Đối với dạng bài tập có biện pháp tu từ: - Daïng baøi taäp coù bieän phaùp “So saùnh” Khi dạy các bài tập này cần phải dựa vào kiến thức từ loại đã được học ở lớp 2 yêu cầu đọc và tìm cá[r]
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU.
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nhằm thực hiện mục tiêu “ Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng
sử dụng Tiếng Việt ( nghe, nói, đọc, viết ), để học tập và giao tiếp trong các môi
trường hoạt động của lứa tuổi Phân môn “Luyện từ và câu” nhằm cung cấp
những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt bằng con đường quy nạp và rèn luyện kỹ
năng dùng từ, đặt câu ( nói, viết ) kĩ năng đọc cho học sinh
Năm học này tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 3C Tuy nhiên
qua nhiều năm giảng dạy tại trường thông qua các buổi dự giờ của các đồng
nghiệp, tôi thấy giáo viên chưa thực sự đầu tư vào phân môn học Khi dạy học
sinh về phân môn này giáo viên còn lúng túng, mà ở đây học sinh lớp 3 chủ yếu
là thực hành bằng những nhận biết chứ chưa hề biết đến khái niệm nên giáo viên
phải nắm vững mức độ nôïi dung của chương trình, của từng bài để tránh dạy quá
cao hoặc quá thấp so với chương trình Đối với học sinh còn thờ ơ trong tiết học,
phần đa các em đều chưa biết sử dụng dấu câu trong khi viết Đa số là học sinh
dân tộc nên ngôn ngữ của các em còn hạn chế Xuất phát từ những trăn trở trên
tôi mạnh dạn đưa ra kinh nghiệm nhỏ “Một số phương pháp dạy phân môn Luyện
từ và câu cho học sinh lớp 3” Nhằm giúp các em học phân môn Luyện từ và câu
được tốt hơn
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích đánh giá thực trạng dạy học về phân môn
Luyện từ và câu năm học 2008 – 2009
- Rút ra nguyên nhân và đề xuất một số phương pháp nhằm cải tiến chất
lượng dạy và học đạt hiệu quả cao hơn
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Chương trình phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3
- Thực trạng việc dạy và học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3C
- Các tài liệu tham khảo như: sách giáo viên lớp 3, sách giáo khoa lớp 3, và
các tài
- Các đối tượng học sinh của lớp 3C
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
-Nghiên cứu việc dạy và học phân môn Luyện từ và câu năm học
2008-2009
-Phân tích đánh giá ưu điểm, tồn tại của việc dạy học phân môn Luyện từ và
câu Từ đó tìm ra những nguyên nhân và đề xuất một số phương pháp dạy phân
môn Luyện từ và câu ở lớp 3
Trang 25 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để thực hiện những quan điểm trên, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra đánh giá
- Phương pháp nghiên cứu thực trạng
- Phương pháp phân tích tổng hợp chương trình, nội dung phân môn Tiếng
Việt lớp 3
- Phương pháp gợi mở
- Phương pháp giảng giải
B PHẦN NỘI DUNG:
1 ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:
a.Thuận lợi:
Ngay từ đầu năm học được sự quan tâm giúp đỡ của Đảng Nhà nước, các
cấp ngành và các dự án (PEDC) Các em đã được nhận không ít về đồ dùng học
tập như: sách, vở, bút viết, bảng con,…Từ đó các em rất thuận lợi trong việc học
tập Nhất là những học sinh dân tộc thiểu số, học sinh có hoàn cảnh khó khăn Đây
là một niềm động viên, khuyến khích rất lớn đối với các em Trong lúc gia đình
các em không đủ điều kiện để mua sắm sách vở cho con em mình Các em ngoan,
hiền, yêu trường lớp Nhà ở gần trường nên thuận tiện cho việc đến trường Cùng
với lòng nhiệt tình, say mê nghề nghiệp của các thầy cô giáo nhằm đem hết khả
năng của mình để dạy dỗ các em trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước
b Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi nói trên thì cũng gặp không ít khó khăn Với hơn
90 % là học sinh con em dân tộc, học sinh có hoàn cảnh khó khăn Những học sinh
này thường xuyên vắng học luôn có thói quen là “Đến mùa đi rẫy, hết mùa đi
học”. Từ chỗ đi học không đồng đều, nên việc tiếp thu bài giảng của học sinh gặp
rất nhiều khó khăn Cha mẹ học sinh có nhận thức chưa cao về công tác giáo dục,
còn chưa quan tâm đến việc học hành của con em mình Điều này đã ảnh hưởng
rất lớn đến công tác giáo dục của nhà trường
2 NGUYÊN NHÂN:
a Nguyên nhân khách quan:
Do đặc điểm sinh lí lứa tuổi còn ham chơi hơn ham học Sự chú ý không chủ
định chiếm ưu thế nên dễ bị phân tán trong giờ học
b Nguyên nhân chủ quan:
*/ Đối với giáo viên:
- Trong giờ dạy giáo viên chưa thực sự đầu tư vào tiết học
Trang 3- Giáo viên còn hạn chế về năng lực chuyên môn
- Chưa gây được hứng thú để các em ham thích môn học
- Chưa sử dụng triệt để đồ dùng dạy học
*/ Đối với học sinh:
Đa số học sinh là dân tộc địa phương do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ nên các
em còn hạn chế về ngôn ngữ
Phụ huynh học sinh đa số có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chưa quan tâm
đến việc học tập của con em mình
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Kết quả khảo sát đầu năm, phần kiểm tra đọc thầm và trả lời câu hỏi như
sau:
ĐIỂM GIỎI ĐIỂM KHÁ ĐIỂM TB ĐIỂM YẾU
TỔN
G SỐ
Từ cơ sở lí luận, thực tiễn nêu trên và kết quả khảo sát đạt được tôi đã đề ra
một số biện pháp để khắc phục những khó khăn cho học sinh lớp 3 mà tôi đang
đảm nhiệm
4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP:
Một số phương pháp dạy phân môn luyện từ và câu cho học sinh lớp
3
1.1 Phương pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập luyện từ và câu.
Phương pháp này được thực hiện bằng các hoạt động của học sinh theo quy
trình sau:
Bước 1: Học sinh tìm hiểu mục đích của bài tập Mỗi bài tập đều thuộc một
trong ba loại bài tập Học sinh hiểu rõ xem bài tập đang làm, thuộc loại bài tập
nào trong số các loại bài tập trên qua câu chữ nêu trong đầu bài Để học sinh thực
hiện được hoạt động này giáo viên gợi ý cho học sinh tìm xem bài tập yêu cầu
các em nhận diện, dùng cái gì cho đúng quy tắc
Bước 2: Học sinh tìm cách giải bài tập qua việc phân tích các chỉ dẫn làm
bài nêu trong đầu bài Giáo viên có thể hỏi học sinh nhận biết xem đề bài yêu
cầu các em làm những gì? ( nối hay điền; ngắt câu hay đặt dấu câu, tìm rồi viết
lại, hay chơi trò chơi, làm việc trong nhóm hay làm việc cá nhân, làm việc gì
trước, việc gì sau…)
Trang 4Bước 3: Đối với những bài tập khó học sinh quan sát hoạt động giải mẫu 1
phần bài tập của giáo viên, để học sinh học cách giải và giải tiếp
Bước 4: Học sinh tự nhận xét đánh giá kết quả bài làm để từ đó các em nhớ
lại một lần nữa kiến thức kỹ năng đã học nêu trong bài tập và rút kinh nghiệm để
làm bài sau tốt hơn
Ví dụ: Giáo viên hỏi học sinh: Bài của bạn tìm được từ ngữ nào thay thế cho
từ “Quê hương” Trong đoạn văn? Bạn cho từ thay thế đã đúng chưa? (Bài tập 2
Tiếng Việt 3 tập 1 tuần 11)
1.2 Phương pháp tổ chức trò chơi học tập luyện từ và câu
Trong số các bài tập Luyện từ và câu của sách Tiếng Việt 3, có rất nhiều
bài có thể chuyển thành các trò chơi học tập Mục đích chuyển các bài tập nhằm
làm đa dạng hoá các hoạt động học tập tạo hứng thú học tập cho học sinh để học
sinh học tập có hiệu quả hơn Khi chuyển các bài tập thành trò chơi cần chú ý
đảm bảo thực hiện đúng mục đích học tập Khi tổ chức học sinh chơi trò chơi
Luyện từ và câu, giáo viên cần tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Nêu tên và mục đích trò chơi.
