1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tuần 27. Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm)

6 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 20,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hôm nay, qua đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích Chinh phụ ngâm, chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về tâm trạng của người chinh phụ có chồng ra chiến trận để thấy được nỗi c[r]

Trang 1

Trường THPT Phù Đổng Giáo án: Ngữ văn 10

GVHD: Võ Thành Long

GSTT: Liêng Jrang Mai Ly

Đọc văn: TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ

(Trích Chinh phụ ngâm)

Nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn

Bản diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm (?)

I MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT

Cảm nhận được tâm trạng cô đơn, sầu muộn của người chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi khi chồng đi chinh chiến; thấy được tiếng nói tố cáo chiến tranh phi nghĩa và đề cao hạnh phúc lứa đôi

Thấy được sự tài hoa, tinh tế trong nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật

II.TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KỸ NĂNG THÁI ĐỘ

1 Kiến thức:

Tiếng nói tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa, khát khao hạnh phúc lứa đôi thể hiện qua việc miêu tả thế giới nội tâm đầy những mong nhớ, cô đơn, khao khát của người chinh phụ

2 Kĩ năng:

Đọc - hiểu tiếp cận thể loại ngâm khúc

3.Thái độ

Trân trọng và đồng cảm trước nổi đau của người chinh phụ

II PHƯƠNG PHÁP

Phương pháp đọc - hiểu, gợi tìm, phát vấn, bình giảng

III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

1 Ổn định lớp

2 Kiểm tra bài cũ

3 Vào bài mới:

Mở đầu tác phẩm Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn viết:

Thuở đất trời nổi cơn gió bụi Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Cuộc chiến tranh phong kiến giữa tập đoàn Lê - Trịnh với nhà Mạc kéo dài cả nửa thế kỉ cùng với cuộc Trịnh

- Nguyễn phân tranh cũng diễn ra liên miên trong suốt 45 năm khiến trăm họ phải lầm than, điêu đứng, hàng vạn gia đình lâm vào cảnh tan tác, chia ly như mẹ phải xa con, con xa cha và vợ xa chồng Hôm nay, qua đoạn

trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích Chinh phụ ngâm, chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về tâm trạng của

người chinh phụ có chồng ra chiến trận để thấy được nỗi cô đơn, lẻ bóng và niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ đương thời

Tuần: 27

Tiết: 76,77

Ngày soạn: 23/02/2017

Ngày dạy: 01/03/2017

Trang 2

I Tìm hiểu chung

1 Tác giả và dịch giả

a Tác giả

GV: Dựa vào sự chuẩn bị ở nhà kết hợp với SGK, hãy

trình bày những nét chính về tác giả Đặng Trần Côn?

Đặng Trần Côn chưa rõ năm sinh, năm mất Quê ở làng Nhân

Mục, huyện Thanh Trì nay thuộc phường Nhân Chính, quận

Thanh Xuân, Hà Nội Ông sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ

XVIII, ngoài sáng tác chính Chinh phụ ngâm, ông còn làm thơ

và phú bằng chữ Hán Không chỉ là một người thông minh, tài

hoa, hiếu học ông còn có một tâm hồn tinh tế, nhạy bén trước

thời cuộc Chính vì thế ông có thể cảm nhận một cách sâu sắc

nỗi đau của một phụ nữ để viết nên Chinh phụ ngâm.

b.Dịch giả

GV: Cho biết những nét chính về dịch giả?

Chinh phụ ngâm vừa ra đời đã nổi tiếng, Phan Huy Chú ca

ngợi Lời và ý thì lâm ly, tuấn nhã và kì thực rất khoái chá cho

miệng người đọc, chính vì được yêu thích, nhiều người đã

dịch tác phẩm ra chữ Nôm Bản dịch thành công nhất hiện nay

được cho là của Đoàn Thị Điểm Đoàn Thị Điểm (1705?

