1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để lý giải về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam

14 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 900,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh đất nước đang quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, việc nghiên cứu và vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn vào thực tiễn xã hội nước ta là một việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết. Vì vậy em xin lựa chọn phân tích đề tài “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để lý giải về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” làm đề tài cho bài tập lớn học kỳ của mình. Do kiến thức và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế, bài làm không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy (cô) góp ý và chỉnh sửa. Em xin chân thành cảm ơn

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP HỌC KỲ

MÔN: TRIẾT HỌC MÁC LÊ - NIN

ĐỀ BÀI:07

“Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để lý giải về sự

lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam"

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 3

I Khái niệm lý luận và thực tiễn 3

1.1 Thực tiễn: 3

1.2 Lý luận: 3

II Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn 4

2.1 Thực tiễn có vai trò quyết định đối với lý luận 4

2.2 Lý luận có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại thực tiễn 4

III Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 4

IV Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để lý giải về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 8

KẾT LUẬN 12

Trang 3

MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh đất nước đang quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, việc nghiên cứu và vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn vào thực tiễn xã hội nước ta là một việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết Vì

vậy em xin lựa chọn phân tích đề tài “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa

lý luận và thực tiễn để lý giải về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” làm đề tài cho bài tập lớn học kỳ của mình.

Do kiến thức và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế, bài làm không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy (cô) góp ý và chỉnh sửa

Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

I Khái niệm lý luận và thực tiễn

1.1 Thực tiễn:

Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan Thực tiễn có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, thực tiễn là hình thức hoạt động đặc thù người Khái niệm thực tiễn đặc trưng cho hoạt động sống của xã hội loài người

Thứ hai, thực tiễn là hoạt động người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.Đây là điểm khác biệt của thực tiễn so với hoạt động nhận thức

Thứ ba, thực tiễn là hoạt động được chủ thể tiến hành để đạt tới mục đích được đặt ra từ trước

Thứ tư, thực tiễn mang tính chất lịch sử xã hội Đó là những đặc điểm chung của thực tiễn mà nhiều tác giả đã nhất trí

1.2 Lý luận:

Theo nghĩa chung nhất, lý luận là sự khái quát hóa những kinh nghiệm thực tiễn, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội đã được tích lũy trong suốt quá trình tồn tại của nhân loại

Trang 4

Như vậy, lý luận là sản phẩm cao cấp của nhận thức, là tri thức về bản chất, quy luật của hiện thực khách quan Nhưng do là sản phẩm của nhận thức, nên lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

II Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

2.1 Thực tiễn có vai trò quyết định đối với lý luận.

Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là hoạt động vật chất, sản xuất ra mọi thứ, còn lý luận là sản phẩm tinh thần, phản ánh thực tiễn

Thực tiễn là cơ sở, động lực của lý luận Tức là, thực tiễn là bệ phóng, cung cấp các nguồn lực cho lý luận Thực tiễn còn vạch ra tiêu chuẩn cho lý luận Thông qua hoạt động thực tiễn, lý luận mới được vật chất hóa, hiện thực hóa, mới có sức mạnh cải tạo thế giới khách quan

2.2 Lý luận có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại thực tiễn.

Lý luận có vai trò rất lớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người

Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Lênin khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể

có phong trào cách mạng” Lý luận khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành sức mạnh vật chất Lý luận có thể dự kiến được sự vận động của sự vật trong tương lai, chỉ ra những phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn

Lý luận khoa học làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động,

tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát Vì vậy, Bác Hồ đã ví “không có

lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”

Tuy nhiên, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao của sự phản ánh hiện thực nên lý luận có thể xa rời thực tiễn và trở nên ảo tưởng Khả năng tiêu cực

đó càng tăng lên nếu lý luận đó lại bị chi phối bởi những tư tưởng không khoa học hoặc phản động Vì vậy, phải coi trọng lý luận, nhưng không được cường điệu vai trò của lý luận, coi thường thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn

III Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Giữa lý luận và thực tiễn giường như hai mặt tương đối độc lập với nhau nhưng lại có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Trong

Trang 5

đó thực tiễn luôn luôn giữ vai trò quyết định Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa con người và thế giới khách quan Con người luôn tác động tích cực vào thế giới khách quan, tự nhiên và xã hội, cải biến thế giới khách quan bằng thực tiễn Trong quá trình đó sự phát triển nhận thức của con người và sự biến đổi thế giới khách quan là hai mặt thống nhất Điều đó quy định sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động sinh tồn của cá nhân và cộng đồng

Lý luận hình thành và phát triển được xuất phát từ thực tế và đáp ứng nhu cầu thực tiễn Quá trình phát triển nhận thức của con người nhất thiết dẫn đến sự hình thành lý luận Đó không chỉ là sự tổng kết, khái quát từ lịch sử nhận thức mà còn từ nhu cầu của thực tiễn Thực tiễn phong phú đa dạng, luôn vận động và biến đổi, nhưng để hình thành lý luận, trước hết lý luận phải đáp ứng thực tiễn Con người nhận thúc hiện thực khách quan để giải quyết những vấn đề con người quan tâm Năng lực của con người ngày càng được nâng cao chính nhờ khả năng thông qua hoạt động phản ánh, khái quát thành tri thức lý luận Trong sự vô cùng, vô tận của hiện thực khách quan, con người không hề choáng ngợp mà bằng mọi biện pháp để nhận thức Loài người có khả năng trở thành chủ thể nhận thức để phản ánh sự vô tận của hiện thực khách quan, nhưng để đáp ứng hoạt động thực tiễn của con người Đó là những lý luận mang tính phương pháp cho hoạt động cải tạo hiện thực khách quan Mọi hoạt động của con người đều nhằm đạt hiệu quả cao Lý luận, trước hết phải đáp ứng mục đích đó Quan hệ giữa người với người, giữa người với tự nhiên đòi hỏi con người phải có lý luận sâu sắc về chúng Con người hình thành lý luận chủ yếu để làm phương pháp cho hoạt động sáng tạo tri thức, phát minh sáng chế những tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt nhằm nâng cao năng lực sáng tạo của con người Do đó hệ thống lý luận nào góp phần giải quyết đúng đắn, phù hợp mục đích của con người thì được con người quan tâm khái quát Vì lẽ đó lý luận phải đáp ứng nhu cầu phát triển của thực tiễn

Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận khoa học; ngược lại, lý luận khoa học phải được vận dụng vào thực tiễn, kiểm nghiệm trong thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn C.Mác đã từng nói, người thợ xây không bao giờ tinh xảo như con ong xây tổ nhưng người thợ xây hơn hẳn con

Trang 6

ong ở chỗ, trước khi xây dựng một công trình họ đã hình thành được hình tượng của công trình ấy trong đầu họ Tức là hoạt động của con người là hoạt động có ý thức Ban đầu hoạt động của con người chưa có lý luận chỉ đạo, song con người phải hoạt động để đáp ứng nhu cầu tồn tại của mình Thông qua đó, con người khái quát thành lý luận Từ đó những hoạt động của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lý luận soi đường hoạt động thực tiễn của con người mới trở thàng tự giác, có hiệu quả và đạt được mục đích mong muốn Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu xác định lực lượng biện pháp thực hiện Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn,

dự báo được những rủi ro có thể xảy ra, những hạn chế những thất bại có thế

có trong quá trình hoạt động Như vậy lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiệu quả mà còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế và tăng năng lực hoạt động của con người Mặt khác lý luận còn có vai trò giác ngộ mục tiêu,

lý tưởng liên kết các cá nhân thành cộng đồng, tạo thành sức mạnh to lớn của quần chúng trong cải taọ tự nhiên và cải tạo xã hội Chính vì vậy, C.Mác đã

khẳng định: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự

phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”.

Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao song nó còn có tính lịch sử, cụ thể Do đó khi vận dụng lý luận chúng ta cần phân tích một cách cụ thể mỗi tình hình cụ thể Nếu vận dụng máy móc giáo điều, kinh viện thì chẳng những hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch

sự thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn

Lý luận hình thành là kết quả của nhận thức lâu dài và khó khăn của con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn tuy đa dạng phong phú nhưng không phải không có tính quy luật Tính quy luật của thực tiễn được khái quát dưới hình thức lý luận Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp mà còn là định hướng cho hoạt động thực tiễn Đó là định hướng mục tiêu, biện pháp sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ trong hoạt động thực tiễn Không những thế, lý luận còn định hướng

mô hình của hoạt động thực tiễn Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn,

Trang 7

trước hết từ lý luận để xây dựng mô hình thực tiễn theo những mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễn biến, các mối quan hệ lực lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong quá trình phát triển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao hơn

Lý luận tuy là lôgíc của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu hơn so với thực tiễn Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám bám sát diễn biến của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý luận, hoặc có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn

Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn còn được làm sáng tỏ cụ thể hơn khi xem xét nó từ quan hệ giữa chủ thể và khách thể Thực tiễn là khâu trung gian cơ bản giữa chủ thể và khách thể, thực tiễn là hình thức liên hệ thực tại khách quan nhờ đó chủ thể tự đối tượng hóa bản thân, các ý định, các mục đích của mình Điều này cho thấy thực tiễn và lý luận không thể tuyệt đối độc lập với nhau Bởi vì quan hệ lý luận giữa con người và khách thể không bao giờ tách rời, biệt lập với thực tiễn Hơn nữa, lý luận bao giờ cũng phục tùng thực tiễn, phục vụ thực tiễn và lý luận bao giờ cũng phát triển trên cơ sở cải tạo thực tiễn của xã hội Vì vậy không có sự đối lập giữa lý luận và thực tiễn, tính độc lập của lý luận chỉ là tương đối, lý luận cách mạng không phải hoàn toàn là thực tiễn cách mạng, tuy nhiên do lý luận được sinh ra bởi các nhu cầu của thực tiễn xã hội nên lý luận cách mạng trở thành một bộ phận của thực tiễn xã hội

Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong sự phản ánh hiện thực nên lý luận có khả năng xa rời thực tiễn và trở thành ảo tưởng Vì thế, không được cường điệu vai trò của lý luận, mặt khác không được xem nhẹ thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn Điều đó cũng

có nghĩa là phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng Nếu không bám sát thực tiễn cuộc sống chúng ta sẽ không thể có lý luận, không thể có khoa học, không xác định nổi bất kỳ đề tài khoa học nào với đúng nghĩa của nó Và lý luận trở thành lý luận suông

Trên cơ sở nhận thức và vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn phải chống bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều Chúng ta coi

Trang 8

trọng kinh nghiệm thực tiễn và không ngừng tích luỹ vốn kinh nghiệm quý báu đó Song chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, thỏa mãn với vốn kinh nghiệm của bản thân, coi kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa kinh nghiệm đồng thời coi nhẹ lý luận, ngại học tập, nghiên cứu lý luận, ít am hiểu lý luận, không quan tâm tổng kết kinh nghiệm để đề xuất lý luận thì sẽ rơi vào lối suy nghĩ giản đơn, tư duy áng chừng, đại khái, phiến diện thiếu tính lô gic, tính hệ thống, do đó, trong hoạt động thực tiễn thì mò mẫm, tuỳ tiện, thiếu tính đồng

bộ về lý luận trong tất cả các lĩnh vực do vậy dễ rơi vào bệnh kinh nghiệm chủ nghiã

Tóm lại, quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là một quá trình mang tính lịch sử xã hội cụ thể Đây là quan hệ thống nhất biện chứng nắm bắt được tính biện chứng của quá trình đó là tiền đề quan trọng bậc nhất giúp chúng ta có một lập trường thực tiễn sáng suốt, tránh được chủ nghĩa thực dụng, máy móc Điều đó cũng có nghĩa là phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng Như Bác

Hồ đã khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc

căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”.

IV Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để lý giải về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Nguyễn Ái Quốc là một trong số ít các nhà yêu nước đầu tiên ở các nước thuộc địa tiếp thu được “ánh sáng kỳ diệu” từ bản Luận cương của V.I.Lênin, nhận thức và nắm bắt được xu hướng phát triển của thời đại mới từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga Sự kiện Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (tháng 12/1920) có

ý nghĩa quan trọng: trở thành người cộng sản đầu tiên của giai cấp công nhân

và nhân dân lao động Việt Nam, chính thức đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở nước ta vào quỹ đạo cách mạng vô sản thế giới, gắn liền độc lập dân

tộc với chủ nghĩa xã hội (CNXH) Đây là “sự khẳng định một hướng đi mới,

nguyên tắc chiến lược mới, mục tiêu và giải pháp hoàn toàn mới, khác về căn bản so với các lãnh tụ của các phong trào yêu nước trước đó ở Việt Nam; đưa cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, tức là

Trang 9

sự nghiệp cách mạng ấy phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy

hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng”.

Tư duy lý luận về lựa chọn con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đáp ứng hai câu hỏi lớn đặt ra cho dân tộc Việt Nam: làm thế nào để giải phóng dân tộc khỏi ách cai trị của đế quốc, thực dân, giành lại nền độc lập, tự do cho nhân dân; lựa chọn con đường, phương thức nào để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước phù hợp với xu thế đi lên của thời đại mới Nói cách khác, với việc lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn, chủ trương “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, Nguyễn Ái Quốc đã giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân

tộc kéo dài 2/3 thế kỷ: “Lịch sử dường như đã chuẩn bị sẵn cho dân tộc Việt

Nam đi vào thời kỳ hiện đại bằng miếng đất sẵn sàng được gieo trồng, và bằng những nông phu sẵn hạt giống trong tay Miếng đất ấy là nhân dân có truyền thống đấu tranh bất khuất; giống đó là chủ nghĩa Mác - Lênin; người thứ nhất gieo giống đó là Nguyễn Ái Quốc”.

Sự lựa chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của Nguyễn Ái Quốc dựa trên cơ sở lý luận và khoa học, dựa trên thực tiễn vận động và đòi hỏi của phong trào cách mạng Việt Nam Từ nghiên cứu lý

luận, tổng kết thực tiễn, Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải

phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH được nêu lên trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, phản ánh sự lựa chọn khách quan của chính thực tiễn - lịch

sử, phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại, đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu bức thiết của đại đa số các tầng lớp

nhân dân Việt Nam: “Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có

độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm

1930 với sự ra đời của Đảng ta trong lúc các phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch

sử đều lần lượt thất bại”.

Trang 10

Đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, không còn con đường nào khác ngoài con đường đi lên CNXH; cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, vận động và phát triển theo quỹ đạo cách mạng

vô sản và trào lưu phát triển của thời đại mới từ sau Cách mạng Tháng Mười

Nga: “Hồ Chí Minh đã chọn con đường Lênin, con đường Cách mạng Tháng

Mười Nga Đối với Người, đó là “cẩm nang thần kỳ” đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đến thành công; và trên thực tế, thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã xác nhận tính đúng đắn của sự lựa chọn đó”.

Thực tiễn vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam sau năm

1930 cho thấy: sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản theo tư tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn sáng suốt, duy nhất đúng đắn, với vai trò to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc

-Hồ Chí Minh, người tìm đường, mở đường và dẫn đường cho dân tộc Việt Nam

Đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh Với cách mạng Việt Nam, ngay từ đầu, CNXH không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự là động lực thúc đẩy

lịch sử phát triển: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là

sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” Qua các giai đoạn cách

mạng khác nhau, khuynh hướng chính trị bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tiến lên CNXH ở nước ta đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn, ăn sâu bám rễ trong lòng xã hội Việt Nam

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là đường lối chiến lược nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam được khẳng định rõ trong Cương lĩnh đầu tiên năm 1930, các văn kiện của Đảng và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) Đây vừa là bài học lớn, xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng trong 90 năm qua, vừa là cội nguồn dẫn đến mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng CNXH, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước

Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng chính là động lực to lớn động viên, tập hợp, huy động sức mạnh tinh

Ngày đăng: 29/03/2021, 21:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w