Ví dụ: Giáo viên nói: Đây là trò chơi “ Thi đặt câu miêu tả theo mẫu câu:
Ai thế nào?” Nhằm giúp các em luyện tập dùng câu có mẫu trên để tả người, và
sự vật nói chung ( bài tập 2, Tiếng Việt 3 tập 1 trang 145 tuần 17)
Bước 2: Nêu cách chơi:
Chơi cá nhân hay chơi theo nhóm? Học sinh phải làm những việc gì? Theo
trình tự nào? Cách tính điểm như thế nào? Trong khi hướng dẫn cách chơi, khi cần
giáo viên có thể làm mẫu một vài động tác khó cho học sinh hình dung để quan
sát và làm theo
Bước 3: Tổ chức cho học sinh thực hành chơi theo hướng dẫn Giáo viên
nên đóng vai trọng tài để chỉ huy cuộc chơi hoặc giải quyết những vướng mắc của
học sinh khi chơi Khi trò chơi kết thúc, giáo viên nên có thưởng cho những học
sinh, những nhóm học sinh đạt giải, việc nhắc lại kết quả của người thắng cuộc là
việc làm không thể thiếu vì nó giúp cho học sinh nhớ được mục đích học tập của
trò chơi Trong một số trường hợp, việc này cần thực hiện bằng cách cả lớp ghi
kết quả của người thắng cuộc vào vở
1.3 Phương pháp dạy học tích hợp kiến thức, kỹ năng về dùng từ và đặt
câu trong các bài học chính tả, tập đọc.
Như vậy nội dung Luyện từ và câu còn được tích hợp trong các bài tập
chính tả, tập đọc Vì vậy cần có phướng pháp dạy học tích hợp với những nội
dung tích hợp này Về nguyên tắc, dạy học những kiến thức này chủ yếu thực
Trang 5hiện theo phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng của bài học đó thực hiện
trước, phương pháp dạy học Luyện từ và câu kết hợp sau
Ví dụ: Trong bài tập đọc : Anh Đom Đóm” ( tuần 17 ) có bài tập 3 yêu cầu
học sinh tìm một hình ảnh đẹp của anh Đóm trong bài thơ Bài tập này tích hợp
giữa nội dung đọc hiểu với nội dung nhận diện phương pháp so sánh tạo ra hình
ảnh đẹp trong bài Giáo viên cần thực hiện các biện pháp để dạy đọc hiểu trước
nhằm làm cho học sinh nhận rõ Đom Đóm đã làm những việc gì trong đêm Sau
đó giáo viên có thể hỏi học sinh xem những dòng thơ nào trong bài có hình ảnh
so sánh, hình ảnh so sánh cái gì với cái gì? Trả lời câu hỏi này, học sinh sẽ nhận
diện được một hình ảnh so sánh “Anh Đóm quay vòng như sao bừng nở” Với
cách làm này thì học sinh được hiểu các chi tiết trong bài vừa nhận diện được
biện pháp tu từ “ so sánh”
.Cách dạy các dạng bài tập luyện từ và câu lớp 3.
