Việc xây dựng và sử dụng những bài tập phù hợp sẽ giúp tăng sự hứng thú trong học tập cho học sinh, giúp củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức của bài giảng, phát triển năng lực tính toá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BỘ MÔN VẬT LÍ
Mã số: 8.14.02.11.01
Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG CHÍ HIẾU
Hà Nội - 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo, cán bộ công nhân viên
đã tham gia công tác và giảng dạy tại khoa Sư phạm trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo những điều kiện tốt nhất giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Chí Hiếu, người
đã giao đề tài và trực tiếp hướng dẫn tác giả làm luận văn Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã luôn luôn nhận được sự hướng dẫn tận tình và lĩnh hội được những kiến thức sâu rộng từ thầy
Tác giả xin cảm ơn sự quan tâm, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất từ Ban giám hiệu, đồng nghiệp và các em học sinh trường THPT Cẩm Giàng II nơi tác giả công tác
Tác giả cũng xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài của mình
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2020
Tác giả
Lê Thị Phấn
Trang 5DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, BẢNG VÀ HÌNH VẼ
Bảng 1.1 Các chỉ số về hành vi của HS khi đánh giá năng lực
GQVĐ 9
Bảng 1.2 Số lượng giáo viên dạy vật lí được hỏi tại các trường THPT trong huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương 20
Bảng 1.3 Số lượng học sinh được hỏi tại các trường THPT trong huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương 20
Bảng 1.4 Tỉ lệ sử dụng các dạng bài tập trong dạy học 21
Bảng 1.5 Tỉ lệ quan điểm của GV về tác dụng của bài tập thực tiễn 21
Bảng 1.6 Những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học mà GV thường sử dụng khi dạy học bài tập vật lí 22
Bảng 1.7 Tỷ lệ học sinh thích học môn vật lí ở các trường THPT trong huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương 23
Bảng 1.8 Thời gian tự học môn vật lí mỗi ngày của mỗi học sinh 24 Bảng 1.9 Giải quyết của học sinh khi gặp bài tập khó 24
Bảng 1.10 Lí do học sinh thích học vật lí 25
Bảng 1.11 Những khó khăn học sinh gặp phải khi học tập vật lí 25 Bảng 1.12 Những mong muốn học sinh khi học tập vật lí 26
Bảng 1.13 Những loại bài tập vật lí mà HS thường xuyên được giải 26
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ graph kiến thức chương dòng điện không đổi 33 Hình 2.1 Hình minh họa bài tập 1.1 35
Hình 2.2 Acquy 38
Hình 2.3 Hình minh họa cho bài tập 1.5 39
Hình 2.4 Hình minh họa bài tập 2.1 41
Hình 2.5 Bếp sưởi điện 42
Trang 6Hình 2.6 Quạt điện 42
Hình 2.7 Hình minh họa bài tập 2.5 43
Hình 2.8 Hình minh họa cho bài tập 2.6 45
Hình 2.9 Hình minh họa cho bài tập 2.7 46
Hình 2.10 Hóa đơn tiền điện sinh hoạt của một hộ gia đình 48
Bảng 2.1 Minh họa bài tập 2.10 49
Hình 2.11 Hình minh họa bài tập 3.2 51
Hình 2.12 Điều khiển tivi 52
Hình 2.13 Hình minh họa bài tập 3.5 53
Bảng 2.2 Rubric đánh giá năng lực GQVĐ của HS thông qua hoạt động giải bài tập thực tiễn 65
Bảng 3.1 Phiếu đánh giá về sự phát triển năng lực GQVĐ của học sinh ở lớp thực nghiệm 73
Hình 3.1 Hình chụp tại lớp thực nghiệm 74
Bảng 3.2 Bảng thống kê kết quả đánh giá năng lực GQVĐ của lớp thực nghiệm
75 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ thể hiện kết quả đánh giá năng lực GQVĐ của học sinh lớp thực nghiệm
77 Bảng 3.3 Thống kê điểm của bài kiểm tra trước TNSP 79
Biểu đồ 3.2 Biểu đồ thể hiện sự phân bố điểm kiểm tra của học sinh trước TNSP 79
Bảng 3.4 Thống kê điểm của bài kiểm tra sau TNSP 79
Biểu đồ 3.3 Biểu đồ thể hiện sự phân bố điểm kiểm tra của học sinh sau TNSP 80
Bảng 3.5 Bảng thống kê phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích trước TNSP 81 Bảng 3.6 Bảng thống kê phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích
Trang 7sau TNSP 81 Biểu đồ 3.4 Phân bố đường lũy tích điểm kiểm tra của HS trước
TNSP 82 Biểu đồ 3.5 Phân bố đường tích lũy điểm kiểm tra của HS sau
TNSP 83
Bảng 3.7 Bảng thống kê kết quả xử lý các tham số 83 Bảng 3.8 Bảng thống kê kết quả xử lý các tham số 84
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, BẢNG VÀ HÌNH VẼ iii
MỤC LỤC iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Câu hỏi nghiên cứu 2
6 Giả thiết khoa học 3
7 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
8 Phương pháp nghiên cứu 3
9 Đóng góp mới của đề tài 4
10 Dự kiến cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Khái niệm về năng lực 6
1.1.1 Khái niệm về năng lực 6
1.1.2 Phân loại năng lực 7
1.2 Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong học tập vật lí 8
1.2.1 Khái niệm về vấn đề, giải quyết vấn đề và năng lực giải quyết vấn đề trong học tập môn vật lí
8 1.2.2 Biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề 8
1.2.3 Cấu trúc của hoạt động giải quyết vấn đề 9
1.2.4 Một số biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong dạy
Trang 9học vật lí 11
1.3 Bài tập vật lí 11
1.3.1 Khái niệm về bài tập vật lí 11
1.3.2 Mục đích sử dụng bài tập vật lí 11
1.3.3 Tác dụng của bài tập vật lí 12
1.3.4 Phân loại bài tập vật lí 12
1.3.4.1 Bài tập vật lí định tính hay bài tập câu hỏi lý thuyết 13
1.3.4.2 Bài tập vật lí định lượng 13
1.3.4.3 Bài tập đồ thị 14
1.3.4.4 Bài tập thí nghiệm 14
1.3.5 Phương pháp giải các bài tập vật lí 14
1.3.6 Lựa chọn bài tập vật lí để phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh 16
1.3.7 Xây dựng và sử dụng bài tập vật lí gắn với thực tiễn 17
1.3.7.1 Nguyên tắc của việc xây dựng bài tập gắn với thực tiễn 17
1.3.7.2 Quy trình thiết kế bài tập thực tiễn 19
