TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Phạm Bá Linh Tên luận văn: “Phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An” Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Phúc Thọ
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng rôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ
rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Bá Linh
Trang 3
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Phúc Thọ, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn tới UBND huyện Diễn Châu đã hỗ trợ tôi trong quá trình tìm hiểu, thu thập, phân tích số liệu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Bá Linh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình và hộp viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract……… xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Đóng góp mới của luận văn 3
1.5 Kết cấu nội dung luận văn 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất thanh long ruột đỏ 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm liên quan 4
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của Thanh Long ruột đỏ 8
2.1.3 Nội dung nghiên cứu phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ 12
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển Thanh Long ruột đỏ 16
2.2 Cơ sở thực tiễn 20
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Thanh Long trên thế giới 20
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất Thanh Long ở Việt Nam 25
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 30
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 31
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 31
Trang 53.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 37
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 37
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 39
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 39
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 40
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 42
4.1 Thực trạng phát triển sản xuất thanh long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu 42
4.1.1 Thực trạng phát triển về quy mô sản xuất Thanh Long ruột đỏ 42
4.1.2 Thực trạng phát triển các nguồn lực phục vụ sản xuất Thanh Long ruột đỏ 48
4.1.3 Thực trạng phát triển liên kết trong sản xuất Thanh Long ruột đỏ 60
4.1.4 Thực trạng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất Thanh Long ruột đỏ 62
4.1.5 Kết quả sản xuất Thanh Long ruột đỏ của các hộ điều tra 63
4.1.6 Đánh giá chung tình hình phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 69
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất thanh long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu 71
4.2.1 Yếu tố tự nhiên 71
4.2.2 Chủ trương, chính sách 72
4.2.3 Năng lực, trình độ cán bộ 73
4.2.4 Yếu tố thị trường 74
4.3 Giải pháp phát triển sản xuất thanh long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh nghệ an 77
4.3.1 Quy hoạch vùng sản xuất 77
4.3.2 Xây dựng cơ sở hạ tầng 78
4.3.3 Áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, tập trung thâm canh nâng cao năng suất, chất lượng Thanh Long ruột đỏ 79
4.3.4 Phát triển thị trường tiêu thụ Thanh Long ruột đỏ 81
4.3.5 Xây dựng, thực hiện, nhân diện các mô hình sản xuất có hiệu quả 81
4.3.6 Hoàn thiện một số chính sách 82
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 84
Trang 65.1 Kết luận 84
5.2 Kiến nghị 86
Tài liệu tham khảo 87
Phụ lục 90
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng Thanh Long của Việt Nam năm 2015 26
Bảng 3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của huyện Diễn Châu 36
Bảng 3.2 Tổng hợp mẫu thu thập thông tin 38
Bảng 4.1 Diện tích Thanh Long giữa các xã trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 42
Bảng 4.2 Số hộ tham gia trồng Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu 44
Bảng 4.3 Diện tích trồng Thanh Long ruột đỏ bình quân/hộ 44
Bảng 4.4 Năng suất Thanh Long bình quân ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 46
Bảng 4.5 Diện tích đất đai bình quân của các hộ gia đình được khảo sát 48
Bảng 4.6 Sự thay đổi một số loại đất nông nghiệp trong các hộ từ năm 2010 đến nay 49
Bảng 4.7 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của các hộ nông dân trồng Thanh Long ruột đỏ năm 2014 - 2016 50
Bảng 4.8 Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ 52
Bảng 4.9 Nguồn thu nhập chính của hộ nông dân được khảo sát 54
Bảng 4.10 Thông tin về nguồn vốn phục vụ sản xuất Thanh Long ruột đỏ 55
Bảng 4.11 Cơ cấu giống Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu 57
Bảng 4.12 Nguồn gốc và mức độ tin tưởng về nguồn gốc giống Thanh Long ruột đỏ của các hộ nông dân 58
Bảng 4.13 Tình hình tập huấn, thăm quan về sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu 59
Bảng 4.14 Tỷ lệ hộ nông dân tham gia liên kết trong sản xuất Thanh Long ruột đỏ 61
Bảng 4.15 Đánh giá về hệ thống giao thông phục vụ sản xuất của các hộ nông dân 62
Bảng 4.16 Chi phí thời kỳ kiến thiết cơ bản của cây Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu 64
Bảng 4.17 Chi phí chăm sóc cây Thanh Long ruột đỏ ở giai đoạn sản xuất trên địa bàn huyện Diễn Châu 65
Bảng 4.18 Kết quả và hiệu quả trồng Thanh Long ruột đỏ thời kỳ sản xuất kinh doanh của các hộ khảo sát 68
Bảng 4.19 Trình độ Cán bộ, viên chức quản lý ngành nông nghiệp huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An từ năm 2014 – 2016 74
Trang 9DANH MỤC HÌNH VÀ HỘP
Hình 2.1 Các khu vực sản xuất Thanh Long trên thế giới 21
Hình 4.1 Diện tích trồng Thanh Long ruột đỏ bình quân/hộ phân theo tuổi cây 45
Hình 4.2 Sản lượng Thanh Long trên địa bàn huyện Diễn Châu 47
Hình 4.3 Số năm kinh nghiệm trồng Thanh Long của hộ nông dân 53
Hình 4.4 Cơ cấu nguồn vốn phục vụ sản xuất Thanh Long ruột đỏ của các hộ nông dân 56
Hộp 4.1 Vấn đề vay vốn phục vụ phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ 70
Hình 4.5 Kênh tiêu thụ Thanh Long ruột đỏ của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Diễn Châu 75
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Phạm Bá Linh
Tên luận văn: “Phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An”
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Phát triển sản xuất cây ăn quả nói chung và cây Thanh Long ruột đỏ nói riêng
có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác có hiệu quả lợi thế cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay
Có thể nói trồng Thanh Long ruột đỏ đang chứng tỏ là một hướng đi phù hợp trong sản xuất nông nghiệp và cần được mở rộng diện tích thâm canh, tạo ra sản phẩm hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho người sản xuất
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung, huyện Diễn Châu nói riêng người dân đã quan tâm đến cây Thanh Long ruột đỏ Tuy nhiên, hình thức trồng còn nhỏ lẻ, manh mún chưa tạo được sản phẩm hàng hóa cung ứng cho thị trường Mặt khác, với việc trồng manh tính tự phát không tuân thủ các quy trình kỹ thuật nên năng suất chưa cao, hình thức mẫu mã kém (quả nhỏ, không tròn đều, ) Để phát triển mở rộng diện tích sản xuất Thanh Long ruột đỏ theo quy mô tập trung, áp dụng quy trình kỹ thuật để sản xuất mới nhằm năng suất cao, chất lượng tốt và nâng cao thu nhập cho người dân, đặc biệt là những nơi còn khá khó khăn, có tài nguyên đất và nguồn lực lao động nhưng chưa phát triển như huyện Diễn Châu là rất cần thiết Xuất phát từ thực tế nêu trên thực hiện nghiên cứu đề tài “Phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An” là cần thiết nhằm đề xuất xuất định hướng, giải pháp phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ ở địa phương trong thời gian tới
Mục tiêu nghiên cứu chính là đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Từ đó đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện trong thời gian tới Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề có tính lý luận
và thực tiễn về phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ Đối tượng điều tra là các hộ nông dân trồng Thanh Long ruột đỏ, thương lái, cán bộ địa phương trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Nghiên cứu đã bàn luận những khái niệm về phát triển, phát triển bền vững, sản xuất, phát triển sản xuất Nghiên cứu cũng hệ thống hóa những đặc điểm kinh tế,
kỹ thuật của Thanh Long ruột đỏ Các nội dung phát triển sản xuất Thanh Long ruột
đỏ được đề tài nghiên cứu là: quy mô sản xuất, đầu tư cho sản xuất thanh long ruột đỏ,
cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, kỹ thuật sản xuất, liên kết trong sản xuất, kết quả và
Trang 11hiệu quả phát triển sản xuất Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ được đề tài hệ thống hóa gồm: Điều kiện tự nhiên, chính sách về phát triển sản xuất, trình độ cán bộ, nhận thức, hiểu biết của người dân, thị trường tiêu thụ sản phẩm Thanh Long ruột đỏ
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng linh hoạt giữa số liệu thứ cấp và sơ cấp để đưa ra các phân tích, nhận định Trong đó, số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước nghiên cứu về vấn đề phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ, những báo cáo, văn bản pháp luật của Nhà nước cũng như của huyện Diễn Châu Số liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra 120 hộ dân và
