Sự đổi mới đó phải được thể hiện cụ thể trên từng nội dung của một tiết học, bài học, thậm chí là đổi mới trong từng hoạt động của tiết học.Hướng dẫn học sinh cách tự học cũng chính là c[r]
Trang 11
-GIÚP HỌC SINH CỦNG CỐ KHẮC SÂU KIẾN THỨC BẰNG
SƠ ĐỒ HểA.
A - Đặt vấn đề
Đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa theo quan điểm tích hợp nói riêng đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học
Đổi mới phương pháp dạy học là việc làm cần thiết và khoa học trong xu thế giáo dục hiện nay Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các bậc học, cấp học áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng học sinh năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn
đề
Đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới vai trò của người dạy và người học Từ chỗ người dạy giữ vai trò là người chủ đạo, thành người hướng dẫn Còn người học từ chỗ là người thụ động trở thành người chủ động trong việc thu nhận kiến thức
Trong đổi mới phương pháp dạy học, vấn đề dạy cách tự học cho học sinh là một việc làm rất quan trọng, là một yêu cầu Cụm từ " đổi mới phương pháp dạy- học "có nghĩa là
đổi mới cả về phía người dạy lẫn người học Học sinh cũng phải có ý thức trong việc đổi mới phương pháp dạy học Là giáo viên, chúng ta phải tìm cách để giúp học sinh hoàn thành ý thức đó của mình Đó chính là dạy học sinh cách học để tiếp cận tri thức, kỹ năng, phương pháp
Quá trình đổi mới phương pháp dạy học đã tiến hành từ năm học 2002-2003 đến nay, nhưng nhìn chung hiệu quả chưa cao Bởi vì việc đổi mới không phải là việc làm ngày một, ngày hai mà nó phải là cả một quá trình, là sự chuyển biến từ từ Nhưng khi đã quyết định
đổi mới thì chúng ta phải tiếp cận đổi mới Đó là nguyên tắc được xem như là một sự bất
di, bất dịch Nghĩa là tất cả chúng ta phải vào cuộc
Sự đổi mới đó phải được thể hiện cụ thể trên từng nội dung của một tiết học, bài học, thậm chí là đổi mới trong từng hoạt động của tiết học.Hướng dẫn học sinh cách tự học cũng chính là chúng ta đang đổi mới phương pháp dạy học Dạy học sinh tự học bao gồm dạy tự học trên lớp và dạy tự học ở nhà
Với đề tài này tôi không có nhiều thời gian để đi sâu vào tất cả các khâu, các phần, các cung đoạn của quá trình dạy học mà tôi chỉ đưa ra một vài kinh nghiệm nhỏ để thực hiện tốt phần củng cố ở tiết Ngữ Văn nhằm giúp học sinh tự học có hiệu quả Đú cũng chớnh là
lớ do mà tụi chon đề tài này: “GIÚP HỌC SINH CỦNG CỐ KHẮC SÂU KIẾN THỨC
BẰNG SƠ ĐỒ HểA.”
Lop6.net
Trang 2B - Cơ sở lí luận và thực tiễn
I Cơ sở lí luận
Để nâng cao hiệu quả dạy- học trong những năm gần đây chúng ta đã nói nhiều đến việc cải tiến phương pháp dạy- học Trong vấn đề dạy học có cả hai hoạt động: dạy và học Tuy nhiên hình như chúng ta chỉ mới chú trọng đến việc cải tiến hoạt động dạy- phương pháp dạy của giáo viên, mà chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động học- phương pháp học của học sinh Mà dạy học là quá trình thống nhất Có hoạt động dạy mới có hoạt động học Nếu hoạt động dạy thay đổi thì hoạt động học cũng thay đổi theo Nếu phương hướng cải tiến phương pháp dạy học của thầy là dạy cho học sinh cách tự học thì học sinh cũng phải cải tiến phương pháp học bằng cách tăng cường khả năng tự học, tự lĩnh hội tri thức
Vấn đề tự học của người học là một vấn đề quan trọng quyết định chất lượng của đào tạo trong giáo dục Chúng ta từ lâu đã quan tâm đến khẩu hiệu "biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo" Vấn đề là làm thế nào để quá trình đào tạo trở thành quá trình
tự đào tạo? Chính vấn đề khả năng tự học của người học là chìa khoá để giải quyết Việc bồi dưỡng, tăng cường khả năng tự học của học sinh được coi như biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học, đồng thời cũng là một mục tiêu của dạy học Điều này càng trở nên bức thiết vì kiến thức tích luỹ được của nhân loại tăng nhanh chóng trong khi thời gian và thời lượng học tập của người học trong nhà trường không thể kéo dài Không thể nào học hết những gì nhân loại tích luỹ mà chỉ có thể học được những kiến thức cơ bản, cần thiết nhất mà thôi Bởi thế giáo dục hiện đại không chỉ quan tâm tới cung cấp tri thức mà quan trọng hơn là cung cấp phương pháp học tập, phương pháp đi tới nắm vững tri thức Tự học là một cách thức để người học có thể học một, biết mười Người học có phương pháp tự học, có ý chí, nhu cầu, thói quen tự học thì sẽ ham mê học hỏi, học không biết chán Kiến thức thu được
sẽ được làm giàu và nhân lên gấp nhiều lần Các bài tập dành cho học sinh làm ở nhà, các bài tự học có hướng dẫn, các câu hỏi bài tập không bắt buộc, các bài tập tự chọn chính là
đáp ứng yêu cầu rèn luyện khả năng tự học của học sinh Việc giáo viên từ bỏ việc cảm thụ thay, phân tích thay, làm thay học sinh chính là để phát huy năng lực tự giải quyết vấn đề
tự học của học sinh Sách giáo khoa cũng không chỉ cung cấp tri thức, mà chú trọng đến rèn luyện kỹ năng và thói quen tìm tòi, phán đoán và rút ra những kết luận, những tri thức cần nắm vững Nội dung, phương pháp dạy học, tài liệu dạy học đều hướng tới việc tăng cường năng lực tự học, năng lực chủ động học tập suốt đời của mỗi người, hướng tới xây dựng một xã hội học tập
Chúng ta đều biết hiệu quả tác động của một bài văn, một tác phẩm văn chương đối với bạn đọc không phải lúc nào cũng có thể đo lường ngay tức khắc Tác động của văn
Trang 33
-chương có khi ngay tức khắc, nhưng thường phải có thời gian suy ngẫm, có khi càng về sau càng sâu sắc và bất ngờ nữa Trang sách cuối cùng của những áng văn chương kiệt xuất tuy
đã gấp lại nhưng sức âm vang lay động tâm hồn mỗi người còn mãi mãi dài lâu
Người giáo viên không bao giờ có thể bằng lòng với những kết quả trực tiếp tức khắc của bài văn đối với học sinh qua 45 phút đồng hồ trên lớp Kết quả ban đầu nhất thiết phải
được đào sâu, củng cố, mở rộng và nâng cao dưới nhiều hình thức hoạt động khác nhau Việc chuẩn bị ở nhà mang nặng tính chất chủ quan cá nhân Việc phân tích trên lớp nâng cao tính tập thể xã hội của sự cảm thụ Những quy luật của cảm thụ văn chương cho thấy chỉ ở khâu tự nhận thức, tự biểu hiện, chỉ ở hoạt động chủ quan hoá, sự tiếp nhận văn chương mới thực sự có chiều sâu, tự giác, tự nguyện Khâu củng cố kết quả học tập trên lớp không những thể hiện đúng đắn sự vận dụng quy luật tiếp nhận văn chương vào quá trình giảng văn mà còn có tác dụng đưa học sinh vào những hoạt động thực hành gắn người học sinh với đời sống văn học, văn hoá của bản thân và của tập thể
II Thực tiễn
1 Đối với nhà trường và phòng giáo dục:
Nhà trường và phòng giáo dục đã chỉ đạo sát sao đổi mới Quán triệt và thực hiện một cách nghiêm túc các văn bản của cấp trên về đổi mới Đi sâu vào kiểm tra, đánh giá đổi mới, triển khai chuyên đề đổi mới Trong chỉ đạo chuyên môn của phòng giáo dục và của trường rất chú trọng đổi mới cách hướng dẫn cho học sinh tự học, tự chiếm lĩnh tri thức Tuy nhiên việc đánh giá nhiều lúc chưa sát với thực tế tình hình
2 Đối với giáo viên:
Nhóm văn của trường tôi nói riêng và nhóm văn các trường trong huyện nói chung dưới sự chỉ đạo của chuyên môn đã có sự chuyển biến tích cực trong vấn đề đổi mới phương pháp Và trong việc đổi mới đó đã chú trọng việc dạy học sinh cách tự học Bao gồm hướng dẫn tự học trên lớp và hướng dẫn tự học ở nhà Trong đó các giáo viên đã rất chú trọng việc hướng dẫn cho học sinh cách tự học thông qua phần củng cố Nhiều giáo viên tâm huyết với nghề nghiệp, có năng lực, hiểu rõ bản chất của đổi mới phương pháp đã thực hiện rất tốt việc hướng dẫn học sinh học và khắc sõu được kiến thức Giáo viên chưa
tự học tốt thì làm sao có thể hướng dẫn học sinh học tốt được? Trong sinh hoạt chuyên môn chưa mạnh dạn đánh giá, nhận xét việc đổi mới của giáo viên Còn nhận xét đánh giá chung chung Trong đánh giá giờ dạy cũng như trong việc kiểm tra hồ sơ chưa thực sự đi sâu việc đánh giá cách củng cố kiến thức cho học sinh tự học Phần lớn giờ văn là thiếu giờ, đến phần củng cố là hết giờ, nên phần củng cố thường bị bỏ qua Nguyên nhân của
Lop6.net
Trang 4việc làm này là do việc phân bố thời gian chưa hợp lí, quan niệm chưa đúng về vai trò của phần củng cố khắc sõu kiến thức trong một tiết học Trước đây khi chưa thực hiện đổi mới người ta thường cho rằng hoạt động củng cố chỉ là hoạt động phụ, là việc làm không cần thiết Nên thời gian dành cho hoạt dộng này chỉ là một đến hai phút Nhưng từ khi thực hiện đổi mới đến nay người ta thường chú trọng đến hoạt động này Vì một trong những việc làm rất quan trọng và cần thiết trong đổi mới phương pháp dạy học chính là dạy cho học sinh cách tự học và nhớ sõu Do đó theo tôi ở hoạt động củng cố, chính là hoạt động giúp ta hướng dẫn học sinh tự học , khắc sõu kiến thức có hiệu quả hơn cả Chính vì vậy mà chúng ta cần dành cho hoạt động này một khoảng thời gian từ năm đến sáu phút Chỉ khi chúng ta dành thời gian hướng dẫn cho học sinh chu đáo thì học sinh mới khắc sõu và nhớ lõu kiến thức
3 Đối với học sinh:
Dưới sự chỉ đạo của giáo viên trong qúa trình đổi mới như ta đã nói ở trên nhìn chung học sinh đã có sự chuyển biến rõ rệt Các em đã ý thức được vấn đề là phải thay đổi cách học Các em đã chuẩn bị bài chu đáo, có học bài làm bài trước khi đến lớp Lên lớp hỏi bài
cũ có nhiều em đã học thuộc bài Tuy nhiên có nhiều học sinh do năng lực yếu, chưa ý thức
được nhiệm vụ học tập của mình nên thực hiện việc tự học còn mang nặng tính đối phó Có làm bài nhưng ghi chép theo tài liệu, theo sách giải, thiếu sự tự học, tự suy nghĩ, ngồi chờ bạn trong thảo luận, có em lười làm bài cũ, và đặc biệt là học trước quyờn sau, hoặc khụng nhớ đầy đủ cỏc kiến thức trọng tõm
Như vậy, vấn đề dạy cách học cho học sinh thông qua hoạt động củng cố nội dung bài học không phải là vấn đề mới mẻ, chưa có sách viết, chưa có ai nói Nhưng vấn đề là ở chỗ
có người làm tỉ mỉ, công phu nhưng phần đa đều làm một cách qua loa, đại khái, chiếu lệ
và vội vàng khi mà giờ học đã kết thúc với những câu hướng dẫn theo kiểu đại loại như:
Em hãy học thuộc ghi nhớ, học thuộc bài thơ, làm bài tập sách giáo khoa Chúng ta chưa quan tâm đến việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh thông qua hoạt động củng cố
Mà trong thực tế thì đa số học sinh hầu như chưa có thói quen và cũng chưa biết cách tự học để nhớ lõu kiến thức
C - Nội dung (giải pháp)
ý thức được tầm quan trọng của việc hướng dẫn cách tự học cho học sinh thông qua hoạt động củng cố nhằm khắc sõu kiến thức nên lâu nay trong quá trình dạy học môn Ngữ Văn tôi đã dành một thời gian nhất định cho hoạt động này từ năm đến sáu phút, chuẩn bị
kỹ lưỡng hơn cho phần củng cố
Trang 55
-Tôi tiến hành củng cố bằng những cách sau (Tuỳ thuộc vào từng bài học cụ thể, tôi lựa chọn một trong các cách này)
+ Bằng sơ đồ câm, cho học sinh điền kiến thức
+ Hệ thống câu hỏi - đáp trực tiếp
+ Bằng bài trắc nghiệm tổng quát kiến thức của toàn bài học
+ Bằng các trò chơi: trò chơi ô chữ, trò chơi đối mặt
+ Bằng những tỡnh huống cụ thể và thực tế sỏt với nội dung bài học
Dựa vào thực tế trong giảng dạy và đặc biệt là đối tượng học sinh của trường ,tụi đó chọn cỏch dựng sơ đồ húa dưới dạng cõm để giỳp học sinh nhớ lõu và khắc sõu được kiến thức
Củng cố nội dung bài học bằng sơ đồ câm có những cái lợi sau: Giúp học sinh hệ thống lại nội dung bài học một cách chắc chắn, vững vàng hơn Khi học sinh điền được thông số vào sơ đồ câm, chọn được đáp án đúng chứng tỏ học sinh không những thông hiểu nội dung bài học mà còn biết vận dụng, không chỉ biết đơn thuần về mặt lí thuyết mà còn giúp học sinh có kỹ năng thực hành
Sau đõy là cỏc dạng thức sơ đồ húa:
- Hỡnh vuụng theo thứ bậc, theo chiều ngang
- Kết hợp giữa hỡnh trũn và hỡnh vuụng
- Mũi tờn tịch tiến
- Hỡnh trũn đồng tõm
Từ những thực tiễn nêu trên, tôi đưa ra một số giải pháp sau:
1 Muốn hướng dẫn các em củng cố và khắc sõu kiến thức cú hiệu quả thì bản thân giáo
viên phải nắm chắc nội dung kiến thức, và phương pháp đặc trưng của mỗi thể loại để vận dụng vào các văn bản cụ thể, tiết học cụ thể, nội dung cụ thể Nghĩa là người giáo viên phải
là người nắm chắc kiến thức trọng tõm thì mới hướng dẫn học sinh được tốt
2 Phân bố thời gian hợp lí để thực hiện đầy đủ các hoạt động của tiết học mà bản thân giáo viên đã chuẩn bị ở giáo án
3 Nội dung hướng dẫn tự học cho học sinh phải tiến hành phù hợp ở từng thời điểm, từng nội dung của tiết dạy Chú ý xây dựng hệ thống câu hỏi, nhất là câu hỏi gợi ý, gợi mở phự hợp với cỏc đối tượng học sinh
4 Phần củng cố, phải liên kết (có tính tích hợp) với kiến thức trong tiết học này với những nội dung liên quan của các tiết, các phần đã học Giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc kỹ từng câu hỏi ở sách giáo khoa để trả lời đúng yêu cầu
5 Cô gắng gây hứng thú, tránh sự nhàm chán Để làm được điều đó đòi hỏi giáo viên phải tâm huyết, kiên trì thực hiện nghiêm túc nội dung hướng dẫn tự học nói chung và ở phần
Lop6.net
Trang 6củng cố nói riêng Từ đó để xác định cho học sinh ý thức thực hiện nghiêm túc những phần hướng dẫn của giáo viên và rồi học sinh cũng trở thành "thói quen" trong sự chờ đợi hướng
Sau đây tôi đưa ra một số ví dụ minh hoạ cho những điều tôi đã nói ở trên:
Ví dụ 1: Tiết 41: Danh từ (tiếp theo)
Sách giáo khoa Ngữ Văn 6 có dạy hai tiết về từ loại danh từ (tiết 32 và tiết 41)
* Mục tiêu của tiết 41 là:
- Đặc điểm của danh từ
- Danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật
* Tổ chức các hoạt động trọng tâm của tiết 41 là:
(I) Danh từ chung và danh từ riêng
(II) Luyện tập
Sau khi học xong các phần trọng tâm với những kiến thức trên thì tôi dành 3 phút củng cố bằng sơ đồ câm này: ( Vì đây là tiết 2 của bài danh từ nên khi củng cố tôi tích hợp với tiết 1
để làm sơ đồ này nhằm giúp học sinh có cái nhìn tổng quát về kiến thức cả hai tiết)
Tôi chỉ điền sẵn ba ô: ô danh từ chỉ đơn vị, ô danh từ riêng và ô đơn vị ước chừng Tôi chỉ
điền sẵn ba ô như là một sự gợi ý của tôi Và học sinh sẽ làm tiếp trên cơ sở sự gợi ý này Sau khi học sinh điền xong tôi cho học sinh khác nhận xét bổ sung và cuối cùng tôi đưa ra
đáp án này:
Danh từ chỉ đơn vị
Đơn vị
tự nhiờn
Danh
từ riêng
Đơn vị
tự nhiên
Trang 77
-Sau khi học sinh điền xong tôi yêu cầu học sinh nhìn vào sơ đồ và lấy mỗi loại một ví dụ? Như vậy bám vào nội dung, mục tiêu của bài học tôi đã củng cố xong nội dung bài học
Ví dụ 2: Tiết 7 Từ mượn.
* Mục tiêu của tiết này là: Giúp học sinh:
1 Hiểu được thế nào là từ mượn
2 Bước đầu biết sử dụng từ mượn một cách hợp lí trong nói, viết
* Tổ chức các hoạt động trọng tâm của tiết học là:
(I) Từ thuần Việt và từ mượn
(II) Nguyên tắc mượn từ
(III) Luyện tập
Củng cố nội dung bài học: (4- 5 phút)
Sau khi dạy xong các hoạt động trọng tâm của bài từ mượn, tôi củng cố kiến thức cho học sinh bằng cách tích hợp với tiết 3: Từ và cấu tạo của từ Tiếng Việt để giúp học sinh
có cái nhìn tổng hợp về từ Tiếng Việt
Bám vào mục tiêu và kiến thức trọng tâm của tiết học tôi củng cố nội dung bài học cho học sinh bằng sơ đồ câm sau:
Danh từ
Danh từ chỉ đơn vị
Danh từ chỉ sự vật
Đơn vị quy
ước
Danh
từ chung
Danh
từ riêng
Đơn vị quy ước chính xác
Đơn vị ước chừng
Từ (Xét
theo cấu
tạo)
Từ (Xét theo nguồn gốc)
Lop6.net
Trang 8
Tôi chỉ điền sẵn các ô: từ (xét về cấu tạo) , từ phức và ô từ (xét về nguồn gốc) , ô từ mượn
và ô ngôn ngữ ấn - Âu Những ô tôi điền sẵn như là một sự gợi ý của tôi Từ đó giúp học sinh tự điền các ô còn lại Và sau khi học sinh điền xong tôi cho các em nhận xét và cuối cùng tôi đưa ra đáp án:
Sau đó tôi yêu cầu các em nhìn vào sơ đồ lấy mỗi loại một ví dụ
Ví dụ 3: Tiết 118 Câu trần thuật đơn không có từ là
* Mục tiêu của tiết học là:
Từ (Xét
về nguồn gốc)
T ừ ghộp
T ừ lỏy
Từ mượn
Từ thuần Việt
Tiếng Hán
Ngôn ngữ ấn-
Âu
Ngôn ngữ
ấn -Âu
Từ (Xột
về cấu
tạo)
Trang 99
Nắm được kiểu câu trần thuật đơn không có từ là
- Nắm được tác dụng của kiểu câu này
* Tổ chức các hoạt động trọng tâm của tiết học gồm:
(I) Đặc điểm của câu trần thuật đơn không có từ là
(II) Câu miêu tả và câu tồn tại
(III) Luyện tập
Bám vào mục tiêu, các nội dung trọng tâm của tiết học cũng như tích hợp các kiến thức của các tiết trước đó về câu trần thuật đơn tôi đã dùng sơ đồ câm sau để củng cố nội dung bài học
Củng cố nội dung bài vừa học (4 phút)
Trong sơ đồ tôi chỉ điền bốn thông số như trên để gợi ý Yêu cầu học sinh nhớ lại những kiến thức đã học ở các tiết trước về câu trần thuật đơn, lên bảng hoàn thành sơ đồ Sau khi học sinh hoàn thành xong tôi đưa đáp án đúng như sau:
Câu trần thuật đơn
Câu trần thuật đơn
có từ là
Cõu trần thuật đơn khụng cú từ là
Câu giới thiệu
Câu trần thuật đơn
Lop6.net
Trang 10* Câu trần thuật đơn gồm: Câu trần thuật đơn có từ là và câu trần thuật đơn không có từ là Trong đó câu trần thuật đơn có từ là có bốn kiểu câu: Câu định nghĩa, câu giới thiệu, câu miêu tả và câu đánh giá Còn câu trần thuật đơn không có từ là gồm hai kiểu câu: Câu miêu tả và câu tồn tại
Ví dụ 3 Tiết 20: Lời văn, đoạn văn tự sự.
* Mục tiêu của tiết học:
- Nắm được hình thức lời văn kể người và kể việc, chủ đề và liên kết trong đoạn văn
- Xây dựng được đoạn văn giới thiệu và kể chuyện sinh hoạt hằng ngày
- Nhận ra các hình thức, các kiểu câu thường dùng trong việc giới thiệu nhân vật sự việc, kể việc; nhận ra đựơc mối liên hệ giữa các câu trong đọan văn và vận dụng để xây dựng đoạn văn giới thiệu nhân vật và kể việc
* Tổ chức các hoạt động trọng tâm của tiết học gồm:
(I) Lời văn, đoạn văn tự sự
1 Lời văn giới thiệu nhân vật
2 Lời văn kể sự việc
3 Đoạn văn
(II) Luyện tập
Củng cố nội dung bài học ( 3- 4 phút).
Câu trần thuật đơn
có từ là
Câu trần thuật đơn không có từ là
Cõu
định
nghĩ
a
Câu giới thiệu
Cõu miờu tả
Câu
đánh giá
Câu miêu tả
Câu tồn tại