1.3.7.3 Sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy học môn vật lí 19
1.4 Thực trạng việc sử dụng bài tập gắn thực tiễn trong dạy học môn vật lí
19 1.4.1 Mục tiêu của việc khảo sát 19
1.4.2 Phương pháp khảo sát 19
1.4.3 Kết quả của quá trình khảo sát 20
1.4.4 Phân tích nguyên nhân của thực trạng 27
Kết luận chương 1 28
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP VẬT LÍ CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” – VẬT LÍ 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GQVĐ CHO HS 29
Trang 102.1 Tổng quan nội dung chương trình chương “ Dòng điện không đổi” 29
2.1.1 Mục tiêu dạy học của chương “Dòng điện không đổi” - Vật lí 11
cơ bản 29
2.1.1.1 Về mặt kiến thức 29
2.1.1.2 Về mặt kĩ năng 29
2.1.2 Nội dung kiến thức của chương “ Dòng điện không đổi ” 29
2.1.3 Graph chương trình chương “Dòng điện không đổi” 33
2.2 Xây dựng một số bài tập vật lí chương “ Dòng điện không đổi” - Vật lí 11 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS 34
2.2.1 Bài tập chủ đề 1 35
2.2.2 Bài tập chủ đề 2 40
2.2.3 Bài tập chủ đề 3 50
2.3 Xây dựng tiến trình dạy học chương “ Dòng điện không đổi” có sử dụng bài tập theo định hướng phát triển năng lực GQVĐ của HS 55
2.4 Xây dựng công cụ đánh giá sự phát triển năng lực GQVĐ của HS 64
Kết luận chương 2 69
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70
3.1 Mục đích của hoạt động thực nghiệm sư phạm 70
3.2 Nhiệm vụ của hoạt động thực nghiệm sư phạm 70
3.3 Thời gian, địa điểm và đối tượng thực nghiệm sư phạm 71
3.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 71
3.4.1 Công tác chuẩn bị 71
3.4.2 Quy trình thực nghiệm 71
3.5 Kết quả và xử lí kết quả thực nghiệm 72
3.5.1 Xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực giải quyết vấn đề 72
3.5.2 Xây dựng phiếu đánh giá và đề kiểm tra 72
Trang 113.5.2.1 Xây dựng phiếu đánh giá 72
3.5.2.2 Xây dựng đề kiểm tra 74
3.5.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 74
3.5.3.1 Phân tích kết quả bồi dưỡng năng lực GQVĐ cho HS 74
3.5.3.2 Phân tích kết quả định lượng 77
3.6 Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 84
Kết luận chương 3 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Khuyến nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 89
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang trên đà hội nhập và phát triển đòi hỏi người lao động phải có khả năng thích ứng, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào hoàn cảnh thực tiễn Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của
Liên hiệp quốc UNESCO đã đề xướng mục đích học tập: "Học để biết, học để
làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình" như một lời khẳng định
về tầm quan trọng của việc học Theo đó, việc đổi mới phương pháp dạy học
là việc cần thiết và cấp bách để đáp ứng được mục tiêu học tập và tạo ra nguồn lực phù hợp yêu cầu của giai đoạn hiện nay
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo, đó là: “Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, khuyến khích và bồi dưỡng nhân tài Tăng cường chuyển quá trình giáo dục từ truyền thụ kiến thức đến phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của người học Học đi đôi với hành; lý thuyết gắn với thực hành; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội ”[9]
Như vậy, mục tiêu mà giáo dục phổ thông hướng tới là phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, nâng cao khả năng làm việc nhóm và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, nội dung kiến thức vật lí gắn liền với thực tiễn Ngoài việc giảng dạy lý thuyết vật lí thì bài tập vật lí luôn giữ một vai trò quan trọng trong thực hiện tiến trình dạy học của người giáo
Trang 13viên Việc xây dựng và sử dụng những bài tập phù hợp sẽ giúp tăng sự hứng thú trong học tập cho học sinh, giúp củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức của bài giảng, phát triển năng lực tính toán, năng lực giải quyết vấn đề của người học, bồi dưỡng những kỹ năng vận dụng lý thuyết vào thực tiễn
Thực tế cho thầy nhiều giáo viên còn dạy học theo phương pháp truyền thống, đa phần sử dụng các bài tập mẹo, nặng tính toán, không có ý nghĩa thực tiễn do đó khiến nhiều học sinh thụ động chỉ biết đến các phương pháp giải đã được đưa ra và áp dụng máy móc công thức vào tính toán làm giảm đi bản chất vật lí; học sinh thiếu đi khả năng tư duy, vận dụng cao trong những bài tập nâng cao và thiếu sự liên tưởng, áp dụng vào thực tiễn
Xuất phát từ những lí do trên tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài “Xây
dựng và sử dụng một số bài tập chương “Dòng điện không đổi” - Vật lí 11 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh”
2 Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng một số bài tập chương “Dòng điện không đổi” - Vật lí 11
theo hướng phát triển năng lực GQVĐ của học sinh
- Thiết kế tiến trình dạy học chương “Dòng điện không đổi” với việc sử dụng các bài tập đã xây dựng nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh THPT tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
3 Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung chương “Dòng điện không đổi” - Vật lí 11 cơ bản;
- Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh khi học chương “Dòng điện
không đổi” - Vật lí 11 cơ bản có sử dụng các bài tập gắn với thực tế
4 Phạm vi nghiên cứu
- Quá trình dạy và học ở trường THPT Cẩm Giàng I, THPT Cẩm
Giàng II, THPT Tuệ Tĩnh thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
5 Câu hỏi nghiên cứu
Trang 14Năng lực GQVĐ của HS phát triển như thế nào khi được sử dụng các bài tập gắn với thực tế trong dạy học chương “Dòng điện không đổi”-Vật lí 11?