15 cán bộ chuyên môn về quản lý ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện và 5 thương lái thu mua Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích truyền thống trong phân tích kinh tế như: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng cũng như phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất Thanh long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu
Qua đánh giá thực trạng phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu cho thấy trong mấy năm trở lại đây diện tích và số hộ tham gia trồng Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện có xu hướng tăng lên Quy mô sản xuất Thanh Long ruột đỏ huyện Diễn Châu hiện nay còn thấp, hầu hết là quy mô nhỏ lẻ không tập trung, hướng sản xuất hàng hóa chưa cao Hiện tại trên địa bàn huyện hiện có 4 loại giống Thanh Long ruột đỏ chủ yếu, bao gồm: TL6; TL4; H14, Đài Loan cũ Phát triển Thanh Long ruột dỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu mang lại hiệu quả kinh tế cao cho
hộ nông dân Bình quân thu nhập hỗn hợp từ năm thứ 2 đã đạt 4.649 nghìn đồng/sào/năm và có xu hướng tăng lên khi độ tuổi cây Thanh Long ruột đỏ càng lớn Các tác nhân tham gia kênh tiêu thụ cũng như các hình thức tiêu thụ Thanh Long ruột
đỏ chưa thực sự đa dạng Chủ yếu Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện được tiêu thủ bởi các thương lái tại địa phương, với khoảng 90% sản lượng Thanh Long được tiêu thụ thông qua tác nhân này Quá trình phát triển sản xuất Thanh Long ở huyện còn gặp nhiều khó khăn nhất định, đặc biệt là về vốn đầu tư, kỹ thuật, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, tình hình dịch bệnh …
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, bao gồm: Yếu tố tự nhiên; Chủ trương, chính sách; Năng lực, trình độ cán bộ và yếu tố thị trường Từ kết quả nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất ra những giải pháp nhằm phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu trong thời gian tới như sau: (1) Quy hoạch vùng sản xuất; (2) Xây dựng cơ sở hạ tầng; (3) Áp dụng đồng
bộ các biện pháp kỹ thuật, tập trung thâm canh nâng cao năng suất, chất lượng Thanh Long ruột đỏ; (4) Phát triển thị trường tiêu thụ Thanh Long ruột đỏ; Hoàn thiện một số chính sách; và (5) Xây dựng, thực hiện, nhân diện các mô hình sản xuất có hiệu quả
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Pham Ba Linh
Thesis title: “The development of Red dragon fruit production in Dien Chau district, Nghe An province”
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
The development of fruit production plays an important role in effectively exploiting the competitive advantages of Vietnam in the context of international economic integration Cultivating red dragon fruits is an appropriate choice for agricultural production and expanding the area of intensive production of red dragon fruits will increase income of producers
Nowadays, red dragon fruit production in Dien Chau District, Nghe An province is chosen by numbers of farmers However, small-scale models lead to low quality and quantity of products and does not meet market demand Therefore, developing red dragon fruit production should be in medium and large-scale models with an aim to improve remarkably in quality and quantity and increase farmers income, especially for farmers who live in disadvantaged areas Based on current situation, the topic “The development of red dragon fruit production in Dien Chau district, Nghe An province is chosen as a research topic
The main objective of the research is to evaluate the current situation and factors affecting the development of Red dragon fruit production in Dien Chau district, Nghe An province Therefore, the research proposed solutions to develop Red dragon fruit in the district in the following years The research subjects are theoretical and practical issues of development of Red dragon production, farmers who planted Red dragon fruit, traders, local officials in Dien Chau district, Nghe An province
The research discussed the definition of the development, sustainable development, production and production development Moreover, the research also systematized the economic and technical characteristics of the Red dragon fruit The contents of development of Red dragon fruit includes scale of production, investment
in the production of Red dragon fruit, infrastructure for production, production techniques, linkages in production, results and efficiencies of production development The key factors influencing the development of Red dragon fruit production are the natural conditions, policies on production development, the capacity of staff, people awareness, and the market of products
Trang 13In the research, we use the flexibility between primary and secondary data to analyze data On the one hand, the secondary data was collected from researching sources of the authors who researched the development of dragon fruit production and reliable reports and documents of the authorities On the other hand, he primary data was collected from a survey of 120 households and 15 specialized managers in the agricultural sector and 5 traders buying red dragon fruit in Dien Chau district The methodology used in the research are the method of analysis, statistic description and comparison The research analyzed the factors that affect the development of Thanh production Long red intestine in Dien Chau district
In recent years, there is an increasing number of households and amount of arable land involved in cultivating Red dragon fruit in Dien Chau district Growing Red dragon existed mainly in small-scale models and there were four main types of Red dragon fruit consisted of TL6, TL4, H14 and the old Taiwan The annual average mixed income from the second year reached VND 4,649,000 and increased if we cultivated Red dragon fruit in a longer period
The actors which involved in consumption of Red dragon fruit were not diverse According to statistical data in the research, 90% total output of the Red dragon fruit was mainly bought and consumed by local traders There were disadvantages of the development of Red dragon fruit production such as investment capital, technology, small scale production and the disease situation
The research results also showed that the key factors influencing the development of Red dragon fruit production are the natural conditions, policies on production development, the capacity of staff, people awareness, and the market of products Therefore, the research proposed solutions to develop dragon fruit production in Dien Chau district in the following years such as which are (1) To plan production area; (2) To improve infrastructure construction; (3) To apply technical measures to boost productivity and quality of the fruit; (4) To develop market of the fruit; Complete some policies; (5) To develop and implement the effective production models
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phát triển sản xuất cây ăn quả nói chung và cây Thanh Long ruột đỏ nói riêng có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác có hiệu quả lợi thế cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay Việc phát triển thanh long mang lại nhiều lợi ích trực tiếp cho nông nghiệp địa phương như: Sử dụng được sức lao động nhàn rỗi của nông dân vào các tháng mùa khô, góp phần giải quyết việc làm và thúc đẩy các ngành nghề nông thôn; Sử dụng ngày càng tốt hơn quỹ đất của hộ gia đình, đa dạng hóa nguồn sản vật, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng và phát triển nông nghiệp, nông thôn
Trong những năm qua, sản xuất Thanh Long ở Việt Nam đã có những bước phát triển khá toàn diện, góp phần quan trọng phát triển kinh tế các địa phương, giải quyết nhiều việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người trồng Thanh Long Theo số liệu của Cục trồng trọt, Bộ NN&PTNT (2016), diện tích thanh long cả nước đạt hơn 28.700 ha, trong đó diện tích cho thu hoạch là 23.820 ha, sản lượng ước 520.000 tấn/năm Thanh long Việt Nam đã xuất khẩu tới
40 quốc gia và vùng lãnh thổ Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu (chính ngạch) trái cây tươi đạt 307 triệu USD thì thanh long chiếm tới 61,4% Ngoài một số thị trường truyền thống như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Hà Lan… thanh long đang từng bước xâm nhập vào một số thị trường mới là Ấn Độ, New Zealand, Úc, Chi Lê tạo được sự đa dạng hóa trong cơ cấu thị trường xuất khẩu thanh long của Việt Nam Điều này cho thấy tiềm năng phát triển Thanh Long của Việt Nam là rất lớn Có thể nói trồng Thanh Long ruột đỏ đang chứng tỏ một hướng đi phù hợp trong sản xuất nông nghiệp và cần được mở rộng diện tích thâm canh, tạo ra sản phẩm hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho người sản xuất
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung huyện Diễn Châu nói riêng người dân đã quan tâm đến cây Thanh Long ruột đỏ Tuy nhiên, hình thức trồng nhỏ lẻ manh mún này chưa tạo được sản phẩm hàng hóa cung ứng cho thị trường Mặt khác, với việc trồng manh tính tự phát không tuân thủ các quy trình kỹ thuật nên năng suất chưa cao, hình thức mẫu mã kém (quả nhỏ, không tròn đều, ) Để phát triển mở rộng diện tích sản xuất Thanh Long ruột đỏ theo quy mô tập trung,
áp dụng quy trình kỹ thuật để sản xuất mới nhằm năng suất cao, chất lượng tốt và
Trang 15nâng cao thu nhập cho người dân, đặc biệt là những nơi còn khá khó khăn, có tài nguyên đất và nguồn lực lao động nhưng chưa phát triển như huyện Diễn Châu là rất cần thiết
Xuất phát từ thực tế nêu trên thực hiện nghiên cứu đề tài “Phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An” là cần thiết nhằm đề xuất xuất định hướng, giải pháp phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ ở địa phương trong thời gian tới
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; từ đó đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện trong thời gian tới
3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất Thanh Long ruột
đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An;
4 Đề xuất giải pháp phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ Đối tượng điều tra là hộ nông dân trồng Thanh Long ruột đỏ, thương lái và cán bộ công tác trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Diễn Châu
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu
Trang 16- Phạm vi về không gian: huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
- Phạm vi về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ qua 3 năm (2014 – 2016), từ đó đưa ra định hướng và một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện trong thời gian tới
1.4 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn đã góp phần hệ thống hóa và làm rõ một số khái niệm về phát triển, phát triển bền vững, khái niệm về sản xuất và phát triển sản xuất Luận văn
đã hệ thống hóa về vai trò đặc điểm kinh tế, kỹ thuật, nội dung, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ và làm rõ thêm thực tiễn về phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ
- Luận văn đã trình bày với nhiều dẫn liệu và minh chứng phong phú về
cơ sở thực tiễn về phát triển sản xuất Thanh Long và phân tích thị trường Thanh Long trên thế giới cũng như ở Việt Nam Căn cứ vào cơ sở lý luận đó, kết hợp với kết quả nghiên cứu trên địa bạn huyện Diễn Châu, Đề tài đã làm rõ được thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu, đồng thời cũng đánh giá được những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn Đây là cơ sở khoa học để đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao
1.5 KẾT CẤU NỘI DUNG LUẬN VĂN
Kết cấu nội dung của Luận văn bao gồm các phần sau:
Trang 17PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN
XUẤT THANH LONG RUỘT ĐỎ
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm liên quan
- Khái niệm phát triển
Theo từ điển Tiếng Việt phát triển là sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ
ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp lên cao, đơn giản đến phức tạp Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về sự phát triển
Theo Gerard Crellet, phát triển là quá trình một xã hội đạt đến thoả mãn các nhu cầu mà xã hội đó coi là cơ bản (Gerard Crellet, 1993) Ở đây, phát triển được xem là một quá trình và một xã hội được coi là phát triển khi xã hội đó thoả mãn các nhu cầu cơ bản Định nghĩa này không chỉ bao hàm nội dung kinh tế mà còn có nội dung xã hội Nếu chỉ tiêu thu nhập bình quân/người thể hiện sức sản xuất của xã hội thì cách xem phát triển ở đây nhấn mạnh tới việc xã hội sử dụng những nguồn của cải đó như thế nào để thoả mãn những nhu cầu mà xã hội ấy coi là cơ bản Raman Weitz cho rằng: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội” (Raman Weitz, 1995)
Ngân hàng thế giới đã đưa ra khái niệm với ý nghĩa rộng hơn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng có liên quan đến hệ thống giá trị con người, phát triển là: “Sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong các mối quan hệ với Nhà nước, với cộng đồng…” Phát triển là một quá trình tạo điều kiện cho con người sinh sống ở bất cứ nơi đâu đều được thoả mãn nhu cầu sống của mình,
có mức tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ tốt, đảm bảo chất lượng cuộc sống, có trình
độ học vấn cao, được hưởng những thành tựu về văn hoá và tinh thần, có đủ điều kiện cho một môi trường sống lành mạnh, được hưởng các quyền cơ bản của con người và được đảm bảo an ninh lương thực, an toàn, không có bạo lực (Lê Văn Diễn, 1991)
Từ các quan điểm khác nhau về phát triển, chúng tôi cho rằng, phát triển
là bao hàm ý nghĩa rộng hơn tăng trưởng, nó không chỉ bao gồm những thay đổi
về số lượng như tăng trưởng kinh tế mà còn bao gồm cả những thay đổi về chất
Trang 18lượng cuộc sống Như vậy, phát triển là quá trình tăng tiến, chuyển biến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kì nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng lên
về quy mô sản lượng sản phẩm, sự hoàn thiện, tiến bộ về cơ cấu nền kinh tế Đó
là sự nâng cao chất lượng, sự tiến bộ, thịnh vượng làm cho cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn
- Khái niệm về phát triển bền vững
Theo Ủy ban Quốc tế về phát triển và Môi trường năm 1987 thì phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi mà trong đó, sự khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của công nghệ và kỹ thuật và sự thay đổi
về tổ chức là thống nhất và làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của con người (Nugent, 1991) Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 tổ chức tại Rio de Janero đã đưa ra đĩnh nghĩa vắn tắt về phát triển bền vững là: “Phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” (Lê Văn Diễn, 1991)
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển bền vững, nhưng tựu chung lại các ý kiến đều cho rằng, phát triển bền vững là phạm trù về hệ thống giá trị của con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân Như vậy, để đạt được phát triển bền vững cần phải đạt đồng thời 3 mục tiêu:
+ Phát triển có hiệu quả kinh tế;
+ Phát triển hài hoà các mặt của xã hội, trình độ sống của các tầng lớp dân cư;
+ Cải thiện môi trường sinh thái bảo đảm phát triển lâu dài, vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau
“Phát triển bền vững” có nội hàm rất rộng, mỗi thành tố trong đó đều có một ý nghĩa riêng Một mẫu hình phát triển bền vững là mỗi địa phương, vùng, quốc gia… không nên thiên về thành tố này và xem nhẹ thành tố kia Vấn đề là
áp dụng nó như thế nào ở các cấp độ trên và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (Malcom Gillis, 1983; Đỗ Kim Chung dịch, 2009)
- Khái niệm sản xuất
Sản xuất là một quá trình hoạt động có mục đích của con người để tạo ra những sản phẩm hữu ích (sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ) nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của dân cư và xã hội (tiêu dùng cho sản xuất, đời sống,
Trang 19tích lũy và xuất khẩu) Như vậy, sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất và dịch vụ Trong sản xuất con người đấu tranh với thiên nhiên làm thay đổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở và những của cải khác phục vụ cuộc sống Sản xuất là điều kiện tồn tại của mỗi xã hội, việc khai thác và tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là chủ yếu (Lê Đình Thắng, 1993)
- Khái niệm về phát triển sản xuất
Phát triển sản xuất có thể hiểu là một quá trình lớn lên về mọi mặt của quá trình sản xuất trong một thời kì nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng hay giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ và sự tiến bộ về mặt cơ cấu các mặt hàng Phát triển sản xuất bao gồm: Phát triển sản xuất theo chiều rộng và phát triển sản xuất theo chiều sâu
+ Phát triển sản xuất theo chiều rộng: tức là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất như tăng diện tích, tăng thêm vốn, bổ sung thêm lao động và khoa học công nghệ mới, mở mang thêm nhiều ngành nghề, xây dựng thêm những xí nghiệp tạo ra những mặt hàng mới
+ Phát triển sản xuất theo chiều sâu: nghĩa là xác định cơ cấu đầu tư, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu loại hình hợp lý, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, cải tiến tổ chức sản xuất, phân công lại lao động, sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực (Lê Văn Diễn, 1991)
Phát triển sản xuất theo chiều rộng và chiều sâu là yêu cầu chung của bất kì nền kinh tế hay một doanh nghiệp nào Nhưng ở mỗi nước, mỗi doanh nghiệp, mỗi thời kì, sự kết hợp này có sự khác nhau Theo quy luật chung của các nước cũng như của các doanh nghiệp là thời kì đầu của sự phát triển thường tập trung để phát triển theo chiều rộng, sau đó tích luỹ thì chủ yếu phát triển theo chiều sâu
Do sự khan hiếm nguồn lực làm hạn chế sự phát triển theo chiều rộng
Sự khan hiếm này ngày càng trở nên khốc liệt trong điều kiện cạnh tranh do nhu cầu của xã hội và thị trường; do sự cần thiết xây dựng, đổi mới và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất xã hội hoặc của doanh nghiệp Muốn vậy, phải phát triển kinh tế theo chiều sâu thì mới có thể tích luỹ vốn (Lê Đình Thắng, 1993)
Như vậy, có thể hiểu phát triển sản xuất là quá trình vận động của đối tượng sản xuất tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn
Trang 20thiện đến hoàn thiện hơn, nó cũng bao hàm việc phát triển cả về mặt lượng và mặt chất của sản xuất Hay cũng có thể nói phát triển sản xuất là quá trình nâng cao khả năng tác động của con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động nhằm tăng quy mô về số lượng, đảm bảo hơn về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời sống ngày càng cao của con người Phát triển sản xuất là yêu cầu tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới Phát triển sản xuất càng đóng vai trị quan trọng hơn nữa khi nhu cầu về các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ càng ngày được nâng cao, đặc biệt hiện nay với
xu thế tăng mạnh nhu cầu về chất lượng sản phẩm Phát triển sản xuất được xem xét ở 2 khía cạnh:
Một là, phát triển sản xuất theo chiều rộng: phát triển sản xuất theo chiều rộng là việc tăng lên về diện tích, sản lượng, giá trị (sản phẩm hàng hóa) muốn vậy ta phải tăng diện tích đất cho sản xuất, đầu tư thêm về giống, khoa học kỹ thuật, tăng cường đội ngũ lao động Phát triển sản xuất chiều rộng thường ở khía cạnh tăng diện tích sản xuất bằng các biện pháp khác nhau (Lê Văn Diễn, 1991)
Hai là, phát triển sản xuất theo chiều sâu: Phát triển sản xuất theo chiều sâu như việc tăng đầu tư thâm canh, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời giá thành của sản phẩm ngày càng hợp lý, đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu của thị trường trong nước tương lai hướng tới xuất khẩu, thu hút được nhiều việc làm cho lao động (chú ý đến đội ngũ lao động có trình độ), chống suy thoái các nguồn tài nguyên, đảm bảo phát triển bền vững Khía cạnh phát triển này luên quan tới năng suất, chất lượng và giá trị, dẫn tới tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất Việc tăng năng suất có thể đạt được thông qua áp dụng các tiến bộ khoa học như giống, các biện pháp thâm canh Tăng chất lượng và giá trị sản phẩm cũng có thể được làm theo các đầu tư chiều sâu như trên, song còn liên quan đến bố trí thời
vụ, công tác bảo quản và công tác tiêu thụ sản phẩm (Lê Đình Thắng, 1993)
- Khái niện phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu phát triển sản xuất Thanh Long ruột
đỏ là quá trình gia tăng về diện tích trồng Thanh Long ruột đỏ, về năng suất, sản lượng Thanh Long ruột đỏ trong một thời kỳ nhất định, là sự nâng cao chất lượng sản phẩm Thanh Long ruột đáp ứng nhu cầu ngày càng của thị trường, là sự hoàn thiện về cơ cấu cây trồng theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trồng, đảm bảo phát triển sản xuất theo hướng bền vững Đó là sự nâng
Trang 21cao thu nhập, cải thiện đời sống của người trồng Thanh Long ruột đỏ, làm cho cuộc sống của họ trở nên tốt đẹp hơn
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của Thanh Long ruột đỏ
2.1.2.1 Đặc điểm kỹ thuật của Thanh Long ruột đỏ
- Nguồn gốc phân loại
Cây Thanh Long thuộc họ Cactaceae, thường gọi là họ Cactus có 92 chi, với
1650 loài Trong đó, chi Hylocereus gồm 16 loài và chi Selenicereus gồm 20 loài Ở Châu Mỹ Latinh, quả của cả hai loài này đều có cùng tên thông thường là “pitayas” hay “pitahayas” hay tiếng Việt gọi là Thanh Long (Nguyễn Văn Kế, 2005)
Cây Thanh Long có tên khoa học là Hylocereus undatus (Haw) Britt & Rose Cây Thanh Long ngoài tên phổ thông là dragon fruit còn có tên như Pitahaya, Strawberry bear Thanh Long thuộc họ Cactaceae (Xương rồng) bộ Cactales lớp Dicotyledonac (Song tử diệp), ngành Angiospermae (Hột kín) Họ Xương rồng có từ 50 đến 200 giống và hơn 2.000 loài (Nguyễn Văn Kế, 2005)
- Đặc điểm hình thái
+ Rễ
Theo Nguyễn Như Hiến (2000), Thanh Long có hai loại rễ chính phát sinh
từ phần lõi của gốc hom, có nhiệm vụ bám vào đất và hút các chất dinh dưỡng để nuôi cây Chúng tập trung chủ yếu ở lớp đất mặt từ 0 – 30 cm Rễ khí sinh là loại
rễ mọc từ phần đoạn thân trên mặt đất, có nhiệm vụ giúp cây bám vào giá đỡ, góp phần vào việc hút nước, chất dinh dưỡng để nuôi cây Những rễ khí sinh mọc gần mặt đất thường đi vào trong đất và trở thành rễ địa sinh
+ Thân, cành
Thanh Long trồng ở nước ta có thân, cành bò trên trụ đỡ Thân cành thường có ba cánh dẹp, xanh, hiếm khi có bốn cánh Mỗi cánh chia làm nhiều thùy có chiều dài 3 – 4 cm Đáy mỗi thùy có từ 3 – 5 gai ngắn Mỗi năm cây có
từ 3 – 4 đợt cành Đợt cành thứ nhất là cành mẹ của đợt cành thứ hai và cứ thế xấp thành từng lớp một trên đầu trụ Khoảng cách giữa hai đợt ra cành là 40 – 50 ngày (Nguyễn Văn Kế, 2005)
+ Hoa Thanh Long
Theo Nguyễn Như Hiến (2000), sau khi trồng 1 – 2 năm, Thanh Long bắt đầu ra hoa Từ năm thứ 3 trở đi, cây ra hoa ổn định Hoa mọc từ các đoạn cành
Trang 22trưởng thành, là những cành có thời gian sinh trưởng khoảng 100 ngày tuổi Hoa tập trung chủ yếu ở các mắt đến ngọn cành
Theo Nguyễn Văn Kế (2005), hoa Thanh Long lưỡng tính, rất to, có chiều dài trung bình 25 – 35 cm Hoa thường nở tập trung từ 20 – 23 giờ và đồng loạt trong vườn Thời gian từ hoa nở đến tàn trong vòng 20 ngày Hoa xuất hiện rộ nhất từ tháng 5 – 8 dương lịch, trung bình có 4 – 6 đợt hoa mỗi năm
+ Trái Thanh Long
Theo Nguyễn Văn Kế (2005), trái Thanh Long hình thành sau khi hoa được thụ phấn Trong 10 ngày đầu trái lớn chậm, sau đó trái lớn rất nhanh Thời gian từ khi hoa thụ phấn đến thu hoạch chỉ từ 22 – 25 ngày Trái Thanh Long hình bầu dục có nhiều tai lá xanh do phiến hoa còn lại Đầu trái lõm sâu tạo thành
“hốc mũi” Khi còn non, vỏ trái màu xanh, lúc chín vỏ chuyển sang màu đỏ tím rồi đỏ đậm Thịt trái màu trắng xen những hạt nhỏ màu đen như hạt mè Trọng lượng trái trung bình từ 200 – 700 g Hiện nay do nông dân trồng Thanh Long thâm canh cao nên có nhiều trái lớn trên 1 kg (Lê Thị Điểu, 2007) Thanh Long tăng mật độ rất nhanh, do đó phải nhặt trái rụng, thu hái những trái còn sót lại trên cây sau khi thu hoạch, đem đốt hoặc chôn vùi vào đất sâu 10 cm
- Đặc điểm sinh học
Thanh Long nguồn gốc nhiệt đới, chịu hạn giỏi, nên được trồng ở những vùng nóng Một số loài chịu được nhiệt độ từ 500°C tới 550°C Nhưng nó không chịu được giá lạnh Chúng thích hợp khi trồng ở các nơi có cường độ ánh sáng mạnh, vì thế hễ bị che nắng thân cây sẽ ốm yếu và lâu cho quả Cây mọc được trên nhiều loại đất khác nhau như đất xám bạc màu, đất phèn, đất đỏ latosol …;
nó có khả năng thích ứng với các độ chua (Ph) của đất rất khác nhau (Lê Xuân Đính, 2006)
Cây Thanh Long có dạng thân leo, có rễ khí sinh, bám vào cây to hoặc trên bờ tường Quả to hình trái xoan, nặng bình quân 300- 500g Quả Thanh Long có vị ngọt, mát, mềm, hơi chua (Nguyễn Đăng Nghĩa, 1999)
Rễ Thanh Long không mọng nước nên nó không phải là nơi tích trữ nước giúp cây chịu hạn Cây thang long có hai loại rễ: địa sinh và khí sinh Rễ địa sinh phát triển từ phần lôi ở gốc hom Đặt hom từ 10 – 20 ngày thì từ gốc hom xuất hiện các rễ tơ màu trắng, số lượng rễ tăng dần và kích thước của chúng cũng tăng dần theo tuổi cây, những rễ lớn đạt đường kính từ 1 – 2 cm Rễ địa sinh có nhiệm
Trang 23vụ bám vào đất và hút các chất dinh dưỡng nuôi cây Rễ phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt (0 – 15 cm) Rễ xuất hiện trong tầng đất từ 0 – 30 cm Ở các nơi đất xốp
và có tưới nước rễ có thể mọc sâu hơn Khi đất khô các rễ sợi sẽ chết đi, các rễ cái lớn hơn sẽ hóa bần làm giảm sự dẫn nước khoảng 10 lần để ngăn chặn sự mất nước vào đất thông qua rễ Khi đất ẩm rễ lại mọc trở lại một cách dễ dàng Rễ khí sinh mọc dọc theo thân cây phần trên không, bám vào cây chống (choái) để giúp cây leo lên giá đỡ Những rễ khí sinh nằm gần đất sẽ đi dần xuống đất (Lê Xuân Đính, 2006)
Thanh Long được trồng ở nước ta có thân, cành trườn bò trên trụ đỡ (climbing cacti), trong khi ở một số nước trồng loại xương rồng thân cột (columnar cacti) Thân chứa nhiều nước nên nó có thể chịu hạn một thời gian dài Thân, cành thường có ba cánh dẹp, xanh, hiếm khi có 4 cánh ở các nước khác có thứ 3, 4, 5 cánh Tiết diện ngang cho thấy có hai phần: bên ngoài là nhu mô chứa diệp lục, bên trong là lõi cứng hình trụ Mỗi cánh chia ra làm nhiều thùy có chiều dài 3 – 4 cm Đáy mỗi thùy có từ 3 – 5 gai ngắn Chúng sử dụng CO2 trong quang hợp theo hệ thanh long (Crassulacean Acid Metabolism) là một hệ thích hợp cho các cây mọc ở vùng sa mạc Mỗi năm cây cho từ 3 - 4 đợt cành Đợt cành thứ nhất là cành mẹ của đợt cành thứ hai và cứ thế cành xếp thành hàng lớp trên đầu trụ Trong mùa ra cành, khoảng thời gian giữa hai đợt ra cành từ 40 – 50 ngày Số lượng cành trên cây tăng theo tuổi cây: cây một tuổi trung bình có độ 30 cành, hai tuổi độ 70 cành, ba tuổi độ 100 cành và bốn tuổi 130 cành ở cây 5 – 6 tuổi chỉ duy trì độ 150 – 170 cành (Nguyễn Văn Kế, 2005)
Thanh Long cho hai vụ: vụ thuận từ tháng 4-9 dương lịch, vụ nghịch từ tháng 11-3 dương lịch Thời gian từ khi ra hoa đến 30 ngày là có thể thu hoạch
Về dinh dưỡng, cứ 100 gam phần ăn được của trái Thanh Long cung cấp 85-87g nước; 40-60 calo năng lượng; 1,1g đạm; 0,0g chất béo;11,2 g đường chung; 0,59g tro; nhiều vitamin và chất khoáng: 0,011mg vitamin A, 3mg vitamin
C, 2,8mg vitaminPP, 10,2mg canxi, 38,9mg manhê, 6,07mg sắt, 27,5mg phôtpho, 27,2mg kali, 2,9mg natri Như vậy so với một số trái cây khác trái Thanh Long có nhiều chất khoáng hơn; thành phần chất xơ trong trái Thanh Long gồm loại tan được là pectin và không tan là cellulose nên rất tốt cho người béo phì vốn chiếm hơn một nửa số bệnh nhân đái tháo đường (Nguyễn Đăng Nghĩa, 1999)
Tuy nhiên do chất đất, khí hậu từng tỉnh không hoàn toàn giống nhau nên Thanh Long được trồng ở các tỉnh cũng có những đặc trưng khác nhau
Trang 24- Điều kiện sinh thái
Nhiệt độ: Cây Thanh Long có nguồn gốc ở vùng sa mạc Mêhicô và Côlômbia, là cây nhiệt đới khô Nhiệt độ thích hợp cho Thanh Long sinh trưởng
và phát triển là 14 – 260C và tối đa 38 – 400C Trong điều kiện có sương giá nhẹ, với thời gian ngắn sẽ gây thiệt hại nhẹ cho Thanh Long
Ánh sáng: Cây Thanh Long chịu ảnh hưởng của quang chu kì, ra hoa trong điều kiện ngày dài; sinh trưởng, phát triển tốt ở những nơi có ánh sáng đầy
đủ Vì thế, khi thân cây bị che nắng, cây sẽ bị yếu và chậm ra quả Tuy nhiên, nếu cường độ ánh sáng quá mạnh, nhiệt độ cao sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng của Thanh Long (Dương Hoa Xô, 2006)
Nước: Thanh Long có tính chống chịu cao với điều kiện môi trường không thuận lợi như chịu hạn tốt Tuy nhiên, khả năng chịu úng của cây không cao Do vậy, để cây Thanh Long phát triển tốt, cho năng suất cao cần phải cung cấp nước đầy đủ, nhất là trong thời kì phân hoá mầm hoa, ra hoa và đậu quả Nhu cầu về lượng mưa cho cây là 800 – 2000 mm/năm (Nguyễn Văn Kế, 2005), 500 – 1.500mm/năm phân bố đều trong năm, nếu lượng mưa quá cao sẽ dẫn tới hiện tượng rụng hoa và thối quả (Dương Hoa Xô, 2006)
Đất đai: Thanh Long trồng được trên nhiều loại đất từ đất khô cằn, đất cát, đất xám bạc màu, đất phèn đến đất thịt, thịt pha sét Tuy nhiên, để trồng Thanh Long đạt hiệu quả cao, đất phải tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt đặc biệt ở đất có chứa 30 – 40% cát Yêu cầu đất có Ph từ 6,5 – 7,5, hàm lượng hữu cơ cao, không bị nhiễm mặn (Nguyễn Văn Kế, 2005)
2.1.2.2 Đặc điểm kinh tế của Thanh Long ruột đỏ
Ở Việt Nam, Thanh Long này được trồng nhiều ở các tỉnh phía Nam, hiện nay ở một số tỉnh miền Bắc cũng đã trồng phổ biến Thanh Long là một loại cây được trồng phổ biến ở các nước có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm (Dương Hoa Xô, 2006)
Theo Đông y, Thanh Long có vị ngọt, nhạt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, lợi tiểu, nhuận tràng, chỉ khái hóa đàm, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như viêm phế quản, lao phổi, viêm hạch bạch huyết, quai
bị, mụn nhọt… Quả Thanh Long rất tốt cho người bị rôm sẩy, mụn nhọt, táo bón (Tạ Minh Tuấn và cs., 2005)
Trang 25Thanh Long ruột đỏ là một sản phẩm mới, lạ, ngon, bổ dưỡng hiện nay Hoa kỳ đã cấp code xuất khẩu cho sản phẩm và với kỹ thuật sản xuất tiên tiến Thanh Long ruột đỏ là sản phẩm tuân thủ nghiêm ngặt về VSATTP, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng như một số yêu cầu khác… đã được các đối tác xuất khẩu Mỹ, Nhật, Châu Âu tin dùng Thanh Long ruột đỏ có đặc tính hoàn toàn khác so với loại Thanh Long trắng Thành phần dinh dưỡng của Thanh Long ruột
đỏ được đánh giá là gấp đôi Thanh Long ruột trắng Đây là một trong những loại trái cây có thành phần dinh dưỡng rất tốt cho cơ thể, đặc biệt phù hợp nhất cho việc giữ gìn dáng vóc và sắc đẹp của phụ nữ Thanh Long ruột đỏ hiện được xem
là cây trồng có nhiều tiềm năng, cây không chỉ cho năng suất, chất lượng mà hiệu quả kinh tế rất cao (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006)
2.1.3 Nội dung nghiên cứu phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ
Từ khái niệm, vai trò cũng như xuất phát từ các vấn đề thuộc nội dung kinh tế, xã hội và môi trường của phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ có thể xác định nội dung cụ thể của phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ bao gồm: Chủ trương, chính sách cho phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ Quy hoạch
và quản lý quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng, sản xuất, liên kết và sự tham gia của các tác nhân, thị trường và tiêu thụ, kết quả và hiệu quả về kinh tế trong phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ (Minh Xuân, 2015)
- Phát triển quy mô sản xuất
Đất đai, vốn, lao động, tổng số diện tích sản xuât, sản lượng Thanh Long ruột đỏ, … được tăng lên không ngừng theo thời gian
Nghiên cứu sự phát triển về quy mô sản xuất bao gồm sự phát triển về không gian địa lý và sự phát triển theo thời gian Sự phát triển về không gian địa lý là nghiên cứu sự phát triển của sản xuất Thanh Long ruột đỏ cũng như
sự gia tăng số hộ tham gia sản xuất, đầu tư cho cây Thanh Long ruột đỏ qua các năm Sự phát triển về quy mô sản xuất theo thời gian là sự phát triển về số lượng, sản lượng và cơ cấu giữa các loại Thanh Long ruột đỏ Từ đó góp phần làm rõ xu hướng phát triển của sản xuất Thanh Long ruột đỏ, mức đầu tư, liên kết trong sản xuất Thanh Long ruột đỏ sẽ giúp thấy được sự phát triển của ngành cây ăn quả có gắn với sự phát triển chung của kinh tế - xã hội địa phương, hơn nữa có thể giúp ta dự báo được sự phát triển lĩnh vực trồng trọt của vùng so với các vùng khác
Trang 26- Phát triển đầu tư
+ Vốn sản suất: là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, các phương tiện vận tải, kho tàng, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật Vốn đối với quá trình phát triển sản xuất là vô cùng quan trọng Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng sản phẩm hàng hóa Tuy nhiên, trong thực tế việc tăng thêm sản lượng hàng hóa còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, như chất lượng lao động, trình độ khoa học kỹ thuật, thị trường … (Nguyễn Thế Đồng, 2013)
+ Lực lượng lao động: là yếu tố đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất Mọi hoạt động của sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động Do đó chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả của quá trình phát triển sản xuất (Phạm Ngọc Linh, 2013)
+ Đất đai: là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng với ngành nông nghiệp, mà còn rất quan trọng với sản xuất công nghiệp Đất đai là yếu tố
cố định lại bị giới hạn về quy mô, do đó phải đầu tư thêm vốn và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai Các loại tài nguyên khác trong lòng đất như khóang sản, tài nguyên rừng, biển và tài nguyên thiên nhiên đều là những đầu vào quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất (Quyền Đình Hà, 2005)
+ Khoa học và công nghệ: quyết định đến sự thay đổi năng suất lao động
và chất lượng sản phẩm Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng trong sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao động và tạo
ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của xã hội và
đó là nhân tố quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình phát triển sản xuất (Nguyễn Như Hiến, 2000)
- Phát triển cơ sở hạ tầng
Sản xuất - kinh doanh Thanh Long ruột đỏ đòi hỏi các cơ sở sản xuất, các
hộ gia đình phải có đủ điều kiện về cơ sở hạ tầng thiết yếu để phục vụ sản xuất như đường giao thông, nguồn nước tưới (giếng, hồ đập trữ nước và máy bơm nước), hệ thống điện, hệ thống sân phơi, nhà kho bảo quản nông sản… Cơ sở hạ tầng được đầu tư đồng bộ, hiệu quả sẽ đáp ứng cho yêu cầu sản xuất, chế biến, đảm bảo tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm tỷ lệ hao hụt, tăng sức cạnh tranh
Trang 27trên thị trường, từ đó đảm bảo cho phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ (Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn, 2008)
- Phát triển kỹ thuật
Kỹ thuật sản xuất Thanh Long ruột đỏ ở đây bao gồm: công tác về giống;
sử dụng phân bón; nước tưới; tác dụng của cây trồng xen Thanh Long ruột đỏ; kỹ thuật chăm sóc; việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, phòng trừ dịch bệnh; thu hoạch và bảo quản; v v Các nội dung này giữ vị trí quan trọng trong quá trình sản xuất Thanh Long ruột đỏ Việc thực hiện các nội dung sản xuất Thanh Long ruột đỏ đó một cách phù hợp, hợp lý sẽ góp phần nâng cao kết quả và hiệu quả, cũng như đáp ứng yêu cầu cho phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ bền vững (Minh Xuân, 2015) Mục tiêu của phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ là hướng tới phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu Nếu phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ chỉ chú ý đến phát triển chiều rộng mà không quan tâm đến phát triển theo chiều sâu, hay ngược lại thì sẽ ảnh hưởng đến kết quả, hiệu quả, và từ đó dẫn đến phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ kém bền vững (Minh Xuân, 2015)
- Phát triển liên kết
Trong thực tế, sản xuất theo quy mô nhỏ lẻ, manh mún sẽ dẫn đến năng suất, chất lượng Thanh Long ruột đỏ không đồng đều, kém hiệu quả, giá thành sản xuất trên một đơn vị sản phẩm cao (Trần Quốc Nhân, 2012) Vì vậy, tổ chức sản xuất Thanh Long ruột đỏ theo hướng liên kết là yếu tố cần thiết cho phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ bền vững Mục đích liên kết là nhằm hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật, lao động và tiêu thụ sản phẩm Thông qua liên kết giữa các tác nhân (hộ - hộ, hộ - doanh nghiệp, hộ - nhà khoa học,…) trong các nội dung liên kết (liên kết trong cung ứng giống, liên kết trong chuyển giao kỹ thuật, liên kết trong tiêu thụ,…) sẽ góp phần giúp các tác nhân có điều kiện tiếp thu, phổ biến, truyền đạt kinh nghiệm, kỹ thuật trong sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, kết quả và hiệu quả sản xuất từ đó góp phần cho phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ ổn định, bền vững (Tạ Minh Tuấn và cs, 2005) Đối với đối tượng hộ/trang trại (đối tượng quan trọng, chủ yếu trong sản xuất Thanh Long ruột đỏ) thì trong liên kết cần khuyến khích, hỗ trợ các hộ sản xuất Thanh Long ruột đỏ tổ chức thành từng nhóm, tổ hợp tác, HTX… để tạo điều kiện về vay vốn ưu đãi đảm bảo cho nhu cầu đầu tư, tránh tình trạng thu hái non, hái vội;
Trang 28khuyến nông, tăng cường quản lý, bảo quản trước và sau thu hoạch… giúp cho
hộ yên tâm sản xuất (Nguyễn Thơ, 2008)
Việc tổ chức liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị có vai trò rất quan trọng quyết định tính bền vững trong sản xuất nông nghiêp Qua thực trạng liên kết trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp của Hà Nội hiện nay đã khẳng định doanh nghiệp có vai trò chủ đạo trong việc định hướng thị trường, quyết định đến tính bền vững của chuỗi liên kết (Nguyễn Thế Đồng, 2013)
Liên kết sẽ đem lại lợi ích cho các bên tham gia Khác với các liên kết lỏng lẻo giữa nông dân và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm, liên kết kinh tế thông qua hợp đồng loại bỏ các bước mua bán trung gian nên trực tiếp bảo vệ được người sản xuất Liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp chế biến và
hộ nông dân cho phép xóa bỏ độc quyền đối với doanh nghiệp trong việc ép giá khi mua sản phẩm của người dân Mặt khác, thực hiện liên kết thông qua hợp đồng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến có nguồn cung cấp ổn định để
có thể giảm giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh đối với sản phẩm của mình trên thị trường (Phạm Ngọc Linh, 2013)
Liên kết bốn nhà đang được phổ biến hiện nay, trong bất kỳ ngành sản xuất nào thì vai trò của bốn nhà là vô cùng quan trọng, bốn nhà có thể kết hợp với nhau, hỗ trợ nhau, trong đó Nhà nước tạo hành pháp lý thông qua các cơ chế chính sách của mình thì các tổ chức đoàn thể, cá nhân mới có thể quy hoạch và xác định mục tiêu, phương án kinh doanh của mình, ba nhà còn lại hỗ trợ tích cực cho nhau, nhà doanh nghiệp hỗ trợ giống, vốn cho người sản xuất, người sản xuất bán sản phẩm cho doanh nghiệp xuất khẩu, nhà khoa học nghiên cứu các giống, kỹ thuật cho nhà doanh nghiệp và người trồng trọt
- Kết quả và hiệu quả phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ
Các chỉ tiêu đo lường phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ bao gồm 3 nhóm: nhóm chỉ tiêu thể hiện về phát triển kinh tế (phát triển sản xuất); nhóm chỉ tiêu thể hiện phát triển xã hội và nhóm chỉ tiêu thể hiện bảo vệ môi trường Trong nghiên cứu này, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu phát triển sản xuất Thanh Long ruột
đỏ với các nội dung chính như sau:
* Kết quả sản xuất Thanh Long ruột đỏ
- Sản lượng sản phẩm: Khối lượng sản phẩm vật chất và dịch vụ mà các
cơ sở sản xuất tạo ra trong một thời kỳ, thường tính là 1 năm, thường được ký hiệu là Q
Trang 29- Giá trị sản xuất Thanh Long ruột đỏ (GO - Gross Output): Là toàn bộ giá trị sản phẩm (sản phẩm chính + sản phẩm phụ) thu được trong một thời kỳ, thường tính là 1 năm
- Tốc độ tăng trưởng: Sự tăng thêm về sản lượng hay hay giá trị sản phẩm Thanh Long ruột đỏ
- Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất (trừ khấu hao tài sản cố định) và dịch vụ sản xuất Thanh Long ruột đỏ
- Giá trị gia tăng (VA): là giá trị Thanh Long ruột đỏ được tạo ra trong năm sau khi trừ đi chi phí trung gian
- Thu nhập hỗn hợp (MI): là thu nhập thuần túy của người sản xuất Thanh Long ruột đỏ bao gồm cả phần công lao động gia đình và lợi nhuận
* Hiệu quả kinh tế trong sản xuất Thanh Long ruột đỏ
Hiệu quả kinh tế đóng vai trò quan trọng trong phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ Nó thúc đẩy sự phát triển của cả hệ thống kinh tế, tạo cơ hội tiếp xúc với những nguồn tài nguyên một cách thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên được chia sẻ một cách bình đẳng Hiệu quả kinh tế được chú trọng ở đây phải là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người Hiệu quả kinh tế phản ánh mối tương quan giữa kết quả hữu ích về mặt kinh tế và chi phí bỏ
ra Nó đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế và hoạt động sản xuất
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển Thanh Long ruột đỏ
2.1.4.1 Điều kiện tự nhiên
Sự phát triển sinh trưởng của các loài động vật, sinh vật trong tự nhiên đếu phụ thuộc vào những quy luật nhất định, các quy luật này lại chịu sự khống chế bởi điều kiện thiên nhiên phức tạp Do vậy điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến phát triển sản xuất nông nghiệp cả về chất lượng, số lượng Đất nước khí hậu
và thời tiết – cây trồng – vật nuôi có mối quan hệ khăng khít với nhau bằng những quy luật chặt chẽ, phức tạp; chúng ta cần phải hiểu và nắm chắc các quy luật đó để vận dụng chúng vào trong sản xuất (Hoàng Minh Tấn và cs., 2000)
Thanh Long Ruột Đỏ thích hợp trồng ở vùng có khí hậu nóng, đất đồi gò cằn cỗi Giống Thanh Long Ruột Đỏ có chất lượng tốt hơn các loại Thanh Long Ruột Trắng như màu sắc bắt mắt hơn, ngon ngọt hơn, nhưng chỉ cho năng suất
Trang 30tương đương 60-70% cây Thanh Long Ruột Trắng, khó trồng và dễ bị các sâu hại tấn công hơn Vì thế điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến việc trồng, phát triển quy mô sản xuất Thanh Long đặc biệt là Thanh Long ruột đỏ (Hoàng Minh Tấn
và Nguyễn Quang Thạch, 1993)
2.1.4.2 Chủ trương, chính sách về phát triển sản xuất
Chính sách là công cụ quản lý của Nhà nước Thông qua các chính sách tác động trực tiếp hay gián tiếp đều ảnh hưởng tới cung và cầu của sản phẩm hàng hóa như các chính sách về giá cả, thuế, tín dụng, xuất nhập khẩu, đầu tư (Vũ Văn Hùng, 2012)
Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong xã hội loài người cả hiện tại và tương lai mà không ngành nào có thể thay thế được Tuy nhiên, nông nghiệp lại
là lĩnh vực có rất nhiều rủi ro mang tính khách quan thường dẫn đến thiệt hại có tính hệ thống và để lại hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế Sản xuất nông nghiệp chịu tác động mạnh của khí hậu, thời tiết, môi trường, thiên tai, dịch bệnh
và hàng năm đều chịu thiệt hại lớn từ các yếu tố này đặc biệt là các hộ nông dân nghèo, cận nghèo là các đối tượng dễ bị tổn thương nhất khi xảy ra rủi ro thiên tai, dịch bệnh trong sản xuất nông nghiệp (Minh Xuân, 2015)
Nhà nước bằng các chính sách hỗ trợ vốn hoặc cho vay vốn với lãi suất ưu đãi cho người trồng trọt Đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến và bảo quản, đầu tư các phương tiện kỹ thuật cho các cơ sở đó, có các chính sách hỗ trợ giống để giữ các giống cao sản chất lượng tốt; xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện tăng cường các dịch vụ phục vụ trồng trọt, nhằm hỗ trợ trồng trọt ngày càng phát triển Vì vậy cần có những chính sách phù hợp, nó sẽ có tác dụng khuyến khích người trồng trọt phát triển sản xuất (Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn, 2008)
Các chủ trương, chính sách như về nông nghiệp, đầu tư, khuyến nông, liên kết, thị trường, … của các ban ngành, các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương có tác động trực tiếp và sâu sắc đến ngành nông nghiệp nói chung, trong
đó có sản xuất Thanh Long ruột đỏ Việc ban hành chủ trương, chính sách kịp thời, đồng bộ, đáp ứng được yêu cầu sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các hộ/trang trại
và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Thanh Long ruột đỏ phát triển Chủ trương, chính sách đúng sẽ tạo sự tin tưởng cho người sản xuất kinh doanh Thanh Long ruột đỏ yên tâm đầu tư, đem lại kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao và ổn định (Minh Xuân, 2015)
Trang 31Các chủ trương, chính sách quan trọng, chủ yếu ở trên sẽ tác động trực tiếp tới sản xuất Thanh Long ruột đỏ nói chung, sự ổn định, bền vững của phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ bền vững nói riêng có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng Chính sách đất đai phù hợp, ổn định sẽ giúp người sản xuất Thanh Long ruột đỏ yên tâm sản xuất, đầu tư từ đó góp phần ổn định sản xuất Chính sách đầu
tư, hỗ trợ cho người nông dân, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Thanh Long ruột đỏ cũng góp phần quan trọng trợ giúp, hỗ trợ các ñối tượng sản xuất kinh doanh Khi người sản xuất kinh doanh Thanh Long ruột đỏ gặp khó khăn, bất ổn trong việc tiếp cận về kỹ thuật, bổ sung nguồn lực về vốn để ổn định sản xuất thì việc đưa ra và thực hiện các chính sách như khuyến nông, liên kết, tín dụng ưu đãi là hết sức cần thiết… (Vũ Văn Hùng, 2012) Do đó, việc ban hành cũng như thực hiện tốt các chủ trương chính sách đóng vai trò quan trọng, giúp nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh cho các cá nhân và tổ chức kinh tế, tạo nền tảng để phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ bền vững Bên cạnh đó, chính sách còn
có tác ñộng thúc đẩy nâng cao hiệu quả sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm và điều tiết thị trường Thanh Long ruột đỏ
2.1.4.3 Năng lực, trình độ cán bộ
Trong xu thế hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, ngành trồng trọt đang đứng trước nhiều thách thức do còn thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa các nhà quản lý, nhà khoa học, nhà sản xuất và doanh nghiệp để xây dựng hệ thống chuỗi sản phẩm an toàn và bền vững Một số dịch bệnh nguy hiểm vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, công tác quản lý giống, dịch bệnh ở các địa phương còn nhiều bất cập với những tồn tại lớn và trình độ chuyên môn của cán bộ còn hạn chế
Trước bối cảnh mới đặt ra cho ngành nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, trong đó có trồng cây ăn quả Đòi hỏi năng lực, trình độ cán
bộ trong lĩnh vực nông nghiệp luôn luôn được nâng cao Bởi lẽ đây là yếu tố ảnh hưởng trực đến tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp ở đạ phương, cũng như đối với phát triển sản xuất thanh long ruột đỏ Nắm rõ được tình hình, bối cảnh sản xuất ngành trồng trọt, hiểu biết về thị trường sâu rộng của đội ngũ cán bộ c sẽ giúp cho việc giảm thiểu rủi ro cho các cơ sở chăn nuôi
2.1.4.4 Nhận thức, hiểu biết của người dân
Nhận thức của người dân địa phương là nhân tố trước nhất phải được chú
ý bởi quyết định sản xuất Thanh Long ruột đỏ hay không là do ứng xử của các hộ
Trang 32nông dân trước những yêu cầu sản xuất và thị trường Hộ sản xuất Thanh Long ruột đỏ phải nhận rõ tính ưu việt và hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, yêu cầu của hoạt động sản xuất đó thì họ mới chủ động thực hiện đúng và đầy đủ quy trình kỹ thuật
Người nông dân có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu tiến
bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Trong quá trình trồng, chăm sóc, thu hoạch Thanh Long ruột đòi hỏi người nông dân phải am hiểu kỹ thuật mới dám mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận cao Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm trồng Thanh Long ruột đỏ của chủ hộ có vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công và thất bại trong phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ
2.1.4.5.Thị trường
Thị trường có vai trò quan trọng trọng phát triển kinh tế hàng hoá nói chung và trong phát triển sản xuất nông nghiệp nói riêng Thị trường các chủ thể kinh tế mua bán các yếu tố, điều kiện của sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, mua được các hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ Điều đó đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành bình thường thông suốt (Nguyễn Thế Đồng, 2013) Vì vậy, không
có thị trường thì sản xuất và trao đổi hàng hoá không thể tiến hành được
Việc lựa chọn và phối hợp các yếu tố đầu vào và việc xây dựng thị trường đầu ra với giá cả phù hợp là việc làm cần cân nhắc tính toán kỹ khi xây dựng phương án sản xuất Vì giá cả các yếu tố đầu vào và giá đầu ra của sản phẩm nông nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế (Phạm Ngọc Linh, 2013)
Giá bán sản phẩm: là yếu tố tác động trực tiếp đến số lượng hàng hóa và dịch vụ cung cấp ra thị trường Sự chênh lệch giữa giá bán và giá thành sản phẩm chính là lợi nhuận của người sản xuất, lợi nhuận của người sản xuất cao thấp tuỳ thuộc vào khoảng chênh lệch đó (Võ Phước Tấn, 2003) Giá Thanh Long ruột đỏ
là một trong những yếu tố tác động trực tiếp và mang tính quyết định đến hiệu quả kinh tế của người sản xuất Khi giá Thanh Long ruột đỏ trên thị trường tăng thì người sản xuất bán sản phẩm để có thu nhập đảm bảo cho nhu cầu tiêu dùng
và chi phí để đầu tư cho vụ mùa kế tiếp, và thường trong thực tế khi giá Thanh Long ruột đỏ lên cao thì người sản xuất mở rộng diện tích trồng Thanh Long ruột
đỏ Và ngược lại khi giá cả sụt giảm mạnh hiệu quả kinh tế của người sản xuất bị
Trang 33giảm sút, giảm thu nhập, khó khăn cho đầu tư và từ đó thường dẫn đến việc phá
bỏ cây Thanh Long ruột đỏ để chuyển sang cây trồng khác làm cho phát triển sản xuất Thanh Long ruột đỏ kém ổn định (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006)
Giá cả các yếu tố sản xuất (đầu vào): giá của các đầu vào sẽ quyết định đến chi phí của quá trình sản xuất Nếu giá của các yếu tố đầu vào quá cao sẽ làm cho giá thành sản xuất sản phẩm hàng hóa - dịch vụ tăng lên làm giảm lợi nhuận của đơn vị sản phẩm Trên thị trường người mua luôn muốn mua rẻ, do vậy nếu giá thành cao dẫn tới sản phẩm hàng hóa khó tiêu thụ, hàng hóa ứ đọng kìm hãm sản xuất phát triển (Nguyễn Thế Đồng, 2013)
Giá của các sản phẩm thay thế hoặc bổ sung: đây là yếu tố ảnh hưởng tới lượng cầu của hàng hóa Vì giá cả của các loại hàng hóa có liên quan (thay thế hoặc bổ sung) ảnh hưởng tới sự lựa chọn, thu nhập của người tiêu dùng, tạo nên
sự cạnh tranh về giá giữa các sản phẩm hàng hóa (Võ Phước Tấn, 2003)
Đối với thị trường tiêu thụ, mục tiêu luôn là có đầu ra cho sản phẩm Thanh Long ruột đỏ Thị trường tiêu thụ là nơi sản phẩm Thanh Long ruột đỏ sẽ được đưa tới người tiêu dùng Xây dựng thị trường tiêu thụ ổn định không những
sẽ giúp người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận được sản phẩm mà còn giúp cho người sản xuất yên tâm ở đầu ra Tránh tình trạng được mùa mà mất giá, hay sản lượng cao mà không có nơi tiêu thụ (Tạ Minh Tuấn và cs., 2005)
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Thanh Long trên thế giới
2.2.1.1 Khái quát tình hình sản xuất Thanh Long trên thế giới
Trên thị trường thế giới hiện nay có 4 loại Thanh Long chính là Thanh Long vỏ đỏ, ruột trắng chủ yếu đến từ Việt Nam và Thái Lan; Thanh Long vỏ đỏ, ruột đỏ đến chủ yếu từ Israel và Maylaysia; Thanh Long vỏ đỏ, ruột tím đến từ Guatemala, Nicaragua, Ecuador và Israel; Thanh Long vỏ vàng, ruột trắng đến từ Colombia và Ecuador (Nguyễn Văn Kế, 2005)
Theo Tạ Minh Tuấn và cs (2005), các nước xuất khẩu Thanh Long lớn trên thế giới gồm:
Châu Á: Việt Nam, Thái Lan, Đài Loan, Srilanka…
Trung Đông: Israel
Châu Mỹ: Mexico, Colombia, Ecuador, Guatemala
Trang 34Hình 2.1 Các khu vực sản xuất Thanh Long trên thế giới
Nguồn: Văn phòng xúc tiến thương mại Việt Nam tại Úc (2017)
2.2.1.2 Khái quát tình hình xuất nhập khẩu Thanh Long trên thế giới
Việt Nam hiện là nước xuất khẩu Thanh Long lớn nhất thế giới, chiếm thị phần cao nhất tại châu Á, châu Âu và một số thời điểm tại Mỹ Thái Lan và Israel là hai nước xuất khẩu lớn thứ hai và thứ ba tại thị trường châu Âu Tại thị trường Mỹ, Mexico và các nước Trung – Nam Mỹ là các đối thủ cạnh tranh lớn nhất đối với các nhà xuất khẩu Thanh Long từ châu Á do lợi thế địa lý Thanh Long Việt Nam đã có thương hiệu lâu với người Mỹ gốc Á Thanh Long Thái Lan, Malaysia … đang cố gắng tìm kiếm thị phần tại thị trường này (Tạ Minh Tuấn và cs., 2005)
Người tiêu dùng châu Á, đặc biệt là Trung Quốc mua Thanh Long chủ yếu
để cúng nên coi trọng hình thức của Thanh Long, trong khi các nước khác coi trọng hương vị của Thanh Long hơn hình thức của trái Do vậy, các giống Thanh Long có vị ngọt hơn, và thịt giòn hơn được ưa chuộng hơn Đặc biệt người Nhật không thích Thanh Long trái to, họ quan trọng chất lượng hơn kích cỡ Theo yêu cầu này thì Thanh Long sấy dẻo công nghệ cao của Việt Nam sẽ đạt yêu cầu về chất lượng liên quan đến độ ngọt, giòn và thuận tiện trong bảo quản, chuyên chở
Trang 35Cũng giống như các sản phẩm nông nghiệp khác, Thanh Long hữu cơ cũng đang ngày càng trở thành một xu hướng ưa thích trên thị trường Tuy nhiên, nguồn cung Thanh Long hữu cơ còn rất hạn chế, hiện ở Mỹ mới có một trang trại tại Florida cung cấp Thanh Long hữu cơ Việt Nam cũng đã có những lô hàng Thanh Long hữu cơ đầu tiên xuất khẩu từ vườn Thanh Long hữu cơ tại Long An thông qua Công ty Cổ phần Nông nghiệp GAP Thị trường tiêu dùng sẵn sàng đón nhận sản phẩm Thanh Long sạch, an toàn nếu giá không cao hơn sản phẩm truyền thống quá nhiều
Hiện chưa có thống kê chính thức về lượng xuất khẩu Thanh Long hàng năm của các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, có thể khẳng định rất nhiều nước đều có kế hoạch mở rộng trồng Thanh Long, trong đó có cả Mỹ và Úc do những đánh giá tích cực về xu thế phát triển thị trường cho sản phẩm này
2.2.1.3 Nhu cầu thị trường về Thanh Long của các quốc gia
Không giống các mặt hàng khác như cà phê hay gạo, Thanh Long vẫn chưa được biết đến rộng rãi với người tiêu dùng trái cây trên thế giới (ngoài cộng đồng châu Á) và vẫn chưa có nghiên cứu hay thống kê chính thức nào về sản lượng tiêu thụ và cung cấp sản phẩm này trên thế giới Tuy nhiên, các đánh giá đều cho thấy nhu cầu về Thanh Long đang có triển vọng phát triển tốt trên khắp thế giới, đặc biệt ở các thị trường mới của Thanh Long ngoài châu Á Nhu cầu này tăng phụ thuộc rất nhiều vào thị trường và quảng bá sản phẩm (đặc biệt là thông tin về các tác dụng tốt cho sức khỏe của Thanh Long), giảm giá thành và cải thiện được độ ngọt của trái Thanh Long (Tạ Minh Tuấn và cs., 2005)
Theo Văn phòng xúc tiến thương mại Việt Nam tại Úc (2017), thị trường tiêu thụ Thanh Long trên thế giới bao gồm 4 khu vực chính:
A Thị trường Châu Á
Châu Á là thị trường tiêu thụ Thanh Long lớn nhất và cũng dễ tính nhất, đặc biệt là các quốc gia có cộng đồng người Hoa do niềm tin vào sự may mắn mang lại nhờ tên gọi Thanh Long, hình dáng và màu sắc Trung Quốc là quốc gia tiêu thụ Thanh Long lớn nhất ở châu Á và cũng là lớn nhất thế giới hiện nay Nhu cầu Thanh Long tại Indonesia, Singapore, Thailand và Philippines những năm gần đây cũng tăng nhanh Một số quốc gia châu Á không ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa như Nhật Bản, Hàn Quốc… cũng ngày càng quan tâm đến sản phẩm Thanh Long do các đặc tính tốt cho sức khỏe mà trái Thanh Long mang lại
Trang 36Một số yêu cầu nhập khẩu Thanh Long của một số thị trường chính, bao gồm:
* Thị trường Trung Quốc
Nhập khẩu theo con đường tiểu ngạch: Thanh Long nhập khẩu tiểu ngạch vào thị trường Trung Quốc không có nhiều yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) hay nhãn mác bao bì Chỉ cần đầu mối bên Trung Quốc đồng ý là có thể mua đứt, bán đoạn tại cửa khẩu Mặt khác, thương lái Trung Quốc có mặt thường xuyên ở Việt Nam để xem hàng và mua trực tiếp đưa về Trung Quốc theo đường tiểu ngạch
Nhập khẩu theo đường chính ngạch: Sau khi gia nhập WTO, tiêu chuẩn chất lượng về rau quả nhập khẩu vào Trung Quốc tương đối khắt khe Tất cả rau quả nhập khẩu vào thị trường này bắt buộc phải kiểm dịch, tuân thủ quy định về các chỉ tiêu an toàn thực phẩm, quy chế về nhãn mác, luật dán nhãn thực phẩm…
Thanh Long xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc gần đây đã bị phía Trung Quốc đưa vào danh sách 5 loại trái cây của Việt Nam buộc phải áp dụng các tiêu chuẩn an toàn dịch bệnh và an toàn thực phẩm Tuy nhiên quy trình đăng
ký tiêu chuẩn này không phức tạp, cũng tương như quy trình lấy chứng nhận tiêu chuẩn VietGAP
* Thị trường các nước ASEAN, Hồng Kông và Đài Loan
Cũng giống như Trung Quốc, đây là các thị trường truyền thống về tiêu thụ sản phẩm Thanh Long của Việt Nam và có nhu cầu về Thanh Long tương đối
ổn định, đặc biệt có nhu cầu tăng khá vào các dịp lễ tết vì màu sắc, hình dáng và tên gọi của trái Thanh Long đều có ý nghĩa may mắn tại các quốc gia này
Các nước ASEAN, Hồng Kông, Đài Loan là các thị trường ít có các rào cản khắt khe về VSATTP và nhãn mác bao bì hơn so với các nước Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, đồng thời lại gần với Việt Nam về mặt địa lý nên khắc phục được tình trạng vận chuyển xa nâng chi phí lên cao
* Thị trường Nhật
Thanh Long phải được Cơ quan bảo vệ thực vật của Việt Nam kiểm tra và cấp giấy chứng thực kiểm dịch không nhiễm sâu bệnh, đặc biệt ghi rõ không bị nhiễm ruồi đục quả
Trang 37Được Cục Bảo vệ Thực vật chứng nhận Thanh Long đã được tiến hành khử trùng tại nơi sản xuất bằng hơi nước nóng theo đúng nhiệt độ và quy trình phía Nhật Bản yêu cầu (Cục Bảo vệ Thực vật đóng dấu, dán giấy niêm phong)
Bao bì sản phẩm: phải ghi rõ Thanh Long đã được Cục Bảo vệ Thực vật kiểm tra chứng thực và ghi rõ “for Japan”
* Thị trường Hàn Quốc
Đăng ký vườn cây ăn quả xuất khẩu và cơ sở đóng gói với Cục Bảo vệ Thực vật Việt Nam mỗi năm, thường xuyên khử trùng kiểm tra Các nhân viên bảo vệ thực vật Việt Nam phải thông báo cho cơ quan Dịch vụ kiểm dịch quốc gia Hàn Quốc danh sách vườn trái cây, cơ sở đóng gói và các thiết bị xử lí nhiệt hơi đã được đăng kí trước khi bắt đầu xuất khẩu Thanh Long
B Thị trường Châu Âu
Thị trường châu Âu là thị trường nhập khẩu rau quả tươi hàng đầu thế giới, và khá cởi mở với các sản phẩm mới Do vậy, tuy Thanh Long còn là một mặt hàng tương đối mới và chưa được quảng bá rộng rãi, giá thành lại cao, nhưng vẫn rất có triển vọng và thu hút được ngày càng nhiều sự yêu thích của người tiêu dùng vùng châu lục này Nếu có thể giảm bớt giá thành và quảng bá rộng rãi hơn nữa về giá trị dinh dưỡng của trái Thanh Long, chắc chắn loại trái cây này sẽ đến được với đông đảo cộng đồng dân cư tại các quốc gia Châu Âu bên cạnh các quốc gia như Pháp, Ý, Nga và Hà Lan
Yêu cầu nhập khẩu Thanh Long:
Phải được chứng nhận EUREGAP hoặc GlobalGAP;
Bị kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật một lần nữa tại cửa khẩu;
Vào siêu thị cần 3 yếu tố: (i) chất lượng sản phẩm; (ii) giá cả cạnh tranh
và (iii) khả năng duy trì nguồn cung ổn định;
Người tiêu dùng châu Âu chuộng Thanh Long ruột trắng hơn Thanh Long ruột đỏ, tốt nhất là trái có kích cỡ nhỏ vừa phải (230 – 300gr/trái)
C Thị trường Mỹ
Thanh Long là mặt hàng truyền thống đối với người tiêu dùng gốc Á nói chung và gốc Việt nói riêng ở Mỹ Do cộng đồng người Á và Việt khá cao nên nhu cầu tiêu thụ Thanh Long tương đối lớn Đối với các nhóm sắc tộc khác, Thanh Long vẫn là sản phẩm tương đối mới và chỉ được biết đến ở phân khúc
Trang 38của thị trường cấp cao Tuy nhiên, các nhà phân tích cho biết đây là thị trường sẽ phát triển nhanh và mạnh trong thời gian tới, bằng chứng là các chủ trang trại ở Florida và California đã bắt đầu tiến hành trồng Thanh Long để đáp ứng nhu cầu thị trường
Yêu cầu nhập khẩu Thanh Long:
Phải được Cơ quan Kiểm dịch Mỹ (APHIS) chứng nhận đủ tiêu chuẩn
an toàn để nhập khẩu xử lý chiếu xạ, họ cần Thanh Long sản xuất theo hướng hữu cơ
Kiểm tra về dự lượng thuốc bảo vệ thực vật và thuốc kích thích sinh trưởng của cơ quan kiểm dịch Mỹ
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất Thanh Long ở Việt Nam
A Tình hình sản xuất và tiêu thụ Thanh Long ở Việt Nam
Cây Thanh Long là cây ăn trái thuộc họ xương rồng, có nguồn gốc ở vùng
sa mạc thuộc Mexico và Columbia, thuộc nhóm cây nhiệt đới khô Thanh Long được người Pháp mang đến Việt Nam từ thế kỷ 19, trồng rải rác trong sân vườn, đến thập niên 1980 mới được trồng thương mại Phần lớn Thanh Long được trồng ở Việt Nam là loài Hylocereus undatus, có vỏ đỏ hay hồng/ruột trắng còn lại là loại ruột đỏ Loại vỏ đỏ ruột trắng chiếm 95%, 5% còn lại là loại vỏ đỏ, ruột đỏ (Hoàng Minh và cs., 2000)
Hiện nay cả nước có 32 tỉnh thành trồng Thanh Long với tổng diện tích khoảng trên 35.000 ha, trong đó trên 30.000 ha cho thu hoạch với sản lượng hơn 500.000 tấn/năm Thanh Long là một trong những cây ăn quả được trồng khá tập trung ở các tỉnh Bình Thuận, Tiền Giang, Long An (chiếm 96% tổng diện tích Thanh Long cả nước), ở các tỉnh phía Bắc, Thanh Long mới được đưa vào trồng
ở một số tỉnh như Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Nội (Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn, 2008)
Việt Nam là nước có diện tích và sản lượng Thanh Long lớn nhất châu Á
và cũng là nước xuất khẩu Thanh Long hàng đầu thế giới Diện tích trồng Thanh Long ở Việt Nam tăng khá nhanh từ 5.512 ha năm 2000 lên đến 35.665 ha diện tích trồng Thanh Long với tổng sản lượng đạt khoảng 614.346 tấn vào năm 2014.Thanh Long hiện đang được trồng ở hầu hết ở các tỉnh/thành phố, nhưng phát triển mạnh thành các vùng chuyên canh quy mô lớn tập trung ở các tỉnh như
Trang 39Bình Thuận, Tiền Giang và Long An Diện tích Thanh Long của ba tỉnh này chiếm 92% tổng diện tích và 96% sản lượng của cả nước, phần diện tích Thanh Long còn lại phân bố ở một số tỉnh Miền Nam như Vĩnh Long, Trà Vinh, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu và một số tỉnh Miền Bắc (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2016)
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng Thanh Long
của Việt Nam năm 2015
Địa phương gieo trồng Diện tích
(ha)
Trồng mới (ha)
Diện tích cho sản phẩm (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2016)
* Tình hình tiêu thụ Thanh Long ở Việt Nam
Sản phẩm Thanh Long lưu thông trên thị trường chủ yếu ở dạng trái tươi trong đó, thị trường nội địa chiếm khoảng 15-20% sản lượng; 80-85% sản lượng còn lại được xuất khẩu mà chủ yếu theo phương thức mua bán biên mậu với thương nhân Trung Quốc (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2016)
* Tiêu thụ trong nước
Trái Thanh Long đã có mặt trên hầu hết thị trường trong nước trong đó tập trung nhiều tại khu vực phía Bắc, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh duyên hải miền Trung Hoạt động mua bán Thanh Long do các doanh nghiệp, các cơ sở thu mua, đóng gói Thanh Long thực hiện thông qua các kênh phân phối, chợ đầu mối
ở các tỉnh, thành phố như Trung tâm kinh doanh Chợ đầu mối phía Nam – Hà
Trang 40Nội, Chợ đầu mối Long Biên – Hà Nội, chợ đầu mối chuyên kinh doanh phân phối rau quả tại thành phố Hồ Chí Minh Thanh Long cũng có mặt trong hều hết
hệ thống siêu thị trong nước như Tổng Công ty Thương mại Hà Nội, Tổng Công ty TNHH Một thành viên Hà Nội, Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn, CoopMart, Lotte Mart, Big C, CitiMart… Tuy nhiên, do trên thị trường Việt Nam có nhiều loại trái cây nên Thanh Long phải chịu sự cạnh tranh rất lớn trên thị trường tiêu thụ trong nước Theo ước tính, lượng Thanh Long tiêu thụ tại thị trường nội địa chỉ đạt khoảng 15 – 20% tổng sản lượng (Tạ Minh Tuấn và cs., 2005)
* Thị trường xuất khẩu
Thanh Long được xuất khẩu sang khoảng 40 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau Ngoài các thị trường truyền thống xuất khẩu Thanh Long như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Hà Lan và Đài Loan, Thanh Long còn được xuất sang các thị trường khó tính như Mỹ, Ý, Nhật, Singapore và đang thâm nhập một số thị trường mới như Ấn Độ, New Zealand, Úc và Chi Lê
Theo số liệu thống kê, năm 2015, Việt Nam xuất khẩu khoảng 900.000 tấn Thanh Long Trong 8 tháng đầu năm 2016, xuất khẩu Thanh Long chiếm 49,8% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm trái cây, đạt 567,88 triệu USD, tăng 123% so với cùng kỳ năm ngoái Tính riêng tháng 8/2016 đạt 86,15 triệu USD, tăng 18,3% so với tháng trước và tăng 200,5% so với tháng 8/2015 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2016)
Theo số liệu thống kê 8 tháng đầu năm 2016, Trung Quốc – thị trường xuất khẩu chủ lực mặt hàng Thanh Long, chiếm 91,2% tổng kim ngạch, đạt 518,1 triệu USD, tăng 165,3% so với 8 tháng đầu năm ngoái Tính riêng tháng 8/2016 đạt 81,22 triệu USD, tiếp tục tăng 18% so với tháng trước và tăng 248,5% so với tháng 8/2015 Mỹ – thị trường xuất khẩu Thanh Long lớn thứ hai của Việt Nam, đạt 11,64 triệu USD trong 8 tháng đầu năm nay, chiếm 2,1% tổng kim ngạch, tăng 48,2% so với cùng kỳ năm ngoái Tính riêng tháng 8/2016 đạt 476 nghìn USD, giảm 9% so với tháng trước nhưng tăng 195,2% so với tháng 8/2015 Đáng chú ý, trong tháng 8/2016, Thái Lan trở thành thị trường xuất khẩu Thanh Long lớn thứ ba của Việt Nam, kim ngạch đạt 1,09 triệu USD, tăng đột biến 73,3% so với tháng trước và tăng 12,8% so với cùng kỳ năm ngoái; lũy kế 8 tháng đầu năm nay đạt 9,73 triệu USD, chiếm 1,7% tỷ trọng, giảm 16,7% so với 8 tháng đầu năm ngoái (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2016)