1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Đề tài Khảo sát và sửa lỗi chính tả phần vần cho học sinh lớp 3 dân tộc Khơme

20 111 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 182,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm sửa lỗi chính tả phần vần cho học sinh lớp 3 dân tộc Khơme Từ những kết quả nghiên cứu và tìm hiểu ở chương I và chương II của đề tài, tôi xin đề xu[r]

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Chính tả là một trong những phân môn Tiếng Việt ở tiểu học Phân môn chính tả dạy cho học sinh tri thức và kĩ năng chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng chữ viết vào hoạt dộng giao tiếp Dạy chính tả là dạy cách tổ chức, kết hợp các chữ đúng quy ước của xã hội để làm thành chất liệu hiện thực hoá ngôn ngữ Dạy học chính tả là một vấn đề đang được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng của môn học Tiếng Việt trong nhà trường Kĩ năng chính tả thực sự cần thiết đối với mọi người, không chỉ đối với học sinh tiểu học Đọc một văn bản được viết đúng chính tả, người đọc có cơ sở để hiểu đúng nội dung văn bản

đó Trái lại, đọc một văn bản mắc nhiều sai sót về chính tả, người đọc khó nắm bắt nội dung và có thể hiểu sai hoặc không hiểu được đầy đủ văn bản

Với tư cách là một phân môn thực hành, Chính tả có nhiệm vụ giúp học sinh tiểu học:

 Rèn luyện kĩ năng viết, kĩ năng nghe cho học sinh Các chỉ tiêu cần đạt là viết đúng mẫu chữ, đúng chính tả, không mắc quá 5 lỗi/

1 bài, tốc độ viết được quy định riêng cho từng lớp

 Kết hợp luyện tập chính tả với việc rèn luyện cách phát âm, củng

cố nghĩa của từ, trau dồi ngữ pháp tiếng Việt, góp phần phát triển một số thao tác tư duy (nhận xét, so sánh, liên tưởng, ghi nhớ,…)

 Bồi dưỡng một số đức tính, thái độ, tác phong cần thiết trong công việc như tính cẩn thận, nền nếp làm việc chính xác, có óc thẩm mĩ,…

1.2 Thực tế dạy học Chính tả ở địa phương chúng tôi trong tthời gian qua còn nhiều hạn chế, bất cập chưa giải quyết được Học sinh chưa có những kiến thức, kĩ năng đầy đủ để đáp ứng nhiệm vự môn học Ví dụ: học sinh viết chữ chưa đúng mẫu, viết còn sai nhiều lỗi chính tả (hay lẫn

âm đầu: tr/ch, s/x, qu/ v,…; vần: ui/ uôi/ ay/ai, ao/au,…; thanh; ghi dấu thanh tuỳ tiện hay không ghi dấu thanh) Nguyên nhân thì có nhiều: do ảnh hưởng của phương ngữ Nam Bộ, do học sinh là người dân tộc Khmer, do cách tổ chức giờ dạy của giáo viên chưa linh hoạt, chưa phù hợp với năng lực, trình độ thực tế của học sinh

1.3 Sau 3 năm học tập được các thầy cô trường Đại học Sư phạm Hà Nội tận tình hướng dẫn, bản thân tôi tự thấy mình cần phải cố gắng tìm hiểu, học hỏi thêm để có thể trau dồi, hoàn thiện hơn các kĩ năng sư phạm, đặc biệt là kĩ năng dạy học Chính tả

Xuất phát từ những lí do vừa được trình bày trên đây, tôi chọn “Khảo sát

và sửa lỗi chính tả phần vần cho học sinh lớp 3 dân tộc Khơme” là đề tài

Trang 2

chúng tôi mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy phân môn chính tả lớp 3 ở địa phương

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nội dung, phương pháp, quy trình dạy học phân môn Chính tả lớp 3

- Thực trạng dạy học phân môn Chính tả với đối tượng là học sinh lớp 3 dân tộc Khơme ở trường Tiểu học Ngọc Chúc 3, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang

- Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Chính tả lớp 3 2.2 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian nghiên cứu có hạn nên chúng tôi chỉ thực hiện nghiên cứu các lỗi phần vần mà học sinh lớp 3 dân tộc Khơme thường mắc phải và các biện pháp sửa lỗi cho học sinh ở trường đang công tác Trong đó chúng tôi chú trọng áp dụng các biện pháp đề xuất vào 2 kiểu bài tập: chính tả nghe - viết và chính tả âm vần

