vận động của kinh tế nói chung và nhìn tổng thể sẽ tiện mở đường cho mình, nhưng nó sẽ chịu sự tác động ngược lại của sự vận động chính trị mà chính nó tạo

ra và có tính độc lập tương đối Sự vận động kinh tế chịu ảnh hưởng một bên là của sự vận động của quyền lực nhà nước, còn một bên là của lực lượng đối lập sinh ra đồng thời với quyền lực ấy” [52, 677]

Quyền lực chính trị là công cụ mạnh mẽ nhất để bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ kinh tế Sự thống trị về chính trị của môt giai cấp nhất định là điều kiện đảm bảo cho giai cấp đó thực hiện được vai trò thống trị về kinh tế cũng như tất cả các mặt khác của đời sống xã hội Để nhấn mạnh vai trò của chính trị, V.I.Lênin đã khẳng định “chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế” [44, 412] Khẳng định ấy không có nghĩa là sự phủ định vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị, mà là muốn nhấn mạnh đến tác động mạnh mẽ của chính trị đối với kinh tế Vì thực chất trong sự vận động của xã hội, vấn đề kinh tế khó mà tách khỏi vấn đề chính trị, vấn đề kinh tế chỉ được xem xét và giải quyết trên một lập trường chính trị nhất định Trong xã hội có giai cấp, giai cấp cầm quyền luôn định hướng cho kinh tế phát triển theo lập trường chính trị của mình nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định “Cái

mà chúng tôi gọi là quan điểm tư tưởng, đến lượt mình, nó tác động trở

lại đến cơ sở hạ tầng kinh tế và có thể biến đổi cơ sở hạ tầng ấy trong những giới hạn nhất định” [52, 680], “Không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào giữ vững được sự thống trị của mình, và do đó cũng không thể nào hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất” [44, 350]

Trang 23

Trong các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị, Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là bộ phận có tác động mạnh mẽ nhất đối với kinh tế Có thể nói Nhà nước là một lực lượng vật chất có sức mạnh kinh tế Trong xã hội có giai cấp việc giành chính quyền cũng là nhằm tạo sức mạnh kinh tế Sau khi đã có quyền lực nhà nước trong tay, giai cấp thống trị không ngừng mở rộng ảnh hưởng kinh tế trên toàn xã hội, và một khi kinh tế vững mạnh, Nhà nước được tăng cường lại tạo thêm sức mạnh vật chất để củng cố vững chắc hơn địa vị kinh tế của mình “Chúng tôi đấu tranh cho chuyên chính chính trị của giai cấp vô sản để làm gì, nếu quyền lực chính trị bất lực về kinh tế? Bạo lực (tức là quyền lực nhà nước ) – cũng là một sức mạnh kinh tế.” [52, 682]

Cứ như thế, sự tác động biện chứng giữa kinh tế và chính trị đưa lại một sự phát triển hợp quy luật Ở đây, Nhà nước là phương tiện vật chất có sức mạnh kinh tế còn kinh tế là mục tiêu của chính trị Chính lịch sử hình thành, quá trình tồn tại và phát triển của các Nhà nước khác nhau đã minh chứng đầy đủ nguyên lý đó

Trong mấy thập niên trở lại đây, các nhà nước tư sản đang cố gắng phát huy khả năng “tự điều chỉnh” của mình, nhằm làm dịu mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn xã hội bằng cách đưa ra hàng loạt những chính sách kinh tế thích ứng với điều kiện mới Tất nhiên, sự “tự điều chỉnh” ấy không thể giải quyết một cách căn bản mâu thuẫn đối kháng trong xã hội tư bản, song nó cũng chứng tỏ vai trò và sự tác động mạnh mẽ của chính trị đối với lĩnh vực kinh tế

Ngày nay, giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động muốn giải phóng mình khỏi các quan hệ tư sản, cải tạo các quan hệ kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất, tiến tới làm chủ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì trước hết, họ phải giành được chính quyền và trở thành giai cấp thống trị xã hội Trong “Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Giai đoạn thứ nhất trong cuộc cách

Trang 24

mạng công nhân là giai đoạn giai cấp vô sản tự xây dựng thành giai cấp thống trị, là giai đoạn giành lấy dân chủ Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị, và để tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất lên” [53, 567] Chỉ khi trở thành giai cấp thống trị, sử dụng quyền lực nhà nước và hệ thống chính trị làm phương tiện thì giai cấp vô sản mới có thể đạt tới mục tiêu kinh tế của mình

Ở nước ta hiện nay, giai cấp công nhân – giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam không thể không dựa vào hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa nếu muốn đạt được các mục tiêu kinh tế- xã hội, đặc biệt là mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hệ thống chính trị ấy, đặc biệt là Đảng công sản và Nhà nước chuyên chính vô sản có vai trò hết sức to lớn Không có chính quyền vô sản – chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thì không thể xây dựng được nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa chính là phương tiện, là công cụ để đạt mục tiêu kinh tế, định hướng cho sự phát triển kinh tế và quản lý kinh tế Tất nhiên, để thực hiện được vai trò này, hệ thống chính trị ấy cần được tổ chức và hoạt động ngang tầm với yêu cầu của sự phát triển kinh tế