-1748) quê ở làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, trấn Kinh

Bắc Từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, tài sắc vẹn toàn Bà lập

gia đình khá muộn, năm 37 tuổi Chồng bà là tiến sĩ Nguyễn

Kiều, vừa cưới xong, Nguyễn Kiều đi sứ sang Trung Quốc Có

thể bà đã dịch Chinh phụ ngâm trong thời gian này.

Tuy nhiên cũng có một số ý kiến cho rằng Chinh phụ ngâm là

của Phan Huy Ích, ông sinh năm 1750, mất năm 1882 Quê ở

Nghệ An sau dời đến Hà Tây Là người thông minh, tài giỏi,

ông đỗ Tiến sĩ năm 26 tuổi

2 Tác phẩm Chinh Phụ Ngâm

a Hoàn cảnh ra đời

GV: Em hãy nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm?

Đầu đời vua Lê Hiển Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa nông

dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long Triều đình cất quân

đánh dẹp Nhiều trai tráng phải từ giã người thân lên đường đi

chiến đấu Đặng Trần Côn cảm động trước nỗi đau khổ, mất

mát của con người, nhất là những người vợ lính trong chiến

tranh, đã viết Chinh phụ ngâm.

b.Thể loại:

GV: Em hãy cho biết tác phẩm thuộc thể loại gì?

- Thể loại: Ngâm khúc

Đặc trưng: thể loại trữ tình đi sâu vào miêu tả thế giới nội tâm

nhân vật với những diễn biến phức tạp trong tâm hồn Nội

dung thể hiện niềm tiếc thương ai oán về một giá trị đã mất

+ Nguyên tác: viết theo thể thơ Trường đoản cú (những câu

thơ dài ngắn khác nhau)

+ Bản dịch: thể thơ song thất lục bát - một thể thơ do người

Việt sáng tạo

3 Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

GV: Em hãy nêu vị trí và nội dung của đoạn trích?

- Vị trí : từ câu 193 đến câu 216.

- Nội dung: thể hiện tình cảnh và tâm trạng của người chinh

phụ phải sống cô đơn, buồn khổ trong thời gian dài người

I Tìm hiểu chung

1 Tác giả và dịch giả a.Tác giả

- Đặng Trần Côn(? - ?)

- Quê: Hà Nội

- Ông sống vào khoảng nữa đầu thế kỷ XVIII

- Là người thông minh, tài hoa, hiếu học, có tâm hồn tinh tế và nhạy bén trước thời cuộc

b Dịch giả

- Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748)

+ Hiệu: Hồng Hà nữ sĩ + Quê: Kinh Bắc + Nổi tiếng thông minh, tài sắc vẹn toàn

- Phan Huy Ích (1750 - 1822)

+ Quê: Nghệ An

+ Là người thông minh, tài

giỏi

+ Đỗ tiến sĩ năm 26 tuổi.

2 Tác phẩm Chinh phụ ngâm

a.Hoàn cảnh ra đời

- Đầu thế kỉ XVIII, nhiều cuộc

khởi nghĩa nông dân nổ ra

- Triều đình cất quân đi đánh,

nhiều trai tráng phải từ giã người thân ra trận, Đặng Trần Côn cảm động trước thời thế đã viết

Chinh phụ ngâm.

b.Thể loại:

- Ngâm khúc

+ Nguyên tác: Trường đoản cú + Bản dịch: Song thất lục bát

3 Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi

của người chinh phụ.

- Vị trí: từ câu 193 đến 216.

- Nội dung: thể hiện tâm trạng

cô đơn, lẻ loi của người chinh

Trang 3

chồng đi đánh trận không rõ tin tức và ngày trở về đồng thời,

thể hiện niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ

II Đọc - hiểu văn bản

1 Đọc - giải nghĩa từ khó

- Bố cục: 3 phần

+ Phần 1 (8 câu đầu): nỗi cô đơn , lẻ bóng của người chinh

phụ

+ Phần 2 (8 câu tiếp): nỗi sầu muộn triền miên của người

chinh phụ

+ Phần 3: nỗi nhớ thương chồng đau đáu của người chinh

phụ

2 Tìm hiểu tác phẩm

a.Nỗi cô đơn, lẻ bóng của người chinh phụ (tám câu đầu)

GV: Những chi tiết nào diễn tả hành động của người chinh

phụ? Hành động đó cho thấy điều gì?

Dạo hiên vắng, rủ thác đòi phen diễn tả hành động của người

chinh phụ đi đi lại lại, buông rèm, cuốn rèm không biết bao

nhiêu lần để chờ tin tức tốt lành từ người chồng phương xa

Các hành động cứ lặp đi lặp lại không mục đích, cho thấy tâm

trạng cô đơn, lẻ loi của nàng cùng với nỗi lòng nàng không

biết san sẻ cùng ai

GV: Trước sự chờ đợi đó, người chinh phụ có nhận được

tin tức gì không? Điều đó được thể hiện qua hình ảnh

nào?

Đáp lại sự mong ngóng của người chinh phụ thì người chồng

vẫn bặt vô âm tín thước chẳng mách tin Chim thước là một

loài chim báo tin lành (chú giải sgk) Người phụ nữ mỏi

mòn, mong ngóng mà không có tin tức gì từ người chồng, mọi

hi vọng đều rất mong manh, mơ hồ vì như chúng ta biết chiến

tranh vô cùng khắc nghiệt Trong một câu thơ khác, Đặng

Trần Côn đã viết: Những người chinh chiến bấy lâu / Xem như

tính mạng như màu cỏ cây.

GV: Trong hai câu thơ:

Trong rèm dường đã có đèn biết chăng

Đèn có biết dường bằng chẳng biết

Tác giả sử dụng nghệ thuật gì? Nghệ thuật đó có tác dụng

gì?

Hai câu thơ trên sử dụng điệp ngữ bắc cầu: Đèn biết chăng,

đèn chẳng biết nhằm diễn tả tâm trạng buồn triền miên, kéo

dài lê thê trong thời gian và không gian vô tận cũng như tâm

trạng của người chinh phụ mong mỏi, đợi chờ người chồng từ

ngày này sang ngày khác, từ năm này sang năm khác Cùng

với câu hỏi tu từ Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng? là

lời than thở, sự khắc khoải đợi chờ, day dứt không yên

=> Với hai câu thơ này, tâm trạng của nhân vật trữ tình đã

chuyển thành lời độc thoại nội tâm da diết, tự dằn vặt, rất

thương, rất ngậm ngùi

GV: Trong câu thơ: Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi, theo

em hiểu thế nào là bi thiết?

Theo tiếng hán: bi (bi ai, bi thống) ; thiết (cắt, đứt) => bi thiết

chính là nỗi đau cùng cực, day dứt, thống thiết, nghe nhức

nhói và có lẽ chỉ có người trong cuộc mới có thể hiểu được

GV: Hình ảnh hoa đèn và bóng người gợi cho em suy nghĩ

phụ khi chồng ra trận, không rõ tin tức và ngày trở về; đồng thời thể hiện niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ

II Đọc - hiểu văn bản

1 Đọc - giải thích từ khó

Bố cục: 3 phần

2 Tìm hiểu tác phẩm a.Nỗi cô đơn, lẻ bóng của người chinh phụ (tám câu đầu)

- Hành động:

+ Dạo hiên vắng + Rủ thác đòi phen -> Diễn tả hành động của người

chinh phụ đi đi lại lại, buông rèm cuốn rèm không biết bao nhiêu lần để chờ tin tức từ người chồng nơi phương xa

-> Hoàn cảnh lẻ loi và tâm trạng nhung nhớ, cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ

- Hình ảnh thước chẳng mách tin -> sự mỏi mòn, mong ngóng

mà không có tin tức gì từ người chồng nơi chiến trận

- Nghệ thuật:

+ Điệp ngữ bắc cầu: đèn biết chăng, đèn chẳng biết.

-> Diễn tả tâm trạng buồn lê thê, kéo dài

+ Câu hỏi tu từ: trong rèm, dường đã có đèn biết chăng ?

-> Lời than thở, sự khắc khoải đợi chờ

Bi thiết -> nỗi đau cắt ruột

Trang 4

Hình ảnh hoa đèn, bóng người gợi cho người đọc nhớ đến

hình ảnh ngọn đèn không tắt của thiếu nữ trong bài ca dao

quen thuộc:

Đèn thương nhớ ai

Mà đèn không tắt

Mắt thương nhớ ai

Mắt ngủ không yên

Trong màn đêm yên tĩnh chỉ còn le lói ánh sáng của ngọn đèn

dầu không đủ sức xua tan những góc khuất trong tâm hồn của

những người phụ nữ và khi ngọn đèn tàn thì nước mắt cũng đã

đầy vơi Đèn là hình ảnh gắn với tâm trạng, bầu bạn của người

phụ nữ mà bây giờ hoa đèn nghĩa là đèn gần tắt tức là người

phụ nữ chờ đợi vò võ cả đêm không ngủ thì nỗi đau, nỗi cô

đơn càng nâng lên gấp bội

Hình ảnh cái bóng người gợi cho ta nhớ đến nàng Vũ Thị

Thiết trong Chuyện người con gái Nam Xương nhưng nàng Vũ

Nương còn có bé Đản để trò chuyện còn người chinh phụ trẻ

thì không có một ai để giãi bày tâm sự ngoài cái bóng đèn vô

tri, vô giác

* TIẾT 77

Ở tiết học trước chúng ta đã tìm hiểu về tác giả Đặng Trần

Côn, dịch giả Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích và tám câu thơ

đầu của đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Và ở

tiết này cô trò chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu 16 câu thơ còn lại để

thấy được nỗi đau khổ và khát vọng hạnh phúc của người

chinh phụ có chồng ra trận

b.Nỗi sầu muộn triền miên của người chinh phụ.

Một em học sinh đọc 8 câu thơ tiếp

GV: Qua hai câu thơ: Gà eo óc bóng bốn bên Cho biết

không gian và thời gian hiện ra như thế nào?

- Thời gian là tiếng gà eo óc gáy báo hiệu năm canh Chứng

tỏ người vợ đã thao thức suốt đêm, câu thơ mang âm điệu não

nùng, khắc khoải, khiến người đọc liên tưởng đến những câu

thơ trong bài Tự tình của Hồ Xuân Hương với những dòng

tâm tư sầu thảm, oán hờn:

Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom Oán hận trông ra khắp mọi chòm

=> Dường như ta bắt gặp ở họ một nét chung về hoàn cảnh,

tâm trạng

- Không gian hoang vắng được bao phủ bởi những rặng liễu,

càng làm tăng thêm nỗi buồn của người chinh phụ

GV: Để diễn tả nỗi sầu muộn của người chinh phụ, tác giả

đã sử dụng nghệ thuật gì? Nêu tác dụng của nghệ thuật?

- Để diễn tả nỗi sầu muộn triền miên của người chinh phụ, tác

giả đã sử dụng hàng loạt những từ láy: phất phơ, đằng đẵng,

dằng dặc

+ Phất phơ là một từ láy giàu tính tượng hình gợi lên sự

- Hình ảnh:

+ Hoa đèn + Bóng người

=> Sự cô đơn, lẻ bóng và niềm

mong ngóng khôn nguôi khi chồng vắng nhà

=> Qua 8 câu đầu của đoạn trích

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, ta thấy được tâm trạng cay

đắng, xót xa và sự day dứt, giằng xé trong tâm hồn làm nổi bật nỗi cô đơn trong lòng người chinh phụ

b.Nỗi sầu muộn triền miên của người chinh phụ.(8 câu tiếp)

- Thời gian: năm trống

-> chứng tỏ người vợ đã thao thức cả đêm không ngủ

- Không gian: hòe phất phơ ->

gợi cảm giác hoang vắng làm tăng nỗi buồn của người chinh phụ

- Từ láy:

+ Phất phơ: một từ láy giàu tính hình tượng gợi sự thưa thớt , ít ỏi.

+ “ Đằng đẵng”, “ dằng dặc”: Nỗi sầu bám riết, đeo đẳng

Trang 5

buồn, thưa thớt, ít ỏi.

+ Các từ láy đằng đẵng, dằng dặc cho thấy nỗi sầu cứ bám

riết, đeo đẳng trong tâm hồn người chinh phụ không bao giờ

dứt Mỗi giờ qua đi, dài dằng dặc như cả năm trường còn nỗi

buồn thì vô tận như đại dương

GV: Người chinh phụ còn làm những việc gì để xua đi nỗi

buồn? Nàng có đạt được mong muốn đó không? Vì sao?

- Người phụ nữ đã thức suốt đêm không ngủ Đau khổ về tinh

thần cộng thêm sự mệt mỏi về thể xác, chinh phụ đốt hương

để tìm sự thanh thản nhưng trong lòng lại mê man Khi trong

lòng mỗi người có một mối lo ngại, nghi vấn dẫn đến sự sợ

hãi, rối bời thì chỉ có một cách duy nhất là giải tỏa tất cả

những mối nghi ngờ đó thì tâm hồn mới được bình an, thanh

thản còn không thì dù có làm mọi cách cũng không có tác

dụng

- Soi gương là một thói quen của người phụ nữ nhưng giờ đây

nàng soi để làm gì? Đâu còn ai ngắm ai khen?

Vắng chàng điểm phấn tô hồng cùng ai?

Biếng trang điểm lòng này sầu tủi Xót nỗi chàng ngoài cõi trùng quan

Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi

Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề.

Bên cạnh đó, thói quen này dễ khiến người ta liên tưởng đến

cảnh ngộ của mình khi tuổi xuân qua đi mà nhan sắc thì tàn

phai theo năm tháng

- Tiếng sắt đàn cầm lại gợi đến hình ảnh lứa đôi Tiếng đàn là

những giai âm mà người chinh phụ có thể kí thác lòng mình

Nhưng theo quan niệm của người xưa: dây uyên kinh đứt,

phím loan chùng báo hiệu sự không may mắn của tình cảm vợ

chồng Đó là điều làm nàng vốn đã buồn bã vì xa cách lại càng

thêm muôn phần lo lắng

- Hành động gượng lặp lại ba lần Gượng không phải bị ép

buộc, bị miễn cưỡng Người chinh phụ dù đã cố tình tìm đến

những thú vui nhưng lại không thể lừa dối bản thân vì những

cảm xúc đang rối bời những lo lắng, bất an vì thế những hành

động thể hiện ra rất gượng gạo, mất tự nhiên

=> Những hành động gượng gạo không giúp chinh phụ tìm

được sự giải tỏa, sẻ chia nỗi lòng nên nỗi cô đơn, sầu nhớ

càng thêm da diết

c.Nỗi nhớ thương chồng đau đáu của người chinh phụ.

Tám câu thơ sau, lời thơ lại chuyển sang độc thoại nội tâm

Trực tiếp bày tỏ nỗi lòng chinh phụ với hình ảnh chinh phu

tràn ngập trong tâm tưởng nàng Cuối cùng, người chinh phụ

gửi tất cả nỗi niềm thương nhớ đến nơi chinh phu đang chinh

chiến ngoài biên ải xa xôi

GV: Người chinh phụ đã thể hiện nỗi nhớ của mình qua

những chi tiết nào?

Khi sự nhớ thương lên đến đỉnh điểm thì con người thường có

nhu cầu bộc lộ, bày tỏ nỗi nhớ của mình đến người mà mình

thương yêu Thời buổi hiện nay, người ta thường thể hiện

mình qua những dòng tâm trạng trên facebook, zalo, qua điện

thoại, tin nhắn Nhưng trong hoàn cảnh loạn lạc, chia ly, việc

trao đổi thông tin của con người là vô cùng khó khăn Người

chinh phụ chỉ có thể nhờ ngọn gió đông gửi tấm lòng thủy

chung, son sắt của mình đến non Yên (núi Yên Nhiên), nơi

không dứt

- Tìm đến những thú vui:

+ Đốt hương -> tìm sự thanh

thản nhưng tâm hồn lại mê man

+ Soi gương -> trang điểm

nhưng nước mắt đầm đìa

+ Gảy đàn -> đàn chùng, gợi

điềm gở

-> Điệp từ Gượng (3 lần): Hành

động gượng gạo, miễn cưỡng, không tự nhiên

=> Nỗi sầu muộn không những không được giải tỏa mà càng chồng chất nặng nề hơn

c.Nỗi thương nhớ chồng đau đáu của người chinh phụ.( 8 câu còn lại)

- Nỗi nhớ:

+ Gửi gió đông (gió xuân):

nhờ ngọn gió gửi tấm lòng thủy chung son sắt đến chinh phu nơi phương xa

+ Gửi non Yên (núi Yên Nhiên): là nơi chiến trận ngoài

biên ải xa xôi

-> Hình ảnh ước lệ mang vẻ đẹp

của văn học thời kì trung đại

Trang 6

chinh phu đang chinh chiến tại vùng biên ải xa xôi để mong

chàng thấu hiểu, sẻ chia

GV: Để diễn tả nỗi nhớ thương chồng của chinh phụ, tác

giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?

- Từ láy diễn tả nỗi nhớ tăng dần:

+ Nhớ chàng thăm thẳm

+ Nhớ chàng đau đáu

+ Nhớ chàng thiết tha

=> Những từ láy, điệp từ nhớ gợi tả tinh tế nỗi nhớ của người

chinh phụ

GV: Cảm nhận của em về hình ảnh thiên nhiên ở hai câu

thơ:

“Cảnh buồn người thiết tha lòng Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”

Nỗi nhớ thương của người chinh phụ như vượt qua giới hạn

không gian thời gian để thấm vào trong từng ngõ ngách của

cảnh vật, làm cho cảnh vật cũng buồn, cũng da diết thê lương

Trong một câu thơ của Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.”

III Tổng kết

GV: Nêu những nét chính về nội dung và nghệ thuật của

đoạn trích?

Việt Nam

- Nỗi nhớ tăng dần:

+ Nhớ chàng thăm thẳm + Nhớ chàng đau đáu + Lòng thiết tha -> Những từ láy, điệp từ nhớ gợi

tả tinh tế nỗi nhớ của người chinh phụ

- Hình ảnh :

+ Cành cây sương đượm + Tiếng trùng mưa phun

-> Nỗi nhớ thấm vào cảnh vật, nhìn cảnh mà thấy được tâm trạng của con người

=> Đoạn trích miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau trong nỗi cô đơn, buồn khổ của người chinh phụ và niềm khao khát được sống trong tình yêu, hạnh phúc lứa đôi

III Tổng kết 1.Nghệ thuật:

- Bút pháp tả cảnh ngụ tình, miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật

- Ngôn ngữ chọn lọc, sử dụng nhiều biện pháp tu từ

2 Ý nghĩa văn bản

- Nỗi cô đơn, buồn khổ của người chinh phụ trong cảnh chia lìa

- Đề cao hạnh phúc lứa đôi và tiếng nói tố cáo chiến tranh phi nghĩa

IV Hướng dẫn tự học

- Học thuộc lòng bài thơ

- Nắm nội dung và nghệ thuật của đoạn trích

- Chuẩn bị bài mới

Ngày đăng: 29/03/2021, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w