Giả thuyết khoa học Dựa trên lí thuyết trò chơi trong học tập để thiết kế và Tổ chức trò chơi trong các tiết dạy bài tập nhằm phát huy hứng thú của học sinh5. Về thực tiễn: Hệ thống bi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HUYỀN
THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÕ CHƠI TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP SÓNG ĐIỆN TỪ VÀ SÓNG ÁNH SÁNG NHẰM PHÁT HUY HỨNG THÖ CỦA HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ
HÀ NỘI - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HUYỀN
THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÕ CHƠI TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP SÓNG ĐIỆN TỪ VÀ SÓNG ÁNH SÁNG NHẰM PHÁT HUY HỨNG THÖ CỦA HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC BỘ MÔN VẬT LÍ
Mã số: 8140211.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Kim Chung
HÀ NỘI - 2021
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại Đại học Giáo dục dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Kim Chung Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc về sự hướng dẫn tận tình và đầy tâm huyết của thầy trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã trực tiếp giảng dạy cho tác giả trong suốt khóa học Tác giả cũng xin dành tới gia đình, đồng nghiệp, bạn
bè, các em học sinh đã động viên, giúp đỡ, chia sẻ khó khăn trong suốt thời gian thực hiện luận văn Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn phòng Đào tạo trường Đại Học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, cảm ơn ban giám hiệu các trường THPT Khoái Châu đã tạo điều kiện để tác giả tiến hành điều tra thực trạng và thực nghiệm
sư phạm Mặc dù đã cố gắng nhưng do thời gian có hạn, nên chắc chắn nội dung luận văn còn nhiều thiếu sót Tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự đóng góp quí báu của các thầy cô, của các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn và hy vọng đề tài có thể được ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy sau này
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2020
Tác giả
Nguyễn Thị Huyền
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng điểm của học sinh lớp đối chứng và thực nghiệm 92 Bảng 3.2 Các tham số thống kê mô tả kết quả 94 Bảng 3.3 Tần số, tần suất, tần suất lũy tích ở lớp đối chứng và thực
nghiệm trước thực nghiệm sư phạm 94 Bảng 3.4 Tần số, tần suất, tần suất lũy tích sau khi thực nghiệm sư phạm 96
Trang 6iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Sự cần thiết của trò chơi trong tiết bài tập Vật lí 18
Biểu đồ 1.2 Tác dụng của trò chơi trong tiết học bài tập Vật lí 19
Biểu đồ 1.3 Sử dụng trò chơi trong tiết bài tập Vật lí 19
Biểu đồ 1.4 Đánh giá của giáo viên khi học sinh tham gia trò chơi 20
Biểu đồ 1.5 Mức độ sử dụng trò chơi trong các tiết học bài tập 20
Biểu đồ 1.6 Các loại trò chơi 21
Biểu đồ 1.7 Các căn cứ để xây dựng trò chơi 21
Biểu đồ 1.8 Giới tính, độ tuổi, chuyên môn của giáo viên 22
Biểu đồ 1.9 Phương pháp và hình thức dạy học ở tiết bài tập Vật lí 23
Biểu đồ 1.10 Mức độ sử dụng trò chơi trong tiết bài tập 24
Biểu đồ 1.11 Mức độ cần thiết khi tổ chức trò chơi trong tiết bài tập 24
Biểu đồ 1.12 Phân bố các loại trò chơi dạy học hay sử dụng 25
Biểu đồ 1.13 Biểu hiện của học sinh khi học tiết bài tập có sử dụng trò chơi 25
Biểu đồ 1.14 Hành động của học sinh học tiết học bài tập có sử dụng trò chơi 26
Biểu đồ 3.1 Lý do học sinh thích, không thích môn Vật lí 87
Biểu đô 3.2 Tâm trạng học sinh khi tham gia trò chơi học tập 88
Biểu đồ 3.3 Hành động của học sinh khi tham gia trò chơi 88
Biểu đồ 3.4 Nhận định của học sinh về kiến thức trong tiết học bài tập 89
Biểu đề 3.5 Sự đón nhận trò chơi trong tiết học bài tập Vật lí 89
Biểu đồ 3.6 Cảm nhận của học sinh khi tham gia trò chơi trong tiết học 90
Biểu đồ 3.7 Không khí lớp học có sử dụng trò chơi 90
Biểu đồ 3.8 Thái độ của học sinh khi trả lời được câu hỏi 91
Biểu đồ 3.9 Tần số điểm ở lớp đối chứng và thực nghiệm trước thực nghiệm sư phạm 95
Biểu đồ 3.10 Tần suất lũy tích ở lớp đối chứng và thực nghiệm trước thực nghiệm sư phạm 95
Trang 7v
Biểu đồ 3.11 Tần số điểm ở lớp đối chứng và thực nghiệm sau khi thực
nghiệm sƣ phạm 96 Biểu đồ 3.12 Tần suất lũy tích ở lớp đối chứng và thực nghiệm sau khi