6 Giả thuyết khoa học
- Năng lực GQVĐ của HS THPT được nâng lên thông qua việc sử
dụng các bài tập vật lí gắn với thực tiễn trong dạy học chương “Dòng điện
không đổi” – Vật lí 11
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về NL GQVĐ của HS, cơ sở lý luận về BTVL
- Tìm hiểu thực trạng việc xây dựng và sử dụng các bài tập vật lí có nội dung gắn với thực tiễn; năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong học bài tập vật lí có nội dung gắn liền với thực tiễn ở một số trường THPT hiện nay
- Phân tích cấu trúc, nội dung của chương “Dòng điện không đổi ” -
Vật lí 11
- Xây dựng một số bài tập chương “Dòng điện không đổi ”- Vật lí 11
theo hướng phát triển năng lực GQVĐ của HS
- Thiết kế tiến trình dạy học chương “Dòng điện không đổi” có sử dụng
các bài tập vật lí đã xây dựng theo hướng phát triển năng lực GQVĐ của HS
- Tiến hành thực nghiệm để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các bài tập đã xây dựng
8 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu lý luận về bài tập vật lí, trên cơ sở đó tìm hiểu về năng lực giải quyết vấn đề của học sinh thông qua việc tập hợp
và sử dụng tài liệu
- Nghiên cứu thực tiễn:
Trang 15+ Phương pháp quan sát: Quan sát thái độ và sự hứng thú của học sinh thông qua tiết học vật lí
+ Phương pháp điều tra: Thực hiện phỏng vấn một số học sinh trong lớp sau tiết học bài tập để đánh giá mức độ hiệu quả của tiết dạy và thái độ, sự hứng thú của học sinh đối với tiết dạy Trưng cầu ý kiến của các giáo viên vật
lí khác về thực trạng dạy học chương “Dòng điện không đổi” theo hướng giúp
HS phát triển năng lực giải quyết vấn đề
- Thực nghiệm sư phạm: Tuyển chọn và tiến hành dạy song song lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Các lớp được phân bố đều số học sinh có học lực tương đương nhau tại trường THPT Cẩm Giàng II, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Ở lớp thực nghiệm có sử dụng các bài tập được xây dựng, còn lớp đối chứng sử dụng các bài tập đã biên soạn trong sách giáo khoa
- Sử dụng phương pháp thống kê nhằm phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm một cách chính xác và khoa học
Trên cơ sở phân tích định tính và định lượng kết quả kiểm tra trong quá trình thực nghiệm sư phạm có thể đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài nghiên cứu
9 Đóng góp mới của đề tài
- Về lý luận: Luận văn đã đưa ra quy trình, nguyên tắc xây dựng và sử dụng các bài tập “Dòng điện không đổi” theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh THPT
- Về thực tiễn:
+ Giúp GV biên soạn được các bài tập có các thông tin, nội dung gắn liền với thực tiễn đời sống, kỹ thuật trong dạy học chương “Dòng điện không đổi”-Vật lí 11 cơ bản
+ Góp phần phát triển năng lực GQVĐ của HS
Trang 1610 Cấu trúc của luận văn
Phần Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Xây dựng và sử dụng một số bài tập vật lí chương “Dòng điện không đổi”-Vật lí 11 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Phần Kết luận
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm về năng lực
1.1.1 Khái niệm năng lực
Năng lực là một khái niệm được bàn đến trong mọi lĩnh vực của đời sống Trên thực tế có rất nhiều quan điểm về khái niệm năng lực, có thể kể đến một số khái niệm sau:
Theo Hoàng Phê: Năng lực là "khả năng, trạng thái chủ quan hoặc tự nhiên, để thực hiện một hoạt động nhất định nào đó” hoặc “Năng lực là một phẩm chất tâm sinh lý và trình độ chuyên môn cho phép một người thực hiện một loại hoạt động nhất định với chất lượng cao”[18]
Theo Nguyễn Quang Uẩn thì năng lực là những thuộc tính của cá nhân phù hợp với một hoạt động cụ thể để đạt được kết quả tốt Năng lực vừa
là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động này [23]
Trong [13] tác giả Đặng Thành Hưng đã đưa ra những yếu tố quan trọng làm rõ các thuộc tính cá nhân trong khái niệm năng lực là sinh học, tâm
lý và giá trị xã hội Năng lực là sự kết hợp của các hành động thể chất và tinh thần tương ứng với các hình thức hoạt động nhất định dựa trên các thuộc tính
cá nhân (sinh học, tâm lý và giá trị xã hội) được thực hiện một cách tự nguyện
và tạo ra kết quả tương ứng với mức độ hoạt động thực tế
- Theo ILO, Năng lực bao gồm kiến thức, kỹ năng và bí quyết cần phải nắm vững trong một bối cảnh cụ thể [4]
- Năng lực trong [4] được định nghĩa là khả năng thực hiện một nhiệm vụ trọn vẹn, đạt chuẩn kĩ năng tương ứng với những ngưỡng quy định Bởi vì một người có thể có năng lực trong một lĩnh vực này, nhưng không đủ
Trang 18năng lực trong lĩnh vực khác Khi muốn giải quyết tốt một công việc nào đó thì người thực hiện phải có năng lực trong lĩnh vực đó Năng lực cũng có thể thay đổi và được phát triển thông qua việc rèn luyện Đồng thời, năng lực cũng thể hiện khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp mọi tiềm năng của con người (tri thức, kĩ năng, thái độ, thể lực, niềm tin, …) để thực hiện chất lượng một công việc nào đó
Tóm lại có thể hiểu một cách tổng quát: NL là sự kết hợp một cách linh
hoạt và có tổ chức về tất cả các mặt kiến thức, kỹ năng và thái độ của cá nhân
để đảm bảo cá nhân hoạt động có hiệu quả trong các bối cảnh và tình huống
cụ thể Cho dù cách biểu đạt có khác nhau, nhưng cách hiểu về khái niệm NL
đều chứa đựng nội dung chủ yếu đó là yếu tố cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả
1.1.2 Phân loại năng lực
Trên thế giới tùy theo khu vực, quốc gia có những phân loại khác nhau
về năng lực, nhưng nhìn chung có thể phân NL thành năng lực chung và năng
lực đặc thù
Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (Ban hành kèm theo
Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo) thì chương trình cần hình thành cho học sinh những
năng lực cốt lõi sau:
- Năng lực chung: Được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục; bao gồm:
+ Năng lực tự chủ, tự học
+ Năng lực giao tiếp và hợp tác
+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Năng lực chuyên biệt: được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục riêng lẻ Những năng lực này chỉ
Trang 19được sử dụng để học một số môn học riêng, không bao gồm tất cả các môn Năng lực chuyên biệt gồm:
1.2 Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong học tập vật lí
1.2.1 Khái niệm về vấn đề, giải quyết vấn đề và năng lực giải quyết vấn đề trong học tập môn vật lí
- Khái niệm vấn đề: Vấn đề trong dạy học VL là nhiệm vụ nhận thức/bài toán nhận thức mà chủ thể (người học, đối tượng tiếp thu) chưa biết con đường giải quyết cũng như kết quả giải quyết nhiệm vụ; chủ thể có sẵn kiến thức, kĩ năng thích hợp và có nhu cầu giải quyết
- Khái niệm về giải quyết vấn đề: Trong dạy học VL, GQVĐ được hiểu
là người học huy động kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm đã có thực hiện thao tác tư duy lí thuyết và thực nghiệm/thực hành để tìm câu trả lời cho vấn đề; qua đó người học thu nhận được kiến thức, kĩ năng mới
- NL GQVĐ của HS trong học tập VL là tổ hợp các NL thành tố (theo tiến trình GQVĐ) cho phép người học huy động kiến thức, kĩ năng thích hợp, với thái độ tích cực giải quyết thành công nhiệm vụ nhận thức, lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng và phương pháp mới
1.2.2 Các biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề
Trong quá trình dạy học, NL GQVĐ của HS được hình thành và phát triển trong hoạt động GQVĐ Biểu hiện của năng lực GQVĐ được nêu ra trong bảng sau:
Trang 20Bảng 1.1 Các chỉ số về hành vi của HS khi đánh giá năng lực GQVĐ
Các thành tố Các chỉ số hành vi của học sinh
Nhận ra vấn đề Thu nhận và phân tích tình huống
Phát hiện ra các vấn đề, chia sẻ sự am hiểu của bản thân về vấn đề
Phát biểu vấn đề Tìm ra giải pháp
Sử dụng tốt các phương tiện hỗ trợ: như CNTT, PTDH Đánh giá giải
pháp và kết quả
giải quyết vấn đề
Chỉ ra được điểm mới và tính sáng tạo của giải pháp Biết áp dụng trong học tập, thực tiễn
Biện luận kết quả, đề ra giải pháp ưu việt hơn
1.2.3 Cấu trúc của hoạt động giải quyết vấn đề
Hoạt động GQVĐ chia làm các giai đoạn sau:
a) Giai đoạn hiểu vấn đề gồm: nhận diện vấn đề, hiểu ngôn ngữ diễn đạt của vấn đề, chia sẻ sự am hiểu vấn đề
- Trong giai đoạn này, để hiểu vấn đề, HS phải thực hiện các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa Như vậy, thông qua
sự tái hiện quy luật VL bằng TN hay các bối cảnh VL do GV đưa ra, thông qua các thao tác tư duy, HS hiểu được vấn đề, nhiệm vụ nghiên cứu
b) Giai đoạn tìm giải pháp và thực hiện giải pháp GQVĐ gồm:
- Thu thập thông tin và đánh giá các thông tin liên quan đến vấn đề
Trang 21- Đề xuất các giải pháp và lựa chọn giải pháp phù hợp
- Xác định cách thức, các chiến lược giải quyết vấn đề
Để tìm được giải pháp và thực hiện giải pháp, HS phải sử dụng kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, đồng thời thực hiện các thao tác tư duy phân tích,
so sánh, suy luận để hình thành các giả thuyết; sử dụng các phương pháp đối chiếu, so sánh, chỉnh lí trong khâu kiểm chứng giả thuyết; vận dụng thao tác tổng hợp, cụ thể hóa, khái quát hóa để hợp thức hóa kiến thức nội dung VL cần nghiên cứu Trong dạy học VL, tiến trình xây dựng kiến thức VL thực chất là tiến trình mô hình hóa, bao gồm xây dựng mô hình và hợp thức hóa
mô hình Kiến thức VL có được là sự phù hợp giữa những kết quả có được từ thực nghiệm và những kết quả có được của suy luận lí thuyết Như vậy, có thể
sử dụng các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm và phương pháp lí thuyết trong tiến trình xây dựng kiến thức VL theo tinh thần dạy học GQVĐ
c) Giai đoạn trình bày giải pháp và kết quả:
- Cách tổ chức, trình bày
- Thể hiện thông qua ngôn ngữ nói
- Thể hiện bằng ngôn ngữ viết
- Khả năng sử dụng các phương tiện, thiết bị CNTT
Thể hiện bằng ngôn ngữ nói khi thuyết trình, thảo luận, tranh luận, bảo
vệ kiến thức; thể hiện bằng ngôn ngữ viết khi trả lời trên phiếu học tập, báo cáo kết quả TN, báo cáo dự án, báo cáo thông qua các thiết bị công nghệ
thông tin, lời giải bài tập vấn đề
d) Giai đoạn đánh giá giải pháp và kết quả:
-Đánh giá và phản ánh về giá trị của các giải pháp
- Xác nhận các kiến thức, kinh nghiệm thu được
- Đề xuất giải pháp mới ưu việt hơn
Trang 22HS chỉ ra điểm mới, tính sáng tạo của giải pháp GQVĐ; trình bày khả năng áp dụng của giải pháp trong học tập và hoạt động thực tiễn; biện luận kết quả của giải pháp, đề xuất giải pháp mới ưu việt hơn
1.2.4 Một số biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học vật lí
Biện pháp thứ nhất: Đổi mới, lựa chọn phương pháp dạy học nhằm
nâng cao năng lực giải quyết vấn đề trong học tập cho HS Một số phương pháp giúp nâng cao NL GQVĐ đó là:
- Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề
- Phương pháp dạy học đàm thoại phát hiện
Biện pháp thứ hai: Làm cho học sinh thấy được ứng dụng thực tiễn của kiến thức từ đó tạo hứng thú cho HS trong quá trình học tập
- Trong quá trình nhận thức thì thực tiễn đóng vai trò quan trọng Thực tiễn là thước đo chân lý trong vật lí cũng như trong các ngành khoa học khác Tính thực tiễn của vật lí được thể hiện qua các ứng dụng của vật lí vào trong thực tiễn đời sống và kĩ thuật Thực tiễn cũng góp phần quan trọng trong việc hình thành khả năng nhận biết vấn đề và giải quyết vấn đề của học sinh
Biện pháp thứ ba: Cho HS luyện tập giải quyết các vấn đề gắn với
thực tiễn trong các bài tập định hướng phát triển năng lực
1.3 Bài tập vật lí
1.3.1 Khái niệm về bài tập vật lí
Bài tập vật lí là một bài toán cụ thể và cần có suy luận logic, các phép toán, thí nghiệm dựa trên các định luật và phương pháp vật lí
1.3.2 Mục đích sử dụng bài tập vật lí
Mục đích chủ yếu của các BTVL là nghiên cứu các hiện tượng vật lí, hình thành nên các khái niệm, phát triển tư duy vật lí cho HS; rèn kĩ năng vận dụng kiến thức của HS vào thực tiễn cuộc sống
Trang 23BTVL còn được sử dụng với tư cách là một PPDH, qua đó sẽ giúp GV hoàn thành được nhiệm vụ dạy học vật lí ở trường phổ thông
1.3.3 Tác dụng của bài tập vật lí
Sử dụng các bài tập vật lí trên lớp sẽ giúp học sinh hiểu sâu và đầy đủ kiến thức về chương trình và vận dụng kiến thức đó để giải quyết các bài tập, bài toán trong cuộc sống Khi HS biết vận dụng các kiến thức trong bài tập và trong thực tiễn đời sống chính là lúc HS biểu hiện mức độ sâu sắc, vững vàng của những kiến thức mà học sinh đã học được
Vật lí là môn khoa học giúp học sinh hiểu được các quy luật vận động trong thế giới vật chất Theo đó BTVL giúp HS hiểu rõ những quy luật ấy, BTVL giúp HS biết phân tích và vận dụng những quy luật vật lí vào trong thực tiễn
Thông qua việc giải các BTVL, khi HS được vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống cụ thể thì kiến thức vật lí của HS trở nên sâu sắc, hoàn thiện
Khi học sinh giải quyết một số tình huống được xây dựng trong các BTVL trong sách giáo khoa hay trong các tài liệu nào đó, các em cần sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, để giải quyết vấn đề
Do đó tư duy của học sinh có điều kiện để phát triển hơn nữa
Vì vậy có thể nói rằng BTVL là một công cụ hữu hiệu để phát triển tư duy, trí tưởng tượng, khả năng độc lập trong suy nghĩ , trong hành động của HS; rèn luyện cho các em tính kiên trì trong việc khắc phục những khó khăn trong cuộc sống
1.3.4 Phân loại các bài tập vật lí
Dựa vào phương thức giải có thể chia bài tập vật lí thành các loại như sau:
- Bài tập định tính
Trang 24- Bài tập định lượng
- Bài tập thí nghiệm
- Bài tập đồ thị
1.3.4.1 Bài tập vật lí định tính hay bài tập câu hỏi lý thuyết
- Khi giải bài tập loại này, HS không cần phải tính toán (hoặc chỉ có các phép toán đơn giản) HS cần vận dụng các định luật, định lý, quy luật để giải thích các hiện tượng thông qua một số lập luận có căn cứ, có lôgic
- Trong một bài tập định tính, nội dung của các câu hỏi thường rất phong phú, đòi hỏi phải vận dụng rất nhiều các kiến thức vật lí để tìm ra đáp
án
- Khi giải các bài tập định tính này, HS cần tiến hành theo các bước: + Phân tích nội dung của đề bài
+ Phân tích các sự kiện, hiện tượng vật lí được đề cập đến trong đề bài
để từ đó xác định các định luật, khái niệm vật lí hay quy tắc vật lí nào đó để tìm đáp án
+ Tiến hành tổng hợp tất cả các điều kiện đã cho với các kiến thức tương ứng để trả lời câu hỏi đưa ra
1.3.4.2 Bài tập vật lí định lượng
- Khi giải bài tập loại này, HS phải thực hiện các phép tính
- Phân loại theo mục đích dạy học thì bài tập định lượng được chia thành hai loại:
+ Bài tập tập dượt: Được sử dụng ngay sau khi nghiên cứu một khái niệm hay một quy luật vật lí cụ thể Điều này cho phép học sinh áp dụng ngay những kiến thức mới học được
Trang 25+ Bài tập tổng hợp: Đây là những bài tập phức tạp Khi giải các bài tập tổng hợp, học sinh cần vận dụng nhiều kiến thức ở nhiều phần, nhiều chương, nhiều cấp độ và thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau
Khi các bài tập định lượng được đưa ra ở dạng trắc nghiệm khách quan thì yêu cầu HS phải nhớ kết quả cuối cùng đã được chứng minh trước đó
để tìm ra đáp án một cách nhanh chóng nhất Vì vậy, học sinh cần hiểu kỹ bài học để vận dụng kiến thức ở mức độ cao
1.3.4.3 Bài tập đồ thị
Bài tập đồ thị là bài tập liên quan đến việc trình bày dữ liệu của bài toán dưới dạng đồ thị hoặc yêu cầu học sinh sử dụng đồ thị để giải chúng Bài tập đồ thị có thể phân loại thành hai loại:
- Bài tập đọc và khai thác đồ thị đã cho: Đây là loại bài tập có tác dụng rèn luyện cho HS những kỹ năng như đọc đồ thị, biết cách nhận biết sự thay đổi trạng thái của vật thể, một hiện tượng hay một quá trình vật lí nào đó, biết cách khai thác từ đồ thị những dữ kiện để giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó
- Bài tập vẽ đồ thị theo những dữ liệu đã cho: Tác dụng của loại bài tập này là rèn luyện cho HS kỹ năng vẽ đồ thị, HS biết cách chọn hệ tọa độ và tỉ
lệ xích phù hợp để vẽ đồ thị một cách chính xác nhất
1.3.4.4 Bài tập thí nghiệm
Bài tập thí nghiệm là dạng bài tập yêu cầu học sinh tiến hành thí nghiệm để kiểm chứng cách giải lý thuyết hoặc để tìm các con số, dữ kiện được sử dụng để giải bài tập
Dạng bài tập này khiến học sinh được giáo dục kỹ thuật tổng hợp, tạo cho HS cảm giác lí thú và đặc biệt cần ở HS ít nhiều tính sáng tạo
1.3.5 Phương pháp giải các bài tập vật lí
Trang 26Bài tập vật lí gồm nhiều loại khác nhau và mục đích sử dụng cũng khác nhau nhưng trong thực tế luôn có một quan điểm chung về quá trình giải một bài tập vật lí Theo quan điểm này, người GV không chỉ đơn giản là trình bày cách giải cho HS mà người GV phải thực hiện nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng HS trong quá trình giải bài tập; người thầy cần phải dạy HS tự lực trong giải bài tập vật lí Vì vậy, sau mỗi chương, mỗi phần của chương trình vật lí thì GV cần đưa cách giải mẫu đối với mỗi loại bài; hình thành cho HS thói quen phân tích đúng bài toán, ghi chép và tính toán một cách hợp lí; rèn luyện cho HS tư duy logic
Khi giải một bài tập vật lí ta có thể chia ra thành các bước như sau: Bước 1 Tìm hiểu nội dung đề bài
- Ở bước này chúng ta cần xác định rõ các điều kiện và làm rõ ý nghĩa của các thuật ngữ và cụm từ quan trọng
- Tóm tắt các điều kiện, sử dụng các kí hiệu, vẽ hình hoặc sơ đồ Bước 2 Phân tích hiện tượng
- Phân tích hiện tượng vật lí được nhắc tới trong bài tập sẽ làm rõ bản chất vật lí của các hiện tượng đó, HS sẽ nhớ lại những khái niệm, định luật có liên quan và cần thiết cho việc giải bài tập
Bước 3 Làm bài tập
- Lập kế hoạch giải quyết vấn đề và thêm các hằng số vật lí hoặc bảng
dữ liệu vào các điều kiện Phân tích các đồ thị nếu có
- Đổi đơn vị đo của các đại lượng vật lí từ đơn vị đã cho sang hệ số SI
- Tìm quy luật mô tả mối liên hệ giữa các đại lượng phải tìm và các đại lượng đã cho và viết ra các công thức tương ứng
- Viết ra các phương trình dưới dạng tổng quát hoặc kết hợp các thí nghiệm cần thiết để giải quyết bài toán (đối với bài toán thí nghiệm)
Trang 27- Tìm ẩn số của bài thông qua việc giải phương trình hoặc hệ phương trình
Bước 4 Biện luận
- Phân tích câu trả lời hoặc đáp số của bài tập, đánh giá tác dụng của số gần đúng
- Tìm kiếm các cách giải khác; lựa chọn cách giải hợp lí
Trên đây là các bước tổng quát để giải các loại bài tập vật lí Tuy nhiên, tùy từng bài cụ thể mà ta có những bước làm bài khác nhau Trong các bước
đã nêu ở trên, các bước đọc và làm rõ các ý nghĩa của các điều kiện, thuật ngữ, ghi vắn tắt điều kiện, vẽ hình, sơ đồ Các bước phân tích làm rõ bản chất vật lí của các hiện tượng là rất quan trọng, quyết định đến hiệu quả của hoạt động giải bài tập
1.3.6 Lựa chọn bài tập vật lí để phát triển NL GQVĐ của HS
Trong môi trường học tập thì bài tập là thành phần rất quan trọng Vì thế, khi sử dụng bài tập với mục tiêu phát triển NL GQVĐ thì người GV cần biết xây dựng các bài tập theo định hướng phát triển năng lực Dựa vào các bậc nhận thức và dựa vào đặc điểm của học tập định hướng phát triển năng lực, ta có thể xây dựng bài tập định hướng năng lực theo các dạng sau đây [5]:
+ Dạng bài tập dạng tái hiện: Bài tập dạng này yêu cầu sự hiểu và tái hiện kiến thức Dạng bài tập tái hiện không phải trọng tâm của bài tập định hướng phát triển năng lực
+ Dạng bài tập vận dụng: Đây là dạng bài tập vận dụng những kiến thức trong các tình huống không thay đổi Bài tập vận dụng nhằm củng cố kiến thức và rèn luyện các kĩ năng cơ bản, không yêu cầu sáng tạo
+ Dạng bài tập giải quyết vấn đề: Bài tập dạng này đòi hỏi sự phân tích, tổng hợp, đánh giá và vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi để
Trang 28giải quyết các vấn đề đặt ra Bài tập giải quyết vấn đề đòi hỏi ở người học sự sáng tạo
+ Dạng bài tập gắn với bối cảnh và tình huống thực tiễn (BT gắn với thực tiễn): Đây là bài tập mở, tạo cơ hội cho HS có nhiều cách tiếp cận, nhiều con đường giải quyết khác nhau Bài tập có nội dung thực tiễn sẽ tạo điều kiện cho học sinh củng cố kiến thức, hiểu sâu sắc kiến thức; là phương tiện kiểm tra kiến thức và kỹ xảo thực hành của HS; giúp HS hiểu rõ bản chất của các hiện tượng vật lí và những quy luật của chúng; dạy học sinh biết áp dụng những quy luật, kiến thức vào thực tiễn đời sống, vào lao động và sản xuất Vì thế, qua việc giải các bài tập gắn với thực tiễn HS sẽ phát triển được các năng lực mà đặc biệt là năng lực GQVĐ; hứng thú hơn đối với môn học, phát triển được óc quan sát, khả năng phân tích và tổng hợp
Từ những đặc điểm của từng dạng bài tập như đã trình bày ở trên ta thấy rằng để phát triển năng lực GQVĐ của HS thì việc xây dựng các bài tập
có nội dung “gắn với thực tiễn” cần được chú trọng nhiều hơn trong quá trình xây dựng các bài tập vật lí Nguyên tắc, quy trình xây dựng và cách sử dụng các bài tập vật lí gắn với thực tiễn sẽ được trình bày trong các nội dung dưới đây
1.3.7 Xây dựng và sử dụng bài tập vật lí gắn với thực tiễn
1.3.7.1 Nguyên tắc của việc xây dựng bài tập gắn với thực tiễn
- Nguyên tắc thứ nhất, bài tập thực tiễn phải có tính hệ thống:
Các bài tập cần phải được sắp xếp theo mức độ nhận thức của học sinh
và sắp xếp theo chương, bài Trong mỗi chương, bài nên phân ra các loại, dạng bài tập (nếu có) Mỗi bài tập cần phải có những mối liên hệ nhất định với các bài tập khác trong hệ thống
Các bài tập thực tiễn cần phải đa dạng, có bài tập đơn giản, có bài tập nâng cao và bài tập sáng tạo ở nhiều mức độ khác nhau
Trang 29Bài tập thực tiễn nhất định phải gắn liền với những sự kiện, những hiện tượng thường gặp, thường hay xảy ra trong thực tiễn cuộc sống
- Nguyên tắc thứ hai, bài tập thực tiễn phải đảm bảo tính logic sư phạm
Các tình huống trong thực tế thường phức tạp hơn những kiến thức vật
lí phổ thông trong các bài học, nên khi xây dựng bài tập thực tiễn cần phải có bước xử lí sư phạm để làm đơn giản hóa tình huống thực tiễn Yêu cầu về bài tập thực tiễn cũng phải đảm bảo phù hợp với trình độ và kỹ năng của học sinh
- Nguyên tắc thứ ba, nội dung các bài tập thực tiễn phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học và tính hiện đại
Mỗi bài tập khi xây dựng cần đảm bảo phải có một nhiệm vụ và vị trí nhất định trong bài học; phải bao gồm những kiến thức cơ bản, đảm bảo tính chính xác, khoa học Diễn đạt bài tập thực tiễn bằng lời sao cho đạt mục đích tốt nhất GV không nên đưa ra những bài tập còn đang tranh cãi đúng sai, kết quả tìm ra chưa rõ ràng Tuy nhiên, GV cũng cho HS làm một số bài tập đòi hỏi người làm phải nêu chính kiến của mình về một hiện tượng, một vấn đề nào đó xảy ra trong thực tiễn và gây tranh cãi
Trong một bài tập thực tiễn, bên cạnh nội dung vật lí còn có những dữ liệu thực tiễn; những dữ liệu đó cần phải chính xác và phù hợp với thực tiễn
Khi xây dựng những bài tập có liên quan tới vấn đề đạo đức, giá trị, thái độ của người giải quyết; lời giải còn tùy vào bối cảnh, tình huống cụ thể Khi GV đưa ra các bài tập dạng này thì người GV phải có sự hiểu biết đúng đắn và có kiến thức sâu rộng trong thực tiễn để có thể làm “trọng tài” cho các
em và có kết quả xác đáng cuối cùng
- Nguyên tắc thứ tư, bài tập có nội dung thực tế phải gắn với nội dung học tập:
Trang 30Người giáo viên cần căn cứ vào mục tiêu cụ thể của bài, chương đang học để xây dựng, lựa chọn bài tập nhằm thực hiện tốt mục tiêu đào tạo Không phải nội dung nào cũng có thể xây dựng được bài tập thực tiễn
Trong một chương, bài, phần cụ thể có thể xây dựng nhiều dạng bài tập thực tiễn Các dạng bài tập này ở nhiều mức độ khác nhau để thực hiện các khâu của quá trình dạy học Tuy nhiên, cần thiết kế số lượng bài tập vừa đủ thời gian, tránh quá nhiều (gây loãng và quá sức) hay quá ít (không đủ để thực hiện mục tiêu học tập)
- Nguyên tắc thứ năm, bài tập thực tiễn phải sát với kinh nghiệm của học sinh:
Bài tập thực tiễn phải chứa đựng những tình huống gần gũi, nên chú ý đến những vấn đề mang tính địa phương nơi người học đang sống, ngay cả khi học sinh đã nhận biết được vấn đề đó và có nhu cầu giải quyết Bài tập thực tiễn phải gắn với giờ học vật lí, giờ thực hành vật lí của học sinh
1.3.7.2 Quy trình thiết kế bài tập thực tiễn
- Bước 1: Lựa chọn đơn vị kiến thức, hiện tượng, bối cảnh/tình huống
có nội dung thực tế
- Bước 2: Xác định mục tiêu giáo dục của đơn vị kiến thức, xây dựng
mâu thuẫn nhận thức từ bối cảnh/tình huống lựa chọn và xác định các điều kiện cần thiết để giải quyết các mâu thuẫn này
- Bước 3: Thiết kế bài tập theo mục tiêu
- Bước 4: Tìm đáp án, lời giải và kiểm tra thử
- Bước 5: Chỉnh sửa bài tập, hoàn thiện bài tập
1.3.7.3 Sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy học môn vật lí
- Sử dụng bài tập thực tiễn để mở bài, tạo tình huống học tập
- Sử dụng bài tập thực tiễn trong quá trình xây dựng kiến thức mới
- Sử dụng bài tập thực tiễn sau khi xây dựng kiến thức
Trang 31- Sử dụng bài tập thực tiễn trong hoạt động củng cố, hệ thống hóa kiến thức
- Sử dụng bài tập thực tiễn trong hoạt động kiểm tra, đánh giá
1.4 Thực trạng việc sử dụng bài tập gắn thực tiễn trong dạy học môn vật
lí
1.4.1 Mục tiêu của việc khảo sát
- Đánh giá thực trạng sử dụng bài tập thực tiễn nhằm phát triển năng lực GQVĐ của HS trong dạy học môn vật lí
1.4.2 Phương pháp khảo sát
a Trường hợp khảo sát giáo viên:
- Dự giờ dạy của các giáo viên đang giảng dạy môn vật lí THPT
- Trao đổi trực tiếp với các giáo viên vật lí cấp THPT ở các trường trong huyện
- Phát phiếu điều tra GV vật lí bậc THPT tại các trường THPT trong huyện
Bảng 1.2 Số lượng giáo viên dạy Vật lí được hỏi tại các trường THPT trên
địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
Trang 32Bảng 1.3 Số lượng học sinh được hỏi tại các trường THPT trên địa bàn
huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
1.4.3 Kết quả của quá trình khảo sát
Tác giả đã tiến hành điều tra bằng phiếu trao đổi thông tin với 17 giáo viên dạy vật lí tại các trường THPT trong huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
và điều tra bằng phiếu hỏi đối với 120 học sinh tại các trường THPT Cẩm Giàng I, THPT Cẩm Giàng II; THPT Tuệ Tĩnh trong huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Kết quả thu lại như sau:
a) Về giáo viên
Từ 17 phiếu phát ra, tôi thu về 17 phiếu hợp lệ Kết quả cho thấy:
- Mức độ sử dụng các dạng bài tập của thầy (cô) như thế nào trong dạy
Trang 33- Quan điểm của GV về tác dụng của các bài tập thực tiễn?
Bảng 1.5 Tỉ lệ quan điểm của GV về tác dụng của bài tập thực tiễn
Tác dụng của bài tập thực
tiễn
Không có tác dụng
Tác dụng như những bài tập thường gặp
Tác dụng rất tốt
Làm cho HS thấy môn học
gần gũi với cuộc sống
Làm cho HS hứng thú với
môn học
Giúp cho HS biết thêm
nhiều kiến thức hữu ích
đó cho HS giải bài tập
Trang 34Đưa ra bài tập rồi yêu
cầu HS hoạt động
nhóm
Đa số giáo viên vẫn sử dụng phương pháp chữa bài tập mẫu, yêu cầu
HS giải bài tập tương tự, nhưng phương pháp giải bài tập theo nhóm, lồng ghép bài tập trong quá trình dạy kiến thức mới đã được nhiều GV chú ý đến Nếu GV biết kết hợp hài hòa giữa các phương pháp dạy học với hệ thống bài tập hay, phù hợp với trình độ HS chắc chắn sẽ nâng cao hiệu quả dạy – học
Qua kết quả khảo sát giáo viên dạy vật lí tại các trường THPT trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tác giả nhận thấy hầu hết giáo viên đánh giá cao về tác dụng của bài tập thực tiễn Tuy nhiên việc sử dụng bài tập dạng này còn chưa đều đặn, chưa thường xuyên và chưa có hệ thống nên chưa phát huy hết tác dụng của nó
Đa số giáo viên đã sử dụng nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực của học sinh Như vậy nếu nếu giáo viên kết hợp các phương pháp dạy học tích cực với hệ thống bài tập thực tiễn thì sẽ
phát huy năng lực giải quyết vấn đề của học sinh
b) Về học sinh
Từ 120 phiếu hỏi được phát ra, đã thu về 120 phiếu hợp lệ Kết quả cho thấy:
Câu 1 Mức độ yêu thích học tập môn vật lí của em?
Bảng 1.7 Tỷ lệ học sinh thích học môn vật lí ở các trường THPT trong huyện
Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
Trang 35Kết quả khảo sát cho thấy có 26,6% số học sinh được hỏi không thích học môn vật lí Số học sinh này cho rằng học tập vật lí quá khó vì môn học phải tính toán và rất nhiều công thức cần nhớ, vì vậy các em không yêu thích Qua điều tra cho thấy, đa số các em học sinh khác nhận thấy môn vật lí cũng như các môn học khác, tức là các em chỉ theo học như một nhiệm vụ chứ chưa yêu thích
Chỉ có 15,8% học sinh được hỏi rất yêu thích học tập môn vật lí, các
em cảm thấy thực sự hứng thú khi nghiên cứu về vật lí Còn lại 23,4% số em được hỏi có thích học vật lí vì các em xác định học và thi tổ hợp môn Khoa học tự nhiên trong kỳ thi THPT Quốc gia, đối với nhóm HS này việc học là
để thi chứ chưa phải là yêu thích
Câu 2 Thời gian tự học môn vật lí mỗi ngày của em?
Bảng 1.8 Thời gian tự học môn vật lí mỗi ngày của mỗi học sinh
Kết quả điều tra cho thấy đa số các em học sinh giành thời gian học vật
lí 35 phút đến 1 giờ đồng hồ (đạt 55,7%), điều đó chứng tỏ rằng có nhiều em
có ý thức tự học Đặc biệt có đến 21,52% số học sinh học môn vật lí với khoảng thời gian tự học là trên 60 phút trong ngày, điều đó cho thấy ngoài việc yêu thích học tập vật lí thì HS còn có quyết tâm học và thi rất cao
Tuy nhiên khảo sát cho thấy có 19,62% số học sinh giành thời gian học tập vật lí ít hơn 35 phút trong ngày, đây là một tỉ lệ đáng lo ngại Có 3,16% số học sinh cho rằng thời gian học vật lí là không cố định, các em chỉ lên thời gian biểu để học vật lí trước buổi học mà có tiết học chính khóa tại trường Câu 3 Khi gặp bài tập khó, cách giải quyết của em là gì?
Bảng 1.9 Giải quyết của học sinh khi gặp bài tập khó
Trang 36Hỏi bạn, anh/chị hoặc thầy cô 24,68%
Đa số học sinh đã cố gắng hoàn thành các nhiệm vụ làm bài tập được giao Tuy nhiên số lượng học sinh trông chờ việc chép bài của bạn và chép lại khi thầy/cô giáo chữa bài chiếm tỉ lệ lớn GV cần quan tâm những học sinh này, cần sử dụng các biện pháp và kỹ thuật dạy học hiệu quả để tạo sự hứng thú học tập của học sinh đối với bộ môn vật lí
Câu 4 Lí do em yêu thích bộ môn vật lí?
Bảng 1.10 Lí do học sinh thích học vật lí
Môn vật lí có nhiều ứng dụng thiết thực trong cuộc sống 99,9%
Câu 5 Trong quá trình học tập môn vật lí, em thường gặp những khó khăn gì?
Trang 37Bảng 1.11 Những khó khăn học sinh gặp phải khi học tập vật lí
Qua bảng trên ta thấy, trong quá trình học tập thì khó khăn nhiều nhất
là HS thiếu tài liệu hỗ trợ; khối lƣợng kiến thức của bài nhiều nhƣng thời gian học tập lại ít, vì thế áp lực học tập đối với các em HS là rất lớn Bên cạnh đó
tỉ lệ HS chƣa yêu thích môn vật lí cũng khá cao, điều này cho thấy việc tạo hứng thú học tập cho HS là rất cần thiết
Câu 6 Em mong muốn gì khi học môn vật lí?
Bảng 1.12 Những mong muốn học sinh khi học tập vật lí
Các em có khá nhiều mong muốn trong giờ học vật lí, nhiều nhất là việc đƣa thêm kiến thức vật lí vào thực tế vì môn vật lí rất gần gũi với cuộc sống Các em mong muốn đƣa thêm thí nghiệm, tổ chức các buổi ngoại khóa
để học tập tốt hơn
Câu 7 Em đã đƣợc làm những dạng bài tập nào?
Bảng 1.13 Những loại bài tập vật lí mà HS thường xuyên được giải
Trang 38BT có gắn với thực tế 25,32% 74,68% 0%
Dạng bài tập mà học sinh thường làm nhất là sử dụng tranh ảnh, biểu
đồ và bảng Thỉnh thoảng có làm bài tập sử dụng thí nghiệm, nhưng dạng bài tập gắn với thực tiễn lại không được làm nhiều
Tóm lại, qua kết quả điều tra chúng tôi nhận thấy đa số học sinh chưa yêu thích môn vật lí Tuy nhiên đã có tỷ lệ đáng kể HS thấy thích thú và ra sức học tập, tìm tòi khám phá, đây cũng là một dấu hiệu đáng mừng Cũng từ kết quả này tác giả nhận thấy rất nên đưa các dạng bài tập thực tiễn vào chương trình học tập của HS một cách khoa học có hệ thống và kết hợp các phương pháp dạy học phù hợp để nâng cao hiệu quả học tập của HS
1.4.4 Phân tích nguyên nhân của thực trạng
Theo kết quả điều tra tác giả tổng hợp được những nguyên nhân chính dẫn đến việc GV ít dạy bài tập phát triển năng lực GQVĐ cho học sinh là do:
- Hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là thi trắc nghiệm khách quan; các bài tập trắc nghiệm ít có các bài tập gắn với tình huống thực tiễn, giải thích hiện tượng vật lí nên chưa phát triển được năng lực GQVĐ cho HS
- Nội dung kiến thức trong một bài quá nhiều, thời gian cho một tiết học chỉ có 45 phút nên rất khó đưa thêm bài tập thực tế vào các tiết dạy lí thuyết trên lớp
- Việc xây dựng bài tập gắn với thực tế khá là khó, mất nhiều thời gian
- Trong SGK, SBT và các sách tham khảo không chứa nhiều bài tập gắn với tình huống thực tế Mặt khác, số GV có khả năng phát triển bài tập luyện tập thành bài tập gắn với tình huống thực tế còn ít
- GV chưa chú trọng hướng dẫn các em suy nghĩ độc lập để tìm lời giải, phân tích hướng giải quyết bài tập, định hướng tư duy cho HS mà thường áp đặt suy nghĩ và cách giải bài tập theo ý của mình cho HS
Trang 39Từ các kết quả trên đây tác giả nhận thấy số lượng GV sử dụng bài tập gắn với tình huống thực tế nhằm nâng cao năng lực GQVĐ cho HS vào việc giảng dạy vật lí trên lớp còn ít Hơn nữa số lượng bài tập được sử dụng với mục đích nâng cao năng lực GQVĐ cho HS về chương “Dòng điện không đổi” - vật lí 11 trong các tài liệu còn hạn chế Vậy nên cần thiết phải xây dựng các bài tập mà GV có thể làm tài liệu cho việc dạy học chương “Dòng điện không đổi” nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực GQVĐ cho HS
Kết luận chương 1
Trên đây tác giả đã trình bày những cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện năng lực GQVĐ cho học sinh THPT trong dạy học vật lí Có thể tóm tắt lại các cơ sở này như sau:
+ Trình bày các khái niệm năng lực, năng lực GQVĐ, dạy học phát triển năng lực GQVĐ
+ Đưa ra những biểu hiện của năng lực GQVĐ và cấu trúc của năng lực GQVĐ
+ Nêu ra các biện pháp hình thành và phát triển năng lực GQVĐ của
Trang 40CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP VẬT LÍ CHƯƠNG
“DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” – VẬT LÍ 11 NHẰM PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH
2.1 Tổng quan nội dung chương trình chương “Dòng điện không đổi”
2.1.1 Mục tiêu dạy học của chương “Dòng điện không đổi” - Vật lí 11 cơ bản
2.1.1.1 Về mặt kiến thức
- Học sinh cần nêu được định nghĩa về dòng điện không đổi
- Học sinh cần nêu được định nghĩa về suất điện động của nguồn điện
- Học sinh viết được biểu thức tính công của một nguồn điện:
- Học sinh viết được biểu thức tính suất điện động và điện trở trong của
bộ nguồn mắc nối tiếp, mắc song song
- HS vận dụng công thức tính hiệu suất của nguồn điện để làm bài tập
- HS Nhận biết được bộ nguồn ghép nối tiếp hoặc ghép song song trên
sơ đồ và trong thực tế