Khái quát về hệ thống tín hiệu Tín hiệu trong TDTT là tất cả các thông tin từ bên ngoài môi trường tác động lên bộ não và từ đó người chịu sự tác động sẽ đưa ra những phản ứng để đáp ứng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TDTT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
BỘ MÔN: SINH LÝ
BÁO CÁO TIỂU LUẬN CÁ NHÂN
HỌC PHẦN: SINH LÝ HỌC TDTT
GVHD: TS Nguyễn Hoàng Minh SV: Phạm Minh Luân Khóa 13 Lớp D MSSV: 1870095 Email: luanpham123asd@gmail.com
TP HỒ CHÍ MINH, NGÀY 16 THÁNG 10 NĂM 2020
Trang 2Tiểu luận: Đánh giá vai trò của hệ thống tín hiệu trong hoạt động giảng dạy thể dục và huấn luyện
thể thao.
Khái quát về hệ thống tín hiệu
Tín hiệu trong TDTT là tất cả các thông tin từ bên ngoài môi trường tác động lên bộ não và từ đó người chịu sự tác động sẽ đưa ra những phản ứng để đáp ứng lại kích thích vận động
Điều kiện để hình thành kĩ năng động tác: Hệ thống tính hiệu giúp tập luyện kỹ năng động tác và hình thành một hệ thống phản xạ có điều kiện còn gọi là định hình động lực, các hệ thống tín hiệu kích thích đại não phải đủ mạnh và phải kết hợp hệ thống tín hiệu thứ nhất (thị phạm) với hệ thống tín hiệu thứ hai (lời giảng).phương pháp giảng dạy có hiệu quả nhất là kết hợp giữa làm động tác mẫu và giảng giải
Ví dụ: Khi học sinh xem làm động tác mẫu, những kích thích cụ thể đối với thị giác sẽ giúp quá trình tiếp thu, xây dựng hình ảnh về động tác nhanh hơn, tạo điều kiện cũng cố vững chắc hơn đường liên lạc thần kinh tạm thời Lời giảng giải của giáo viên tạo điều kiện cho người tập phân biệt được những chi tiết, phương thức thực hiện động tác – rất cần cho việc hoàn thiện kỹ thuật động tác thể thao
Đây là những phản xạ phức tạp vì tác nhân kích thích và phản ứng trả lời đều mới lạ: để đáp ứng lại kích thích vận động, cơ thể phải sử dụng một động tác mới hoặc phải xây dựng một tổ hợp mới các động tác mà trước đó chưa có Trong kỹ năng động tác có sự phối hợp của hai loại đường liên hệ thần kinh tạm thời, chúng được hình thành không chỉ đối với phần hướng tâm tức là phần
Trang 3thu nhận những tín hiệu (cảm giác) mà cả với phần vận động (ly tâm) của bộ máy vận động
VD1 :Như trong môn nhảy cao thì tác nhân kích thích là xà ngang và phản
xạ là một chuỗi các động tác gồm chạy đà, dậm nhảy, bật cao kèm theo đá lăng
để xoay người
VD2: Trong môn bóng bàn thì tác nhân kích thích là quả bóng đang bay tới
và phản xạ là di chuyển thân người và vận động tay cầm vợt để tạt hoặc đỡ bóng
Sử dụng hệ thống tín hiệu trong hoạt động TDTT
Kỹ năng động tác là phản ứng trả lời đối với các kích thích bằng một tổ hợp nhiều động tác theo một trình tự nhất định để tạo nên một hoạt động thống nhất, trong đó có đường liên hệ thần kinh tạm thời từ vùng cảm giác của vỏ não đến một phần của vùng vận động và có nhiều đường liên hệ giữa các phần của vùng vận động để tạo nên nhiều động tác liên tục khác nhau Trong quá trình thực hiện kỹ năng động tác ngoài vai trò của đại não (chịu trách nhiệm thần kinh phản xạ động tác) còn có vai trò của tiểu não (chịu trách nhiệm thần kinh phản xạ giữ thăng bằng), hành tủy và tủy sống (chịu trách nhiệm thần kinh phản xạ chức năng thực vật).Sự hình thành kỹ năng động tác bao giờ cũng làm xuất hiện các đường liên hệ thần kinh tạm thời giữa vùng vận động với các cơ quan dinh dưỡng, bởi sự biến đổi của các cơ quan dinh dưỡng phù hợp trong vận động sẽ đảm bảo cho bộ máy vận động hoạt động tốt và có hiệu quả hơn
Sự hình thành kĩ năng động tác gồm có 3 giai đoạn:
Giai đoạn lan tỏa hưng phấn: là giai đoạn mà quá trình hưng phấn chiếm ưu thế, hưng phấn dễ khuếch tán sang các vùng thần kinh khác lôi cuốn nhiều nhóm cơ thừa vào hoạt động và vì chưa phân biệt được kích thích tốt hay xấu, mạnh hay yếu nên gây ra phản xạ không phù hợp, tiêu hao nhiều năng lượng
Trang 4Ví dụ: khi mới tập kỹ thuật đập bóng trong bóng chuyền do chưa thực hiện đúng các giai đoạn kỹ thuật cho nên người tập nhảy lên đập bóng sớm hoặc muộn dẫn tới bóng có thể bị rúc lưới hay lực tác động vào bóng yếu hoặc không trúng bóng Việc học kỹ thuật động tác ở giai đoạn này thường phải dùng phương pháp phân chia để nắm từng chi tiết kỹ thuật đơn lẻ rồi lựa chọn và phối hợp các kỹ thuật đơn lẻ thành một động tác hoàn chỉnh và thống nhất
Giai đoạn tập trung hưng phấn: giai đoạn này có sự tập trung hưng phấn vào những vùng nhất định trên vỏ não làm hạn chế các động tác thừa đồng thời có sự tham gia của các dạng ức chế như ức chế phân biệt, ức chế trì hoãn nên các kỹ thuật động tác bắt đầu được hoàn thiện, tiêu hao ít năng lượng Nói chung các phản xạ đều hợp lý và hiệu quả nhưng cũng chưa hoàn toàn ổn định nên dễ bị rối loạn khi mệt mỏi, khi điều kiện kích thích thay đổi hoặc không thuận lợi
Giai đoạn tự động hóa (giai đoạn ổn định hưng phấn): ở giai đoạn này
có sự ổn định hưng phấn do đó không làm xuất hiện các động tác thừa Lúc này các động tác đã được cũng cố vững chắc, thuần thục và trở nên tự động hóa VĐV không cần quan tâm đến các động tác riêng lẻ, mà chỉ tập trung vào việc thực hiện chiến thuật và kết hợp hoạt động của các cơ quan trong
cơ thể Các giai đoạn nêu trên của quá trình hình thành kỹ năng động tác chỉ có tính tương đối Các thành phần phức tạp nhất của của kỹ năng có thể bị biến đổi sau vài ngày, còn nếu nghỉ tập hàng tuần, hàng tháng, hàng năm thì chúng có thể bị mất đi hoàn toàn Ví dụ: khi tập để nâng cao thành tích trong chạy ngắn (sức nhanh) nếu nghỉ tập vài tuần thì thành tích sẽ giảm xuống ngay Ngược lại có những thành phần vận động rất đơn giản nhưng lại tồn tại rất lâu, kể cả sau khi bỏ tập luyện hàng năm, thậm chí hàng chục năm Ví dụ: kỹ năng bơi lội, đi xe đạp Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính ổn định của kỹ năng động tác, đó là:
- Sự giảm sút trạng thái chung của hệ thần kinh
- Hoạt động trong điều kiện thiếu oxy
Trang 5- Thay đổi điều kiện tập luyện, thi đấu
- Trạng thái tâm lý, bệnh lý và mệt mỏi
Tín hiệu đối với sự hoàn thiện kĩ năng động tác:
Ngay sau khi thực hiện một hoạt động vận động nào đó, cơ thể lập tức thu nhận từ các cơ quan thực hiện vận động (như cơ, tim, phổi…) và từ môi trường bên ngoài những thông tin về đặc điểm của hoạt động (như chất lượng hoặc hiệu quả của động tác, đối phương, dụng cụ…) thông qua các đường liên hệ ngược Thông tin ngược chiều không chỉ là những thông tin mà cơ thể trực tiếp cảm nhận được, mà còn bao gồm những thông tin lấy được từ những ý kiến nhận xét của đồng đội, của huấn luyện viên, thông tin từ những phương tiện kiểm tra kỹ thuật như hình ảnh ghi lại qua băng hình, tín hiệu điện cơ, điện tim Các thông tin ngược chiều này giúp ý thức thêm về chất lượng động tác,
về điều kiện hoạt động như dụng cụ, vị trí của đối phương và đồng đội
Luyện tập và kết nối hệ thống tín hiệu trong thi đấu TDTT
Phải chú ý đến sự tập trung hưng phấn thì mới xây dựng được các đường liên lạc thần kinh tạm thời trong việc hình thành kỹ năng động tác Do đó người có hệ thần kinh yếu, kém tập trung thì khó khăn trong tập luyện kỹ năng động tác
- Phải tập luyện thường xuyên, liên tục, có hệ thống, không có những khoảng nghỉ dài Mỗi động tác cần phải lặp đi lặp lại nhiều lần để củng cố đường thần kinh tạm thời trên vỏ não
- Kỹ năng động tác bao giờ cũng được hình thành trên cơ sở những động tác đã tiếp thu từ trước, do đó nên tập luyện các động tác đơn giản rồi mới xây dựng dần những động tác phức tạp
Ví dụ: khi giảng dạy để học sinh hoàn thiện được kỹ thuật nhảy cao kiểu
úp bụng thì bước đầu phải cho học sinh học kỹ thuật nhảy cao kiểu bước qua và nằm nghiêng, sau đó cho học các động tác bổ trợ và giảng dạy từng giai đoạn của kỹ thuật nhảy cao úp bụng để học sinh nắm được
Trang 6- Phải đảm bảo tính chính xác của động tác, nghĩa là tập luyện đúng kỹ thuật, vì một động tác sai đã được củng cố vững chắc thì sẽ rất khó sửa và tốn nhiều thời gian, tức là cản trở sự hình thành động tác mới
- Mức độ kích thích, thời gian kích thích phải hợp lý, tránh gây ức chế và mệt mỏi quá mức cho hệ thần kinh
- Tài liệu tham khảo: Giáo trình sinh lý học TDTT/ CƠ SỞ SINH LÝ CỦA QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH KỸ NĂNG ĐỘNG TÁC THỂ DỤC THỂ THAO Ts Nguyễn Hoàng Minh, Ths Tô Thị Bích Thủy