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Đọc và phân tích các tài liệu dạy học

- Đọc và phân tích sách giáo khoa, sách giáo viên, vở bài tập Tiếng Việt

và các tài liệu chỉ đạo dạy học phân môn Chính tả lớp 3

- Đọc và phân tích các sách tham khảo, các bài báo và tạp chí có nội dung liên quan đến đầ tài như: Tạp chí Giáo dục, tạp chí Thế giới trong ta,…

- Đọc và phân tích các bài viết sáng kiến kinh nghiệm của đồng nghiệp

- Đọc và phân tích giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

3.2 Khảo sát thực tế dạy học

Điều tra thực trạng dạy học Chính tả ở trường đang công tác Qua đó tổng hợp, đánh gia và phân tích nguyên nhân của thực trạng

3.3 Dạy thực nghiệm

Chúng tôi tiến hành soạn giáo án và tổ chức dạy thực nghiệm bài “Ông ngoại” - Tuần 4 lớp 3

3.4 Kiểm tra đánh giá

Sau khi dạy thực nghiệm, chúng tôi tiến hành soạn đề và cho học sinh làm bài kiểm tra để đánh giá kết quả các biện pháp đã đề xuất

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG Chương I Nội dung dạy học phân môn Chính tả lớp 3

1.1 Nội dung kiến thức cần truyền thụ cho học sinh

Ở lớp 3, mỗi tuần bố trí 2 tiết Chính tả, tổng cộng cả năm có 62 tiết Học sinh được rèn luyện chính tả thông qua các hình thức bài tập sau:

a) Chính tả đoạn, bài

- Về nội dung : Bài viết chính tả được trích hoặc tóm tắt từ nội dung bài tập đọc trước đó hay là nội dung biên soạn mới (độ dài khoảng 60-70 chữ)

- Về hình thức: Có 3 hình thức chính tả đoạn bài được sử dụng là chính

tả tập chép (ở lớp 3 có 4 tiết thuộc các tuần 1, 3, 5, 7), chính tả nghe - viết và chính tả nhớ - viết (Sách chú trọng hình thức chính tả nghe - viết, hình thức chính tả nhớ - viết được áp dụng từ tuần 8 – HKI)

b) Chính tả âm, vần

- Học sinh luyện viết các chữ ghi tiếng có âm, vần, thanh dễ viết sai chính tả do cả 3 nguyên nhân: do bản thân các âm, vần, thanh khó (khó phát âm, cấu tạo phức tạp), do học sinh không nắm vững quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ hoặc do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương

+ phụ âm : l/n, x/s, ch/tr, d/gi/r,

+ Vần : (vần khó) – oao, oeo, uyu, uếch, oăc, oay, oai, eng, oen, oong, ooc; (vần dễ lẫn) – an/ang, ăn/ăng, ân/âng, en/eng, ươn/ương, iên/iêng, uôn/uông, ên/êng, in/inh, at/ac, ât/âc, ăt/ăc, iêt/iêc, uôt/uôc, ươt/ươc, ut/uc, ưt/ưc, êt/êch, au/âu, ay/ây, ui/uôi, ưi/ươi,

+ Thanh ; thanh hỏi/thanh ngã

- Về nội dung : Các bài chính tả âm vần là bài tập lựa chọn, được đặt trong dấu ngoặc đơn, ví du : (2) (3) Mỗi bài tập lựa chọn gồm từ 2 đến

3 bài tập nhỏ dành cho các vùng phương ngữ nhất định Giáo viên căn

cứ vào đặc điểm địa phương và thực tế phát âm của học sinh để lựa chọn bài tập hoặc tự biên soạn bài tập mới cho thích hợp

- Về hình thức: Hình thức bài tập chính tả âm vần rất phong phú và đa dạng Nội dung bài tập mang tính tình huống và thể hiện rõ quan điểm giao tiếp trong dạy học có thể kể đến một số hình thức bài tập chính tả

âm vần mới xuất hiện ở lớp 3 như :