2.1 Đối với loại bài tập mở rộng vốn từ :
Khi dạy loại bài tập mở rộng vốn từ ở chương trình lớp 3, hầu hết phần mở
rộng vốn từ không áp đặt mà học sinh tự tìm ra những từ mới qua sự hiểu biết ở
các bài tập đọc, chính tả, Luyện từ và câu thuộc chủ điểm đó và những kinh
nghiệm qua xem ti vi, đọc sách báo và vốn sống của các em Đối với loại bài tập
đọc này giáo viên cần hướng dẫn làm mẫu một phần rồi học cách giải và giải
tiếp
Ví dụ: Bài tập1 Tiếng Việt 3 tập 2 trang 53.
Mở rộng vốn từ: Nghệ thuật, giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài tập1
Gọi học sinh đọc bài tập 1 Em hãy tìm và ghi vào vở những từ ngữ
a, Chỉ những người hoạt động nghệ thuật
b, Chỉ các hoạt động nghệ thuật
c, Chỉ các môn nghệ thuật
- Giáo viên nói rõ yêu cầu bài tập
+ Hoạt động của người nhạc sỹ là gì? ( sáng tác)
+ Người nhạc sĩ sáng tác ra bài hát để chúng ta hát đúng nhạc thuộc môn
nghệ thuật nào? (Âm nhạc)
Sau đó cho học sinh dựa vào các bài tập đọc, chính tả, tập làm văn để tìm
ra các từ ghi đúng vào 3 yêu cầu của bài tập 1 Học sinh tìm được rất nhiều từ
Chính vì thế khâu làm mẫu đối với loại bài tập này rất quan trọng
2.2.Đối với loại bài tập về câu:
Những kiểu câu phổ biến có mô hình: Ai (cái gì, con gì ) Làm gì? Ai (cái
gì ) Là gì?; Ai (cái gì) Thế nào? Qua việc đặt câu hỏi cho từng bộ phận chính của
Trang 6câu Các bộ phận phụ của câu trả lời cho các câu hỏi: Khi nào? Ở đâu? Như thế
nào? Vì sao? Để làm gì? Bằng gì? Trong các kiểu câu phổ biến nói trên Ở dạng
bài tập này đều ôn kiểu câu đã học ở lớp 2 để xác định bộ phận câu cho câu hỏi
nêu trên thì phải nêu câu hỏi Trả lời được câu hỏi đó tức là đã tìm ra đúng bộ
phận trả lời cho câu hỏi vừa nêu Ở đây giáo viên không nên yêu cầu học sinh
biết khái niệm chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, câu kể, câu hỏi, câu cầu khiến, câu
cảm thán mà chỉ yêu cầu học sinh hiểu đó là các bộ phận để tạo câu Hiểu ý
nghĩa của câu như thế nào thì thích hợp với một dấu kết thúc câu ấy để đặt câu
cho đúng Tôi luôn dựa vào loại bài tập trên để dạy các bài tập dấu câu
2.3 Đối với loại bài tập dấu câu:
Ở lớp 3 việc dạy dấu câu cho học sinh chủ yếu thông qua các bài tập thực
hành Mỗi bài tập về dấu câu là một dạng có mục đích riêng Khi dạy các dạng
bài tập về dấu câu, giáo viên thường lúng túng vì trong sách giáo viên chỉ có đáp
án chứ không có hướng dẫn cách dạy Do vậy giáo viên thường dạy theo cách để
học sinh cảm nhận ngôn ngữ hoặc cũng chỉ hỏi (Câu đã hết ý chưa? Câu đã trọn
vẹn chưa?,v.v… ) chứ ít khi giải thích cho học sinh hiểu vì sao phải dùng dấu câu
như vậy Vì thế qua sự tìm tòi học hỏi và giảng dạy trên lớp tôi đưa ra một cách
dạy các bài dấu câu cho học sinh (chủ yếu là về dấu chấm và dấu phẩy) như sau:
+ Hướng dẫn học sinh tìm hiểu kiểu câu đã học Khi xác định được đúng
kiểu câu, học sinh có thể dùng đúng dấu câu
+ Đưa ra mẫu câu đơn giản, ngắn gọn để học sinh có thể so sánh và tự rút
ra kết luận bằng cách lựa chọn phương án gần giống, hoặc giống để dùng dấu
câu
+ Có thể dùng cách quan sát ngữ điệu khi dạy dấu câu vì trong một số
trường hợp ngôn ngữ nói và viết, có sự tương hợp giữa dấu câu và ngữ điệu
+ Ngoài ra giáo viên cần lưu ý nội dung chủ đề của đoạn văn để giải thích
khi cấu trúc câu khó đối với học sinh
a Bài tập dùng dấu chấm:
Ví dụ: Bài tập Tiếng Việt 3 tập 1 trang 25.
Chép đoạn văn dưới đây vào vở sau khi đặt dấu chấm vào chổ thích hợp và
viết hoa những chữ đầu câu:
Ông tôi vốn là thợ gò hàn loại giỏi có lần, chính mắt tôi đã thấy ông tán
đinh đồng chiếc búa trong tay ông hoa lên, nhát nghiêng, nhát thẳng, nhanh đến
mức tôi chỉ cảm thấy trước mặt ông phất phơ những sợi tơ mỏng ông là niềm tự
hào của gia đình tôi
* Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định câu dựa vào các mẫu câu đã học
Trang 7- Đoạn mở đầu có từ “ Ông tôi” là từ chỉ người (xác định đựơc ai)
- Đặt câu hỏi để tìm bộ phận “ là gì”?
* Giáo viên nêu câu hỏi : Ai là gì?
* Học sinh trả lời: Ông tôi vốn là thợ gò hàn vào loại giỏi.( Câu 1)
- Đây là một câu mở đoạn có ý nghĩa giới thiệu
* Giáo viên đặt câu hỏi tương tự để tìm câu kết đoạn Học sinh dựa vào kiểu
câu: Ai là gì?
Và có thể tìm được chính xác câu kết đoạn có ý nghĩa nhận xét:
Ông là niềm tự hào của gia đình tôi ( Câu 4)
* Giáo viên hướng dẫn cách xác định câu dựa vào ý nghĩa của câu Ở sau
câu mở đoạn tương đối dài, tôi cho học sinh đọc và xác định nên nghỉ hơi ở chổ
nào có nghĩa? Học sinh trả lời… GV chốt lại:
Sau câu mở đoạn có 2 câu:
Câu 2 là: Có lần, chính mắt tôi đã thấy ông tán đinh đồng.
Câu 3 là: Chiếc búa trong tay ông hoa lên, nhát nghiêng, nhát thẳng,
nhanh đến mức tôi chỉ cảm thấy trước mặt ông phất phơ những sợi tơ mỏng
Sau đó cho học sinh đọc lại bài đã làm, chép đoạn văn vào vở và viết
hoa cho đúng
b Bài tập dùng dấu phẩy:
Loại bài tập này là khó đối với tiết Luyện từ và câu ở lớp 3 Các đoạn trích cũng có cấu trúc câu khá phức tạp
Ví dụ 1: Bài tập3 Tiếng Việt 3 tập 1 trang 135: Hãy chép lại đoạn văn
sau và đặt dấu phẩy vào những chổ thích hợp:
Nhân dân ta luôn ghi sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đồng bào Kinh hay Tày Mường hay Dao Gia – rai hay Ê– đê Xơ- đăng hay Ba – na và các
dân tộc khác đều là con cháu Việt Nam đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống
chết có nhau sướng khổ cùng nhau no đói giúp nhau
Giáo viên cần lưu ý cấu trúc , vốn cũng là kiểu câu “ Ai làm gì?” khó khăn của học sinh là các em thường không phân biệt tên các dân tộc nên các
trường hợp đặt dấu phẩy có thể xảy ra như: Đồng bào Kinh, hay Tày Mường, hay
Dao, Gia – rai, hay Ê – đê Xơ- đăng,… Do vậy với đoạn trích này tôi tổ chức hoạt
động cho cả lớp theo các bước sau:
+ Yêu cầu học sinh tìm dấu câu đã có trong đoạn Học sinh xác định có một dấu hai chấm và hai dấu chấm
Tôi kết luận đoạn trích có 3 câu Sau dấu hai chấm là đoạn trích lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh :
Trang 8- Gọi học sinh đọc đoạn trích và hỏi:
+ Đoạn trích này có mấy câu? (3 câu)
- Gọi học sinh đọc câu 2 Cả lớp dùng bút chì gạch chân tên các dân tộc
- Gọi 2 học sinh đọc tên các dân tộc vừa gạch:
Kinh hay Tày Mường hay Dao Gia – rai hay Ê – đê Xơ- đăng hay Ba-na …
- GV hướng dẫn: giữa các dân tộc đặt liền nhau không kèm từ (hay) thì cần ngắt câu để dễ đọc , giáo viên đọc ( hoặc gọi học sinh đọc thử), học sinh
nghe ngữ điệu và đặt dấu phẩy
Các dân tộc này là gì? Các em quan sát câu ở bộ phận “ là gì ” để tìm chỗ cần ngắt câu thì đặt dấu phẩy Cuối cùng cho học sinh đọc lại câu này: Đồng
bào Kinh hay Tày, Mường hay Dao, Gia – rai hay Ê - đê, Xơ – đăng hay Ba – na
và các dân tộc khác đều là con cháu Việt Nam đều là anh em ruột thịt
+ Hướng dẫn học sinh tìm câu 3
- Gọi học sinh đọc câu 3:
+ Tôi hỏi học sinh: Câu này thuộc kiểu câu nào các em đã học? ( Kiểu
câu: Ai làm gì? Ai thế nào?)
Giữa các bộ phận được trả lời cần đặt dấu ngắt câu Cụ thể: Chúng ta làm gì?
(sống chết có nhau) chúng ta thế nào? (sướng khổ cùng nhau/no đói giúp nhau)
- Gọi học sinh lên đặt dấu phẩy HS nhận xét GV chốt lại lời giải đúng;
Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau
Đây là đoạn trích khó đối với học sinh lớp 3 vì phải dùng dấu phẩy để ngăn cách giữa các bộ phận đồng chức trong câu Cũng là khó đối với giáo viên
khi dạy vì không thể giải thích câu theo cấu trúc và chức năng ngữ pháp của các
bộ phận này đối với học sinh Vì thế giáo viên cần hướng dẫn tỉ mĩ cho học sinh
để các em tự làm được các bài tập tương tự hoặc cao hơn
Với dấu phẩy còn có dạng bài tập sau:
Ví dụ 2: Em đặt dấu phẩy vào chỗ nào trong câu?
a Vì thương dân Chử Đồng Tử và công chúa đi khắp nơi dạy dân cách trồng lúa nuôi tằm dệt vải
b Vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiền người khác chị em Xô – phi đã về ngay
c.Tại thiếu kinh nghiệm nôn nóng và coi thường địch thủ Quắm Đen bị
thua
d Nhờ ham học ham hiểu biết và muốn đem hiểu biết của mình ra giúp đời Lê Quý Đôn đã trở thành nhà bác học lớn nhất của nước ta thời xưa
Trang 9“ Bài tập 3 Tiếng Việt 3 tập 2 trang 70”
Dạng bài tập này giúp học sinh nhận biết một số từ ngữ là trạng ngữ cho cả câu, là bổn phận chỉ lí do “hay chỉ nguyên nhân” trong câu, chúng thường luôn
xuất hiện ở đầu câu Khi dạy các bài tập này, GV nên vận dụng kiểu câu có từ để
hỏi: Nơi nào?, Ở đâu?, Vì sao?, Tại sao?, Nhờ đâu?, Để làm gì? học sinh trả lời
được câu hỏi đó sẽ biết dùng dấu phẩy ngắt câu giữa phần phụ và bộ phận chính
của câu Nếu trong câu nêu nhiều nguyên nhân khác thì phải dùng dấu phẩy để
tách câu nguyên nhân đó với nhau
Đối với dạng bài tập có biện pháp tu từ:
- Dạng bài tập có biện pháp “So sánh”
Khi dạy các bài tập này cần phải dựa vào kiến thức từ loại đã được học ở lớp
2 yêu cầu đọc và tìm các câu văn, câu thơ những từ nào chỉ sự vật, chỉ âm thanh
Hỏi học sinh xem những câu thơ, câu văn nào trong đoạn trích có hình ảnh so
sánh, hình ảnh đó so sánh với cái gì? Học sinh trả lời được câu hỏi này sẽ nhận
diện được hình ảnh so sánh; kiểu so sánh và phép so sánh
Ví dụ 1 : bài tập 2 Tiếng việt 3 tập 1 trang 8
Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn dưới đây:
a Hai bàn tay em
Như hoa đầu cành
HUY CẬN
b, Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch
VŨ TÚ NAM
- GV gọi học sinh đọc yêu cầu đề bài
Đối với bài tập này giáo viên nên hướng dẫn học sinh :
+ Tìm các từ chỉ sự vật có trong hai dòng thơ:
+ Học sinh dùng bút chì gạch chân dưới các từ chỉ sự vật:
a Hai bàn tay em Như hoa đầu cành
b Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch
- Giáo viên nêu câu hỏi: Hai bàn tay của bé được so sánh với cái gì? (Hai bàn tay của bé được so sánh như hoa đầu cành)
- Giáo viên hỏi thêm để học sinh hiểu vì sao các sự vật nói trên được so sánh với nhau:
- Vì sao hai bàn tay em được so sánh với hoa đầu cành? ( Vì hai bàn tay của bé nhỏ, xinh như một bông hoa)
Sau đó các em nhận biết thêm về các từ chỉ sự so sánh trong các câu văn,
Trang 10+ Ví dụ 2 ï: Bài tập 1 Tiếng Việt 3 tập 1 trang 42
Tìm các hình ảnh so sánh trong những khổ thơ sau:
“Bế cháu ông thủ thỉ: (1)
- Cháu khoẻ hơn ông nhiều! (2) Ông là buổi trời chiều (3) Cháu là ngày rạng sáng” (4)
PHẠM CÚC
- Gọi học sinh đọc yêu cầu bài tập
- GV hướng dẫn học sinh:
+ Gạch chân dưới những từ chỉ sự vật của từng khổ thơ
Cháu khoẻ hơn ông nhiều Ông là buổi trời chiều
Cháu là ngày rạng sáng
+ Tìm từ chỉ sự so sánh.( hơn, là, là)
+ Kiểu so sánh đó như thế nào? (Ở dòng thơ 2 có kiểu so sánh hơn kém,
dòng 3, 4 có kiểu so sánh ngang bằng)
Từ đó học sinh nhận ra hiện tượng nhân hoá, nêu được cảm nhận bước
đầu về cái hay của những hình ảnh nhân hoá Để các em biết vận dụng biện pháp
nhân hoá giúp cho sự diễn đạt vừa sinh động, mềm mại hơn vừa có tình người,
hồn người
C PHẦN KẾT LUẬN:
1 TÍNH KHẢ THI CỦA ĐỀ TÀI:
Sau khi tôi sử dụng các phương pháp dạy học nêu trên vào lớp mình giảng
dạy Tôi thấy: học sinh tiếp thu bài một cách chủ động hơn, tiết học diễn ra nhẹ
nhàng và hiệu quả rất cao Cụ thể phần lớn học sinh lớp tôi nắm vững từ ngữ, đặt
câu, diễn đạt thành câu, thành ý trọn vẹnï, biết cách làm các dạng bài tập: Mở
rộng vốn từ, bài tập vềø câu, dấu câu, dấu chấm, dấu phẩy, dạng bài tập có biện
pháp so sánh,… So với kết quả khảo sát đầu năm thì tỉ lệ học sinh đạt điểm giỏi,
khá tăng lên rõ rệt, tỉ lệ học sinh yếu giảm nhiều: thể hiện rất rõ qua kết quả
đánh giá giữa kì II như sau:
TỔNG
2 BÀI HỌC KINH NGHIỆM: