Để tiến hành thực hiện một bài tập, giáo viên cần tổ chức tốt các bước sau: a, Giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài tập: Có loại bài tập học sinh có thể đọc và tự xác định yêu cầu, sau đó [r]
Trang 1CHUYÊN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỜ DẠY PHÂN MƠN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2
Năm học: 2010-2011 MỤC TIÊU :
- Thế hệ trẻ ngày nay là lực lượng quyết định cho sự phát triển của xã hội Ở
bậc Tiều học, mơn Tiếng Việt mà trong đĩ phân mơn luyện từ và câu cĩ vai trị nồng cốt, là nền tảng giúp cho học sinh rèn luyện, trao đổi, phát huy vốn ngơn ngữ tiếng
mẹ đẻ Chính vì vậy mà khi học sinh đã đọc viết tương đối thơng thạo ở các lớp 2 việc cung cấp vốn từ cho học sinh qua mỗi bài học là những bài tập thực hành khơng những giúp cho các em tiếp nhận vốn từ mới mà cịn định hướng cho các em mở rộng, bổ sung vốn từ mới …theo từng chủ đề mà các em đang học Đây chính là cơ hội để học sinh sáng tạo trong việc tìm tịi, học hỏi, tích lũy, hiểu rộng hơn vốn từ ngữ cho mình Qua đĩ guíp các em bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thĩi quen giừ gìn sự trong sáng giàu đẹp của Tiếng Việt gĩp phần hình thành nhân cách
“Con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
THỰC TRẠNG: CĨ CẦN NÊU KHƠNG ?
NỘI DUNG :
Các kiểu bài học LT&C trong sách giáo khoa :
- Bài LT&C ở lớp 2 trong SGK được ghi tên theo phân mơn, cịn các tên bài chỉ được ghi ở phần mục lục Hầu hết các bài học LT&C ở lớp 2 bao gồm cả nhiệm vụ luyện từ và luyện câu Các tên bài thể hiện điều này Ví dụ : Mở rộng vốn
từ : Từ ngữ về học tập – Dấu chấm hỏi (lớp 2 tuần 2)
- Các bài học theo các mạch kiến thức từ, câu cĩ thể chia thành hai kiểu : bài
lí thuyết và bài luyện tập
Bài tập làm giàu vốn từ :
Làm giàu vốn từ cịn được gọi là mở rộng vốn từ, là nhiệm vụ của các bài học
cĩ tên gọi “Mở rộng vốn từ”
Nhiệm vụ làm giàu vốn từ bao gồm các cơng việc dạy nghĩa từ, hệ thống hố vốn từ và tích cực hố vốn từ Đĩ cũng chính là căn cứ để chia các bài tập làm giàu vốn từ thành ba nhĩm lớn
Bài tập dạy nghĩa từ :
Để tăng vốn từ cho HS phải cung cấp những từ mới, do đĩ cơng việc đầu tiên của dạy từ là làm cho HS hiểu nghĩa từ Tầm quan trọng của việc dạy nghĩa từ cho
HS đã được thừa nhận từ lâu trong phương pháp dạy tiếng Nĩ là nhiệm vụ sống cịn trong sự phát triển ngơn ngữ của trẻ em Việc dạy nghĩa từ được tiến hành trong tất
Trang 2cả các giờ học, bất cứ ở đâu có cung cấp từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm thì ở đó có dạy
nghĩa từ
Ví dụ : Các bài tập đọc thường có mục ghi chú, giải nghĩa các từ ngữ cho HS
Các bài tập dạy nghĩa cũng nhằm mục đích này Bài tập giải nghĩa từ xuất hiện trong
phân môn LT&C không nhiều nhưng việc giải nghĩa từ lại thường xuyên phải thực
hiện không chỉ trong giờ LT&C mà trong rất nhiều giờ học khác của môn học Tiếng
Việt và các môn học khác
Ở Tiểu học, người ta thường nêu một số biện pháp giải nghĩa như sau : Giải nghĩa bằng trực quan : Giải nghĩa bằng trực quan là biện pháp đưa ra các vật
thật, tranh ảnh, sơ đồ để giải nghĩa từ Lúc này, vật thật, tranh vẽ, biểu bảng, sơ đồ
được dùng để đại diện cho nghĩa của từ Ví dụ, thầy giáo đưa lá tía tô cho HS xem
và nói “Đây là lá tía tô” khi học bài học vần “ia” Khi học bài “Rừng thảo quả” cô
giáo cho HS xem tranh (hoặc ảnh chụp) rừng thảo quả
Tương ứng với biện pháp giải nghĩa từ bằng trực quan có các bài tập dạy
nghĩa từ bằng tranh vẽ Có thể chia các bài tập dạy nghĩa từ bằng tranh vẽ thành các
dạng bài tập:
- Dạng bài tập dựa vào tranh tìm từ tương ứng.