+ Phân biệt cách viết các từ dễ lẫn trong câu, trong đoạn văn,

+ Tìm tiếng có nghĩa điền vào ô trống trong bảng cho phù hợp,

+ Tự rút ra quy tắc chính tả qua các bài tập thực hành ;

+ Đặt câu để phân biệt các từ có hình thức chính tả dễ lẫn;

+ Giải đố để phân biệt từ ngữ có âm, vần, thanh dễ lẫn;

+ Nối tiếng hoặc từ ngữ đã cho để tạo thành từ ngữ hoặc câu đúng;

+ Tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý về ý nghĩa của từ

Trang 4

Ngoài các bài tập chính tả đoạn bài, chính tả âm vần, sách còn có các bài tập về trật tự bảng chữ cái Phần Nhận xét về chính tả cuối bài chính tả trong sách giáo khoa còn giúp học sinh củng cố những kiến thức và kĩ năng chính tả như: quy tắc viết hoa, cách viết khi xuống dòng, cách viết các dòng thơ, cách trình bày bài thơ v.v…

1.2 Các phương pháp dạy học chủ yếu

Để dạy chính tả lớp 3 có hiệu quả và thực hiện đúng định hướng giao tiếp và định hướng tổ chức hoạt động học tập cho học sinh cần sử dụng chủ yếu các phương pháp và biện pháp sau;

1.2.1 Phương pháp rèn luyện theo mẫu

Cần nhận thức rõ mẫu trong dạy học chính tả là gì Có hai loại mẫu được sử dụng để dạy chính tả, đó là mẫu phát âm đúng và mẫu viết chữ đúng Để học sinh có thể viết đúng, việc đầu tiên giáo viên cần làm là đọc đúng Trong giờ Chính tả, khi đọc cho học sinh viết, đọc để giới thiệu cách viết đúng các từ ngữ, giáo viên cần đọc đúng chuẩn phát âm Việc giáo viên đọc đúng để học sinh viết đúng là một biện pháp hữu hiệu giúp học sinh rèn viết theo mẫu Bên cạnh việc phát âm đúng, giáo viên còn cần phải giới thiệu, cung cấp cho học sinh mẫu viết đúng các từ ngữ học sinh thường dễ nhầm lẫn cách viết trong từng bài học Qua đó

tổ chức cho học sinh rèn luyện viết đúng theo mẫu đã hướng dẫn

1.2.2 Phương pháp thực hành giao tiếp

Thực hành giao tiếp trong chính tả thực chất là viết chính tả đoạn văn, bài văn và làm các bài tập luyện viết đúng các từ ngữ

Để thực hiện được chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, nghĩa đóng vai trò quan trọng hàng đầu Chọn đúng đơn vị để rèn cho học sinh viết chính tả đoạn bài là một yêu cầu đầu tiên của việc hướng dẫn học sinh viết chính

tả Giáo viên cần hướng dẫn học sinh viết từng cụm từ, từng câu ngắn, từng dòng thơ Đây là những đơn vị có nghĩa tương đối trọn vẹn ở những mức độ khác nhau Từ cần viết đúng được định vị trong một bối cảnh xuất hiện cả những từ khác, nhờ nhớ bối cảnh gồm các từ đứng trước và đứng sau từ cần viết đúng mà các em có thể hiểu rõ nghĩa của

từ và nhớ cách viết của từ nói trên Khi học sinh viết xong đoạn, bài theo cách tập chép hoặc nghe – viết, giáo viên cần hướng dẫn để các em

tự phát hiện lỗi nhằm hoàn thiện bài viết - sản phẩm giao tiếp của mình Việc hướng dẫn phát hiện lỗi cần được thực hiện theo sự phân loại lỗi học sinh thường mắc

Để dạy học sinh làm các bài tập chính tả âm, vần, giáo viên cần thực hiện những việc sau:

- Cho học sinh đọc yêu cầu của bài tập, sau đó giáo viên nopí rõ mục đích của bài tập này là các em viết đúng các từ ngữ có hiện tượng chính

tả nào, sản phẩm của các em hoàn thành sau khi làm xong bài tập là gì

Trang 5

- Yêu cầu học sinh tự tìm lời giải bài tập dưới hình thức làm việc cá nhân hoặc làm việc theo nhóm nhỏ: cá nhân làm bài, trao đổi giữa các cá nhân trong nhóm khi làm bài

- Yêu cầu học sinh chữa bài tập, trên cơ sở bài chữa của học sinh, giáo viên chốt lại lời giải đúng Trong những trường hợp có mẹo để nhớ cách ghi các từ ngữ, giáo viên có thể cung cấp mẹo đó cho học sinh Với những từ ngữ thường xuất hiện nhiều trong các văn bản hoặc các từ ngữ nhiều học sinh trong lớp viết sai, giáo viên yêu cầu các em ghi vào sổ tay chính tả để tiện tra cứu và ghi nhớ

1.2.3 Phưong pháp đàm thoại

Đàm thoại là phương pháp trao đổi giữa thầy và trò, trong đó thầy thường nêu ra các câu hỏi gợi ý, dẫn dắt học sinh quan sát các tài liệu và hiện tượng chính tả, suy nghĩ, so sánh, nhận biết,… rút ra kết luận (có thể gọi là phương pháp đặt câu hỏi) Muốn đàm thoại có kết quả, các câu hỏi do thầy đặt ra (hoặc có trong sách giáo khoa) phải “có vấn đề”, có tính hệ thống, được sắp xếp và lựa chọn một cách khoa học, hợp lí theo mục tiêu của bài học chính tả Nội dung các câu hỏi phải vừa sức, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ, quan sát tài liệu và hiện tượng thực tế và tự mình kết luận, giải đáp

Phươpng pháp đàm thoại kích thích hứng thú học tập của học sinh đồng thời có tác dụng củng cố tri thức và rèn kĩ năng vận dụng các thao tác tư duy vào hoạt động học tập

Hình thức phổ biến của phương pháp đàm thoại là đặt câu hỏi trực tiếp (câu trả lời miệng hay trả lời viết), hoặc câu hỏi trắc nghiệm trực tiếp Kết quả đàm thoại (nội dung trả lời câu hỏi) được đánh giá và kiểm tra bằng cách cho học sinh tự đối chiếu với sách giáo khoa, hoặc giáo viên tổng kết, giải thích, kết luận và trình bày thêm nhằm củng cố các tri thức

và kĩ năng đã đạt được

1.2.4 Phương pháp sử dụng trò chơi học tập

Chính tả là một phân môn yêu cầu học sinh phải ghi nhớ tương đối nhiều Vì vậy nếu hình thức tổ chức các hoạt động học tập đơn điệu sẽ làm cho việc học của học sinh ở phân môn này trở nên nhàm chán và từ nhàm chán dễ trở thành căng thẳng Việc tổ chức các trò chơi để dạy học chính tả sẽ khắc phục được tình trạng nói trên Khi tổ chức các trò chơi

để dạy học chính tả, giáo viên cần tham khảo một số trò chơi trong các sách tham khảo cho giáo viên, các trò chơi dân gian dành cho trẻ em,… Luật chơi của các trò chơi không nên phức tạp khó nhớ, phương tiện để chơi dễ kiếm, dễ làm Cần tận dụng không gian lớp học làm nơi thực hiện trò chơi

1.3 Các kĩ năng học sinh cần đạt

Trang 6

- Nghe – viết, nhớ – viết bài chính tả có độ dài khoảng 60 – 70 chữ trong 15 phút, không mắc quá 5 lỗi, trình bày đúng quy định, bài viết sạch

- Viết đúng tên riêng Việt Nam và một số tên riêng nước ngoài

- Biết phát hiện và sửa lỗi chính tả trong bài viết

1.4 Giới thiệu kiểu bài được lựa chọn trong đề tài

 Các lỗi chính tả phần vần của học sinh Khơme khi viết chính tả

Do chữ viết của tiếng Việt là chữ viết ghi âm nên nguyên tắc chính tả cơ bản của tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là mỗi âm vị được thể hiện bằng một (hoặc một tổ hợp) chữ cái, mỗi âm tiết, mỗi từ cĩ một cách viết nhất định Nĩi một cách khác, chính tả tiếng Việt được xây dựng theo nguyên tắc trực tiếp, cơ chế của chính tả tiếng Việt được xây dựng trên mối tương quan giữa âm v ị và chữ cái (quan hệ cơ bản theo kiểu 1-1) chẳng hạn như : Âm vị /b/ được biểu hiện bằng chữ cái “b” Nĩi rằng chữ viết tiếng Việt là chữ viết ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau, đọc thế nào thì ghi thế ấy là trên lí thuyết Tuy nhiên trên thực tế, chính tả tiếng Việt khơng hồn tồn dựa vào cách phát âm của bất cứ một phương ngữ nào bởi mỗi phương ngữ đều cĩ những sai lệch so với chính âm nên cĩ lẽ đây chính là nguyên nhân chính dẫn đến việc học sinh viết sai chính tả do phát âm khơng chuẩn Đối với học sinh tiểu học người dân tộc Khơme, việc phát âm sai và viết sai chính tả là khá phổ biến (do tiếng Việt được học với tư cách là ngơn ngữ thứ hai) Trong đĩ lỗi viết sai chính tả phần vần chiếm một tỉ lệ tương đối lớn Thực tế dạy học cho thấy nhĩm đối tượng học sinh này thường mắc các lỗi cơ bản sau:

Vần thường

viết sai Viết đúng Viết sai

Vần thường viết sai Viết đúng Viết sai

chải tóc mái baichảy tóc at/ac hạt cátxào xạc hạt cácxào xạt

cháo trắng hôm saocháu trắng ăt/ăc chặt câymặc áo chặc câymặt áo ui/uôi bụi cây

quả chuối buội câyquả chúi ât/âc tất cảgió bấc tấc cảgió bất ưi/ươi khung cửi

quả bưởi khung cưởiquả bửi iêt/iêc thời tiếtlàm việc thời tiếclàm việt an/ang cái bàn

xứng đáng

cái bàng xứng đán

uơt/uơc thướt tha

cây thước

thước tha cây thướt ăn/ăng con trăn

mặt trăng

con trăng mặt trăn

uôt/uôc con chuột

đôi guốc

con chuộc đôi guốt ân/âng nhà tầng

viên phấn

nhà tần viên phấng

ut/uc chăm chút

bục giảng

chăm chúc bụt giảng

Trang 7

cái kẻng cái kẻn nhức răng nhứt răng ươn/ương bay lượn

chiếc gương

bay lượng chiếc gươn

êt/êch vết thương

nói lệch

vếch thương nói lệt iên/ iêng mái hiên

hoa kiểng mái hiênghoa kiển oao ngoáo ộp ngáo ộp uôn/uông cuộn dây

cuống quýt cuộng dâycuốn quýt oeo ngoằn ngoèo ngoằn ngèo ên/ênh ngôi đền

tập tễnh ngôi đềnhtập tễn ong/ông đong đưatrông đợi đông đưatrong đợi in/inh tin tức

trắng tinh tinh tứctrắng tin oăc/oăt loắt choắthoặc là loắc choắchoặt là oc/ôc con cóc

cơn lốc

con cốc cơn lóc

oai/oay loay hoay loai hoai

im/iêm gỗ lim

chiêm bao

gỗ liêm chim bao

op/ôp/ơp cuộc họp

họp mặt

cuộc hộp hợp mặt

lộp độp

đôm đốm lợp đợp iêp/êp nhà bếp nhà biếp oi/ôi mồ côi

hòn sỏi

mồ coi hòn sổi

Chương II Khảo sát lỗi chính tả phần vần của học sinh lớp 3 dân tộc Khơme

2.1 Đối tượng và phạm vi khảo sát

Để hồn thành đề tài nghiên cứu này, chúng tơi đã tiến hành tìm hiểu, điều tra, khảo sát tại trường Tiểu học Ngọc Chúc 3, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang Đối tượng và phạm vi khảo sát của chúng tơi là Ban Giám hiệu, giáo viên dạy khối lớp 3 và học sinh lớp 3 là người dân tộc Khơme của nhà trường

2.2 Cách thức khảo sát

- Trao đổi: chúng tơi đã tiến hành trao đổi, phỏng vấn hiệu trưởng, phĩ hiệu trưởng và các giáo viên dạy các lớp 3 cĩ học sinh là người dân tộc Khơme Nội dung trao đổi, phỏng vấn được chúng tơi tập trung vào những vấn đề cơ bản sau đây:

(1) Đồng chí đánh giá như thế nào về thực trạng dạy học chính tả lớp 3

ở trường của chúng ta, đặc biệt là dạy cho học sinh Khơme?

(2) Đồng chí cĩ thể nêu những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng dạy học chính tả lớp 3 của trường ta như hiện nay

(3) Xin đồng chí vui lịng nêu những biện pháp, những kinh nghiệm trong việc chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ hoặc trong việc giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học chính tả lớp 3

Trang 8

(4) Đồng chí hãy cho biết nhận xét của mình về kĩ năng viết chính tả của học sinh lớp 3 dân tộc Khơme, những lỗi phần vần mà học sinh hay mắc phải và các biện pháp sửa các lỗi này cho học sinh

- Dự giờ: Để tìm hiểu cụ thể hơn quá trình tổ chức giờ dạy chính tả của giáo viên lớp 3, chúng tôi đã tiến hành dự giờ đồng nghiệp cùng khối Trong đó chúng tôi đặc biệt quan tâm đến việc giáo viên rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đúng chính tả phần vần từ đầu năm đến giờ chúng tôi đã dự giờ 5 tiết dạy chính tả (lớp 3A: 2 tiết; lớp 3B: 2 tiết; lớp 3D: 1 tiết)

- Khảo sát học sinh: Ngay đầu năm học 2008-2009, sau khi nhận lớp, chúng tôi đã tiến hành khảo sát lỗi của học sinh toàn khối lớp 3 bằng đề khảo sát chung do Ban Giám hiệu ra Đồng thời chúng tôi cũng tiến hành kiểm tra vở viết của các em (chủ yếu là vở các phân môn của môn Tiếng Việt)

2.3 Kết quả khảo sát

 Trên cơ sở tổng hợp các ý kiến trả lời phỏng vấn của Ban Giám hiệu và của đồng nghiệp trong trường, ý kiến trao đổi trong các buổi thao giảng, sinh hoạt chuyên môn cũng như qua kết quả dự giờ cho phép tôi rút ra được những nhận xét sau đây:

+ Những ưu điểm:

* Ban giám hiệu rất quan tâm trong việc chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, thường xuyên kiểm tra các hoạt động sư phạm của giáo viên, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, thao giảng, mở chuyên đề … để giúp giáo viên ngày càng hoàn thiện các kĩ năng sư phạm

* Hầu hết giáo viên đều đã được tập huấn về dạy học theo chương trình

và sách giáo khoa mới Nhìn chung, phần lớn giáo viên dạy lớp 3 nắm đầy đủ các yêu cầu cơ bản về nội dung và phương pháp dạy học Chính

tả lớp 3 theo chương trình mới

* Một số giáo viên đã chịu khó nghiên cứu, đầu tư cho bài dạy nên tổ chức giờ dạy có sáng tạo và đem lại hiệu quả tốt

* Học sinh thích ứng khá tốt với cách tổ chức giờ dạy của giáo viên theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học

+ Những tồn tại:

 Do ảnh hưởng cách phát âm theo phương ngữ Nam Bộ cùng với ý thức chủ quan, ít chịu khó rèn luyện nên đa số giáo viên (chủ yếu là người địa phương và người dân tộc Khơme) đều phát âm lệch chuẩn chính âm, kể cả khi đọc cho học sinh nghe - viết chính tả

 Giáo viên chưa xác định đầy đủ các yêu cầu chính tả địa phương: chưa thống kê, phân loại được các lỗi chính tả mà học sinh hay mắc

Trang 9

phải Từ đó chưa xác định tốt các nội dung chính tả cần rèn luyện cho học sinh

 Vận dụng quy trình và các biện pháp dạy học một cách máy móc, cứng nhắc, ít chú ý đến đối tượng học sinh là ai, có đặc điểm gì Việc đổi mới phương pháp dạy học còn nặng tính hình thức Giáo viên ít sáng tạo trong việc xây dựng kế hoạch bài học, từ đó tổ chức giờ dạy đơn điệu, tẻ nhạt, không cuốn hút, kích thích học sinh

 Kết quả khảo sát học sinh như sau (các lỗi phần vần của học sinh dân tộc Khơme)

Trang 10

Lỗi chính tả

Lớp 3A (24HS) Lớp 3B(25HS) Lớp 3C (18HS) Lớp 3D (20HS) Cả khối 3(87HS)

Ngày đăng: 30/03/2021, 00:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w