Trong luận văn này, hai tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày ựược nghiên cứu so sánh trên những phương diện quan trọng như mối giao lưu văn hóa lâu dài giữa vùng Trung Cận đông và Tây
Trang 1ðẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN NGỌC BẢO TRÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
MÃ SỐ: 60.22.30
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2009
Trang 2ðẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN NGỌC BẢO TRÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
Mã số: 60.22.30
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2009
Trang 3LỜI CẢM ƠN LỜI CẢM ƠN Tôi được may mắn hơn nhiều bạn bè đồng trang lứa khi có cơ hội nối dài những năm tháng gắn bó với trường lớp và sách vở Trong suốt những chặng đường liên tiếp ấy, tôi đã nhận được rất nhiều yêu thương, chỉ dạy, quan tâm và giúp đỡ nhiệt thành từ thầy cô, gia đình, bè bạn và những người thân thuộc
Và không gì hơn những thành quả từ nỗ lực và cố gắng chính là niềm tri ân tôi dành cho những tình cảm yêu mến ấy
Em cảm ơn những tấm lòng thầy cô đã mở đường và khuyến khích
em vùng vẫy với đam mê
Con cảm ơn bố từ con đường Văn ngày trước Cảm ơn mẹ từ nhiều năm mong nhớ con xa
Ở cuối chặng đường này, em cảm ơn thầy Huỳnh Như Phương, người đã nhiệt tâm và cẩn trọng cho công trình nghiên cứu của em được hoàn thiện
Và cảm ơn mọi bước chân đã đi cùng tôi giữa cuộc đời này!
Tp Hồ Chí Minh ngày 26 tháng 10 năm 2009
Nguyễn Ngọc Bảo Trâm
Trang 4MỤC LỤC
DẪN NHẬP 6
CHƯƠNG MỘT: NGHÌN LẺ MỘT đÊM VÀ MƯỜI NGÀY NHỮNG TIỀN đỀ NGHIÊN CỨU SO SÁNH 21
1.1 Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày dưới ánh sáng phương pháp so sánh loại hình lịch sử 22
1.2 Phương đông - phương Tây và những mối liên hệ lịch sử văn hóa 28
1.3 Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày trong phối cảnh văn học 42
1.3.1 Văn bản và nguồn gốc 42
1.3.2 Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày trong truyền thống văn học dân tộc 49
1.3.3 Ảnh hưởng của Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày 56
CHƯƠNG HAI: GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG NGHÌN LẺ MỘT đÊM VÀ MƯỜI NGÀY 63
2.1 Con người tự do và những nhận thức mới 66
2.1.1 Khẳng ựịnh tư cách và các phẩm chất con người 67
2.1.2 đả kắch và trào lộng ựời sống xã hội 74
2.2 Cảm hứng tận hưởng trong cuộc sống thế tục 80
2.2.1 đề cao nhu cầu bản thể 80
2.2.2 Những cung bậc tụng ca tình yêu 87
2.3 Ngợi ca vẻ ựẹp nhục thể và nữ tắnh 93
CHƯƠNG BA: NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN TRONG NGHÌN LẺ MỘT đÊM VÀ MƯỜI NGÀY 108
3.1 Nghệ thuật truyện khung trong Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày 109
3.1.1 Kiểu truyện khung trong văn học 109
3.1.2 Truyện kể và mô hình ựời sống trong Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày 115
3.2 Các mô thức truyện kể trong Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày 123
3.2.1 Sự vay mượn các mô thức phổ biến trong văn học thế giới 124
3.2.2 Các mô thức thần kỳ và hiện thực 132
3.3 Người kể chuyện và những truyện kể 143
3.3.1 Hình tượng người kể chuyện 143
3.3.2 Ý nghĩa của truyện kể 147
KẾT LUẬN 154
Trang 5THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 159
PHỤ LỤC 170
1 ðoạn kết truyện Nghìn lẻ một ñêm 170
2 Niên biểu Boccaccio – Cuộc ñời và tác phẩm 181
3 Các bài thơ trong tác phẩm Mười ngày 185
4 Truyện (V,4) trong Mười ngày – Chim họa mi 194
5 Bản chú giải (một số từ vựng và thuật ngữ) 201
Trang 6DẪN NHẬP
1 Lý do chọn ựề tài
Ngành văn học so sánh hiện nay ựã trở thành một ngành nghiên cứu quan trọng trong hoạt ựộng nghiên cứu văn học ở Việt Nam Khuynh hướng nghiên cứu văn học so sánh mở ra những khả năng nghiên cứu bao quát và thiết thực cũng như tạo ra cái nhìn nền tảng và hệ thống trong nghiên cứu văn học đặc biệt là ưu thế trong việc xác ựịnh giá trị của các ựối tượng văn học không phải như là những cá thể ựộc lập mà có sự ựối chiếu, liên hệ với các ựối tượng khác ựể ựạt ựược những ựánh giá rõ nét, khái quát và ựa chiều hơn
Văn học Arab và văn học Italy là hai nền văn học có lịch sử lâu ựời và có nhiều thành tựu của văn học thế giới Văn học Arab phát triển từ cái nôi cổ xưa Trung Cận đông với những di sản rực rỡ từ văn học Sumer, Akkad, Babylon, Do Thái, Văn học Italy hình thành từ quê hương La Mã cổ ựại, vốn có vị trắ quan trọng trong thời ựại Phục hưng châu Âu và bình minh của thời hiện ựại trong văn học thế giới Ở Việt Nam, ựã có những tác phẩm văn học Arab và Italy ựược dịch và giới thiệu, tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu về hai nền văn học này, các nghiên cứu thực sự chưa ựược bao quát và liền mạch Nếu văn học Italy không ựược nghiên cứu nhiều và lâu dài như các nền văn học Tây Âu khác là Anh, Pháp, đức, thì văn học Trung Cận đông vẫn là một vùng ựất xa xôi và nhiều
lạ lẫm
Ra ựời từ những nền văn học lớn, hai kiệt tác Nghìn lẻ một ựêm và Mười
ngày ựều là những ựại diện ưu tú của văn học dân tộc góp mặt vào văn học thế giới
Hai tác phẩm ựược phổ biến và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ trong văn học thế giới này ựã ựược giới thiệu và dịch sang tiếng Việt tuy rằng chưa trọn vẹn được yêu
thắch ở Việt Nam, ựặc biệt là trường hợp của Nghìn lẻ một ựêm, hai tác phẩm vẫn
chưa thực sự ựược giới nghiên cứu chú ý tương xứng với tầm giá trị của chúng Vì
Trang 7vậy, nghiên cứu Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày cũng như nghiên cứu văn học
Arab và văn học Italy là cần thiết và hứa hẹn những kết quả nghiên cứu mới mẻ
Khi tiếp xúc với Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày, chúng tôi nhận thấy ý
nghĩa quan trọng của hai tác phẩm này là việc dùng những truyện kể ựể tái hiện, ngợi ca sự tồn tại và gìn giữ ựời sống con người đó là ý nghĩa nhân văn quan trọng
mà văn học bất kỳ thuộc về thời ựại nào, ở biên giới quốc gia nào cũng theo ựuổi ựể tạo nên một nguồn mạch tinh thần mạnh mẽ và giàu ựẹp cho nhân loại Từ ý nghĩa
sâu sắc ấy người viết ựã chọn Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày làm ựối tượng
nghiên cứu của mình, với suy nghĩ rằng văn học cũng như hoạt ựộng văn học không phải là ựiều gì trừu tượng, phi thực tế, mà ựó thực sự là những ựiều hữu ắch cho ựời sống tinh thần của con người
2 đối tượng và phạm vi nghiên cứu
đối tượng nghiên cứu của luận văn là hai tác phẩm văn học Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày trong mối quan hệ so sánh
2.1 Tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm vốn có nhiều bản dịch tiếng Việt ở Việt
Nam cũng như nhiều bản dịch tiếng Anh trên thế giới Trong quá trình thực hiện luận văn chúng tôi sử dụng song song hai bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh
Về bản dịch tiếng Việt chúng tôi chọn bản dịch của nhà xuất bản Văn học Hà Nội gồm 10 tập, ựã ựược in từ năm 1982 (tập 1) ựến năm 1989 (tập 10) Bốn tập ựầu
do Phan Quang dịch theo bản tiếng Pháp Contes des mille et une nuits của Antoine
Galland (1646-1715) (Nxb Frères Garnier, Paris, 1962) Sáu tập sau do nhóm dịch giả Nguyễn Trác (chủ biên), đoàn Nồng, Nguyễn đăng Châu, Tấn Khang dịch từ
bản tiếng Pháp Mille nuits et une nuit của Joseph Charles Mardrus (1868-1949)
(Nxb Charpentier et Fasquelle, Paris, 1925) Do ựược dịch từ hai nguồn văn bản khác nhau, nên một vài truyện trong bốn tập ựầu và sáu tập sau có trùng lặp
Trang 8Trong số 10 tập sách, phần truyện kể do Phan Quang dịch ựã ựược chỉnh sửa
và tái bản rất nhiều lần dưới tiêu ựề Nghìn lẻ một ựêm (toàn tập) Phần còn lại
không ựược tái bản, tuy nhiên ựây chắnh là những tập sách dịch có văn phong uyển
chuyển, linh hoạt, và là bản dịch duy nhất ở Việt Nam dịch Nghìn lẻ một ựêm gồm
các bài thơ, các lời ựối thoại giữa Shahrazad và vua Shahryar trong các ựêm kể chuyện, cùng với phần kết của truyện nền Trong tình hình tư liệu hiện nay ở Việt
Nam, theo chúng tôi bộ Nghìn lẻ một ựêm 10 tập này là bản dịch tiếng Việt ựầy ựủ,
ựáng tin cậy, và có giá trị nhất
Về bản dịch tiếng Anh chúng tôi sử dụng bộ sách The Book of the
Thousand Nights and a Night (Cuốn sách Nghìn lẻ một ựêm) của Richard Francis
Burton (1821-1890) gồm 17 tập, ựã ựược soạn giả công bố lần ựầu trong các năm từ
1885 ựến 1888 Có thể xem ựây là bộ Nghìn lẻ một ựêm ựầy ựủ nhất hiện nay trên
thế giới, ựược tác giả soạn thảo từ quá trình nghiên cứu văn hóa phương đông và sưu tập văn bản tác phẩm trong nhiều năm
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng văn bản ựịnh dạng kỹ thuật số từ bản gốc ở thư viện đại học California, Hoa Kỳ, trong dự án sách ựiện tử của tập ựoàn Microsoft do Internet Archive thực hiện vào năm 2007, thông qua nguồn lưu trữ của Internet Archive tại thư viện ựiện tử http://www.archive.org/details/texts đây là trọn bộ sách 17 tập ựược xuất bản vào ựầu thế kỷ XX do nhóm Burton Club xuất bản hạn chế 1000 bản, các cuốn sách ựược ựánh số từ 1 ựến 1000 Mười tập ựầu có
tiêu ựề A Plain and Literal Translation of the Arabian Nights Entertainments, now
Entituled The Book of the Thousand Nights and a Night with Introduction
Explanatory Notes on the Manners and Customs of Moslem Men and a Terminal
Essay upon the History of The Nights (Một bản dịch sát nghĩa và mạch lạc của tác phẩm Những chuyện tiêu khiển trong ựêm Arab, với tiêu ựề Cuốn sách của Nghìn
lẻ một ựêm và Giới thiệu những chú giải về phong tục tập quán của người Hồi giáo