Vai trò tác động trở lại của chính trị đối với kinh tế biểu hiện ở hai thái cực Nếu chính trị phản ánh đúng đắn sự phát triển khách quan của các quy luật kinh tế thì nó trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế và xã hội phát triển Có thể thấy rõ biểu hiện ấy trong giai đoạn đầu của xã hội phong kiến và xã hội tư bản chủ nghĩa Nhà nước phong kiến thời kỳ đầu đã có ý nghĩa hết sức tích cực khi nó giải phóng lao động nô lệ và

tư liệu sản xuất, tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của các quan hệ sản xuất phong kiến Nhà nước tư sản cũng vậy, lúc mới ra đời do phản ánh

Trang 25

đúng và phù hợp với xu hướng vận động của các quan hệ kinh tế nên đã trở thành một tác nhân chính trị quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế nói riêng và xã hội nói chung Sau cách mạng tháng mười Nga, nhà nước Xô Viết và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ra đời phù hợp với lý tưởng, nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhân dân lao động; phù hợp với các quy luật kinh tế trong xu hướng xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất Đó là nguyên nhân của những thành tựu vượt bậc trong giai đoạn phát triển thần kỳ của xã hội Xô Viết vào những năm giữa thế kỷ XX Tương tự, những thành tựu đáng tự hào mà chúng ta đạt được trong lĩnh vực kinh tế cũng như đời sống xã hội nói chung sau hơn hai mươi năm đổi mới là minh chứng sinh động cho những tác động tích cực của hệ thống chính trị đối với kinh tế, khi hệ thống chính trị ấy đã không ngừng vận động theo hướng ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn với xu hướng phát triển khách quan của nền kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Như vậy, chính trị sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, trở thành lực lượng cải tạo xã hội mạnh mẽ, một khi nó phản ánh đúng đắn các quan hệ kinh tế và các quy luật phát triển khách quan của nền kinh tế Vì thế việc xây dựng và tổ chức hệ thống chính trị, thiết lập các thể chế chính trị phải được nghiên cứu một cách toàn diện đến xu hướng vận động khách quan của các quan hệ kinh tế, đời sống vật chất xã hội Có như vậy chúng ta mới có thể phát huy đầy đủ vai trò tích cực của chính trị đối với kinh tế nói riêng và sự tiến bộ xã hội nói chung

Ở thái cực ngược lại, nếu chính trị không phản ánh đúng các quy luật khách quan của kinh tế thì chúng sẽ kìm hãm, cản trở sự phát triển kinh tế Một khi nền kinh tế đã thay đổi, có những bước phát triển mới về trình độ mà chính trị vẫn bảo thủ không chịu thay đổi hoặc sự vận động, thay đổi của chính trị không phản ánh kịp sự thay đổi của kinh tế, lúc này chính trị không chỉ trở thành lực cản lớn đối với kinh tế mà còn cản trở cả

Trang 26

sự tiến bộ xã hội Trong bức thư gữi Côn-rát Smít ở Béc-lin, ngày 27 tháng 10 năm1890, Ph.Ăng ghen đã chỉ ra những tác động khác nhau của chính trị đối với sự phát triển kinh tế Ngoài khả năng tác động cùng hướng, thúc đẩy kinh tế phát triển, chính trị còn có khả năng tác động theo hướng cản trở sự phát triển của kinh tế trong những trường hợp nhất định “Quyền lực chính trị có thể gây tác hại rất lớn cho sự phát triển kinh tế và có thể gây ra sự lãng phí to lớn về sức lực và vật chất” [52, 678] Có thể thấy rõ biểu hiện ấy trong giai đoạn cuối của các nhà nước phong kiến và nhà nước tư sản Nếu như nhà nước phong kiến trở thành tác nhân cản trở sự phát triển xã hội khi nó trở nên lạc hậu so với các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện cuối thời kỳ phong kiến, thì ngày nay chế độ chính trị tư sản đại diện cho quyền lợi số ít trong lĩnh vực kinh tế cũng đang mâu thuẫn gay gắt với các quan hệ sản xuất có xu hướng xã hội hóa ngày càng cao Tương tự, hệ thống chính trị Việt Nam trong những năm 80 của thế kỷ trước, do chưa phản ánh đúng quy luật phát triển khách quan của các quan hệ kinh tế; tính chất tập trung quan liêu, bao cấp của hệ thống các thể chế chính trị mâu thuẫn với nhu cầu giải phóng và phát triển của lực lượng sản xuất đã đẩy nền kinh tế nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung rơi vào khủng hoảng và suy thoái

Tóm lại, sự tác động của chính trị đối với kinh tế sẽ là tích cực một khi chính trị phù hợp với kinh tế, tác động cùng chiều với sự vận động của các quy luật kinh tế khách quan Điều đó có nghĩa là chính trị giữ vai trò định hướng, dẫn dắt và điều chỉnh sự phát triển kinh tế Vấn đề là cần phải xác định, nắm bắt đúng quy luật để sự định hướng đó không dẫn đến sai lầm Một khi đường lối, thể chế chính trị không phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế thì nó sẽ là trở lực lớn, gây tác hại cho nền sản xuất, kìm hãm kinh tế phát triển Tuy nhiên sự kìm hãm ấy cũng chỉ tạm thời, sớm hay muộn chính trị buộc phải thay đổi cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế khách quan, vì đó là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy kinh tế phát triển Vai trò của chính trị đối với kinh tế

Trang 27

là hết sức to lớn, nhưng không vì thế mà chúng ta nhấn mạnh đến mức khuếch đại, tuyệt đối hóa vai trò của chính trị, dẫn đến chỗ phủ nhận vai trò quyết định của các quy luật kinh tế khách quan, phủ định tính tất yếu kinh tế của sự phát triển xã hội Khuynh hướng chủ quan duy ý chí cũng bắt nguồn từ những nhận thức sai lầm đó

Qua phân tích có thể thấy rằng, việc nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, có tầm quan trọng đặc biệt trong việc đề ra đường lối, chính sách phát triển đất nước, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

1.2 QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.2.1 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.2.1.1 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế nhiều thành phần

Mỗi hình thái kinh tế – xã hội có một phương thức sản xuất thống trị và các hình thức kinh tế phụ thuộc vào phương thức sản xuất đó Sự phát triển của nền sản xuất xã hội luôn đi từ giai đoạn thấp lên giai đoạn cao bằng sự thay thế phương thức sản xuất này bằng một phương thức sản xuất khác cao hơn, tiến bộ hơn Sự vận động thay thế các phương thức sản xuất ấy xuất phát từ việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất phát triển không ngừng với quan hệ sản xuất ngày càng lạc hậu Nhưng không phải bao giờ phương thức sản xuất mới cao hơn cũng

ra đời ngay khi phương thức sản xuất cũ kết thúc; cũng không phải khi phương thức sản xuất cũ kết thúc hoàn toàn thì ta mới thấy các yếu tố của phương thức sản xuất mới xuất hiện, mà giữa chúng luôn có một thời kỳ quá độ, ở đó phương thức sản xuất cũ đang suy yếu dần, phương thức sản xuất mới dần hình thành, lớn mạnh, và tiến lên giữ địa vị thống trị

Trang 28

Tương ứng với thời kỳ quá độ đó là một nền kinh tế quá độ Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế quá độ là nền kinh tế nhiều thành phần Trong tác phẩm “Bàn về thuế lương thực” (tháng 04/1921), V.I.Lênin đã gọi nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ là “nền kinh tế quá độ”, một khái niệm phản ánh đầy đủ cả mặt lượng lẫn mặt chất của nền kinh tế nhiều thành phần thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong nền kinh tế quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội tồn tại đan xen nhiều kết cấu kinh tế – xã hội khác nhau: kết cấu kinh tế – xã hội cũ đang suy thoái dần và kết cấu kinh tế xã hội mới đang hình thành từng bước V.I.Lênin cho rằng:

“Danh từ quá độ nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảng của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng thừa nhận là có” [43, 248] Như vậy có nghĩa là trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội không có một phương thức sản xuất nào tồn tại cả, mà chỉ có nền kinh tế với cơ cấu đa thành phần Tính chất nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại chính là nét đặc trưng có tính quy luật của nền kinh tế quá độ vì đó là thời kỳ giáp ranh, chuyển tiếp từ sự thống trị của phương thức sản xuất cũ sang sự khẳng định và thống trị của phương thức sản xuất mới cao hơn Do tính chất quá độ ấy nên các thành phần kinh tế trong thời kỳ này ít nhiều có những đặc điểm và tính chất mới, không mang đầy đủ bản chất nguyên dạng của nó Kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác chưa thể hiện đầy đủ tính chất xã hội chủ nghĩa, trong khi kinh tế tư nhân, cá thể cũng không còn mang bản chất như nó vốn có trong xã hội cũ vì sự phát triển của nó chịu sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Trong nền kinh tế thời kỳ quá độ, các thành phần kinh tế vừa thống nhất lại vừa đấu tranh nhau trong quá trình vận động và phát triển Sự thống nhất đó có được thông qua hợp tác và đấu tranh, đấu tranh không để triệt tiêu nhau mà để hợp tác tốt hơn Trong quá trình vừa thống nhất vừa đấu tranh ấy, các thành phần kinh tế vận động theo hai

Trang 29

chiều hướng: hoặc là đang phát triển đến độ hoàn chỉnh để đi đến xác lập một phương thức sản xuất độc lập, đại diện cho một thời đại; hoặc dần bị suy yếu và chỉ còn là hình thức kinh tế lệ thuộc vào thành phần kinh tế đang phát triển tiến đến phương thức sản xuất thống trị

Như vậy, chỉ trong nền kinh tế thời kỳ quá độ, khi chưa chưa xuất hiện một phương thức sản xuất giữ địa vị thống trị thì các thành phần kinh tế mới tồn tại Các thành phần kinh tế ấy tồn tại, vận động và phát triển cho đến khi có một thành phần kinh tế phát triển tới độ hoàn chỉnh, chín muồi, vươn lên giữ địa vị thống trị và quyết định xu hướng vận động của cả nền kinh tế, đủ sức biến các thành phần kinh tế khác thành các hình thức kinh tế lệ thuộc Khi nền kinh tế quá độ với cơ cấu đa thành phần sẽ chuyển hóa thành nền kinh tế mà trong đó một thành phần kinh tế trở thành phương thức sản xuất thống trị, thì lúc đó tính chất quá độ của nền kinh tế cũng sẽ kết thúc, và trở thành nền kinh tế “trưởng thành”, hoàn chỉnh của một chế độ xã hội mới, của hình thái kinh tế – xã hội mới

Ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, chúng ta đang thực hiện cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trên mọi lĩnh vực Trong lĩnh vực kinh tế, đó là việc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, từng bước chuyển nền kinh tế nhiều thành phần từ sản xuất nhỏ lên nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là một quá trình cải tạo từ nền kinh tế nhỏ, lạc hậu, tiền tư bản lên nền kinh tế phát triển hiện đại Nền kinh tế ấy có cơ cấu nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Khái niệm kinh tế nhiều thành phần được xác định lần đầu tiên tại Đại hội VI (1986) của Đảng và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung thêm về nội dung qua các kỳ Đại hội VII và VIII Đến Đại hội IX (2001), Đảng ta

Trang 30

tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa…”[21; 23] “Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh” [21; 29,30] Đại hội Đảng lần thứ X (2006) một lần nữa khẳng định và nhấn mạnh: “Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân” [23; 26] Về cơ cấu các thành phần kinh tế, Đại hội X xác định nền kinh tế nước ta hiện nay gồm 5 thành phần kinh tế gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, vừa hợp tác, bổ sung cho nhau, vừa cạnh tranh bình đẳng theo luật chơi chung của thị trường

“Các thành phần kinh tế đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng tồn tại và phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh” [23; 27,28] Tuy nhiên, để đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế trong quá trình phát triển, thành phần kinh tế nhà nước phải vươn lên khẳng định vai trò chủ đạo của mình, dần dần giữ địa vị thống trị, từng bước chi phối xu hướng vận động của toàn bộ nền kinh tế Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể dần trở thành nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các thành phần kinh tế khác cũng được sử dụng và cải tạo theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta không phải là nhất thành, bất biến Phương thức vận động của cơ cấu ấy là theo định hướng xã hội chủ nghĩa Định hướng ấy quy định kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể làm nền tảng vững chắc cho nền

Trang 31

kinh tế quốc dân Khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng xong thì chế độ sở hữu công cộng về các tư liệu sản xuất chủ yếu được xác lập và chiếm ưu thế tuyệt đối trong nền kinh tế Đó cũng là quá trình chuyển hóa từ nền kinh tế quá độ lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh

1.2.1.2 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" chính thức ra đời từ Đại hội IX (tháng 04/2001) của Đảng, Tổng kết lý luận và thực tiễn đổi mới đất nước, Đảng ta khẳng định chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là đường lối chiến lược nhất quán Có thể nói đây là bước phát triển mới rất quan trọng về tư duy lý luận và thực tiễn của Đảng

Kinh tế thị trường là một phạm trù có tính lịch sử, một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển của văn minh nhân loại Là phạm trù thuộc quan hệ sản xuất, nhưng kinh tế thị trường không thể tự sản sinh ra hệ thống quan hệ sản xuất đầy đủ, độc lập với các phương thức sản xuất mà trong đó nó vận động Ngược lại, nó gắn bó hữu cơ với hệ thống các quan hệ sản xuất và trao đổi của từng thời đại kinh tế, với các quan hệ sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối của từng phương thức sản xuất trong lịch sử Phát triển mạnh mẽ trong chủ nghĩa tư bản, những quan hệ kinh tế của kinh tế thị trường và của chủ nghĩa tư bản thâm nhập vào nhau thành một thể thống nhất, đến mức đề cập đến kinh tế thị trường là người

ta nghĩ ngay đến mô hình kinh tế của chủ nghĩa tư bản Điều đó cũng dễ hiểu vì cho đến nay, nhân loại mới chỉ biết đến kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa như là nền kinh tế phát triển ở trình độ cao, chứ chưa biết đến nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 32

Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường, là kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc bản chất của chủ nghĩa xã hội Theo mô hình kinh tế này, động lực chung để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời coi trọng khuyến khích cả vật chất và tinh thần, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội

Sự hình thành mô hình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là kết quả của nhiều năm tìm tòi, đổi mới, tổng kết lý luận - thực tiễn, đồng thời là sự khẳng định con đường và mô hình phát triển trong thực tiễn mang tính cách mạng, sáng tạo của Đảng và nhân dân ta Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới hơn hai thập kỷ qua khẳng định xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình tất yếu phù hợp quy luật của thời đại và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước Tổng kết lý

luận và thực tiễn cho phép chúng ta nhận thức một số đặc trưng cơ bản

của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như sau:

- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, được nhân dân đồng tình và là chủ thể xây dựng; không phải là sự gán ghép khiên cưỡng, chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà là sự nắm bắt và vận dụng sáng tạo xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay, sử dụng và phát huy cao độ vai trò tích cực của kinh tế thị trường, đồng thời hạn chế tối đa những khuyết tật mang tính tự phát của nó, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

- Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất không ngừng được đổi mới và hoàn thiện, phù hợp với tính chất

Trang 33

và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm giải phóng triệt để và thúc đẩy phát triển mạnh lực lượng sản xuất, cải thiện nhanh đời sống của nhân dân, tạo ra sự đồng thuận ngày càng cao trong xã hội, tạo động lực thu hút mạnh mọi nguồn lực trong và ngoài nước đầu tư cho phát triển, và giữ vững ổn định chính trị - xã hội; lấy phát triển lực lượng sản xuất làm động lực để không ngừng hoàn thiện và đổi mới quan hệ sản xuất

- Trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các hình thức sở hữu được đối xử bình đẳng Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, cùng phát triển lâu dài; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển Thực hiện nhiều hình thức phân phối, trong đó lấy phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu; đồng thời dựa trên mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội; thực hiện công bằng trong phân phối để tạo động lực mạnh mẽ phát triển kinh tế - xã hội

- Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước định hướng sự phát triển của nền kinh tế bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường, phù hợp yêu cầu xây dựng nền kinh tế đảm bảo tính định hướng và hội nhập kinh tế quốc tế Trên cơ sở hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự hình thành, phát triển của các thị trường (hàng hóa và dịch vụ, tài chính và tiền tệ, bất động sản, lao động, khoa học và công nghệ, ), Nhà nước tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi để phát huy các nguồn lực cho phát triển theo cơ chế thị trường, các chủ thể hoạt động kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, công khai và minh bạch, có trật tự, kỷ cương, các

Trang 34

giao dịch thị trường diễn ra phù hợp với các nguyên tắc của kinh tế thị trường; hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội quan trọng; bảo đảm tính bền vững và tích cực của các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật; tác động đến thị trường chủ yếu thông qua cơ chế, chính sách và các công cụ kinh tế, sử dụng một số

biện pháp để hỗ trợ thị trường khi cần thiết

- Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa gắn kết chặt chẽ, hài hòa Các mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội được kết hợp chặt chẽ trên bình diện cả nước cũng như ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế Đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, chú trọng phát triển giáo dục, y tế; khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân làm giàu chính đáng, thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với những người có công với nước; thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm an toàn cuộc sống cho mọi thành viên trong cộng đồng

- Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa độc lập, tự chủ, vừa chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp nội lực với ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới thành nguồn lực tổng hợp để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước nhanh và bền vững Nền kinh tế độc lập tự chủ trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh, có sức cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập và hợp tác quốc tế dựa trên các nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc Trong hội nhập kinh tế quốc tế, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất và là nguyên tắc chủ đạo, đồng thời linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp thông lệ

Trang 35

quốc tế Tận dụng điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế để chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế so sánh, đổi mới công nghệ và trình độ quản lý, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta không chỉ khác về đặc trưng, bản chất so với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thế giới mà còn khác về trình độ phát triển; nền kinh tế thị trường nước ta còn sơ khai, giản đơn, trong khi nền kinh tế thị trường thế giới đã ở trình độ phát triển cao, hiện đại Quy luật phát triển rút ngắn, đi tắt, đón đầu cũng đúng cả trong phát triển kinh tế thị trường Vì vậy, chúng ta cần nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế thị trường thế giới, bởi càng hội nhập nhanh chóng bao nhiêu thì chúng ta càng sớm có đủ điều kiện để đi lên chủ nghĩa xã hội bấy nhiêu

1.2.2 Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay

Hệ thống chính trị là khái niệm phản ánh một hệ thống các tổ chức

chính trị – xã hội trong mối liên hệ biện chứng với cơ chế vận hành theo những quy luật phù hợp để thực hiện đường lối chính trị của Đảng của giai cấp thống trị cầm quyền Về mặt tổ chức, hệ thống chính trị bao gồm các yếu tố Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Cơ chế vận hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị thông qua chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức và quan hệ của các chức năng ấy Đường lối chính trị của Đảng cầm quyền là nhân tố định hướng cho hệ thống tổ chức, cũng như phương thức hoạt động của toàn hệ thống chính trị

Để có cơ sở xem xét hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay, trước hết chúng ta cần tìm hiểu sự ra đời của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa và những nét khác biệt của nó đối với hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa

Như chúng ta đã biết, hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện sau thành công của các cuộc cách mạng tư sản và tồn tại cho đến ngày nay Trong quá trình phát triển của nó, giai cấp tư sản cầm quyền

Trang 36

luôn tìm cách điều chỉnh, làm cho nó ngày càng hợp lý hơn với chức năng thống trị và quản lý xã hội Nhưng dù thay đổi thế nào, dù ngụy trang dưới bất cứ hình thức nào thì nguyên tắc chung và bản chất nhất quán của hệ thống chính trị ấy vẫn chỉ là nền chuyên chính của giai cấp

tư sản đối với xã hội, là quyền lực của số ít để đàn áp số đông Qua nhiều giai đoạn phát triển, cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, giai cấp tư sản đã xây dựng được một hệ thống chính trị, nhất là bộ máy nhà nước sắc bén và nhanh nhạy để thực hiện sứ mệnh lịch sử của nó là bảo vệ lợi ích sống còn của giai cấp tư sản Các bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp, các nhóm lợi ích, các phương tiện thông tin đại chúng, các cuộc bầu cử được hiện đại hóa và tổ chức ngày càng tinh vi hơn Nhà nước và hệ thống chính trị lúc đầu là đại diện cho toàn bộ giai cấp tư sản nhưng về sau, nhất là ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa thì chủ yếu là thể hiện tập trung quyền lực, lợi ích của bọn đại tư sản Mặt khác, trong lòng hệ thống ấy đã bộc lộ rõ những mâu thuẫn không thể giải quyết được, những vấn đề xã hội nghiêm trọng mà chính những nhà chính trị nghiên cứu của xã hội tư bản cũng cho rằng đó là một xã hội “không thể chấp nhận được”

Theo quy luật phát triển tất yếu của lịch sử, hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa sẽ được thay thế bởi một hệ thống chính trị mới, đó là hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa có khả năng giải quyết thành công những vấn đề kinh tế và xã hội, phù hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân lao động Sự thay thế ấy được thực hiện thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm xóa bỏ chế độ kinh tế tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ kinh tế mới xã hội chủ nghĩa

Năm 1871, với sự kiện công xã Paris ra đời đã đánh dấu một mốc lịch sử đáng nhớ - lần đầu tiên trong lịch sử, giai cấp vô sản vốn hình thành trong lòng xã hội tư bản, đã bước lên vũ đài chính trị Đặc biệt là thành công của cách mạng Tháng Mười Nga 1917, liên minh giai cấp công – nông đã đứng lên thành lập các Xô viết và thời đại mới do công –

Trang 37

nông làm chủ đã thực sự bắt đầu Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đã

ra đời từ đó, bao gồm Đảng Cộng Sản cầm quyền, chính quyền của công nông và các tổ chức quần chúng như Công đoàn và Đoàn thanh niên cộng sản Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II, một loạt các nước dân chủ nhân dân xuất hiện và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đánh dấu sự ra đời của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

Cấu trúc cơ bản của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa bao gồm: Đảng cộng Sản là người lãnh đạo hệ thống chính trị, Đảng cầm quyền, tổ chức và lãnh đạo nhân dân thực thi quyền lực nhà nước thông qua đại diện của mình; chính quyền là của nhân dân lao động và vì lợi ích của nhân dân, nhân dân là người làm chủ chính quyền nhà nước và xã hội Đó là một nền dân chủ thực sự, cao hơn dân chủ tư sản; nhân dân lao động thông qua các tổ chức quần chúng tham gia quản lý nhà nước và xã hội Đó là một hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp công nhân, mang tính nhân dân, tính dân tộc và tính quốc tế sâu sắc Trong hệ thống chính trị đó, nhà nước có vai trò hết sức to lớn; vừa thực hiện chức năng bạo lực để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ chế độ mới, vừa thực hiện chức năng

cơ bản là tổ chức và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản, góp phần tích cực vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới

Như vậy, qua phân tích chúng ta có thể rút ra những điểm tương đồng và khác biệt cơ bản giữa hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa:

Về điểm tương đồng, Cả hai hệ thống chính trị nói trên đều là

những hệ thống chính trị tồn tại trong xã hội có giai cấp, có nhà nước nên đều có đảng phái đại diện cho các giai cấp để lãnh đạo tổ chức quyền lực chính trị Cả hai mô hình chính trị đều chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền, quản lý nhà nước bằng hiến pháp và pháp luật, và sử dụng

đa dạng các biện pháp như giáo dục, kinh tế và hành chính nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội của nhà nước

Trang 38

Về khác biệt, Hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa là hệ thống chính

của giai cấp tư sản phản ánh ý chí, lợi ích, lý tưởng của thiểu số trong xã hội, còn hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là hệ thống chính trị thể hiện quyền dân chủ và tự do của nhân dân lao động, nó phản ánh ý chí, nguyện vọng của số đông nhân dân Hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa tập trung vào mục tiêu trấn áp, bành trướng và gây chiến tranh, còn hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa tập trung vào nhiệm vụ giáo dục và xây dựng xã hội mới cộng sản chủ nghĩa vì sự tự do và tiến bộ của con người

Do nội dung và bản chất khác nhau nên nguyên tắc và hình thức tổ chức quyền lực của hai hệ thồng chính trị cũng cơ bản khác nhau Nguyên tắc tổ chức quyền lực chính trị của nhà nước tư sản thể hiện sự đối trọng giữa các nhánh quyền lực của thiểu số (giai cấp tư sản), dựa trên hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập Ngược lại nguyên tắc tổ chức quyền lực của nhà nước xã hội chủ nghĩa là sự thống nhất quyền lực của đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng cộng sản

Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đã thể hiện tính ưu việt của nền dân chủ mới, đóng vai trò cách mạng trong việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, góp phần đánh bại chủ nghĩa thực dân đế quốc Tuy nhiên, vì là mô hình chính trị mới thoát thai từ xã hội cũ, chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực của xã hội cũ tư bản hoặc tiền tư bản nên hệ thống chính trị ấy cũng khó tránh khỏi những yếu kém hoặc sai lầm trong quá trình phát triển và hoàn thiện Những yếu kém, sai lầm ấy đã phải trả giá đắt với sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trong những năm cuối thế kỷ XX, mà nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ việc xa rời bản chất của giai cấp công nhân, xa rời chủ nghĩa Mác-Lênin trong đường lối chính trị, quan liêu hóa và tha hóa trong bộ máy nhà nước; xa dân và đi ngược lại lợi ích của nhân dân

Vượt qua những tổn thất ấy, xu thế tiến lên chủ nghĩa xã hội của các dân tộc trong thời đại ngày nay vẫn là một xu thế tất yếu không thể đảo ngược Vì sự phủ định của chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa tư bản

Trang 39

là một sự phủ định biện chứng tất yếu trong tiến trình phát triển của nhân loại Sự phủ định ấy đã được chuẩn bị về các điều kiện xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, khi mà ngày nay lực lượng sản xuất xã hội đang phát triển như vũ bão đã trở nên mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân vốn đã lỗi thời nhưng vẫn còn chiếm ưu thế trên phạm

vi toàn thế giới

Ở Việt Nam, Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ra đời từ thành

công của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ công hòa, sau này là Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đó là hệ thống chính trị nhất nguyên với toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân lao động do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Cơ sở kinh tế, xã hội, và chính trị khách quan của nó chính là việc hệ thống chính trị ấy tồn tại trên nền tảng chế độ công hữu các lực lượng sản xuất chủ yếu, ở đó người lao động làm chủ, thực hiện mục tiêu của Đảng công sản là từng bước đi tới giải phóng hoàn toàn giai cấp công nhân và những người lao động khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, bất công và tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, tiến tới một xã hội phồn vinh, ấm no, hạnh phúc Bản chất của hệ thống chính trị là chuyên chính vô sản, mà nòng cốt là nhà nước xã hội chủ nghĩa Thông qua nhà nước xã hội chủ nghĩa, Đảng cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo toàn xã hội, để nhân dân lao động phát huy và thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của mình

- Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay là hệ thống chính trị do Đảng

cộng sản lãnh đạo, mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc

Thực chất hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là hệ thống chuyên chính vô sản Chuyên chính vô sản là sự thống trị của giai cấp công nhân trong hệ thống chính trị, đặc biệt là trong Đảng và trong Nhà nước Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: Đảng ta là Đảng cầm quyền Trong các văn kiện của mình, Đảng cũng luôn khẳng định: Đảng ta là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo chính quyền nhà nước, lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối

Trang 40

Trong hệ thống chính trị, Đảng cộng sản Việt Nam vừa là người lãnh đạo, lại vừa là một thành viên có vai trò đặc biệt, vai trò lãnh đạo toàn hệ thống Đảng ta là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhưng lại là người lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Quan niệm bình đẳng giữa các thành viên trong hệ thống chính trị hay Mặt trận tổ quốc, thậm chí cả trong khối liên minh công – nông – trí không có nghĩa là quyền lực được chia sẻ bình quân ngang bằng nhau, càng không thể có sự chia sẻ quyền lãnh đạo Quyền lãnh đạo hệ thống chính trị chỉ thuộc về một giai cấp đó là giai cấp công nhân, thông qua chính đảng của nó là Đảng cộng sản Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là toàn diện và tuyệt đối

Đảng muốn giữ vững vai trò lãnh đạo của mình, điều đầu tiên và tiên quyết là Đảng phải trung thành với hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, ở Việt Nam là trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Việc Đảng công sản Liên Xô đánh mất vai trò lãnh đạo của mình trong thời kỳ cải tổ là một ví dụ điển hình về sự xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin Văn kiện Đại hội VII của Đảng khẳng định: “ Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản” [17, 21] Sự lãnh đạo của Đảng trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự biểu hiện trực tiếp và tập trung nhất bản chất giai cấp công nhân của hệ thống chính trị, đồng thời thể hiện sự thống nhất của bản chất giai cấp và tính dân tộc của hệ thống chính trị nước ta

- Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; thể hiện tập trung sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc

Nhận thức về nhà nước pháp quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam cũng đã trải qua một quá trình lâu dài và không hề đơn giản Qua các văn kiện của Đảng và Nhà nước có thể hiểu đặc trưng

cơ bản của Nhà nước pháp quyền Việt Nam là: Nhà nước của dân, do

Ngày đăng: 30/03/2021, 00:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Đình Bách (chủ biên), (2001) Đổi mới, tăng cường thành phần kinh tế nhà nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới, tăng cường thành phần kinh tế nhà nước
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
2. Hoàng Chí Bảo, (2002), “Từ những đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ chủ nghĩa xã hội đến việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay”, Tạp chí Triết học, Số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ những đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ chủ nghĩa xã hội đến việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay”", Tạp chí Triết học
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2002
3. Hoàng Chí Bảo, (2006), “Một số luận đề về định hướng xã hội chủ nghĩa và đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam”, Tạp chí lý luận chính trò, Soá 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số luận đề về định hướng xã hội chủ nghĩa và đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam”, "Tạp chí lý luận chính trò
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2006
4. Hoàng Chí Bảo, (2007), “Những nhận thức lý luận mới về dân chủ qua 20 năm đổi mới và trong Văn kiện Đại hội X của Đảng”, Tạp chí Triết học, Số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhận thức lý luận mới về dân chủ qua 20 năm đổi mới và trong Văn kiện Đại hội X của Đảng”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2007
5. Phan Xuân Biên, (2005), Một số vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở
Tác giả: Phan Xuân Biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
6. Nguyễn Đức Bình (chủ biên), (2003), Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Bình (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2003
7. Bộ ngoại giao - vụ hợp tác kinh tế đa phương (2002), Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá vấn đề và giải pháp
Tác giả: Bộ ngoại giao - vụ hợp tác kinh tế đa phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2002
8. Bộ Nội vụ – Viện nghiên cứu khoa học tổ chức Nhà nước (2004), Hệ thống chính trị cơ sở, thực trạng và một số giải pháp đổi mới, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị cơ sở, thực trạng và một số giải pháp đổi mới
Tác giả: Bộ Nội vụ – Viện nghiên cứu khoa học tổ chức Nhà nước
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2004
9. Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (đồng chủ biên), (2003), Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin
Tác giả: Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2003
10.Nguyễn Cúc, (2005), 20 năm đổi mới và sự hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà xuất bản lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 năm đổi mới và sự hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Nguyễn Cúc
Nhà XB: Nhà xuất bản lý luận chính trị
Năm: 2005
11.Mai Ngọc Cường, (2000), Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài ở Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2000
12.Lê Đăng Doanh (chủ biên), (1997), Khu vực kinh tế phi chính qui, một số kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam trong quá trình chuyển đổi kinh tế, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu vực kinh tế phi chính qui, một số kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam trong quá trình chuyển đổi kinh te
Tác giả: Lê Đăng Doanh (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1997
13.Lê Đăng Doanh, (2002), Hình thành đồng bộ hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành đồng bộ hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2002
14.Nguyễn Đăng Dung - Bùi Ngọc Sơn (2004), Thể chế chính trị, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế chính trị
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung - Bùi Ngọc Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận chính trị
Năm: 2004
15.Phạm Văn Dũng (chủ biên), (2004), Khu vực kinh tế phi chính thức, thực trạng và vấn đề đặt ra với công tác quản lý, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu vực kinh tế phi chính thức, thực trạng và vấn đề đặt ra với công tác quản lý
Tác giả: Phạm Văn Dũng (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
16.Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1987
17.Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1991
18.Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khoá VII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1994
19.Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1996
20.Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1998

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w