thực nghiệm sƣ phạm 97
Trang 8vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Mạch dao động 28
Hình 2.2 Điện từ trường lan truyền trong không gian 29
Hình 2.3 Sơ đồ khối của máy phát thanh và máy thu thanh đơn giản 30
Hình 2.4 Hiện tượng tán sắc ánh sáng 31
Hình 2.5 Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng 32
Hình 2.6 Hiện tượng giao thoa ánh sáng 33
Hình 2.7 Máy quang phổ lăng kính 34
Hình 2.8 Ống Culitgio 37
Hình 2.9 Thang sóng điện từ 37
Hình 3.1 Đường đi của tia sáng qua lăng kính 60
Hình 3.2 Hình ảnh thực nghiệm sư phạm 97
Trang 9vii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Câu hỏi nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 2
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
7 Phạm vi nghiên cứu 2
8 Phương pháp nghiên cứu 3
9 Đóng góp mới của đề tài luận văn 3
10 Cấu trúc của đề tài luận văn 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP VẬT LÍ 4
1.1 Tổng quan nghiên cứu của tổ chức trò chơi trong dạy học 4
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 4
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 4
1.2 Lý thuyết trò chơi trong dạy học 6
1.2.1 Khái niệm về trò chơi trong dạy học 6
1.2.2 Đặc điểm hoạt động trò chơi 7
1.3 Bài tập Vật lí 8
1.3.1 Khái niệm về bài tập Vật lí 8
1.3.2 Vai trò của bài tập Vật lí 9
1.3.3 Phân loại các dạng bài tập Vật lí 10
Trang 10viii
1.4 Tổ chức trò chơi trong dạy học bài tập Vật lí 11
1.4.1 Những yêu cầu của một trò chơi Vật lí 11
1.4.2 Nguyên tắc thiết kế trò chơi trong dạy học tiết bài tập Vật lí 11
1.5 Hứng thú học tập của học sinh 12
1.5.1 Khái niệm về hứng thú trong học tập của học sinh 12
1.5.2 Biểu hiện hứng thú trong học tập của học sinh 13
1.5.3 Đặc điểm hứng thú trong học tập của học sinh 14
1.6 Thực trạng tổ chức trò chơi trong dạy học bài tập Vật lí 15
1.6.1 Giới thiệu về khách thể, địa bàn của nghiên cứu 15
1.6.2 Phân phối chương trình môn Vật lí của Bộ giáo dục và đào tạo 15
1.6.3 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 16
1.6.4 Cách xử lý số liệu 17
1.6.5 Thực trạng thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học các tiết bài tập Vật lí ở trường trung học phổ thông Khoái Châu-Hưng Yên 18
Kết luận chương 1 27
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP VẬT LÍ 28
2.1 Phân tích nội dung và yêu cầu cần đạt khi dạy học phần Sóng điện từ và Sóng ánh sáng 28
2.1.1 Nội dung lý thuyết về sóng điện từ và sóng ánh sáng ở trường THPT 28
2.1.2 Phân tích yêu cầu cần trong dạy học phần sóng điện từ và sóng ánh sáng 37
2.2 Thiết kế trò chơi trong dạy bài tập Vật lí 38
2.2.1 Ý tưởng thiết kế trò chơi dạy học 38
2.2.2 Một số hình thức tổ chức trò chơi trong dạy học tiết Bài tập Vật lí 39
2.2.3 Các bước tiến hành khi thiết kế trò chơi cho tiết dạy 42
2.2.4 Tiến hành tổ chức trò chơi trong dạy học 42
Trang 11ix
2.3 Thiết kế trò chơi tiết bài tập Vật lí phần sóng điện từ và sóng
ánh sáng 43
2.3.1 Thiết kế và tổ chức trò chơi trong dạy bài tập về dao động và sóng điện từ 43
2.3.2 Thiết kế và tổ chức trò chơi trong dạy bài tập phần tán sắc và giao thoa ánh sáng 54
2.3.3 Thiết kế và tổ chức trò chơi trong dạy bài tập về máy quang phổ và các bức xạ không nhìn thấy 64
2.4 Đề kiểm tra 45 phút 74
2.4.1 Đề kiểm tra 45 phút lần 1 74
2.4.2 Kiểm tra 45 phút lần 2 80
Kết luận chương 2 85
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VỂ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC TIẾT BÀI TẬP VẬT LÍ 86
3.1 Tổ chức thực nghiệm 86
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 86
3.1.2 Nội dung thực nghiệm 86
3.1.3 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 86
3.2 Kết quả thực nghiệm 86
3.2.1 Các bước tiến hành thực nghiệm 86
3.2.2 Tổ chức thực nghiệm 87
3.2.3 Kết quả định tính sau khi thực nghiệm 87
3.2.4 Kết quả định lượng sau khi thực nghiệm 91
Kết luận chương 3 102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC
Trang 12Vật lí là môn học khoa học thực nghiệm, gắn liền với thực tiễn của cuộc sống trong đó sóng điện từ và sóng ánh sáng có nhiều ứng dụng, giúp học sinh có khả năng tƣ duy, sáng tạo… Trong quá trình giảng dạy, GV phải thiết kế bài dạy để vừa giúp HS nắm vững kiến thức, kĩ năng (theo chuