1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỰ THỐNG NHẤT BIỆN CHỨNG GIỮA lí LUẬN và THỰC TIỄN và sự vận DỤNG QUY LUẬT này vào QUÁ TRÌNH đổi mới ở VIỆT NAM

56 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 263 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết cấu của đề tài Đề tài gồm 2 chương và 5 tiết CHƯƠNG 1 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN Vấn đề thống nhất giữa lý luận và thực tiễn giữ vai trò rất quan trọng trongtriết học

Trang 1

Môn : Triết học

TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Tình hình nghiên cứu

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn

6 Kết cấu của đề tài

1.2.1.Quan niệm về bản chất của nhận thức trong triết học trước Mác

1.2.2.Quan niệm về bản chất của nhận thức trong triết học Mác – Lênin

CHƯƠNG 2

SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1.VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC

2.1.1 Thực tiễn là cơ sở của nhận thức

2.1.2.Thực tiễn là động lực của nhận thức

2.1.3 Thực tiễn là mục đích của nhận thức

Trang 4

2.1.4 Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý

2.2.SỰ TÁC ĐỘNG TRỞ LẠI CỦA LÍ LUẬN ĐỐI VỚI THỰC TIỄN

2.2.1.Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn

2.2.2.Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động thực tiễn

2.2.3.Lý luận và thực tiễn là sự thống nhất

2.3.SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.3.1.Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong công cuộc đổi mới ở ViệtNam

2.3.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn

KẾT LUẬN

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vậnhành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xãhội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo thực tiễnnền kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng.Ngày nay, triết học

là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất cứ hình thái kinh tếnào Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn, phương phápbiện chứng… luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thựctiễn, xây dựng và phát triển xã hội Nếu xuất phát từ một lập trường triết họcđúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết phù hợp với cácvấn dề do cuộc sống đặt ra Việc chấp nhận hay không chấp nhận một lậptrường triết học nào đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế giớiquan nhất định, một cách lý giải nhất định về thế giới, mà còn là sự chấp nhậnmột cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động

Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủnghĩa Mác Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triếthọc của chủ nghĩa Mác Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính ưuviệt hơn cả Trên cơ sở nền tảng triết học Mác – Lênin, Đảng và Nhà nước ta

đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướngchỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp vớihoàn cảnh đất nước Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏisong chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế,

Trang 6

từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới

về mọi mặt Chính những thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội và quamười năm đổi mới là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên Vì vậy, em

quyết định chọn đề tài “Sự thống nhất biện chứng giữa lí luận và thực tiễn và

sự vận dụng quy luật này vào quá trình đổi mới ở Việt Nam ”.

2 Tình hình nghiên cứu

Sự tất thắng của chủ nghĩa cộng sản, sự thay thế xã hội tư bản chủ nghĩabằng xã hội cộng sản chủ nghĩa trong tiến trình lịch sử của nhân loại là mộtquy luật khách quan Việt Nam hiện nay đang ở vào thời kỳ quá độ, chúng ta

đã bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội Vì vậytrong quá trình phát triển, luôn luôn nảy sinh những mâu thuẫn cần giải quyết.Với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chính phủ, chúng ta đã có những chiếnlược và sách lược đúng đắn

Trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin, đặc biệt là lý luận triếthọc Mác- Lênin, chúng ta đã vạch rõ được con đường phát triển kinh tế đúngđắn đó là: ”luôn luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và hoạt động theo quyluật khách quan.’(Trích’Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI”) Từnăm 1986, chúng ta đã tổng kết được những bài học kinh nghiệm quý báu đểđổi mới và cải cách kinh tế Xây dựng một nền kinh tế thị trường, một nềnkinh tế nhiều thành phần, lành mạnh chính là sự vận dụng sáng tạo quan điểmchỉ đạo của Đảng vào thực tiễn hoàn cảnh trong nước và trên thế giới Nhữngquan điểm đổi mới, tiến bộ đó là sự tôn trọng hoàn toàn những lý luận nhậnthức và thực tiễn chi phối nền kinh tế

Trang 7

Đứng trên quan điểm triết học Mác- Lênin, ta càng có cơ sở để khẳngđịnh những khởi sắc trong mười năm đổi mới cho dến nay từ sau Đại hộiĐảng lần thứ VI là những thành công mang tính tất yếu do chúng ta đã vậndụng đúng đắn các quy luật khách quan vào cải tạo thực tiễn Chúng ta đã tôntrọng những bước phát triển có tính quy luật của lịch sử, không đi ngược lại

“guồng quay” của lịch sử

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

Luôn luôn gắn lý thuyết với thực hành, nắm vững kiến thức thông qua

sự hiểu biết sâu rộngvấn đề là một phương châm hành động của chúng tatrong thời đại mới Nghiên cứu lý luận nhận thức và thực tiễn là một sự nghiêncứu sâu rộng của triết học trong mối liên quan với phát triển kinh tế và pháttriển xã hội

Hơn thế nữa, đứng trước ngưỡng cửa thế kỷ 21, khi mà xu thế hội nhậpđang tăng cao, nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ thì các hành độngđều xuất phát từ quá trình nhận thức và cải tạo thực tiễn là phương châm chỉđạo và hoạt động của Đảng, Nhà nước ta.Muốn phát triển kinh tế vững mạnhthì phải luôn đặt nó với mối quan hệ với những khoa học khác, đặc biệt là triếthọc Sự thành công hay thất bại, phát triển hay lạc hậu của bất cứ nền kinh tếnào là do có lập trường triết học đúng đắn Bởi vì xuất phát từ một lập trườngtriết học đúng đắn, con người có thể có được cách giải quyết phù hợp vớinhững vấn đề do cuộc sống đặt ra Còn ngược lại, xuất phát từ một lập trườngtriết học sai lầm, con ngưòi khó có thể tránh khỏi hành động sai lầm Tronghoạt dông kinh tế, một lập trường triết học đúng đắn là tối cần thiết Chỉ cótriết học Mác – Lênin mới có được những tính ưu việt này

Trang 8

4 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của đề tài chủ yếu dựa trên thế giới quan và phương phápluận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra ,

đề tài còn sử dụng phương pháp khác như : phương Pháp phân tích - tổng hợp,

hệ thống - cấu trúc, Lôgic - lịch sử trong quá trình giải quyết các vấn đề đượcnêu ra ở niên luận.đồng thời tổng hợp các phương pháp nghiên cứu dưới gốc độtiếp cận của triết học lịch sử theo hệ thống quy nạp ,diễn dịch

5 Ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn

Đại hội Đảng lần thứ VI đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trongquá trình phát triển kinh tế của Việt Nam Trước văn kiện này, những bài họckinh nghiệm đã được rút ra trong triết học Mác – Lênin và Đảng ta lấy đó làm

“kim chỉ nam’ cho hoạt động của mình Triết học là một bộ phận cấu thànhcủa chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ rõ; triết học của chủ nghĩa Mác là chủ nghĩaduy vật Nhưng Mác không dừng lại ở chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII mànhững thiếu sót chủ yếu nhất của nó là máy móc, siêu hình và duy tâm khixem xét các hiện tượng xã hội C.Mác và Ănghen đã khắc phục những thiếusót ấy, đẩy triết học tiến lên hơn nữa bằng cách tiếp thu một cách có phê phán

và có chọn lọc những thành quả của triết học cổ điển Đức và nhất là của hệthống triết học Hêghen Trong những thành quả đó thì thành quả chủ yếu làphép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức toàn diệnnhất, sâu sắc nhất và thoát hẳn được tính phiến diện Nhưng phép biện chứngcủa Hêghen là phép biện chứng duy tâm nên Mác và Ănghen đã cải tạo nó.Chính trong quá trình cải tạo này, Mác và Ănghen đã gắn phép biện chứngHêghen với thực tiễn, phát triển tiếp tục chủ nghĩa duy vật cũ, đẩy nó lênthành chủ nghĩa duy vật bịên chứng.Vì vậy chính Mác và Ănghen đã xây dựng

Trang 9

một triết học mới với thế giới quan duy vật nhất quán trong việc nhận thức xãhội Cơ sở của những lí luận trong học thuyết đó là những quy luật khách quan

và thực tiễn xã hội (“Triết học Mác- Lênin”- Chương trình cao cấp Tập I;Tậpsan triết học).Vậy trong quá trình xây dựng nên triết học Mác, C.Mác vàĂnghen đã luôn đi từ thực tiễn và những quy luật khách quan để định hướng

lý luận nghiên cứu Những lý luận đó vì thế có cơ sở khoa học vững chắc,không sa vào siêu hình hay nhị nguyên luận như các nhà triết học đi trước

Để chỉ đạo hoạt động được đúng đắn, triết học Mác- Lênin chính là nềntảng bền vững cho mọi mục tiêu, phương hướng phát triển mọi mặt của Đảng

và Nhà nước ta

6 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm 2 chương và 5 tiết

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN

Vấn đề thống nhất giữa lý luận và thực tiễn giữ vai trò rất quan trọng trongtriết học xã hội chủ nghĩa Mác.Tầm quan trọng đó được chỉ rõ: “Quan điểm vềđời sống về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận

phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sựquản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay đã

và đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi trên phương diện lý luận khoa học phảinghiên cứu, tổng hợp thành lý luận chỉ đạo thực tiễn, điều chỉnh hoạt động thựctiễn theo đúng hướng, đạt hiệu quả cao Kinh nghiệm đấu tranh, bảo vệ và xây

Trang 10

chúng ta đều biết rằng ,thực tiễn là những hoạt động có tính lịch sử- xã hội làmbiến đổi thế giới tự nhiên và xã hội, còn lý luận là hệ thống những tri thức đượckhái quát từ thực tiễn, phản ánh mối liên hệ bản chất, những tính quy luật củathế giới khách quan.Vì vậy trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nướcĐảng và Nhà nước luôn quán triệt quan điểm này Bởi vì, những vần đế như lýluận nhận thức, thực tiễn, phương pháp biện chứng…luôn là cơ sở là phươnghướng là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội Nếuchúng ta nhận thực một cách đúng đắn thì có thể giải quyết được các vấn đề màcuộc sống đang đặt ra.

Trên cơ sở nền tảng triết học Mác-Lênin, Đảng và Nhà nước ta luôn họctập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạochính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đấtnước Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn

đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước

ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới về mọi mặt

1.1.PHẠM TRÙ THỰC TIỄN VÀ PHẠM TRÙ LÝ LUẬN

1.1.1.Phạm trù thực tiễn

Phạm trù thực tiễn không phải chỉ là phạm trù lý luận nhận thức, khôngphải chỉ là phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà còn là một trongnhững phạm trù nền tảng, cơ bản của toàn bộ triết học Mac-Lênin, xung quanhvấn đề thực tiễn đã có rất nhiều các trường phái triết học bàn đến

Quan điểm của các nhà triết học duy tâm về thực tiễn

Theo các nhà triết học duy tâm , thực tiễn được hiểu là hoạt động tinhthần chứ không phải là hoạt động hiện thực, hoạt động cảm tính của con người.Pitago cho rằng “con số là bản chất của tất cả những cái đang tồn tại.Con số sinh

Trang 11

ra tính đa dạng của thế giới , thiết lập nên “trật tự” vũ trụ và “trật tự’ xã hội.Chonên nhận thức cấu tạo và quy luật của thế giới chính là nhận thức những con sốchi phối, điều khiển thế giới, vạn vật.Theo ông cái gì tồn tại là cái có số đo vàchỉ có cái đo được thì mới tồn tại Pitago cho rằng tất cả mọi thứ đều có thể giảithích được bằng những con số, trong đó bao gồm cả những ý nghĩ về công lý

Trong hệ tư tưởng Đức Mac-Ăngghen đã chỉ trích “phái Heghen trẻ chorằng những quan niệm, ý niệm, khái niệm, nói chung những sản phẩm của ýthức mà họ gán cho là có một sự tồn tại độc lập, đều là những xiềng xích thực sựđối với con người, giống như phái Heghen già tuyên bố và coi chúng là những

sợ dây ràng buộc thực sự đối với xã hội loài người, cho nên dĩ nhiên là pháiHeghen trẻ chỉ tiến hành đấu tranh với ảo tưởng đó của ý thức mà thôi Vì theo

họ tưởng, những quan hệ của con người, tất cả mọi hành động và cử chỉ của conngười, mọi xiềng xích và giới hạn đối với con người đều là sản phẩm ý thức của

họ, nên phái Hegel trẻ đã đề xuất một cách hoàn toàn logic với con người mộtmệnh đề đạo đức là: đổi ý thức hiện nay của mình lấy ý thức con người , có tínhphê phán hay ích kỷ và do đó, xóa bỏ những giới hạn đối với mình.Đòi hỏi đổi ýthức như vậy thì chẳng khác gì đòi hỏi giải thích một cách khác đang tồn tại,nghĩa là thừc nhận cái đang tồn tại bằng cách giải thích nó khác đi.Mặc dầu họ

đã dùng những lời lẽ khoa trương dường như “làm đảo lộn thế giới”, các nhà tưtưởng của phái Hêghen trẻ vẫn là những kẻ đại bảo thủ Những người trẻ nhấttrong bọn họ đã tìm được những từ ngữ chính xác để chỉ hoạt động của họ, khi

họ tuyên bố rằng họ chỉ đấu tranh chống lại “những cái nói” Họ chỉ quên mộtđiều là ngoài những câu nói ra họ chẳng có gì khác hơn để chống lại những câu

Trang 12

với ý niệm, ở hoạt động tư tưởng, thực chất họ đã gạt bỏ vai trò của thực tiễnkhỏi nhận thức lý luận khoa học.

Quan niệm của các nhà triết học duy vật trước Mác về thực tiễn

Các nhà triết học duy vật trước Mac đã có công lớn trong việc phát triểnthế giới quan duy vật, đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyếtkhông thể biết.Tuy nhiên hạn chế lớn nhất của họ là không thấy được vai trò, ýnghĩa của thực tiễn đối với nhận thức lý luận khoa học, họ hoàn toàn thiếu quanđiểm thực tiễn, ngay cả Feuerbach – nhà triết học duy vật trước Mác cũng khôngthấy được hoạt động vật chất cảm tính có tính năng động của con người Mác đãnhận xét “ Đành rằng so với các nhà duy vật “thuần túy” thì Feuerbach có ưuđiểm lớn là ông thấy rằng con người cũng là một “đối tượng cảm giác”; chứkhông phải là “hoạt động cảm giác được”, vì cả ở đây nữa, ông vẫn bám vào lýluận và không xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ,trong những điều kiện sinh hoạt nhất định của họ, những điều kiện làm cho họtrở thành những con người đúng như họ đang tồn tại, thì Feuerbach cũng khôngbao giờ đi tới được những con người đang tồn tại và hành động thực sự, mà ôngvẫn cứ dừng lại ở một sự trừu tượng : “ Con người”, và có thể nhận ra con người

“hiện thực, cá thể, bằng xương, bằng thịt” chỉ trong tình cảm thôi, nghĩa là ôngkhông biết đến những “ quan hệ con người”, “giữa người với người”, nào khác,ngoài tình yêu và tình bạn, hơn nữa lại là tình yêu và tinh bạn được lý tưởnghóa.Ông không phê phán những điều kiện sinh hoạt hiện tại Như vậy Feuerbachkhông bao giờ hiểu được rằng thế giới cảm giác được là tổng số những hoạtđộng sống và cảm giác được của những cá nhân họp thành thế giới ấy, vì vậykhi ông nhìn thấy chẳng hạn một đám đói, còi cọc, kiệt quệ vì lao động và holao, chứ không phải những người khỏa mạnh thì ông phải lẩn trốn và trong

Trang 13

“quan niệm cao hơn” và trong “ sự bù trừ”, lý tưởng “trong loài”, nghĩa là ônglại rơi vào chủ nghĩa duy tâm, đúng ở chỗ mà người duy vật cộng sản chủ nghĩanhìn thấy cả sự tất yếu lẫn điều kiện của một sự cải tạo cả nền công nghiệp lẫn

luận là hoạt đích thực của con người Như vậy ông đã coi thường hoạt động thựctiễn, xem thực tiễn là cái gì có tính chất con buôn, bẩn thiểu và không hiểu đượcvai trò của thực tiễn đối với nhận thức cải tạo thế giới.Chủ nghĩa duy vật trướcMác đã thừa nhận về khả năng nhận thức con người và coi nhận thức là sự phảnánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người.Tuy nhiên do hạn chếbởi tính trực quan, siêu hình nên chủ nghĩa duy vật trước Mác đã coi nhận thức

là sự phản ánh trực quan, là bản sao chép nguyên xi trạng thái bất động của sựvật Họ chưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Như vậy có thểnói, tất cả các trào lưu triết học trước Mác- Lênin đều quan niệm sai lầm hoặcphiến diện về nhận thức, những vấn đề về lý luận nhận thức chưa được giảiquyết một cách khoa học, đặt biệt chưa thấy được vai trò của thực tiễn đối vớinhận thức

Quan điểm của Chủ nghĩa Mac Lênin về thực tiễn

Chủ nghĩa Mac-Lênin cho rằng con người tự làm ra lịch sử của mìnhnhưng không phải bằng hoạt động lý luận mà bằng hoạt động thực tiễn, cải tạothế giới hiện thực.Chính Mac-Ăngghen- Lênin là những người đầu tiên tronglịch sử triết học đã đưa thực tiễn vào lý luận nhận thức, đã đưa quan điểm đúngđắn về bản chất của thực tiễn.Do đó đã đem lại một quan điểm khoa học về vaitrò ý nghĩa của thực tiễn đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và pháttriển của xã hội loài người.Mác-Ănghen cho rằng: “ chúng ta không xuất phát

từ những điều kiện mà con người nói, tưởng tượng, hình dung, cũng không xuất

Trang 14

phát từ những con người chỉ tồn tại trên lời nói, trong ý nghĩ, trong tưởng tượng,trong biểu tượng của người khác, để từ đó mà đi tới những con người bằngxương bằng thịt; không, chúng ta xuất phát từ những con người đang hành động,hiện thực và chính là xuất phát từ quá trình đời sống hiện thực của họ mà chúng

ta mô tả sự phát triển của những phản ánh tư tưởng và tiếng vang tư tưởng củaquá trình đời sống ấy Ngay cả những ảo tưởng hình thành trong đầu óc conngười cũng là những vật thăng hoa tất yếu của quá trình đời sống vật chất của

họ, một quá trình có thể xác định được bằng kinh nghiệm và gắn liền với nhữngtiền đề vật chất” “Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sốngquyết định ý thức.Theo cách xem xét thứ nhất, người ta xuất phát từ ý thức, coi

đó là cá nhân sống’; theo cách thứ hai, là cách phù hợp với đời sống hiện thực,người ta xuất phát từ chính ngay những cá nhân hiện thực và sống và coi ý thứcchỉ là ý thức của họ mà thôi”

Như vậy ,thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ toàn bộ hoạt động củacon người mà chỉ là những hoạt động vật chất mà theo Mác hoạt động vật chất

là hoạt động cảm tính của con người Nói thực tiễn là hoạt động vật chất, cónghĩa là: trong quá trình hoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng cácphương tiện, công cụ vật chất, sức mạnh vật chất của mình tác động vào tựnhiên, xã hội để cải tạo làm biến đổi chúng phù hợp với nhu cầu của mình, chonên hoạt động thực tiễn là sự tương tác giữa chủ thể và khách thể trong đó chủthể hướng vào việc cải tạo khách thể trên cơ sở đó mà nhận thức khách thể, vìvậy thực tiễn trở thành mắt khâu trung gian nối liền ý thức con người với thếgiới bên ngoài.Thực tiễn là những hoạt động vật chất mang tính chất loài, hoạtđộng vật chất đó không thể được tiến hành chỉ bằng từng con người riêng lẻ màphải bằng hoạt động đông đảo của quần chúng nhân dân trong xã hội; đó là hoạt

Trang 15

động của nhiều tầng lớp, nhiều giai cấp, chủ thể là cả xã hội ở một giai đoạn lịch

sử nhất định Do đó xét về nội dung cũng như về phương thức thực hiện, thựctiễn có tính lịch sử -xã hội

Thực tiễn của con người được tiến hành dưới nhiều hình thức.Trong quátrình hoạt động cải tạo thế giới, con người tạo ra một hiện thực mới, một “thiênnhiên thứ hai” Đó là thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất, những điều kiệnmới cho sự tồn tại của con người, những điều kiện này không được giới tự nhiênmang lại dưới dạng có sẵn Đồng thời với quá trình đó, con người cũng pháttriển và hoàn thiện bản thân mình.Chính sự cải tạo hiện thực thông qua hoạtđộng thực tiễn là cơ sở của tất cả những biểu hiện khác có tính tích cực, sáng tạocủa con người.Con người không thích nghi một cách thụ động mà thông quahoạt động của mình, tác động một cách tích cực để biến đổi và cải tạo thế giớibên ngoài Hoạt động đó chính là thực tiễn

Hình thức cơ bản đầu tiên của hoạt động thực tiễn là hoạt động sản xuấtvật chất Đây là hoạt động thực tiễn quan trọng nhất, nguyên thủy nhất và cơ bảnnhất, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người và quyết địnhcác hình thức khác của hoạt động thực tiễn.Thực tiễn sản xuất vật chất là tiền đềxuất phát để hình thành những mối quan hệ đặc biệt của con người với thế giới,giúp con người thoát ra khỏi khuôn khổ tồn tại của các loài vật

Thực tiễn còn là hoạt động chính trị -xã hội, hoạt động này xuất hiện khi

xã hội phân chia thành giai cấp, đó là hoạt động đấu tranh giai cấp, đấu tranhgiải phóng dân tộc, đấu tranh cho hòa bình, đấu tranh chính trị là hoạt động đấutranh cách mạng nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, chế

độ xã hội, đồng thời làm địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo ra nhữngmôi trường xã hội xứng đáng với bản chất con người bằng cách đấu tranh giai

Trang 16

cấp và cách mạng xã hội Trong bức thư gửi công nhân và nông về việc chiếnthắng côn-tsắc Lênnin đã viết: “Muốn bảo vệ chính quyền của công nông đểchống bọn ăn cướp, tức bọn địa chủ và bọn tư bản,chúng ta phải có Hồng quânmạnh mẽ.Chúng ta đã chứng tỏ, bằng hành động chứ không phải bằng lời nói,rằng chúng ta có khả năng thành lập được Hồng quân, rằng chúng ta đã họcđược cách chỉ huy Hồng quân và đánh thắng bọn tư bản, mặc dầu bọn này đượcnhững nước giàu có nhất trên thế giới tiếp tế dồi dào về vũ khí và quân trang,quân dụng.Những người Bôn-sê-vích đã chứng tỏ điều đó bằng hành động.Tất

cả những công nhân và nông dân, nếu có ý thức, thì phải tin vào những ngườiBô-sê-vích, nhưng không phải tin trên lời nói mà tin vào cơ sở kinh nghiệm củahành triệu và hàng triệu người ở U-ran và Xi-bi-ri” Như vậy hoạt động đấu tranhchính trị xã hội giữ vai trò quan trọng để cải tạo và biến đổi xã hội sao cho tốtđẹp hơn

Cùng với sự ra đời và phát triển của khoa học, một hình thức cơ bản kháccủa hoạt động thực tiễn cũng xuất hiện đó là hoạt động thực nghiệm khoa học.Cần lưu ý, chỉ những hoạt động thực nghiệm khoa học chứ không phải toàn bộhoạt động khoa học vì thực tiễn trong hoạt động khoa học có cả hoạt động lýthuyết và lý luận khoa học

Từ những hình thức cơ bản trên, những hình thức không cơ bản của hoạtđộng thực tiễn hình thành, đó là: các hoạt động nghệ thuật; giáo dục; tôn giáo;đạo đức…, sở dĩ gọi là không cơ bản vì những hình thức này chúng được hìnhthành và phát triển từ những hình thức cơ bản, chúng phụ thuộc vào những hìnhthức cơ bản, chúng là những hình thức thực tiễn tái sinh “Như vậy, hoạt độngcủa con người rất đa dạng và phong phú.Chúng được thể hiện trong tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội.Tuy nhiên khái quát lại ta thấy có hai dạng hoạt

Trang 17

động cơ bản và bao trùm nhất: hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần.Trong

đó hoạt động vật chất là nền tảng toàn bộ đời sống xã hội, nó quy định hoạt

Từ những sự phân tích ở trên, ta có thể rút ra kết luận về thực tiễn như

sau: Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mụch đích, mang tính lịch sử- xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.Chúng ta cũng

có thể hiểu thực tiễn là: “phạm trù triết học chỉ toàn bộ hoạt động vật chất củacon người cải tạo thế giới khách quan( giới tự nhiên, xã hội, con người cùng ý

1.1.2 Phạm trù lý luận

Song với phạm trù thực tiễn trong triết học Mác-Lênin là phạm trù lýluận Sự phát triển nhận thức loài người tất yếu dẫn đến sự xuất hiện lý luận, lýluận là sự phát triển cao của nhận thức đồng thời thể hiện trình độ của nhậnthức Lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phảnánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan

Để có lý luận nhận thức nhận loại phải trải qua hai trình độ

Tri thức kinh nghiệm

Đây là loại tri thức chủ yếu thu được từ quan sát kinh nghiệm, nẩy sinhtrực tiếp từ thực tiễn, từ lao động, sản xuất đến đâu tranh xã hội hoặc các thínghiệm.Có hai loại tri thức kinh nghiệm đó là tri thức kinh nghiệm thông thường

và tri thức kinh nghiệm khoa học.Tri thức kinh nghiệm thông thường còn gọi làtri thức tiền khoa học, nó thu được từ những sự quan sát hàng ngày trong đờisống xã hội, trong lao động sản xuất, những kinh nghiên này được tổng kết trongcác câu ca dao tục ngữ:

“Nhất nước nhì phân

Trang 18

Tam cần tứ giống”

“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

Bay cao thì nắng,bay vừa thì răm”

“Chóp đông nhay nháy,gà gáy thì mưa

Tháng ba mưa đám, tháng tám mưa cơn

Gío heo mây chẳng mưa dầm thì bảo giật”

“Đêm trời tang trăng sao không tỏa

Ấy là điềm mưa gió tới nơi

Đêm nào sao dáng xanh trời

Ấy là nắng ráo yên vui suốt ngày

Những ai chăm việc cấy cày

Điềm trời trong đó liệu xoay việc làm

Trong quá trình phát triển của xã hội hai loại tri thức này càng thân nhậplẫn nhau, bổ sung và hoàn thiện cho nhau.Vai trò của tri thức kinh nghiệmkhông thể thiếu được trong cuộc sống hành ngày của con người và càng có vaitrò quan trọng trong đấu tranh cách mạng, nhất là trong sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội Hạn chế của tri thức kinh nghiệm chỉ đem lại sự hiểu biết về cácmặt riêng rẽ, về các mối liên hệ bên ngoài của sự vật mang tính riêng lẻ tẻ rờirạc.Ở trình độ kinh nghiệm chưa nắm bắt được cái tất yếu sâu sắc nhất, mối liên

hệ bản chất nhất của sự vật hiện tượng, vì vậy Lênin cho rằng sự biểu tượng gầnnhư sự vật nhưng lại xa sự vật hơn

Tri thức lý luận

Là tri thức khái quát từ tri thức kinh nghiệm, nó tồn tại trong hệ thốngkhái niệm, phạm trù quy luật của lý luận nói chung Khác với tri thức kinh

Trang 19

nghiệm, tri thức kinh nghiệm mang tính trừu tượng; do vậy, nhận thức lý luận lànhận thức hướng vào bản chất của quy luật của sự vật hiện tượng.Hạn chế củatri thức lý luận là do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong phản ánh hiện thựcnên dễ dẫn đến khả năng lý luận xa rời thực tiễn và trở thành ảo tưởng giáo điều,

đó là những hệ tư tưởng không khoa học phản động và độc quyền về chân lý.Vìvậy, phải coi trọng lý luận nhưng không được cường điệu vai trò lý luận, coithực tiễn, tách rời thực tiễn, xa rời thực tiễn Mac-Ăngnghen cho rằng: “cácnguyên lý không phải là điểm xuất phát của sự nghiên cứu mà là kết quả cuốicùng của nó; những nguyên lý ấy không phải được ứng dụng vào giới tự nhiên

và lịch sử loài người, mà được rút ra từ giới tự nhiên và lịch sử loài người;không phải giới tự nhiên và loại người phải phù hợp với các nguyên lý, mà tráingược lại các nguyên lý chỉ đúng trong chừng mực chúng phù hợp với giới tự

Ở đây chúng ta cần phải xét thực tiễn và hoạt động khác nhau ở điểmnào? Có rất nhiều tác giả đã đồng nhất hai khái niệm này với nhau, nhưng ở đâyhoạt động, chúng ta có thể hiểu theo nghĩa chung nhất là phương thức tồn tại

và phát triển hiện thực lịch sử Một số tác giả đã dựa vào câu nói của Mác “Đờisống xã hội, về thực chất, là có tính chất thực tiễn”- để đồng nhất hai khái niệm

“thực tiễn và hoạt động” Ở đây chúng ta không thể đồng nhất hai khai niệm

“thực tiễn” và “hoạt động” Câu nói mang tính nguyên tắc của đó của Mác cầnphải được hiểu là: Thực tiễn là phương thức mà con người tác động qua lại vớithế giới và cải tạo thế giới đó Mác đem quan điểm đó đối lập lại với quan điểmcủa chủ nghĩa duy vật trực quan của PhơBách

Trang 20

CHƯƠNG 2 2.1.SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1.Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

Thực tiễn luôn giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình nhậnthức.Nó được biểu hiện ở chỗ thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mụch đích củanhận thức lý luận khoa học

2.1.1 Thực tiễn là cơ sở của nhận thức

Mác-Ăngghen nhận định: “Cũng như tất cả các khoa học khác, toán họcsinh ra từ những nhu cầu thực tiễn của con người: từ việc đo diện tích cáckhoảnh đất và việc lường dung tích của những đồ chứa, từ những việc đếm thờigian và từ cơ học Nhưng cũng như trong mọi lĩnh vực của tư duy, đến một trình

độ phát triển nào đó, những quy luật được rút ra bằng con đường trừu tượng hóa

từ thế giới hiện thực, cũng bị tách khỏi thế giới hiện thực, bị đem đối lập với thếgiới hiện thực như là một cái gì độc lập, như là những quy luật từ bên ngoài màthế giới phải thích ứng.Tình hình là như vậy trong nhà nước trong một xã hội vànhà nước; tình hình cũng như vậy chứ không khác đối với môn toán học thuầntúy, nó được áp dụng về sau trong thế giới, mặc dù nó được mượn từ chính thếgiới đó và chỉ biểu hiện một phần những hình thức liên hệ vốn có của thế giớiđó-và chính chỉ vì thế mà toán học nói chung mới có thể ứng dụng được” Conngười luôn luôn có nhu cầu khách quan là phải giải thích và cải tạo thế giới,điều đó bắt buộc con người phải tác động trực tiếp vào các sự vật, hiện tượngbằng hoạt động thực tiễn của mình, làm cho các sự vật vận động, biến đổi qua

đó bộc lộc các thuộc tính, những mối liên hệ bên trong.Các thuộc tính và mốiliện hệ đó được con người ghi nhận chuyển thành những tài liệu cho nhận thức,giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất của các quy luật phát triển của thế

Trang 21

giới Như vậy ở đây Mác-Ăngnghen cho chúng ta biết con người quan hệ với thếgiới không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thực tiễn, chính từ trong hoạtđộng thực tiễn cải tạo thế giới buộc con người phải nhận thức thế giới do đó mànhận thức lý luận –khoa học ở con người mới được hình thành và phát triển Tri thức của con người thu được dưới dạng trực tiếp hoặc gián tiếp đều nảy sinh

từ hoạt động thực tiễn, do đó không có thực tiễn thì không có nhận thức, không

có lý luận và không có khoa học.Mác viết: “ Nếu ta không thể phán đoán mộtngười, mà chỉ căn cứ vào ý kiến của chính người đó đối với bản thân, thì ta cũngkhông thể phán đoán một thời đại đảo lộn nào đó mà chỉ căn cứ vào ý thức củathời đại ấy Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của cuộcsống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất của xã hội

giác quan con người ngày càng được hoàn thiện, năng lực tư duy logic khôngngừng được củng cố và phát triển; các phương tiện nhận thức ngày càng tinh vi,hiện đại, có tác dụng “nối dài” các giác quan con người trong nhận thức thế giới.Chẳng hạn, các môn khoa học quản lý ra đời nhằm giúp các nhà quản lý tìm racác biện pháp nâng cao nâng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế Mác-Ăngnghen cũng đã nhận định: “ Từ trước tới nay, khoa học tự nhiên cũng nhưtriết học đã hoàn toàn coi thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với tưduy của họ Hai môn ấy một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặt khác chỉ biết có tưtưởng Nhưng chính việc người ta biến đổi tư nhiên, chứ không phải chỉ mộtmình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếpcủa tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việcngười ta đã học cải biến tự nhiên.Vì thế mà quan niệm tự nhiên chủ nghĩa vềlịch sử - như nó thể hiện ít nhiều ở Đrê-pơ và những nhà khoa học tự nhiên

Trang 22

khác- cho rằng chỉ có giới tự nhiên mới tác động đến con người, chỉ có nhữngđiều kiện tự nhiên mới quyết định ở khắp mọi nơi sự phát triển lịch sử của conngười, quan niệm ấy là phiến diện, nó quên rằng con người cũng tác động trở lại

tự nhiên, cải biến tự nhiên và tạo cho mình những điều kiện sinh tồn mới.Từ cái

“ tự nhiên” của nước Đức vào thời mà những người Giec-manh định cư ở đó, thìcòn lại rất ít Diện tích đất , khí hậu thực vật, động vật, cả bản thân con ngườiđều biến đổi không ngừng và tất cả những cái đó là do sự hoạt động của conngười, còn những sự thay đổi không có sự đóng góp của con người , xảy ra

vậy qua hoạt động thực tiễn, não bộ của con người ngày càng phát triển hơn, cácgiác quan ngày càng hoàn thiện hơn Thực tiễn là nguồn tri thức đồng thời cũng

là đối tượng của nhận thức Chính hoạt động thực tiễn đã đặt ra nhu các nhu cầucho nhận thức, tạo ra các phương tiện hiện đại giúp con người đi sâu tìm hiểu tựnhiên “Nếu như sau cái đêm tăm tối của đên trường trung cổ, các ngành khoahọc đột nhiên sống lại với một sức mạnh không ngờ và bắt đầu phát triển nhanhchóng một cách kỳ diệu, thì sự kỳ diệu ấy cũng chính là nhờ sản suất mà có.Một là, từ cuộc viễn chinh của Thập tự quân, công nghiệp đã đã tiến những bướckhổng lồ, và đã đẻ ra những một loạt những sự việc mới thuộc cơ học ( nghề dệt,nghề làm đồng, những cối xay) Thuộc hóa học ( nghề nhuộm, luyện kim, rượu)

và thuộc lý học (các loại kinh); các sự việc ấy không những đã cung cấp rấtnhiều tài liệu để quan sát, mà bản thân chúng còn là những phương tiện thínghiệm hoàn toàn khác hẳn những phương tiện xưa kia và cho phép chế tạo ranhững công cụ mới.Có thể nói rằng chỉ từ lúc đó thì mới có thể có một nền khoa

học thực nghiệm thật sự có hệ thống Hai là toàn thể Tây và Trung Âu bao gồm

cả Ba Lan, bây giờ phát triển trong một mối liên hệ khắn khít lẫn nhau, mặc dù

Trang 23

nước Italia nhờ nền văn minh thừa hưởng cua thời cổ , vẫn còn tiếp tục đứng ở

hàng đầu Ba là, những phát hiện về địa lý,- thuần túy do việc chạy đua tìm lợi

nhuận thúc đẩy, do đó, xét đến cùng là do lợi ích của sản xuất thúc đẩy- đã manglại những tài liệu vô tận mà trước đây, người ta không thể đạt được trong cáclĩnh vực khí tượng học, động vật học, thực vật học và sinh học (của người).Bốn

là đã xuất hiện máy in.Bây giờ ngoài toán học, thiên văn, và cơ học là nhữngngành đã có từ trước ra- vật lý học hoàn toàn tách khỏi hóa học (To- ri-sê-li, Ga-li-lê, dựa vào những công trình thủy lực công nghiệp, lần đầu tiên, nghiên cứu

sự vận động của chất lỏng, -xem Cléc Mác- xuên) Bôi-lơ làm cho hóa học trởthành một khoa học.Hác- vây nhờ phát hiện ra sự tuần hoàn của máu nên cũngbiến hóa sinh lý học (con người và cả loài vật) thành một khoa học Động vậthọc và thực vật học vẫn là những môn khoa học chỉ làm cái việc là thu thập tàiliệu khi môn cổ sinh vật học còn chưa được sáp nhập vào đó- Quy –vi-ê- vàchẳng bao lâu sau đó, là sự phát hiện tế bào, và sự phát triển của ngành hóa họchữu cơ Nhờ đó, mới có thể có được các ngành khoa học thực sự.Vào cuối thế

kỷ trước, người ta đã đặt nền móng cho môn gọi (một cách không đúng) là nhậnloại học, môn này bảo đảm sự quá độ từ hình thái học và sinh lý học con người

triển phải tổ chức hoạt động thực tiễn; trong thực tiễn cả chủ thể và khách thểđều bộc lộ những thuộc tính những quy luật,…để con người nhận thứcchúng.Như vậy, thực tiễn đã cung cấp những tài liệu sinh động cho nhận thức,

mà không có chúng thì không thể có tri thức.Lịch sử phát triển khoa học đãchứng minh rằng, mọi tri thức, lý luận dù là trực tiếp hay gián tiếp cũng đều bắtnguồn từ thực tiễn Thực tiễn không những cung cấp những tài liệu cho nhậnthức, mà còn làm xuất hiện những nhu cầu, đề ra nhiệm vụ và cung cấp những

Trang 24

công cụ, phương tiện để nhận thức giải quyết.Thự tiễn lớn nhất của nước ta hiệnnay là thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trường mới, nền văn hóa mới đậm đàbản sắc dân tộc và chế độ xã hội : công bằng, bình đẳng, tiến bộ.Công cuộc đổimới toàn diện đất nước ta đã và đang đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới đòihỏi nhận thức, lý luận phải giải đáp: mô hình về chủ nghĩa xã hội và con đường,phương pháp xây dựng nó; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa.

2.1.2.Thực tiễn là động lực của nhận thức

Qúa trình biến đổi thế giới là một quá trình mà con người ngày càng đi sâuvào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, làm phong phú vàsâu sắc tri thức của mình về thế giới.Thực tiễn không ngừng biến đổi và pháttriển cho nên thực tiễn luôn đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ và phương hướng pháttriển của nhận thức, của lý luận, cho sự ra đời của các ngành khoa học Thựctiễn luôn đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết,khái quát kinh nghiệm thành lý luận mới, thúc đẩy sự ra đời và phát triển củacác ngành khoa học nhằm giải quyết những vấn đề mới nảy sinh.Nói về cáchmạng thế giới Lênin viết: “ Ăngnghen trong luận thuyết đó, đứng về mặt lý luận

để nêu lên vấn đề mà mọi cuộc cách mạng lớn đều đặt ra cho chúng ta trên thựctiễn, một cách rõ ràng, và hơn nữa theo quy mô hành động quần chúng, đó làvấn đề mối quan hệ qua lại ,.giữa những đội vũ trang “đặc biệt” và “tổ chức vũ

các cuộc cách mạng Nga minh họa cụ thể như thế nào” Từ thực tiễn con người

sẽ nhìn nhận phán xét và đưa ra lý luận tri thức ngày càng sâu sắc hơn.Ngoài rathực tiễn còn có tác dụng rèn luyện các giác quan của con người.Vào năm 1975sau ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước chúng ta đã duy trì một nền

Trang 25

kinh tế tồn tại ba loại hình đó là : kinh tế tự cung tự cấp, kinh tế kế hoạch hóatập trung bao cấp (ở miền Bắc), kinh tế thị trường (đặc trưng ở miền nam).Với

sự áp đặt mang tính chủ quan nóng vội, cứng nhắc, chúng ta đã không quản lýđược hiệu quả các nguồn lực dẫn tới việc sử dụng lãng phí nghiêm trọng cácnguồn lực của đất nước.Tài nguyên bị phá hoại, sử dụng khai thác không hợp lý,môi trường bị ô nhiễm Nhà nước bao cấp và tiến hành bù lỗ phổ biến gây hậuquả nghiêm trọng cho nền kinh tế.Sự tăng trưởng kinh tế chậm lại, tăng trưởngkinh tế chỉ trên lý thuyết và giấy tờ.Hàng hóa sản phẩm trong thời gian đó trởnên khan hiếm, không đáp ứng được nhu cầu trong nước, ngân sách thâm hụtnặng nề ….cùng với nó là sự suy thoái về mặt con người và xã hội.Từ năm 1975đến năm 1985, các thành phần kinh tế tư bản tư nhân cá thể bị tiêu diệt hoặckhông còn điều kiện phát triển dẫn đến thực trạng tiềm năng to lớn của của cácthành phần kinh tế quốc doanh đã phát triển ồ ạt, tràn lan trên mọi lĩnh vực trởthành địa vị độc tôn trong hầu hết các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ( trừngành nông nghiệp, thành phần kinh tế tập thể là chủ yếu) Do phát triển tràn lanlại quản lý theo cơ chế bao cấp, kế hoạch hóa tập trung nên nhà nước gặp nhiềukhó khăn trong việc quản lý, điều hành các doanh nghiệp quốc doanh, nhiềudoanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, lực lượng sản xuất không được giảiphóng, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng và tụt hậu.Đứng trước thựctiễn trên chúng ta đã nhìn nhận sự lạc hậu về nhận thức lý luận trong thời kỳ quá

độ, đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thừa nhận thật sựnhững quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan.Chúng ta đã ưutiên phát triển công nghiệp nặng một cách quá mức mà hiệu quả kinh tế pháttriển chậm.Hơn thế nữa, ta chưa chú ý đúng mức tới sản xuất nông nghiệp vàsản xuất hàng tiêu dùng nên đời sống nhân dân gặp khó khăn Để khắc phục

Trang 26

khuyết điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng ta trước hết phải thay đổi nhậnthức, đổi mới tư duy Phải nhận thức và hành động đúng đắn, đề ra những chủtrương, chính sách phù hợp với hệ thống quy luât khách quan, trong đó các quyđặc thù của chủ nghĩa xã hội ngày càng chi phối mạnh mẽ phương hướng pháttriển chung của xã hội Mọi chủ trương, chính sách, biện pháp kinh tế gây tácđộng ngược lại đều biểu hiện sự vận dụng không đúng quy luật khách quan, phảiđược sửa đổi hoặc hủy bỏ Trên cơ sở đó, chúng ta phải vận dụng tổng hợp hệthống các quy luật đang tác động lên nền kinh tế.Trong hệ thống các quy luật

đó, quy luật kinh tế cơ bản cùng với đặc thù khác của chủ nghĩa xã hội ngàycàng phát huy vai trò chủ đạo, được vận dụng trong một hệ thống nhất với cácquy luật của sản xuất hàng hóa, đặc biệt là quy luật giá trị, quy luật cung cầu,quy luật cạnh tranh…Kế hoạch hóa phải luôn luôn gắn liền với sự dụng đoànbảy kinh tế.Đại hội đảng lần thứ VI có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.Những quanđiểm, đường lối do Đại hội VI vạch ra là sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủnghĩa Mác LênNin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của đất nước.Côngcuộc đổi mới của Đảng từ sau Đại hội VI đến nay ở nước ta không nằm ngoàinhững quy luật phổ biến của phép biện chứng, Đảng ta vận dụng phép biệnchứng vào nhận thức hiện thực xã hội, phân tích các mối liên hệ biện chứng củađời sống hiện thực, tìm ra các mâu thuẫn đó và tạo ra động lực mạnh mẽ cho quátrình đổi mới vững chắc

2.1.3 Thực tiễn là mục đích của nhận thức

Những tri thức khoa hoc chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó được vận dụngvào thực tiễn Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân các trithức mà là nhằm cải tạo hiện thực khách quan, đáp ứng những nhu cầu vật chất

và tinh thần xã hội Sự hình thành và phát triển của nhận thức là bắt nguồn từ

Trang 27

thực tiễn, do yêu cầu của thực tiễn Nhận thức chỉ trở về hoàn thành chức năngcủa mình khi nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt động thực tiễn cóhiệu quả hơn Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, thì tri thức con người mớithể hiện được sức mạnh của mình, sự hiểu biết của con người mới có ýnghĩa.Trong Biện chứng của tự nhiên, C.Mác- Ăngnghen đã nhận xét: “Cần phảinghiên cứu sự phát triển tuần tự của riêng từng ngành khoa học tự nhiên.Trướchết là thiên văn học, một ngành đã vì thời tiết mà tuyệt đối cần thiết cho nhữngdân tộc chăn nuôi và làm ruộng.Thiên văn học chỉ có dựa vào toán học mới pháttriển được Do đó mà người phải nghiên cứu cả toán học Sau đó, đến một giaiđoạn phát triển nhất định của nông nghiệp và trong những khu vực nhất định( đưa nước lên để tưới ruộng ở Ai Cập), và nhất là cùng với sự xuất hiện nhữngthành phố, những công trình xây dựng lớn, và cùng với sự phát triển của thủcông nghiệp thì cơ học cũng phát triển theo.Chẳng bao lâu, cơ học lại trở nêncần thiết cho cả hàng hải và chiến tranh.Cơ học cũng cần sự giúp đỡ của toánhọc và do đó thúc đẩy toán học phát triển Như thế là ngay từ đầu, sự phát sinh

và phát triển của các ngành khoa học đã do sản xuất quy định

Trong suốt thời cổ , sự nghiên cứu khoa học thật sự vẫn chỉ đóng khungtrong ba ngành khoa học ấy, và nói đúng ra thì sự nghiên cứu chính xác và có hệthống chỉ xuất hiện vào sau thời kỳ cổ điển ( những người ở A-Lếch –xăng-đơ-

ri, Ác-xi-mét, ).Trong vật lý học và hóa học, tức là những ngành mà trí ócngười ta hãy còn cho là hầu như không tách khỏi nhau (thuyết đại nguyên tố,việc thiếu một quan niệm rõ ràng về một nguyên tố hóa học), trong thực vật học,động vật học, giải phẩu con người và giải phẩu loài vật, người ta chỉ mới có thểthu thập được tài liệu , và cố gắng sắp xếp những tài liệu ấy cho có hệthống Sinh lý học, chỉ mới tách khỏi những sự vật hiển nhiên, tỷ dụ như sự tiêu

Trang 28

hóa và sự bài tiết, còn thuần túy là sự phán đoán: và cũng không thể nào khácthế được khi người ta còn chưa biết ngay cản thế nào là sự tuần hoàn.Vào thời

kỳ đó thì hóa học xuất hiện dưới hình thức nguyên thủy của thuật luyện kim”.Như vậy từ hoạt động thực tiễn mà có tri thức lý luận và tri thức khoa học, songbản thân lý luận và khoa học không có mụch đích tự thân mà lý luận, khoa học

ra đời chính vì chủ yếu chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người,cho nên nhận thức,lý luận, khoa học sau khi ra đời phải quay về phục vụ thựctiễn, hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn, phải biến hành động cách mạng của quầnchúng Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vàothực tiễn, cải tạo thực tiễn, phục vụ mục tiêu phát triển chung

2.1.4 Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý

Chân lý tri thức phù hợp với hiện thực kết quả mà nó phản ánh và đượcthực tiễn kiểm nghiệm, hay chân lý là sự thật.Triết học Mác đã khẳng định vàchứng minh rằng: thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra nhận thức, lý luận, khoa họcnghĩa là: sau khi có tri thức lý luận, tri thức khoa học vấn đề là không phải bàncải tranh luận xem nó đúng hay sai mà chỉ có lấy thực tiễn kiểm nghiệm, tức là

áp dụng vào thực tiễn mới xác định được tri thức lý luận, tri thức khoa học làđúng hay sai; là chân lý hay giả dối; thực tiễn là tiêu chuẩn đanh thép chứngminh chân lý Tuy nhiên, thực tiễn là tiêu chuẩn vừa có tính tuyệt đối vừa cótính tương đối.Tính tuyệt đối của thực tiễn ở chổ thực tiễn là tiêu chuẩn, kết quảduy nhất để kiểm nghiệm chân lý, thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xácnhận chân lý.Tính tương đối của thực tiễn là ở chỗ thực tiễn không phải đứngyên một chỗ mà nó cũng có quá trình vận động, biến đổi.Điều đó đòi hỏi nhậnthức của con người cũng phải biến đổi và phát triển theo thực tiễn cho phùhợp.Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

Ngày đăng: 29/03/2021, 18:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. C.Mác-Ăngnghen, Hệ tư tưởng Đức,Nxb.Sự thật, Hà Nội, năm 1980, trang 265-266 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ tư tưởng Đức
Nhà XB: Nxb.Sự thật
5. C.Mác-Ăngnghen, Hệ tư tưởng Đức,Nxb.Sự thật, Hà Nội, năm 1980, trang 277 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ tư tưởng Đức
Nhà XB: Nxb.Sự thật
6.C.Mác-Ăngnghen, Hệ tư tưởng Đức,Nxb.Sự thật, Hà Nội, năm 1980, trang 277 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ tư tưởng Đức
Nhà XB: Nxb.Sự thật
9.PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa, Những chuyên đề triết học, Nxb. Khoa học xã hội, năm 2007, trang 247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chuyên đề triết học
Nhà XB: Nxb. Khoa học xãhội
10. C.Mác-Ănghen, Tuyển tập, Nxb.Sự thật, Hà Nội, năm 1983, trang 53 11. C.Mác-Ănghen, Tuyển tập, Nxb.Sự thật, Hà Nội, năm 1983, trang 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập", Nxb.Sự thật, Hà Nội, năm 1983, trang 5311. C.Mác-Ănghen, "Tuyển tập
Nhà XB: Nxb.Sự thật
12. C.Mác- F.Ăngnghen, Tuyển tập, tập 1, Nxb.Sự thật, Hà Nội, năm 1962, trang 577 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Nhà XB: Nxb.Sự thật
13.Ph.Ănghen, Biện chứng của tự nhiên, C.Mác và Pănghen toàn tập, tập 20.Nxb.Sự thật, Hà Nội, trang 720 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng của tự nhiên
Nhà XB: Nxb.Sự thật
14. Ph.Ănghen, Biện chứng của tự nhiên, C.Mác và Pănghen toàn tập, tập 20.Nxb.Sự thật, Hà Nội, trang 720 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng của tự nhiên
Nhà XB: Nxb.Sự thật
15.Lênnin, Toàn tập, Tiếng Việt, Nxb.Tiến bộ, Mát-cơ-va, tập 33, trang 13-14 16.Ph.Ănghen, Biện chứng của tự nhiên, C.Mác và Pănghen toàn tập, tập 20.Nxb.Sự thật, Hà Nội, trang 317-318 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập", Tiếng Việt, Nxb.Tiến bộ, Mát-cơ-va, tập 33, trang 13-1416.Ph.Ănghen, "Biện chứng của tự nhiên
Nhà XB: Nxb.Tiến bộ
17. C.Mác Luận cương về Phơ-ơ-bắc ( Bản thảo năm 1845), Các Mác và Ănghen toàn tập, tập 42,Nxb Sự thật, Hà Nội, trang 371 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cương về Phơ-ơ-bắc
Nhà XB: Nxb Sự thật
18. V.I Lênin, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiêm phê phán, V.Ilênin toàn tập, tập 18,Nxb, Maxcova, năm 1980, trang 228-229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiêm phê phán
19. V.I.Lênin, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiêm phê phán, V.I.Lênin, toàn tập, tập 18, trang 228-229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiêm phê phán
20. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 18,Nxb. Tiến bộ, Maxcova, năm 1980, trang 168 21. V.I.Lênin, Chủ nghĩa kinh duy vật và Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, V.Ilênin toàn tập, tập 18,Nxb.Tiến bộ, Maxcova, trang 203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập", tập 18,Nxb. Tiến bộ, Maxcova, năm 1980, trang 16821. V.I.Lênin, "Chủ nghĩa kinh duy vật và Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán
Nhà XB: Nxb. Tiến bộ
22.C.Mác Luận cương về Phơ-ơ-bắc ( Bản thảo năm 1845), Các Mác và Ănghen toàn tập, tập 42,Nxb Sự thật, Hà Nội, trang 373 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cương về Phơ-ơ-bắc
Nhà XB: Nxb Sự thật
23. PGS.TS.Nguyễn Thế Nghĩa, Những chuyên đề triết học,Nxb, Khoa học xã hội, năm 2007, trang 287 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chuyên đề triết học
24. V.ILênin, Hai sách lược của Đảng dân chủ xã hội trong cách mạng dân chủ, V.I.Lênnin toàn tập, tập 11,Nxb.Tiến bộ Maxcova, trang 37-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai sách lược của Đảng dân chủ xã hội trong cách mạng dân chủ
Nhà XB: Nxb.Tiến bộ Maxcova
25.C.Mác-P.Ănghen, tuyển tập,Nxb, Sự thật, Hà nội, năm 1980, trang 290 26. V.Ilênin, Toàn tập, tập 14,Nxb.Tiến bộ,Matxcova, năm 1978, trang 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tuyển tập",Nxb, Sự thật, Hà nội, năm 1980, trang 29026. V.Ilênin, "Toàn tập
Nhà XB: Nxb.Tiến bộ
27. PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa, Những chuyên đề triết học,Nxb.Khoa học xã hội, năm 2007, trang 289-290 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chuyên đề triết học
Nhà XB: Nxb.Khoa học xãhội
4.Bộ giáo dục và đào tạo – Giáo trình triết học Mác - Lê Nin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Khác
5.Bộ giáo dục và đào tạo, Triết Học Mác - Lê Nin, Nxb. Giáo Dục, 2001 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w