Ví dụ 1 : Tìm những từ chỉ sự vật (người, đồ vật, con vật, cây cối) được vẽ
dưới đây (TV2 - tập 1)
Ví dụ 2 : Các tranh dưới đây vẽ một số hoạt động của người Hãy tìm từ chỉ
mỗi hoạt động đó (TV2 - tập 1)
- Bài tập tìm từ có cùng đặc điểm cấu tạo :
Đây là nhóm bài tập mở rộng vốn từ theo đặc điểm cấu tạo Những bài tập này
có số lượng lớn trong SGK Tiếng Việt, đó là các bài tập yêu cầu tìm các từ có tiếng
đã cho hoặc dựa vào nghĩa của tiếng để phân loại các nhóm từ
Ý thức được vai trò của đơn vị tiếng (hình vị) trong cấu tạo từ và trong ngữ
pháp tiếng Việt nói chung, SGK Tiếng Việt đã sử dụng tối đa việc dạy học sinh nắm
nghĩa của từ, tăng vốn từ bằng cách nắm các yếu tố cấu tạo từ nên đã đưa ra rất
nhiều bài tập giải nghĩa từ và hệ thống hoá vốn từ theo yếu tố cấu tạo, đặc biệt là với
các từ Hán Việt
Ngay từ lớp 2 đã có những bài tập hệ thống hoá vốn từ theo cấu tạo từ yêu
cầu HS dựa vào một tiếng cho sẵn để tìm những từ có tiếng đó Bài tập hệ thống hoá
vốn từ theo đặc điểm cấu tạo từ có tác dụng lớn giúp HS mở rộng, phát triển vốn từ
Ví dụ 1 : Tìm các từ
- Có tiếng học M : học hành
- Có tiếng tập M : tập đọc
(TV2 - tập 1 - trang 17)
Ví dụ 2 : Ghép các tiếng sau thành những từ có hai tiếng : yêu, thương, quý,
mến, kính
M : yêu mến, quý mến (TV2 - tập 1 - trang 99)
Trang 3Một trong những đặc điểm của loại bài tập này là các yếu tố cấu tạo từ được nêu trong bài tập là những yếu tố có khả năng sản sinh tạo từ mạnh, nghĩa là từ những tiếng này có thể tạo ra được nhiều từ khác GV cần nắm được điều này để hướng dẫn HS tìm từ theo yêu cầu của bài tập Cần lưu ý rằng, nếu HS, nhất là HS ở lớp 2, 3 tìm được một tổ hợp không phải là từ mà là cụm từ, kiểu như học giỏi, học toán, tập lái, tập văn nghệ thì vẫn có thể chấp nhận
Bài tập điền từ :
Bài tập điền từ là kiểu bài tập được sử dụng nhiều ở tiểu học Loại bài tập này
có hai mức độ :
- Cho trước các từ, yêu cầu HS tìm trong số những từ đã cho những từ thích hợp để điền vào chỗ trống trong câu, đoạn cho sẵn.
Ví dụ 1: Tìm từ ngữ trong ngoặc đơn hợp với mỗi chỗ trống ở đoạn văn sau :
- Không cho trước các từ mà để HS tự tìm trong vốn từ của mình mà điền vào :
Ví dụ 1 : Em chọn từ ngữ nào điền vào chỗ trống để tạo thành câu hoàn
chỉnh ?
a) Cháu … ông bà
b) Con … cha mẹ
c) Em … anh chị
(TV2 - tập 1 - trang 99)
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Người giáo viên cần tập trung tổ chức cho học sinh các hoạt động mang tính thực hành là chính Điều đó đòi hỏi các thầy cô giáo đầu tư nhiều thời gian và công sức mới thực hiện có hiệu quả một tiết lên lớp.Dưới đây là một số biện pháp giúp chúng ta nâng cao chất lượng giờ dạy
1 Chuẩn bị tốt cho việc hướng dẫn học sinh làm bài tập
a, Xác định mục tiêu của mỗi bài tập và mục tiêu của tiết học Đây là quá trình giáo viên cần chú ý tính “Tích hợp”, nhất là “Tích hợp” các kiến thức, kỹ năng trong tiết học và những kiến thức, kỹ năng đã học trước trước đó, giúp cho học sinh hiểu và vận dụng kiến thức để làm bài tập một cách phù hợp
b, Chuẩn bị tốt các điều kiện để đạt mục tiêu đề ra
Điều kiện ở đây bao gồm từ trang thiết bị, đồ dùng dạy học đến hình thức tổ chức và các biện pháp thực hiện trong quá trình lên lớp
- Trang thiết bị và đồ dùng dạy học: Ngoài các tranh ảnh trong sách giáo khoa, cần có một số tranh, ảnh, biểu bảng ( vẽ lại – phóng to ) để phục vụ cho tiết học, nhất là các bài tập cần có sự quan sát hoặc hướng dẫn chung cho cả lớp Đối với một số tiết dạy tổ chức cho học sinh học nhóm, giáo viên phải chuẩn bị thêm bảng phụ, phiếu bài tập, vở nháp, bút dạ
Trang 4Căn cứ vào các loại bài tập, giáo viên có thể chọn lựa hình thức trình bày từng bài tập cho phù hợp: làm miệng, viết, làm cá nhân, làm theo nhóm hoặc tổ chức trò chơi học tập
2 Tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp
Để tiến hành thực hiện một bài tập, giáo viên cần tổ chức tốt các bước sau:
a, Giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài tập: Có loại bài tập học sinh có thể đọc
và tự xác định yêu cầu, sau đó cùng nhau trao đổi cả lớp, những cũng có loại bài tập giáo viên cần dành thời gian hướng dẫn làm mẫu một phần bài tập: Ngoài những bài tập đã được hướng dẫn mẫu trong SGK, nếu có những bài tập là dạng bài mới, học sinh chưa nắm được cách làm, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh bằng cách giải miệng và viết một phần và cả bài tập ( tuỳ độ dài và độ khó của bài tập )
c Tiến hành làm bài: Tuỳ vào điều kiện cụ thể, giáo viên có hình thức và biện pháp thích hợp nhằm tạo điều kiện cho tất cả học sinh đều được làm việc, sao cho mỗi học sinh đều được hoạt động, bộc lộ và phát triển Việc chọn các biện pháp để học sinh trình bày bài tập cũng phải được giáo viên hướng dẫn một cách cụ thể, rõ ràng như làm miệng, làm nháp, bảng con, bảng lớp, phiếu học tập
d Tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ về tri thức, giáo viên tạo điều kiện cho nhiều em trình bày ý của mình, kể cả ý kiên đúng và ý kiến chưa đúng Đối với những bài tập không có một lời giải duy nhất, giáo viên cần biết xác nhận tất cả các lời giải đúng và nêu được lời giải hay nhất,chính xác nhất để các em học tập.Sau khi nhận xét, rút ra kết luận, giáo viên cần lưu ý khuyến khích, động viên học sinh, lưu ý một số lỗi phổ biến và lỗi cá biệt để giúp học sinh tự sửa chữa.Sau mỗi bài tập, giáo viên nêu chốt lại những nội dung cần ghi nhớ một cách ngắn ngọn nhất và nhẹ nhàng, tránh giải thích dài dòng và sa vào lý thuyết