và Những nghiên cứu về truyện kể đêm) Bảy tập sau có tiêu ựề Supplemental Nights to The Book of the Thousand Nights and a Night with Notes
Trang 9Anthropological and Explanatory (Các bổ sung cho Cuốn sách của Nghìn lẻ một
ựêm với các chú thắch nhân học và giảng giải)
đồng thời, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi có tham khảo các bản dịch tiếng Anh của các dịch giả khác như Joseph Charles Mardrus, Edward William Lane, Husain Haddawy
2.2 Về tác phẩm Mười ngày, chúng tôi sử dụng bản dịch tiếng Anh The
Decameron of Giovanni Boccaccio (Mười ngày của Giovanni Boccaccio) của dịch
giả Richard Aldington (1892-1962), Dell Publishing Co Inc xuất bản năm 1968 (New York)
đồng thời chúng tôi tham khảo và ựối chiếu với bản dịch tiếng Việt Mười
ngày do nhóm dịch giả Hướng Minh, Thiều Quang, đào Mai Quyên dịch, nhà xuất
bản Văn học Hà Nội ấn hành năm 1985, dịch theo bản tiếng Pháp Le Décaméron
của Jean Boureiez (Nxb Garnier Frères, Paris, 1979) Hiện nay, ựây là bản dịch
Mười ngày duy nhất ở Việt Nam và ựã ựược tái bản nhiều lần Bản dịch này bao
gồm ba mươi chắn truyện trong tổng số một trăm truyện của Mười ngày, lược bỏ
toàn bộ mười bài thơ và nhiều ựoạn của văn bản gốc
2.3 Trong luận văn này, hai tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày ựược
nghiên cứu so sánh trên những phương diện quan trọng như mối giao lưu văn hóa lâu dài giữa vùng Trung Cận đông và Tây Âu, tư tưởng và giá trị nhân văn trong hai tác phẩm và những ựặc trưng về nghệ thuật kể chuyện Trong khi thực hiện luận văn, chúng tôi ựã tiếp cận nhiều truyện kể nổi tiếng của văn học thế giới nói chung,
ựặc biệt là nguồn truyện Ấn độ Những tác phẩm quan trọng gồm có đại dương
truyện, Bảy bậc hiền minh, Truyện bốn mươi tể tướng, Nghìn lẻ một ngày, Những câu chuyện Canterbury,Ầ Văn bản tiếng Anh của các tác phẩm này cũng
như nhiều tài liệu khác ựược chúng tôi tham khảo từ nguồn học liệu mở của đại học California, đại học Michigan, Hoa Kỳ và đại học Toronto, Canada cùng với các dự
án số hóa sách của các tập ựoàn Google và Microsoft
Trang 103 Lịch sử nghiên cứu vấn ñề
3.1 Nghìn lẻ một ñêm và Mười ngày là những tác phẩm có giá trị và tầm
ảnh hưởng mạnh trong văn học thế giới Tuy nhiên ở Việt Nam, các nghiên cứu về hai tác phẩm này còn rất hạn chế Hầu như không có những nghiên cứu tập trung, bao quát về hai tác phẩm mà chỉ dừng lại ở những bài viết, bài giới thiệu hoặc những nghiên cứu rải rác và thông tin ít ỏi
– La Côn (1961), “Mơ ước và ñấu tranh của nhân dân trong truyện Một
nghìn một ñêm lẻ”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 1 1961, tr.59-72 ðây là một
nghiên cứu sớm về Nghìn lẻ một ñêm với nhiều thông tin bao quát và có giá trị
– Một số thông tin sơ lược về Nghìn lẻ một ñêm và thời ñại của tác phẩm trong sách Lịch sử văn minh Ả Rập của Will Durant do dịch giả Nguyễn Hiến Lê
dịch và giới thiệu năm 1975
– Là một trong những người tham gia dịch Nghìn lẻ một ñêm sang tiếng
Việt, dịch giả Phan Quang cũng có một số bài viết về tác phẩm, tuy nhiên vẫn có nhiều hạn chế khi ông bỏ lửng kết thúc, và thiếu những hình dung về kiểu truyện khung và truyện nền của tác phẩm Các bài viết của ông gồm:
-“Lời giới thiệu” cho bộ Nghìn lẻ một ñêm (1982), Nxb Văn học, tr.3-22
-“Cuộc sống thực tại và những ảo giác nhiệm màu (ðọc lại Nghìn lẻ một ñêm)”, Tạp chí Văn học số 6 1982, tr.12-22
- “Nghìn lẻ một ñêm một hiện thực khác của ñạo Hồi”, Tạp chí Kiến thức
ngày nay số 516, 10.02.2004
- “Những bản Nghìn lẻ một ñêm cổ nhất ở nước ta”, Tạp chí Kiến thức
ngày nay số 683, 01.08.2009, tr.8-11, 121
– Trần Thị Hồng Vân (1997), “Về nguồn gốc truyện kể Nghìn lẻ một ñêm”,
Tạp chí Văn học số 11 1997, tr.57-63 Bài viết này chủ yếu trình bày về nguồn gốc
và các văn bản của Nghìn lẻ một ñêm từ Ba Tư, Ấn ðộ
Trang 11Ờ Trong công trình Câu chuyện văn chương phương đông do nhà xuất
bản Giáo dục xuất bản năm 1997, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu ựã trình bày bao quát
về các nền văn học phương đông, có tắnh gợi mở và ựịnh hướng cho việc nghiên
cứu các vấn ựề liên quan, trong ựó bao gồm phần giới thiệu về Nghìn lẻ một ựêm
ngắn gọn, cô ựọng với những nhận xét khái quát và xác ựáng về tác phẩm
Cũng như Nghìn lẻ một ựêm, tác phẩm Mười ngày cũng xuất hiện trong
những nghiên cứu ngắn và những giới thiệu sơ lược còn nhiều hạn chế về tư liệu Ờ Nhà nghiên cứu đặng Thai Mai từ năm 1949 ựã giới thiệu về Boccaccio
và Mười ngày trong bài viết ỘChủ nghĩa nhân văn dưới thời kỳ văn hóa Phục hưngỢ,
tuy nhiên bài viết khá sơ lược, không ựủ bao quát và có thông tin không chắnh xác Ờ In cùng bản dịch tiếng Việt Mười ngày (1985) của Hướng Minh, Thiều Quang, đào Mai Quyên là bài viết của Hữu Ngọc giới thiệu về Boccaccio và Mười
ngày, mang ý nghĩa ựịnh hướng cho người ựọc tiếp cận tác phẩm
Ờ Phần giới thiệu về Boccaccio do Lương Duy Trung viết ở chương hai,
phần thứ hai giáo trình Văn học phương Tây (1999), do nhóm tác giả đặng Anh
đào, Hoàng Nhân, Lương Duy Trung,Ầ biên soạn, nhà xuất bản Giáo dục ấn hành
trình phát triển của thể loại này trong sách của tác giả Bùi Việt Thắng (2000),
Truyện ngắn, những vấn ựề lý thuyết và thực tiễn thể loại, nhà xuất bản đại học
Quốc gia, HN và sách của Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn: Lý luận tác gia và tác
phẩm, tập 1, nhà xuất bản Giáo dục
Ngoài ra, cần kể ựến các công trình nghiên cứu quan trọng của Tzvetan
Todorov là Thi pháp văn xuôi do đặng Anh đào, Lê Hồng Sâm dịch, nhà xuất bản
đH Sư phạm xuất bản năm 2004, trong ựó có các bài viết ỘNgữ pháp của truyện kể:
Truyện Mười ngàyỢ và ỘNhững con người truyện kể: Ngàn lẻ một ựêmỢ; và công
trình Dẫn luận về văn chương kì ảo do Lê Hồng Sâm, đặng Anh đào dịch, nhà
xuất bản đH Sư phạm xuất bản năm 2008 Trong các công trình này là những
nghiên cứu sâu sắc về nghệ thuật kể truyện của Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày
Trang 123.2 Tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm là ựối tượng nghiên cứu hấp dẫn ựối với
nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy tác phẩm ựã ựược nghiên cứu ở nhiều khuynh hướng như văn bản học, thi pháp học, văn hóa học,
xã hội học,Ầ tập trung ở những vấn ựề quan trọng như nguồn gốc và quá trình hình thành tác phẩm, lịch sử các văn bản và các bản dịch ở Arab và châu Âu, các vấn ựề nội dung và những nghiên cứu về nghệ thuật kể chuyện cũng như mối tương quan
và những ảnh hưởng của tác phẩm trong văn học thế giới Hầu hết những nghiên cứu ựó không ựược dịch ở Việt Nam Trong khả năng hạn chế của mình, chúng tôi
ựã cố gắng tiếp cận với một số công trình nghiên cứu về tác phẩm
Một bộ phận quan trọng trong số những nghiên cứu ở phương Tây về Nghìn
lẻ một ựêm là những nghiên cứu của các dịch giả của tác phẩm Họ ựồng thời cũng
là những nhà nghiên cứu đông phương học, am hiểu về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử,
xã hội vùng Trung Cận đông
Ờ Những nghiên cứu của Edward William Lane (1801-1876) về xã hội và
thời ựại của Nghìn lẻ một ựêm ựã ựược cháu trai của ông là Stanley Lane-Poole xuất bản ở Anh năm 1883, sau khi Lane qua ựời dưới tiêu ựề Arabian Society in the
Middle Age (tái bản năm 2004 với tiêu ựề Arab Society in the Time of The Thousand and One Nights, Dover Publications, Inc NY) Tập sách này ựã cung
cấp những kiến thức về xã hội, tôn giáo, nghi lễ, các huyền thoại,Ầ dưới lăng kắnh
Hồi giáo Có thể xem ựây là một công cụ quan trọng khi tiếp cận với thế giới Nghìn
Trang 13Những truyện kể Ma cà rồng (1870), Kama Sutra của Vatsyayana (1883) và tác
phẩm Arab Vườn hương của Shaykh Nefzawi (1886)
– Bài viết của Husain Haddawy giới thiệu cho cuốn The Arabian Nights do
ông dịch dựa trên văn bản Syria vào thế kỷ XIV của Muhsin Mahdi (W.W Norton
& Co., NY, US, 1990) Bài viết này, cung cấp nhiều tư liệu quan trọng về văn bản
Nghìn lẻ một ñêm và phân tích những giá trị của tác phẩm cũng như sự tồn tại của
các văn bản trong thế giới Arab
Nghìn lẻ một ñêm còn ñược nghiên cứu theo nhiều ñịnh hướng khác như thi
pháp học, thể loại văn học, huyền thoại học, biểu tượng học cũng như các hướng nghiên cứu văn hóa học và xã hội học Trong số những công trình nghiên cứu mà chúng tôi tiếp cận ñược, chúng tôi ñặc biệt chú ý ñến các công trình:
– David Pinault (1992), Story-telling Techniques in the Arabian Nights, E.J.Brill, NY, công trình nghiên cứu về nghệ thuật kể chuyện trong Nghìn lẻ một ñêm, thông qua việc phân tích một số nhóm truyện tiêu biểu
– Roger Allen (2005), An Introduction to Arabic Literature, Cambrige
University Press, UK, xuất bản lần ñầu năm 2000
– Daniel Beaumont (2002), Slave of Desire: Sex, Love, and Death in The
1001 Nights, Fairleigh Dickinson Univ Press, US Trong công trình này, Beaumont
ñã có những nghiên cứu về vị trí của Nghìn lẻ một ñêm trong truyền thống văn học
Arab, cùng với các giá trị quan trọng mà tác phẩm ñã thể hiện thông qua các ñề tài
có ý nghĩa trong ñời sống con người như giới tính, tình yêu và sự tồn tại
– The Arabian Nights and Orientalism: Perspectives from East & West
(2006) (edited by Yuriko Yamanaka, Tetsuo Nishio), I.B.Tauris, UK Công trình
nghiên cứu về Nghìn lẻ một ñêm trong mối liên hệ với các hiện tượng văn học khác
Mười ngày là một tác phẩm có vai trò quan trọng trong truyền thống văn học
châu Âu Danh tiếng và những ñóng góp của tác phẩm từ thời Phục hưng cũng như
Trang 14những ảnh hưởng của nó ựến ngày nay vẫn ựược ghi nhận Tác phẩm ựã ựược nghiên cứu ở nhiều phương diện như giá trị nội dung, nghệ thuật kể chuyện, vị trắ
và ảnh hưởng của tác phẩm trong truyền thống văn học châu Âu
Trong các bộ văn học sử, tác phẩm Mười ngày ựược ựánh giá như là một tác
phẩm quan trọng trong cuộc ựời sáng tác của Boccaccio cũng như có ý nghĩa quan trọng ựối với tiến trình phát triển của văn học Italy và văn học châu Âu
Ờ Buckner B Trawick (1967), World Literature, vol II (Italy, French,
Spanish, German & Russian Literature since 1300), Barnes & Noble, Inc, New
York Công trình này, trình bày sơ lược về lịch sử văn học một số nước châu Âu,
bao gồm văn học Italy, trong ựó vị trắ của Boccaccio và tác phẩm Mười ngày ựối
với văn học châu Âu ựược ựánh giá cao
Ờ The Cambridge History of Italian Literature (1996) (edited by Peter
Brand, Lino Pertile), Cambridge University Press, NY, US Trong công trình này,
ngoài những trình bày về Mười ngày, còn có những giới thiệu về các sáng tác khác
của Boccaccio, như những sáng tác nền tảng ban ựầu chuẩn bị cho một kiệt tác sẽ ra ựời sau ựó Ngoài ra, là những trình bày về vai trò và tầm ảnh hưởng của Boccaccio
và Mười ngày trong tiến trình phát triển văn học dân tộc
Trong giới nghiên cứu phương Tây, Mười ngày còn ựược chú ý nghiên cứu
ở khắa cạnh ảnh hưởng của tác phẩm ựối với những tác phẩm khác trong văn học
châu Âu đáng chú ý là rất nhiều nghiên cứu so sánh ảnh hưởng giữa Mười ngày và tác phẩm Những câu chuyện Canterbury của tác giả người Anh Geoffrey Chaucer
Ờ John Payne Collier (1820), The Poetical Decameron, or, Ten
Conversation on English Poets and Poetry, A Constable & Co, Digitized for
Microsoft Corporation by the Internet Archive in 2007, from University of Michigan Libraries
Ờ Robin Kirkpatrick (1995), English and Italian Literature from Dante to
Shakespeare, Longman, London
Trang 15Ờ Robert M Correale, Mary Hamel (2003-2005), Sources and Analogues
of the Canterbury Tales, vol 1-2, DS Brewer
Mười ngày và Những câu chuyện Canterbury ựều là những tác phẩm thuộc
về truyền thống văn chương châu Âu, như vậy quan hệ so sánh giữa hai tác phẩm là khá gần gũi và có những biểu hiện ảnh hưởng trực tiếp từ Boccaccio ựến Chaucer
khá rõ nét điều ựó khác hẳn trường hợp so sánh Mười ngày với Nghìn lẻ một ựêm,
một tác phẩm thuộc về văn học phương Tây so sánh với một tác phẩm thuộc về phương đông, và ựược triển khai trên bình diện so sánh loại hình lịch sử Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng chưa có công trình thực hiện nghiên cứu so sánh
Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày một cách trực tiếp và cụ thể Tuy nhiên, ở một số
trường hợp, hai tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày ựôi khi ựược ựặt khá
gần gũi với nhau đầu tiên là trong các nghiên cứu khảo dị về motif, ựề tài, cốt truyện ở các tác phẩm văn học có nguồn gốc Ấn độ như:
and the Seven Vazirs (1884) (translated by W.A Clouston), Glasgow, UK,
Digitized for Microsoft Corporation by the Internet Archive in 2007, from University of Toronto Library
Ờ Somadeva (1926), Katha Sarit Sagara or Ocean of the Streams of Story,
vol 5, (translated by C H Tawney), Chas J Sawyer Ltd Grafton House, UK (The digital book of University of Toronto Library)
Những khảo dị này cung cấp cho quá trình nghiên cứu của chúng tôi những
cứ liệu quan trọng, cũng như cho thấy những tiếp nhận, mô phỏng từ nguồn cội Ấn
độ của Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày
Ngoài ra, trong những nghiên cứu về thể loại văn học và nghệ thuật kể
chuyện, Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày cũng thường ựược ựặt bên cạnh nhau như
những ựại diện tiêu biểu trong tiến trình phát triển nghệ thuật kể chuyện, chẳng hạn
trong sách R.S Gwynn (2002), Fiction a Pocket Anthology, Longman Publishing,
NY Những ựề cập ựó cũng ựóng góp một cái nhìn gần gũi giữa Nghìn lẻ một ựêm
Trang 16và Mười ngày ở phương diện nghệ thuật, là những gợi mở có ý nghĩa ñối với nghiên cứu so sánh Nghìn lẻ một ñêm và Mười ngày trong luận văn
3.3 Qua quá trình khảo sát tư liệu chúng tôi nhận thấy rằng chưa có sự nghiên cứu toàn diện, bao quát và xuyên suốt về văn học Arab và văn học Italy ở Việt Nam, ñặc biệt là trong tương quan với những nghiên cứu về các nền văn học vốn ñã có quá trình tiếp xúc lâu dài như Trung Quốc, Pháp, Nga, Mỹ, Anh Trong
ñó, hai tác phẩm Nghìn lẻ một ñêm và Mười ngày cũng chưa thực sự ñược nghiên
cứu ñầy ñủ và chưa có công trình nghiên cứu nào ñáp ứng ñược việc tiếp cận hai tác phẩm này một cách tập trung, kỹ càng và thấu ñáo Trong khi ñó, trên thế giới, những công trình nghiên cứu về văn học Arab và văn học Italy cùng với những
nghiên cứu về Nghìn lẻ một ñêm và Mười ngày bằng tiếng Anh là rất ña dạng và
bao quát trên nhiều phương diện
Chúng tôi cũng nhận thấy rằng chưa có công trình nghiên cứu so sánh hai tác
phẩm Nghìn lẻ một ñêm và Mười ngày, tuy vậy có thể thấy nghiên cứu so sánh hai
tác phẩm này là hoàn toàn có cơ sở, dựa vào sự phát triển của ngành nghiên cứu văn học so sánh cũng như những nghiên cứu về sự di chuyển các dữ liệu văn học từ Ấn
ðộ sang các khu vực văn học khác, và những nghiên cứu về tiến trình phát triển của nghệ thuật kể chuyện và thể loại văn học trong văn học thế giới
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu so sánh hai tác phẩm Nghìn lẻ một ñêm và Mười ngày là một ñề
tài nghiên cứu có phạm vi rộng và bao hàm nhiều lĩnh vực khác nhau trong khoa nghiên cứu văn học như văn học so sánh, nghiên cứu huyền thoại trong văn học, cũng như các phạm trù về thi pháp học, cảm hứng văn học và các vấn ñề cốt truyện, cấu trúc tác phẩm, hình tượng nhân vật,… nên cũng ñòi hỏi nhiều phương pháp trong quá trình thực hiện Công trình về căn bản, áp dụng phương pháp luận của bộ môn văn học so sánh ñể triển khai theo hướng nghiên cứu so sánh loại hình lịch sử, ñồng thời kết hợp với một số phương pháp khác ñể hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu
Trang 17- Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh loại hình lịch sử ựược vận
dụng trong luận văn như phương pháp chủ ựạo trong việc thực hiện so sánh giữa hai
tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày Bên cạnh ựó, luận văn cũng sử dụng kết
hợp phương pháp so sánh giao lưu ảnh hưởng trong việc phân tắch các mối liên hệ giữa hai tác phẩm với các văn bản và các tác phẩm khác có liên quan Ngoài ra, phương pháp so sánh loại hình lịch sử trong luận văn còn mang ý nghĩa phương pháp luận, vì vậy chúng tôi sẽ trình bày kỹ càng hơn trong chương một của luận văn
- Phương pháp phê bình văn hóa - lịch sử: Hai tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày ựược hình thành trên nền tảng của một quá trình giao thoa văn
hóa lâu dài trải qua nhiều thế kỷ giữa vùng văn hóa Tây Âu và Trung Cận đông vốn
ựã hình thành từ thời cổ ựại, vì vậy, phương pháp văn hóa - lịch sử ựược kết hợp trong luận văn mang lại một cái nhìn bao quát cho quá trình nghiên cứu, hỗ trợ cho việc xác ựịnh mối quan hệ so sánh giữa hai tác phẩm cũng như việc tiếp cận nội dung phản ánh trong tác phẩm
- Phương pháp phê bình huyền thoại: Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày
ựều là những tác phẩm có gắn bó mật thiết với truyền thống văn học dân tộc cũng như nguồn mạch văn học truyền miệng và các huyền thoại, thần thoại, cổ tắch của nền văn học bản ựịa và di sản chung của văn học thế giới Yếu tố tôn giáo và niềm tin tinh thần cũng góp phần tạo ra nội dung mang tắnh thần bắ, những phép lạ, những
ựiều phi thường trong Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày Phương pháp phê bình
huyền thoại là cần thiết cho việc nghiên cứu hai tác phẩm này trong việc tìm hiểu nghệ thuật biểu hiện cũng như ý nghĩa của những nội dung ựó
- Phương pháp thi pháp học: Trong khả năng nhất ựịnh, người viết ựã
tiếp cận với thi pháp học cổ ựiển Arab và thi pháp học cổ ựiển Hy Lạp như những tiền ựề quan trọng cho việc nghiên cứu văn học Arab và các nền văn học phương Tây (Italy) Ngoài ra, phương pháp thi pháp học còn ựược vận dụng trong luận văn như một công cụ tiếp cận tác phẩm ở góc ựộ chất liệu văn học với các cốt truyện, motif, tình tiết, chủ ựề, ựề tàiẦ mà trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm
Trang 18mô thức ựể thể hiện với hàm ý ựây là những chất liệu văn học vừa có ý nghĩa hình
thức vừa thể hiện nội dung tác phẩm Bên cạnh ựó là việc tìm hiểu về hình tượng người kể chuyện và hình thức kể chuyện, cũng như không gian và ý nghĩa của truyện kể, trong tinh thần xây dựng, khám phá và bảo tồn ựời sống con người
5 Ý nghĩa và mục ựắch nghiên cứu
Luận văn hướng ựến việc tìm hiểu và ứng dụng nghiên cứu văn học so sánh theo khuynh hướng loại hình lịch sử, cũng như xác ựịnh mối liên hệ giao lưu trong một phối cảnh rộng lớn về văn hóa, lịch sử và sự vận ựộng của văn học làm nền
tảng cho nghiên cứu so sánh Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày Hai tác phẩm ựược
nghiên cứu ở các phương diện như quá trình hình thành tác phẩm, vấn ựề văn bản
và nguồn gốc, vị trắ của tác phẩm trong văn học dân tộc và văn học thế giới, làm rõ giá trị nhân văn và thành tựu về nghệ thuật kể chuyện trong hai tác phẩm Xuất phát
từ những khắa cạnh tương ựồng, luận văn trình bày về những khác biệt trong sắc thái và những giá trị ựặc thù của hai tác phẩm Những trình bày ấy vừa có ý nghĩa trong việc tìm hiểu các giá trị của mỗi tác phẩm, ựồng thời xác ựịnh những giá trị này rõ nét hơn trong mối tương quan với những ựối tượng văn học khác
Luận văn cũng thông qua việc nghiên cứu so sánh hai tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày ựể tiếp cận với văn học Italy và văn học Arab là hai nền văn học
lớn và có lịch sử lâu dài của thế giới Cùng với ựiều ựó, là những khám phá và tìm hiểu về các vấn ựề văn học nói chung như giá trị của tác phẩm văn học, nghệ thuật
kể chuyện trong văn học trên bình diện văn học toàn thế giới với các mối quan hệ
và các quy luật chung
6 đóng góp của luận văn
Phương pháp so sánh loại hình lịch sử trong luận văn vừa là một phương pháp chủ ựạo trong thực hành nghiên cứu vừa ựược tìm hiểu với ý nghĩa phương
Trang 19pháp luận Trên cơ sở ựó, luận văn xác ựịnh mối liên hệ giao thoa văn hóa phức tạp
và lâu dài giữa phương đông và phương Tây cũng như sự vận ựộng của các chất liệu trong văn học thế giới như là những tiền ựề căn bản cho nghiên cứu so sánh hai
tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày
Hai ựối tượng nghiên cứu của luận văn luôn ựược ựặt trong mối liên hệ với nền văn học truyền thống cũng như trong bối cảnh văn học thế giới, cùng với những khảo sát về các vấn ựề văn học liên quan, chúng tôi xác ựịnh việc nghiên cứu các hiện tượng văn học trong bối cảnh rộng lớn của văn học toàn thế giới với những kế thừa, học hỏi và sáng tạo riêng Luận văn tiến hành nghiên cứu các giá trị của
Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày, vốn là những vấn ựề chưa ựược chú ý trong
nghiên cứu văn học ở Việt Nam Qua việc nghiên cứu so sánh Nghìn lẻ một ựêm và
Mười ngày, luận văn tiếp cận với văn học Arab, văn học Italy, vốn là những vùng
văn học còn chưa ựược khám phá nhiều ở Việt Nam
7 Cấu trúc của luận văn
Công trình ựược triển khai theo ba chương cùng với các phần: Dẫn nhập và
Kết luận, ngoài ra còn có Thư mục tài liệu tham khảo và Phụ lục
Dẫn nhập: Trình bày lý do lựa chọn ựề tài, ựối tượng và phạm vi nghiên cứu,
lịch sử nghiên cứu vấn ựề, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và mục ựắch nghiên cứu, ựóng góp của luận văn, cấu trúc của luận văn Phần này nhằm giới thiệu khái quát về ựịnh hướng nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và phác thảo nền tảng thực hiện nghiên cứu này
Chương một: Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày Ờ Những tiền ựề nghiên
cứu so sánh
Chương thứ nhất của luận văn xác ựịnh bối cảnh và cơ sở lý luận cũng như
phương pháp thực hiện nghiên cứu so sánh hai tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm và
Mười ngày, ựể nghiên cứu này có ý nghĩa cả về phương diện thực hành lẫn lý
Trang 20thuyết văn học Bên cạnh nội dung ñó, chúng tôi trình bày về nguồn gốc, sự hình
thành cũng như vị trí quan trọng và tầm ảnh hưởng của Nghìn lẻ một ñêm và Mười
ngày trong truyền thống văn học dân tộc và thế giới
Chương hai: Giá trị nhân văn trong Nghìn lẻ một ñêm và Mười ngày
Chương thứ hai của luận văn triển khai nghiên cứu so sánh Nghìn lẻ một ñêm và Mười ngày ở phương diện giá trị nhân văn, trên quan ñiểm ñây là giá trị
mang ý nghĩa bản chất của văn học, góp phần tạo nên vị trí quan trọng của hai tác phẩm Cả hai tác phẩm ñều là những khúc ca sâu sắc với ý thức về bản thể cũng như cảm hứng ngợi ca vẻ ñẹp tự do của con người trong cuộc sống trần thế
Chương ba: Nghệ thuật kể chuyện trong Nghìn lẻ một ñêm và Mười ngày
Chương cuối cùng của luận văn tập trung so sánh Nghìn lẻ một ñêm và
Mười ngày ở phương diện nghệ thuật kể chuyện Nghệ thuật kể chuyện của hai tác
phẩm ñã ñạt ñược những thành tựu nhất ñịnh và trở thành những ñiển hình quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc cũng như trong di sản chung của nhân loại Hình thức kiểu truyện khung với các hình tượng người kể chuyện và các các mô thức
truyện kể khiến cho Nghìn lẻ một ñêm và Mười ngày có thể ñược hình dung như
mô hình ñời sống con người
Kết luận: Trình bày khái quát kết quả và những kết luận từ việc nghiên cứu
so sánh Nghìn lẻ một ñêm và Mười ngày Nghiên cứu so sánh Nghìn lẻ một ñêm và
Mười ngày và cơ sở của sự nghiên cứu ñó là những gợi ý cho những nghiên cứu sâu
sắc và mở rộng hơn, ñặc biệt ở phương diện nghiên cứu văn học so sánh và văn học thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa
Phụ lục: Trích dịch ñoạn kết của tác phẩm Nghìn lẻ một ñêm, giới thiệu
bảng niên biểu Boccaccio, trích dịch truyện kể (V,4) và các bài thơ trong tác phẩm
Mười ngày, và bản chú giải một số từ vựng và thuật ngữ ñược sử dụng trong luận
văn
Trang 21CHƯƠNG MỘT:
NGHÌN LẺ MỘT đÊM VÀ MƯỜI NGÀY
NHỮNG TIỀN đỀ NGHIÊN CỨU SO SÁNH
Luận văn này thực hiện việc nghiên cứu so sánh hai tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày Ờ hai tác phẩm chứa ựựng những nét ựặc thù riêng vốn thuộc về hai nền văn học có rất nhiều khác biệt
Nghìn lẻ một ựêm gợi nên một không gian phương đông xa xưa và huyền ảo
đó là những lâu ựài, những kho tàng với châu báu nhiều không kể xiết đó là những giai nhân và những bạo chúa, những hung thần và các phép thuật, những cuộc phiêu lưu trong không gian rộng lớn của vũ trụ bao la và huyền nhiệm Trong khi ựó,
Mười ngày ựại diện cho thế giới phương Tây; tái hiện không gian thành thị nơi mà
giai cấp tư sản ựang xác lập vị thế của mình Xã hội ựang thực hiện những bước chuyển mình từ Trung cổ sang thời ựại Phục hưng với cảm hứng ngợi ca ánh sáng
và chân lý, khao khát nhận thức giá trị con người cùng với những niềm hoan lạc của cuộc sống trần thế Nổi bật trong tác phẩm là những con người thị dân, nhỏ bé và rất ựời thường trong một không gian chân thực và sáng rõ
Những dòng giới thiệu sơ lược trên ựây làm cho hai tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày có vẻ như chẳng hề gặp gỡ nhau ở bất kỳ ựiểm nào, bởi vì hẳn
nhiên ựó là những giới thiệu chưa ựầy ựủ Qua việc thực hiện nghiên cứu so sánh trong luận văn, chúng tôi muốn khẳng ựịnh rằng giữa hai tác phẩm lớn này còn có
sự biểu hiện của các quy luật phổ biến và ựặc thù của văn học thế giới, làm cho hai tác phẩm ngoài những giá trị riêng biệt còn có nhiều biểu hiện gần gũi và những giá trị tương ựồng mang tắnh loại hình
Có thể nói rằng Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày là một cặp ựôi tác phẩm có
những biểu hiện tương ựồng nhau rất ựộc ựáo đó là hai tác phẩm lớn, mỗi tác phẩm
Trang 22ựại diện cho một nền văn hóa riêng biệt, một của phương đông và một của phương Tây Mỗi tác phẩm có những khác biệt về bản sắc nhưng lại ựến rất gần nhau ở
nhiều phương diện Trong khi nghiên cứu so sánh Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày,
chúng tôi dựa trên cơ sở những vấn ựề chung giữa hai tác phẩm vốn nảy sinh từ mối liên hệ phức tạp và sâu xa giữa các nền văn học dân tộc ựể tìm hiểu những thành tựu
và vai trò trong nền văn học dân tộc, những giá trị nhân văn sâu sắc và lâu dài, những ựặc trưng trong nghệ thuật kể chuyện, từ ựó, nhận diện các giá trị ựặc thù cũng như xác ựịnh vị trắ của hai tác phẩm này trong phối cảnh văn học thế giới
1.1 Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày dưới ánh sáng phương pháp
so sánh loại hình lịch sử
Như ựã giới thiệu, nghiên cứu so sánh hai tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm và
Mười ngày chắnh là nội dung cốt lõi của luận văn Từ ựịnh hướng này, người viết
hướng ựến việc khảo sát những vấn ựề tương ựồng và dị biệt giữa hai tác phẩm ựặt trong tắnh quy luật và tắnh hệ thống của văn học Nghiên cứu so sánh ở ựây còn mang ý nghĩa phương pháp luận, vì thế, chúng tôi dành một phần của chương ựầu tiên của luận văn ựể trình bày, thay vì chỉ giới thiệu trong mục phương pháp nghiên cứu ở phần dẫn luận
Văn học so sánh và những khuynh hướng nghiên cứu của mình ựã cho thấy một khả năng nghiên cứu văn học mở rộng và bao quát Cùng với ngành nghiên cứu này, người nghiên cứu có thể nghiên cứu các ựối tượng văn học trong những mối quan hệ quốc tế chứ không chỉ bó buộc trong nghiên cứu một ựối tượng văn học riêng lẻ hay một nền văn học biệt lập Cũng từ ựó văn học so sánh hướng ựến một mục tiêu nghiên cứu bao quát và toàn diện hơn Các ựối tượng văn học có những nét tương ựồng ở những nền văn học riêng biệt ựược ựặt bên cạnh nhau trong nghiên cứu nhằm tìm ra những mối liên hệ ảnh hưởng hoặc giao lưu cũng như khảo sát các quy luật phát triển loại hình trong văn học thế giới
Trang 23Nghiên cứu so sánh trong mối quan hệ giao lưu ảnh hưởng (tiêu biểu là trường phái văn học so sánh Pháp) là một cách thức hiệu quả ựể xác ựịnh các ựặc tắnh cũng như ựánh giá các giá trị của hai nền văn học có quan hệ gần gũi với nhau điều này thường ựược thấy rõ trong mối quan hệ giữa nền văn học trung tâm với các nền văn học trong khu vực chịu ảnh hưởng Vắ dụ như văn học Trung Quốc và mối quan hệ giao lưu ảnh hưởng với văn học các nước trong khu vực đông Á (Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên), văn học Ấn độ ựối với các nước trong khu vực Nam
Á và đông Nam Á, văn học cổ ựại Hy Lạp ựối với văn học các nước châu Âu Các ựối tượng của khuynh hướng nghiên cứu so sánh này ựược xác ựịnh trong mối quan
hệ trực tiếp với nhau khá rõ ràng Ở ựây, có thể nhận thấy rằng khó xác lập mối
quan hệ giao lưu ảnh hưởng trực tiếp giữa hai tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm và Mười
ngày Tuy nhiên, những ảnh hưởng gián tiếp giữa hai tác phẩm là có thể nhận diện
ựược Về mặt lịch sử, trong những thời ựại nhất ựịnh văn hóa Arab và văn hóa châu
Âu (trong ựó có Italy) có sự va chạm tương tác với nhau, ựặc biệt ựáng chú ý là tác ựộng của văn hóa Arab ựối với châu Âu vào thời Tiền Phục hưng Vấn ựề ựặt ra là giữa hai khu vực văn hóa này các mối liên hệ văn học sẽ nảy sinh như thế nào và từ bối cảnh giao lưu văn hóa như thế sẽ có sự biểu hiện trong văn học ra sao
Văn học so sánh không chỉ nghiên cứu những mối quan hệ giao lưu ảnh hưởng giữa các nền văn học mà còn dựa trên việc so sánh các nền văn học khác biệt
ựể tìm ra những ựặc thù của mỗi nền văn học dân tộc trong mối quan hệ bên ngoài dân tộc, cũng như làm rõ quy luật vận ựộng phát triển của văn học thế giới Nhà nghiên cứu văn học Nga N.I.Konrad ựã viết trong phần dẫn luận của tập một bộ
sách Lịch sử văn học thế giới: ỘTrước lịch sử văn học thế giới nổi lên vấn ựề sự
gần nhau về loại hình của thành phần văn học ở những dân tộc trải qua giai ựoạn lịch sử có nội dung kinh tế - xã hội và trình ựộ văn hóa giống nhau Tất nhiên sự giống nhau này không phải là tuyệt ựối, mà chỉ về cơ bản Nhưng cái giống nhau cơ bản ấy quyết ựịnh sự giống nhau về loại hình của văn học; còn các ựặc trưng tất yếu của giai ựoạn lịch sử nhất ựịnh ở mỗi nước sẽ tạo nên biến thể của phức hợp loại hình chung.Ợ [38, tr.36] Di sản văn học thế giới ựã cho thấy có rất nhiều hiện
Trang 24tượng văn học tương ñồng ñã xuất hiện trong các nền văn học khác nhau mà lại không phải là kết quả của quá trình giao lưu ảnh hưởng trực tiếp Trong thời ñại sử
thi, văn học thế giới cổ ñại ñã có Iliad và Odyssey ở Hy Lạp, lại có thêm
Mahabharata và Ramayana ở Ấn ðộ Mở ñầu cho lý luận văn học ở Hy Lạp là tác
phẩm Thi pháp học của Aristotle và mở ñầu cho lý luận văn học ở Ấn ðộ là tác phẩm Natyasastra của Bharata, cả hai tác phẩm ñều cùng tập trung trình bày về thể
loại kịch Hoặc như sự phổ biến của các motif truyện cổ tích ở nhiều nền văn học khác biệt nhau mà các nhà nghiên cứu loại hình ñã chỉ ra Và còn có sự tương ñồng trong tiến trình phát triển các trào lưu, các trường phái văn học ở châu Âu từ thời Phục hưng ñến tận thời hiện ñại Trước những hiện tượng văn học tương ñồng ấy, khuynh hướng nghiên cứu so sánh loại hình lịch sử ñã thể hiện ưu thế và hiệu quả trong mục ñích nghiên cứu nhằm xác ñịnh những phổ biến và những ñặc thù mang tính quy luật cũng như tính dân tộc của các hiện tượng văn học
Trở lại trường hợp nghiên cứu so sánh Nghìn lẻ một ñêm và Mười ngày,
Nghìn lẻ một ñêm là một tác phẩm khuyết danh ra ñời trong thời ñại Hoàng kim của
văn học Arab; Mười ngày của nhà văn Boccaccio là một tác phẩm văn xuôi quan
trọng của văn học Phục hưng Italy Giữa hai tác phẩm không xác ñịnh mối liên hệ trực tiếp theo cách thức tác phẩm nào ảnh hưởng ñến sự ra ñời và hình thành của tác phẩm nào Tuy nhiên, giữa hai tác phẩm này lại có khá nhiều ñiểm tương ñồng với nhau, nổi bật nhất là hình thức truyện khung và sự xuất hiện trùng lặp của một số motif truyện kể, cốt truyện và ñề tài ở hai tác phẩm Dĩ nhiên, trong những tương ñồng ñó vẫn tồn tại những ñặc thù riêng biệt của mỗi tác phẩm và của nền văn học dân tộc tạo ra tác phẩm Việc thiết lập mối quan hệ so sánh giữa hai tác phẩm không phải chỉ nhằm ñể tìm những ñiểm tương ñồng và khác biệt giữa hai tác phẩm, trong khi những biểu hiện ñó là chắc chắn có, vì như vậy sẽ chỉ trở thành một sự so sánh
bề nổi và mang tính hình thức Nghiên cứu so sánh ở ñây còn hướng ñến mục tiêu
lý giải những biểu hiện ñó trong sự vận ñộng của tiến trình văn học thế giới trên cơ
Trang 25Trong quá trình phát triển, văn hóa Arab ựã từng có những va chạm nhất ựịnh ựối với văn hóa châu Âu ở nhiều thời kỳ Chúng tôi cho rằng ựây là một ựặc thù lịch sử rất quan trọng làm tiền ựề cho việc thực hiện nghiên cứu so sánh của
luận văn, ắt nhất ựây là cơ sở ựể xác ựịnh rằng việc nghiên cứu so sánh Nghìn lẻ
một ựêm và Mười ngày không phải là một lựa chọn ngẫu nhiên xuất phát từ nghiên
cứu hình thức Giữa hai tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày mặc dù không
có một mối liên hệ trực tiếp nhưng về sâu xa vẫn có sự chi phối của những giao lưu
về văn hóa, chắnh trị trên diện rộng và ựan xen giữa các khu vực của châu Âu và vùng văn hóa Trung Cận đông, từ thời cổ ựại cho tới thời Phục hưng Ngoài ra cũng cần phải kể ựến những yếu tố văn hóa, văn học từ Ấn độ ựã thâm nhập vào văn học Trung Cận đông và văn học châu Âu trong suốt nhiều thế kỷ Từ những giao lưu mang tắnh lịch sử này, chúng tôi hướng ựến nhấn mạnh phương diện lịch sử trong cụm từ phương pháp so sánh loại hình lịch sử điều này cũng có nghĩa là phương pháp luận mà luận văn dựa vào là phương pháp so sánh loại hình lịch sử, nhưng vẫn không loại trừ việc sử dụng phương pháp so sánh giao lưu ảnh hưởng như một phương pháp nghiên cứu hỗ trợ
Việc thiết lập mối quan hệ so sánh giữa Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày
còn dựa trên những mối quan hệ ựặc thù giữa văn học phương đông và văn học phương Tây, vốn là hai khu vực văn học ựược phân biệt và so sánh trong nghiên cứu văn học thế giới Phương đông ựối với thế giới phương Tây trước khi phát kiến
ra khu vực Viễn đông (khu vực Nam Á, đông Á, đông Nam Á) có nghĩa là khu vực Trung Cận đông và Bắc Phi (Ai Cập) Sau ựó và cho ựến ngày nay, khái niệm phương đông ựược hiểu theo nghĩa rộng hơn là các nền văn hóa, văn học châu Á với các nền văn hóa cổ ựiển là Ấn độ, Trung Quốc, Arab Phương Tây bao gồm các nền văn hóa, văn học châu Âu tiếp nhận truyền thống văn hóa Hy La cổ ựại Xét từ phạm vi và ựối tượng nghiên cứu của luận văn, thuật ngữ Ộphương đôngỢ ựược sử dụng trong luận văn này, ựược hạn chế trong cách hiểu phương đông của người châu Âu thời cổ ựại và trung ựại, nghĩa là trước thời kỳ xác lập quan hệ với vùng Viễn đông Tuy rằng, có sự phân biệt giữa phương đông và phương Tây như vậy,
Trang 26nhưng trên thực tế giao thoa văn hóa giữa hai thế giới đông và Tây là những mối
giao thoa phức tạp ựan xen trong suốt chiều dài lịch sử Bộ Thánh Kinh của Cơ ựốc
giáo, nguồn hứng quan trọng của văn học phương Tây (trong ựó có văn học Italy) lại có nguồn cội sâu xa từ văn hóa Trung Cận đông Hay những bước khởi ựầu của thi pháp học cổ ựiển Arab lại gồm cả sự tiếp nhận các quan ựiểm thi pháp học của Aristotle qua các hoạt ựộng dịch thuật và bình chú tác phẩm của ông trong giới học giả Hồi giáo thời ựại Hoàng kim Arab Những tương tác nổi bật như vậy giữa hai thế giới đông và Tây càng khẳng ựịnh hơn nữa mạch ngầm của những mối liên hệ giao lưu, học tập và truyền bá
Từ những nghiên cứu so sánh loại hình lịch sử, các nhà nghiên cứu ựã nhìn nhận sự phát triển lịch sử cũng như tiến trình văn học của các dân tộc trên thế giới
là mang tắnh quy luật Nếu như những trào lưu văn học hiện ựại như chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tượng trưng,Ầ vận ựộng theo chiều ngược lại
từ phương Tây sang phương đông thì cũng có những hiện tượng văn học vận ựộng
từ phương đông sang phương Tây Mà sự phát triển của phong trào Phục hưng trong văn học theo cách lý giải của nhà nghiên cứu N.I.Konrad là một vắ dụ tiêu
biểu N.I.Konrad ựã viết: Ộphải chăng cái mà trong lịch sử các dân tộc châu Âu có
tên là ỘPhục hưngỢ chắnh là thể hiện tắnh quy luật chung của quá trình lịch sử thế giới, nó tất yếu phải xuất hiện vào một thời ựiểm nhất ựịnh trong sự phát triển lịch
sử của các dân tộc có nền văn minh vĩ ựại?Ợ [34, tr.52] Từ quan ựiểm cho rằng lịch
sử mỗi dân tộc trên thế giới ựều phát triển theo những quy luật chung nhất ựịnh trong tiến trình lịch sử của mình, ông cho rằng thời ựại Phục hưng còn diễn ra ở nhiều khu vực khác trên thế giới, với những tắnh chất khác nhau nhưng bản chất thì như nhau Từ ựó, ông xác ựịnh thời ựiểm phát sinh của thời ựại Phục hưng ở Trung Quốc là vào ựời đường thế kỷ thứ VIII, thời ựại Phục hưng Trung Á và Iran bắt ựầu
từ thế kỷ IX và cực thịnh vào thế kỷ X-XI, còn thời ựại Phục hưng ở châu Âu thì bắt ựầu muộn hơn ở châu Á và có tiếp nhận những ảnh hưởng và những thúc ựẩy từ
Trang 27Khái niệm Phục hưng Ờ Renaissance ban ựầu dùng ựể ựịnh danh một thời ựại
lịch sử ựược xác ựịnh cụ thể trong lịch sử châu Âu từ thế kỷ thứ XIV ựến thế kỷ XVI Khái niệm Phục hưng ựược sử dụng lần ựầu tiên vào thế kỷ XVI, nhằm thể hiện ý nghĩa ựây là thời ựại làm hồi sinh, phục hồi lại những giá trị quý giá của nền văn hóa Hy-La cổ ựại sau thời Trung cổ bị lãng quên và phát triển nền văn hóa mới chống lại thần học Trung cổ Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, khái niệm Phục hưng ựã dần mở rộng hơn nội hàm của nó Có thể hiểu rằng ựó là một thời ựại mà
ựô thị trở nên hưng thịnh, trong xã hội hình thành nên những tầng lớp trung gian, ựặc biệt là giai tầng trắ thức Ờ những người ựại diện cho những tư tưởng mới mẻ và tiến bộ, con người ựặc biệt có ý thức về cá nhân và tự do, các phương diện khoa học, nghệ thuật ựều phát triển hưng vượng gắn liền với nguyện vọng phục vụ và thể hiện ựời sống con người như nó vốn có đó là thời ựại con người vừa nhận thức, khôi phục lại những giá trị tốt ựẹp của văn hóa cổ xưa vừa sẵn sàng ựến với những tư tưởng tiến bộ mới Xã hội từ ựó sản sinh ra những con người khổng lồ, sản sinh ra những thành tựu vật chất và tinh thần cao cả đó thực sự là một cuộc cách mạng và
có ảnh hưởng rất mạnh mẽ ựối với sự phát triển của lịch sử
Trong việc vận dụng phương pháp so sánh loại hình lịch sử của luận văn thì việc xác ựịnh ựặc trưng của nền tảng xã hội và thời ựại ra ựời của hai tác phẩm cũng
là một trong những tiền ựề quan trọng cho việc thực hiện nghiên cứu so sánh Như
chúng tôi ựã giới thiệu, Nghìn lẻ một ựêm là một tác phẩm văn học ra ựời từ thời
ựại Hoàng kim Arab đây là thời ựại ựược các nhà đông phương học xem là có vị trắ và tắnh chất tương tự như thời ựại Phục hưng trong văn hóa các nước châu Âu Trong việc sử dụng khái niệm Phục hưng ựối với các nền văn hóa ngoài châu Âu,
nhà nghiên cứu người đức Adam Mez trong công trình Thời ựại Phục hưng Hồi
giáo (1927) (Die Renaissance des Islams) cũng ựã có giới thiệu và xếp Nghìn lẻ một ựêm vào trong số những tác phẩm của văn học Phục hưng Hồi giáo
Trong khi ựó, dù có những tranh cãi, Giovanni Boccaccio vẫn ựược vinh
danh là một nhà nhân văn chủ nghĩa thời Phục hưng Tác phẩm Mười ngày của ông
cũng ựược xếp vào một trong những tác phẩm xuất sắc của văn học Phục hưng Italy
Trang 28nhờ những cách tân của tác phẩm trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc, cũng như tinh thần mới mẻ của thời ựại mà tác phẩm chứa ựựng Trong một trong những công
trình viết về thời Phục hưng sớm nhất là Văn hóa Phục hưng ở Italy (1860) (Die
Kultur der Renaissance in Italien), nhà nghiên cứu người Thụy Sĩ Jacob
Burckhardt, cũng ựã giới thiệu về Boccaccio và các tác phẩm của ông
1.2 Phương đông - phương Tây và những mối liên hệ lịch sử văn hóa
Arab là một bộ phận của văn hóa phương đông trong khi Italy thuộc về văn hóa phương Tây Phương đông và phương Tây tuy ựược phân chia rạch ròi nhưng lại không phải là tách biệt hoàn toàn Ở vùng văn hóa Á Phi Âu cổ ựại, từ thế kỷ thứ
IV trước công nguyên, vùng thung lũng sông Nile, thung lũng sông Tigris và sông Euphrates, ựảo Crete và Peloponnese ựã trở thành những cái nôi cổ xưa của văn minh nhân loại Trong quá trình kế thừa và phát triển, phương đông và phương Tây
từ thời cổ ựại cho ựến thời Phục hưng ựã có những mối liên hệ nhất ựịnh đó là những mối giao lưu phức tạp suốt quá trình lịch sử lâu dài trên nhiều phương diện ựời sống xã hội như văn hóa, chắnh trị, tôn giáo, kinh tế giữa các quốc gia và dân tộc cư trú ở hai khu vực này
Tiến trình phát triển vùng Trung Cận đông là lịch sử thay thế nhau nắm giữ vai trò chủ nhân của nền văn minh của nhiều dân tộc Sớm nhất là các dân tộc cổ ựại Sumer, Assyria, Babylon, Khurrite, Hittites, Phoenicia ựã góp phần xây dựng nền văn minh từ thiên niên kỷ III trước công nguyên Sau ựó là vai trò của người Ba Tư, người Do Thái và cho ựến thế kỷ thứ VII, người Arab trở thành chủ nhân mới của vùng ựất này Trong sự biến thiên lịch sử ựó, các giá trị văn hóa ựặc thù của nền văn minh vẫn ựược chuyển giao và gìn giữ qua nhiều thời ựại Dấu ấn văn hóa phương đông cổ ựại vẫn ựược biểu hiện vào những thời kỳ văn hóa tồn tại sau ựó ở những dân tộc trẻ hơn trong những thể chế mới hơn và hơn nữa còn có năng lực lan tỏa ựến các khu vực khác của văn minh nhân loại
Trang 29Văn hóa cổ Hy Lạp Ờ nền văn hóa nền tảng tiêu biểu của châu Âu Ờ nằm ở vị trắ gần gũi với các vùng Tiểu Á, Ai Cập trong quá trình hình thành ựã tiếp nhận rất nhiều ảnh hưởng từ phương đông, như là kết quả của sự giao lưu văn hóa Lịch sử
Hy Lạp cổ vào thế kỷ thứ VIII trước công nguyên là thời ựại đông phương hóa Khi
ựó văn hóa Hy Lạp ựã tiếp nhận nhiều yếu tố văn hóa phương đông từ Syria, Phoenicia và Lưỡng Hà, ựặc biệt là ở phương diện nghệ thuật như kỹ thuật chế tạo
ựồ thủ công tinh xảo, sử dụng các chất liệu mới và biểu hiện của phong cách phương đông
Lần lượt Hy Lạp và La Mã trong quá trình phát triển và chinh phục ựã thiết lập ảnh hưởng ựến các vùng ựất phương đông (Ai Cập, Lưỡng Hà, Tiểu Á, Palestine, SyriaẦ) Thời kỳ Hy Lạp hóa thế kỷ III-I trước công nguyên, thời kỳ xâm lăng của La Mã ựến Bắc Phi, Iran thế kỷ II-I trước công nguyên là những thời
kỳ mà văn hóa Hy-La ựược phổ biến ở phương đông Cùng với sự truyền bá văn hóa Hy Lạp sang phương đông thì ngược lại cũng có sự lan truyền và tiếp nhận các giá trị văn hóa từ phương đông sang phương Tây điển hình như hoạt ựộng dịch
thuật Thánh Kinh sang tiếng Hy Lạp từ thế kỷ II trước công nguyên với bản dịch
Septuagint ở Ai Cập thời Alexandria và việc dịch ựồng loạt kho tàng ngữ văn học
Do Thái Sau ựó là quá trình dung hòa tư tưởng Thánh Kinh với triết học Plato và
triết học khắc kỷ (Stoicism) đó là sự truyền bá văn hóa Cơ ựốc giáo ở vùng giao thoa giữa văn hóa cổ ựại châu Âu và các nền văn hóa phương đông như Tiểu Á, Syria, Ai Cập, Bắc Phi, Tây Ban Nha Từ ựó, Cơ ựốc giáo vốn là một tôn giáo có nguồn gốc ở Trung Cận đông ựã trở thành một tôn giáo phổ biến và có vị trắ quan trọng ở phương Tây
Những biểu hiện văn hóa nêu trên là những ựiểm nhấn ựáng lưu ý trong dòng chảy xa xưa cho thấy quan hệ giao lưu ảnh hưởng lâu dài giữa phương đông và phương Tây Cho ựến sau thời cổ ựại, Italy dần hình thành từ cái nôi La Mã tuy vẫn
bị chia nhỏ thành nhiều thành bang và vương quốc, người Arab ựã trở thành chủ
Trang 30nhân mới của vùng văn hóa Trung Cận đông, mối quan hệ giao lưu giữa hai nền văn hóa này vẫn ựược tiếp diễn với nhiều ựặc thù Khi Hồi giáo ra ựời và ựế quốc Arab Hồi giáo phát triển lớn mạnh thì hoạt ựộng giao thương và các cuộc chiến tranh tôn giáo tranh giành ảnh hưởng xảy ra càng làm cho quan hệ giữa châu Âu và Trung Cận đông thêm phức tạp Quá trình va chạm ựó cũng tạo ra những ựợt sóng giao lưu văn hóa giữa hai khu vực này
Kỷ nguyên Hồi giáo khởi phát từ những thành công của nhà tiên tri Mohammed (khoảng 570-632) Từ sau cái chết của nhà tiên tri, vương triều Omeyyad Hồi giáo Arab bắt ựầu giai ựoạn bành trướng, ựế quốc Hồi giáo hình thành và lớn mạnh Qua những cuộc xâm chiếm lãnh thổ, ựế quốc Hồi giáo mở rộng biên giới của mình qua cả ba châu lục Á, Âu, Phi Bởi vì chiến tranh vì thánh giáo
là một trong những ựiều ựược coi trọng trong ựạo luật Hồi giáo đế quốc Hồi giáo nhanh chóng bành trướng ra khắp vùng Bắc Phi, Tây Ban Nha, ựảo Sicily (Italy),
Trung Á cho ựến Tây Bắc Ấn độ Riêng ở khu vực Ộựảo Sicily và miền Nam Italy,
người Hồi giáo ựã cầm quyền cho tới khi bị người Norman ựánh ựuổi, tuy nhiên những ảnh hưởng Hồi giáo vẫn còn tồn tại lâu dài cho ựến ngày nay.Ợ [100, tr.9]
(B.T dịch)
Lịch sử Hồi giáo ghi lại: năm 641, người Hồi giáo chiếm ựược Ba Tư, Ai Cập, năm 657 chiếm Jerusalem đến năm 670, quân Hồi giáo tiến hành chiến tranh theo ba hướng: Trung Á, Bắc Phi và Byzantine Theo ba hướng ựó, năm 709, họ chiếm ựược phần ựất của ựế quốc Byzantine ở Bắc Phi, năm 711-713, họ làm chủ lưu vực sông Indus Cùng với những cuộc trường chinh trên lưng ngựa ấy, người Hồi giáo chiếm giữ thêm ựược rất nhiều ựất ựai và ựồng thời tiếp thu những giá trị văn hóa của những xứ sở văn minh khác Họ ựã chinh phục ựược nhiều vùng ựất vốn có nền văn minh phát triển từ xa xưa (Ai Cập, Lưỡng Hà, Ba Tư, Ấn độẦ) ựã hấp thu các giá trị của những nền văn minh ựó, dung hòa và phát triển ựể sản sinh ra nền văn minh Arab xán lạn Người Arab rất quý trọng sách vở, coi trọng giáo dục, ở các thành thị lớn, nhất là Baghdad, Damas, Cairo ựều có các trường học, quy tụ
Trang 31ñược thành lập, người Hồi giáo tham gia dịch các sách vở, tài liệu chứa ñựng tri thức của thế giới cổ ñại sang ngôn ngữ của mình Thế là trong khi châu Âu ñang bị bóng ñêm của thời Trung cổ vây phủ thì thế giới Arab ñã nổi lên thành một trung tâm văn minh của thế giới
Tiếp ñó là một bước ngoặt trong lịch sử Hồi giáo với sự kiện vương triều Abbassid thay thế vương triều Omeyyad Vương triều Abbassid nắm quyền từ năm
750 ñã mở ñầu cho thời ñại Hoàng kim trong lịch sử ñế quốc Arab Thời ñại hoàng kim Arab kéo dài suốt từ thế kỷ VIII ñến thế kỷ XIII ðây cũng là một giai ñoạn mà văn học thế giới Arab ñặc biệt phát triển rực rỡ Những vần thơ ñầy hoan lạc và say sưa của thi nhân phóng ñãng Abu Nuwas (750-810), những bài thơ ngợi ca cuộc sống thế tục của kẻ muốn làm nhà tiên tri al-Mutanabbi (915-965), tư tưởng tự do trong những bài thơ mang vẻ ñẹp trầm tư của nhà thơ minh triết al-Ma’arri (973-
1057), những câu chuyện trong kho tàng Nghìn lẻ một ñêm kỳ ảo, mênh mang của
trí tưởng tượng chính là những gì quý báu và tinh tế mà văn học thời ñại Hoàng kim Arab ñã ñóng góp với văn chương thế giới Ngoài những tác phẩm văn học ñã ñạt ñến tầm cổ ñiển, văn học Arab thời kỳ này còn xuất hiện những công trình thi pháp học có giá trị và tạo ñược ảnh hưởng sâu sắc ñến văn học phương Tây
Các caliph của vương triều Abbassid rất chú trọng ñến các hoạt ñộng văn hóa, nghệ thuật Dấu ấn rõ nét của vương triều này là việc xây dựng Tòa Minh Triết (Bayt al-Hikmah) ở Baghdad năm 830, làm trung tâm phiên dịch và nghiên cứu các văn bản, tài liệu tìm ñược từ các nền văn hóa cổ ñại Từ ñây các học giả ñã biên soạn, ghi chép rất nhiều tài liệu, tri thức Hồi giáo cũng như dịch thuật rất nhiều sách
vở có giá trị của Hy Lạp, La Mã, Ba Tư, Syria,
Vị caliph nổi tiếng nhất của vương triều Abbassid là Haroun al-Rashid 809) Những giai thoại về con người và triều ñại của ông trở thành một bộ phận
(786-truyện kể quan trọng trong các (786-truyện kể của Nghìn lẻ một ñêm Những năm trị vì
của Haroun al-Rashid là thời kỳ mà vương triều Abbassid ñạt tới ñộ cực thịnh, nội chính ñược chấn chỉnh, ñối ngoại ñược mở rộng, nhưng cũng từ ñó những dấu hiệu
Trang 32suy tàn bắt ựầu xuất hiện Thời ựại của Haroun al-Rashid ựược xem là thời ựại hoàng kim của thế giới Arab, một giai ựoạn phồn vinh chưa từng có của ựế quốc Arab Các thương thuyền từ Ấn độ, Trung Quốc, châu Phi, châu Âu ựỗ lại rất nhiều
ở bến sông Tigris thành Baghdad Trong thành còn có nhiều cửa hiệu bán tơ lụa, ựồ gốm, hương liệu xuất xứ từ Viễn đông,Ầ đồng thời, giới thương nhân Arab cũng
mở rộng hoạt ựộng kinh doanh, buôn bán ựến nhiều khu vực thương mại khác Thời ựại ấy văn hóa, nghệ thuật nhận ựược sự chăm lo, bảo trợ của nhà cầm quyền Haroun al-Rashid ựã có nhiều chế ựộ hậu thưởng cho các nhà thơ và các nhạc sĩ, thúc ựẩy nền kinh tế, chắnh trị và văn hóa tiến tới phồn vinh
Cứ như vậy ỘThời ựại Hoàng kim ArabỢ ựã kéo dài từ thế kỷ IX ựến thế kỷ XIII Cho ựến năm 1258, quân Mông Cổ tiến vào tàn phá Baghdad, chấm dứt thời
kỳ Baghdad phồn thịnh (750-1258), từ ựây lịch sử Hồi giáo bước sang một trang khác là thời Hậu Baghdad Các caliph của vương triều Abbassid chỉ còn danh hiệu chứ không nắm thực quyền, quyền lực rơi vào tay các sultan (Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập,Ầ) Từ ựó trở về sau Baghdad không thể phục hồi lại ựược vị trắ của mình trong nền văn hóa Arab Trung tâm văn hóa Hồi giáo lúc bấy giờ chuyển từ Baghdah về Ai Cập, Syria và Tây Ban Nha Trong khi ựó các nhà cầm quyền Mông
Cổ cũng phát triển hoạt ựộng văn hóa, giáo dục, tôn giáo ở vùng ựất do họ cầm quyền, hơn nữa, còn mở rộng mối quan hệ thương mại với châu Âu
Trong thời ựại bành trướng của ựế quốc Hồi giáo ựến Bắc Phi và châu Âu, người châu Âu ựáp trả lại những sự xâm lấn ựó bằng các cuộc Thập tự chinh Với tư tưởng chống lại người ngoại ựạo (bao gồm cả Hồi giáo, Do Thái giáo), Thập tự chinh là cuốc chiến ựấu của người Thiên Chúa giáo ựể giành lại ựất thánh Jerusalem ựang bị chiếm giữ Thập tự quân trong từng giai ựoạn khác nhau ựã chiếm ựược một
số vùng ựất ở Trung Cận đông ỘCác cuộc thập tự chinh ựã mở ra những hành
trình chưa ựược biết ựến trong nhận thức của châu Âu, ựánh thức tất cả niềm ựam
mê du hành và khám phá.Ợ (J.Burckhardt) [75, tr.279] (B.T dịch) Mặc dù, trong
cuộc Thập tự chinh kéo dài qua nhiều thế kỷ (từ thế kỷ XI ựến XIII), tri thức và
Trang 33chục cuộc chiến tranh tôn giáo ựã diễn ra ựó cũng là những sự kiện tạo ra mối giao lưu văn hóa giữa vùng Trung Cận đông và châu Âu Quy mô và hệ quả của những cuộc chiến tranh tôn giáo ựó ựã ựể lại dấu ấn sâu ựậm trong văn hóa châu Âu cũng như ựối với vùng Trung Cận đông Từ ựó, những sự kiện lịch sử này cũng ựược ựề
cập, phản ánh ở nhiều góc ựộ khác nhau trong các tác phẩm văn chương mà Nghìn
lẻ một ựêm và Mười ngày thuộc về hai văn hóa ựó cũng không là ngoại lệ
Trong Nghìn lẻ một ựêm có một số câu chuyện có liên hệ ựến các cuộc giao
tranh tôn giáo này, qua thế giới quan Hồi giáo, thể hiện mối quan hệ giữa người Cơ ựốc giáo và người Hồi giáo vốn tồn tại trong văn hóa Arab Giovanni Boccaccio
cũng chọn Thập tự chinh làm ựề tài trong một số câu chuyện của Mười ngày như
cách xác ựịnh mốc thời gian của truyện kể hoặc là việc kể những giai thoại về các nhân vật lịch sử cũng như thể hiện cảm hứng phương đông trong tác phẩm Mỗi tác phẩm có một cách nhìn riêng về phắa bên kia, tuy nhiên, chắnh sự phản ánh sự kiện
lịch sử ựó ựã làm cho ựôi khi Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày có những gặp gỡ kỳ
thú, về nhân vật hoặc không gian diễn tiến truyện kể Sự phản ánh ựó có thể là sự khúc xạ của lịch sử qua lăng kắnh văn chương, cũng có khi là sự lôi cuốn của các ựề tài về những vùng ựất xa xôi trong một thời ựại mới Về sự phản ánh này, chúng tôi
sẽ phân tắch trong những chương sau của luận văn
Trong lịch sử, thế giới Arab Hồi giáo và châu Âu ựã có nhiều va chạm và tương tác lẫn nhau đặc biệt, văn hóa Arab Hồi giáo có tác ựộng rất quan trọng ựối
với sự phát triển của phong trào Phục hưng ở châu Âu Về vấn ựề này, cuốn The
Islamic World and the West A.D 622-1492 (Thế giới Hồi giáo và phương Tây từ
622 ựến 1492) do Archibald R.Lewis biên soạn, xuất bản năm 1970, tập hợp nhiều
bài nghiên cứu có giá trị của nhiều nhà nghiên cứu, ựã có những trình bày và lý giải rất sâu sắc về mối quan hệ và tác ựộng của thế giới Hồi giáo ựối với phương Tây từ thời Trung cổ cho ựến thời Phục hưng trên các phương diện lịch sử, xã hội, chắnh trị, tôn giáo, văn học,Ầ Archibald Lewis nhận ựịnh:
Trang 34“Chúng ta cần nhớ rằng hầu như trong thời kỳ này, văn minh châu Âu
phương Tây chắc chắn thua kém văn minh Hồi giáo, và chậm phát triển hơn xét trong mối tương quan với nền văn minh này ðây là lý do tại sao tầng lớp thượng lưu của Hồi giáo cảm thấy mình cao cấp hơn người châu Âu phương Tây, dù cho ñó
là giới thương nhân, binh lính, học giả hay tăng lữ Cho ñến sau thế kỷ XIII, ý thức
về sự cao cấp hơn này vẫn không thay ñổi khi châu Âu phương Tây ñã ñuổi kịp trình ñộ phát triển của thế giới Hồi giáo ðiều ñó giúp giải thích tại sao, trong nhiều thế kỷ, người châu Âu phương Tây ñã nhiệt tình mô phỏng nhiều phương diện văn hóa Hồi giáo, và tại sao người Hồi giáo, ngoại trừ trong các phương diện quân
sự, ñã nhận thức quá ít ỏi về sự phát triển và thành tựu của châu Âu.” [115, tr.vii]
(B.T dịch)
Một trong những khía cạnh ñặc thù của mối liên hệ giao lưu ảnh hưởng giữa văn hóa Arab Hồi giáo và văn hóa châu Âu chính là vai trò trung gian quan trọng của văn hóa Arab Hồi giáo trong việc tiếp cận nguồn tri thức Hy-La cổ ñại của người phương Tây Thời Trung cổ, chính thế giới Arab Hồi giáo là vương quốc lưu giữ kho tàng quý giá ấy của nhân loại, trong khi văn hóa châu Âu ñang trong giai ñoạn chững lại và bị ñóng khung dưới sự thống trị của thần quyền tôn giáo Khi giáo hội Cơ ñốc ñang lãng quên nhiều tri thức cổ ñiển, ràng buộc và phủ nhận những chân lý khoa học, thì ñế quốc Hồi giáo Arab ñã bảo tồn và phát huy các giá trị ñẹp ñẽ của văn minh nhân loại thời cổ ñại
Nhiều học giả Hồi giáo, với những nghiên cứu, ghi chép và dịch thuật của mình ñã không những làm giàu cho truyền thống tri thức của Hồi giáo mà còn tạo ñược những ảnh hưởng nhất ñịnh ñối với châu Âu Sau ñó, những giao lưu qua lại, tri thức Hồi giáo ở nhiều lĩnh vực như toán học, thiên văn học, y học, triết học,… ñã
du nhập vào châu Âu và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ Không ít những học giả, nhà khoa học danh tiếng của Hồi giáo ñã ñược châu Âu biết ñến và coi trọng Nhà
nghiên cứu Roger Allen trong sách An Introduction to Arabic Literature (Giới
thiệu về Lịch sử văn học Arab) ñã viết: “Vai trò quan trọng của các triết gia Arab
Trang 35hiện qua chính ibn Rushd và người tiền bối của ông là ibn Sina (1037), hay còn
ñược gọi bằng những cái tên Âu hóa là Averroes và Avicenna Họ ñã chiếm giữ ñược vị trí vinh quang trong lịch sử triết học châu Âu Và những bậc tiền bối nổi
tiếng của ibn Sina chính là al-Kindi (865) và al-Farabi (950).” [71, tr.40] (B.T
dịch)
Các nhà bác học al-Farabi, ibn Sina và ibn Rushd ñều là những nhà khoa học
ñể lại tên tuổi của mình trong nhiều lĩnh vực khoa học ðiều ñặc biệt, họ ñều dành nhiều công sức cho việc nghiên cứu, dịch thuật và chú giải tác phẩm của Aristotle
Từ những trước tác của họ mà tư tưởng của Aristotle ñược gìn giữ và truyền bá vào châu Âu Hơn nữa, với những tri thức có nguồn gốc Hy-La cổ ñại, người Hồi giáo không chỉ ñảm nhận vai trò trung chuyển mà họ còn có những phát triển riêng, cũng
như nỗ lực kết hợp nguồn tri thức phương Tây với bản sắc Hồi giáo Chẳng hạn như
“Trong ñịa hạt triết học, chính ibn Sina ñã biên soạn một loạt tác phẩm nhằm cố
gắng dung hòa các nguyên lý Hồi giáo với các nguyên lý logic học Aristotle và những khám phá của chủ nghĩa hậu Plato về bản chất của tinh thần ” (Roger
Allen) [71, tr.41] (B.T dịch)
Việc nghiên cứu, thẩm bình, dịch thuật các tài liệu, tư tưởng Hy Lạp cổ ñại của các học giả Hồi giáo ñã góp phần tái khám phá và phục hồi những giá trị kinh ñiển của nền văn hóa cổ ñại này ở châu Âu Thời ñại Phục hưng ở châu Âu bắt ñầu
từ việc phát hiện ra các tác phẩm của nền văn minh Hy-La cổ ñại và ý thức ñược tinh thần nhân văn ñã có từ thời cổ ñại Bên cạnh việc tìm lại ñược các văn bản cổ Hy-La bị lãng quên trong các thư viện của tu viện ở châu Âu, thì nguồn tiếp xúc quan trọng là qua những văn bản tiếng Arab Trong rất nhiều trường hợp châu Âu chỉ biết ñược phiên bản tiếng Arab còn bản gốc tiếng Hy Lạp thì bị mất ñi qua cơn lốc ghê gớm và khắc nghiệt của lịch sử Như vậy, tiếng Arab ñã trở thành phương tiện chuyển tiếp quan trọng ñể người phương Tây biết ñến những giá trị của văn hóa
cổ ñại Hy-La khi góp mặt vào nền văn minh thế giới Nền văn minh Arab xán lạn trở thành bước ñệm vững chắc và nguồn lực thúc ñẩy mạnh mẽ cho phong trào Phục hưng châu Âu phát triển
Trang 36Tóm lại, có thể nhận ựịnh rằng, giữa phương đông và phương Tây ựã có một lịch sử quan hệ lâu dài với những mối giao lưu ảnh hưởng qua lại trên nhiều phương diện văn hóa, xã hội Những yếu tố văn hóa ựược tiếp nhận qua lại giữa châu Âu và vùng Trung Cận đông là rất phong phú và nhiều ý nghĩa Arab và Italy không nằm ngoài những ảnh hưởng và tiếp nhận tất yếu ựó Chứng minh rằng phương đông ảnh hưởng tới phương Tây hay phương Tây ảnh hưởng ựến phương đông; hoặc xác ựịnh châu Âu hay Trung Cận đông mới là trung tâm hay nguồn khởi phát của văn minh không phải là việc chúng tôi hướng ựến, và ựó cũng chưa hẳn là một nghiên cứu có ý nghĩa Những trình bày trên ựây của chúng tôi là nhằm ựể xác ựịnh một lịch sử giao lưu lâu dài, phức tạp và chồng chéo, học tập, truyền bá, tạo ảnh hưởng, tiếp thu những giá trị văn hóa giữa phương đông và phương Tây đó cũng chắnh là một ựặc trưng quan trọng không thể bỏ qua trong việc nghiên cứu các vấn ựề văn hóa, văn học ở hai vùng văn hóa này, ựặc biệt là trong những nghiên cứu so sánh
đối với việc nghiên cứu so sánh hai tác phẩm Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày như
mục ựắch nghiên cứu của luận văn, ựặc trưng văn hóa này lại càng có ý nghĩa quan trọng
Từ những ảnh hưởng và mối quan hệ giao lưu lâu dài và ựa dạng giữa châu
Âu và Trung Cận đông, sự phát triển văn học ở hai khu vực này cũng có những mối liên hệ và những biểu hiện nhất ựịnh Trong bối cảnh văn hóa rộng lớn, có vị trắ ựịa
lý gần gũi nhau, nhiều tương tác va chạm và các lớp văn hóa ựan xen nhau, giữa hai nền văn học này có nhiều ựiều kiện ựể cùng nảy sinh những yếu tố văn học có tắnh tương ựồng Có thể ựó là những hiện tượng văn học có mối quan hệ cụ thể, ảnh hưởng tác ựộng trực tiếp tới nhau Bên cạnh ựó, văn học trong bối cảnh văn hóa như vậy cũng có những quy luật chung nảy sinh từ những mạch ngầm giao thoa văn hóa Những quy luật chung ựó góp phần tạo ra những hiện tượng tương ựồng mang tắnh
Trang 37loại hình đó cũng là tiền ựề quan trọng ựối với khuynh hướng nghiên cứu văn học
so sánh loại hình lịch sử
Sau nhiều thế kỷ lãng quên nền văn hóa phương đông cổ xưa và vĩ ựại, từ thế kỷ XVIII, XIX, châu Âu già nua bừng tỉnh với những cuộc phát kiến mới nhìn
ra thế giới, giới nghiên cứu ở châu Âu ựã hướng về phương đông như những phát
hiện ựầy mới mẻ đây là thời kỳ mà Nghìn lẻ một ựêm và nhiều tác phẩm văn học
Trung Cận đông như thơ của Omar Khayyam, Saadi,Ầ ựược dịch sang các ngôn ngữ châu Âu Niềm ựam mê ựó không chỉ dừng lại ở việc dịch và giới thiệu các tác phẩm văn học từ phương đông mà còn ựể lại dấu ấn trong sáng tác của nhiều nhà văn phương Tây Phương đông và những gì thuộc về phương đông (phương đông theo cách hiểu của thế kỷ XIX bao gồm cả Ấn độ, Trung Quốc) ựã trở thành những
ựề tài mới mẻ trong sáng tác văn học và lôi cuốn nhiều tác giả lớn như Lord Byron (1788-1824), Edward Fitzgerald (1809-1883) (Anh), Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832), Friedrich Rủckert (1788-1866), Hermann Hesse (1877-1962) (đức), Gustave Flaubert (1821-1880) (Pháp),Ầ
Từ xu hướng nhiệt tình khám phá phương đông ở châu Âu, nhiều bằng chứng cho thấy giữa hai nền văn học Trung Cận đông và châu Âu có nhiều hiện tượng có mối liên hệ với nhau, cụ thể hoặc ngầm ẩn Từ nền tảng ựó, các nghiên cứu về sự ảnh hưởng giao thoa giữa hai nền văn học ựã ựược thực hiện Các ựề tài nghiên cứu về sự ảnh hưởng của phương Tây ựối với phương đông, hoặc các yếu tố nguồn gốc phương đông xuất hiện trong văn học phương Tây như thế nào, là những
ựề tài nghiên cứu hấp dẫn và có ý nghĩa Những nghiên cứu so sánh như vậy có thể ựược triển khai ở nhiều phương diện văn học
Nhà nghiên cứu Sarah Morris trong bài viết Homer and the Near East (Homer và vùng Cận đông) ựã nhận ựịnh ỘTrong quá trình tạo dựng lịch sử và
phát triển văn học của mình, thơ ca của Homer và nhóm sử thi ở vùng phắa đông
địa Trung Hải ựã cùng chia sẻ những yếu tố trần thuật với những nền văn hóa láng
giềng kể từ thời ựại ựồ ựồng, và cho thấy mối liên hệ ựặc biệt với lịch sử và huyền
Trang 38thoại vùng Cận đông Bằng chứng cho những mối liên hệ ựó, ựến thế kỷ XIX, càng
có ựược nhiều hơn qua việc khám phá ra các văn bản Cận đông và những bằng chứng khảo cổ học về sự di chuyển của tư tưởngỢ [99, tr.599] (B.T dịch) Từ sự
quan tâm nghiên cứu về văn học cổ ựại Hy Lạp, và ảnh hưởng Cận đông ựối với nghệ thuật và văn học Hy Lạp, trong bài viết này, bà cũng trình bày nhiều bằng chứng về mối liên hệ giữa Hy Lạp cổ ựại và vùng Cận đông qua kho tàng thần thoại,
sử thi và thơ ca, truyện kể
Vùng văn hóa Á Phi Âu cổ ựại ựã ựể lại một di sản phong phú và quý giá về các thần thoại, văn bia, các nghi lễ, lễ hội tôn giáo Trong một bối cảnh văn hóa rộng lớn, sự di chuyển, phổ biến sâu rộng, tiếp nhận và giữ gìn những tri thức cổ xưa ấy ựã trở thành ựối tượng nghiên cứu ựầy thu hút của nhiều nhà nghiên cứu folklore và huyền thoại học Các motif thần thoại, các huyền thoại sáng thế, huyền thoại về mô hình thế giới, huyền thoại về các thời ựại người, về mối quan hệ giữa thần linh và người trần,Ầ trong các thần thoại, sử thi, văn bia của các nền văn hóa
cổ ựại của nhân loại như Ai Cập, Sumer, Akkad, Babylone, Do Thái, Hy Lạp,Ầ còn chứa ựựng trong ựó tri thức cổ xưa của nhân loại về vũ trụ và sự sống Các nghi lễ tôn giáo cổ xưa còn ẩn giấu trong ựó quan niệm về sự tồn tại cũng như về thế giới
và tổ chức ựời sống xã hội Những nghiên cứu của E.M.Meletinsky, V.Propp, James George Frazer và nhiều nhà nghiên cứu ựã ựưa ra ựược nhiều kết quả quan trọng và
có ý nghĩa ựối với nghiên cứu văn học
Không chỉ thu hút các nhà nghiên cứu huyền thoại, folklore học, sự giao thoa văn hóa lâu ựời giữa phương đông và phương Tây cũng thu hút các nhà nghiên cứu
so sánh Các xu hướng nghiên cứu về văn minh Arab, mối quan hệ của văn hóa phương Tây với văn hóa Hồi giáo, sự ảnh hưởng của văn hóa Hồi giáo ựối với phương Tây qua các thời ựại, ựặc biệt là thời Tiền Phục hưng ựược nhiều nhà đông phương học chú ý Trong xu hướng ựó, các nhà nghiên cứu văn học, ựã nhiều lần thực hiện nghiên cứu khám phá cũng như tái khám phá phương đông
Trang 39đã có những nghiên cứu về sự tương tác, những dấu ấn và các yếu tố có nguồn gốc phương đông trong văn học châu Âu, trong ựó bao gồm cả những nghiên cứu về sự tương tác văn học trong thời trung ựại và thời Phục hưng đó là những nghiên cứu về cách thức sử dụng cũng như ý nghĩa của các yếu tố có nguồn gốc phương đông (Arab, Trung Cận đông) trong các tác phẩm văn học: về các ựề
tài và tư tưởng phương đông trong văn chương thần bắ Trung cổ, thể loại romance, thể loại novella, trong các sáng tác của các tác gia danh tiếng như Dante, Boccaccio,
Chaucer và cả Shakespeare,Ầ; về những tương tác của ngôn ngữ Arab và các ngôn ngữ ở châu Âu; về khuynh hướng nghiên cứu thi pháp học so sánh với những nghiên cứu về những mối liên hệ giữa thi pháp học cổ ựại Hy Lạp từ truyền thống Aristotle và sự phát triển của thi pháp học phương Tây hiện ựại với nền tảng thi pháp học cổ ựiển Arab,Ầ
Không chỉ là nhận thức và những nghiên cứu của các học giả phương Tây về mối quan hệ giữa văn học châu Âu và văn học Trung Cận đông, các nhà nghiên cứu
so sánh ở khu vực Trung Cận đông cũng rất quan tâm ựến phương diện này của văn
học Trong bài viết Comparative Literature in the Arab World in trong tạp chắ
Comparative Critical Studies 3, Issue 1-2, 2006, nhà nghiên cứu Ferial J.Ghazoul
ựã có những trình bày công phu về quá trình phát triển của ngành Văn học so sánh
trong thế giới Arab Ông rất quan tâm ựến những tương tác với văn học Hy Lạp, Ba
Tư, Ấn độ của văn học Arab trong truyền thống, cho thấy ựó là một trong những cơ
sở cho nghiên cứu văn học so sánh Ghazoul cũng giới thiệu một nghiên cứu của Qistaki al-Humsi Trong cuốn sách xuất bản năm 1935, học giả người Syria al-
Humsi ựã so sánh tác phẩm Thần khúc (Divina Commedia) của Dante và Thư về
sự thứ tội (Risalat al-ghufran) của al-MaỖarri, trong ựó Ộông xác ựịnh rằng Dante
Alighieri (1265-1321) ựã biết ựến tác phẩm của Abu al-ỔAla al-MaỔarri (973-1057)
cả từ nguyên bản lẫn thông qua bản dịchỢ [85, tr.116] (B.T dịch)
Trong thực hành nghiên cứu văn học so sánh, sự so sánh Dante và al-MaỖarri
là một nghiên cứu có bối cảnh rất gần gũi và có nhiều tương ựồng với mối liên hệ so
sánh Nghìn lẻ một ựêm và Mười ngày trong luận văn này Như ựã trình bày,
Trang 40al-Ma’arri là một nhà thơ vĩ ñại của văn học Arab thời ñại Hoàng kim và Dante là một bậc thầy danh tiếng của văn học Italy cuối thời trung ñại Hơn nữa, Dante là một tác giả có niên ñại rất gần và có rất nhiều ảnh hưởng trực tiếp ñối với phong cách của Boccaccio Nghiên cứu này chứng minh mối liên hệ thực tế giữa văn học Arab và văn học Italy trong quá khứ Seyyed Hossein Nasr, giáo sư trường ðại học George
Washington, Hoa Kỳ trong chuyên ñề giảng dạy về mối quan hệ giữa Hồi giáo và
phương Tây (Islam and the West) năm 2004, cũng ñề cập về ảnh hưởng của thơ ca
Arab ñối với thơ ca Italy, tiêu biểu như ở Dante Ngoài ra tư tưởng của Dante cũng tiếp nhận những ảnh hưởng của triết lý Sufi
Dante ñã ñể lại cho di sản văn học thế giới tác phẩm vĩ ñại Thần khúc Tác
phẩm gồm một trăm ca khúc, trong ñó Dante kể lại cuộc du hành của mình ñược nhà thơ La Mã Virgil dẫn dắt ñi qua ðịa ngục, Luyện ngục, gặp gỡ và chứng kiến
sự tồn tại sau cái chết của nhiều nhân vật nổi tiếng, kể cả nhà tiên tri Hồi giáo Mohammed Khi ñến Thiên ñường, nhà thơ Virgil vì chưa chịu lễ rửa tội theo nghi thức Cơ ñốc giáo nên không thể bước vào, từ ñây, nàng Beatrice ñã hiện ra lộng lẫy dẫn dắt Dante bước vào Thiên ñường
Motif ñi sang thế giới bên kia ñể truy tìm nhận thức về cuộc ñời, lý tưởng, ý nghĩa của tồn tại, gặp gỡ linh hồn của những người nổi tiếng hoặc người thân ñã từng xuất hiện trong văn học từ rất xa xưa và khá phổ biến Có thể kể ñến hành trình tìm xuống ñịa ngục của người anh hùng Odysseus ñược miêu tả trong sử thi
Odyssey của nhà thơ cổ ñại Hy Lạp Homer, hay cuộc hành trình của anh hùng
Aeneas trong sử thi Aeneid của nhà thơ La Mã cổ ñại Virgil Từ mối liên hệ thực tế
giữa văn học Italy với truyền thống Hy La, cũng như tình cảm ngưỡng mộ mà Dante dành cho Virgil, có thể nhận thấy ảnh hưởng trực tiếp từ Virgil tới Dante Tuy nhiên, qua những giao lưu văn hóa phức tạp giữa văn minh Hồi giáo và châu
Âu, thì hướng nghiên cứu về ảnh hưởng Hồi giáo ñối với văn học Italy cũng như ñối với bản thân Dante là một hướng nghiên cứu có cơ sở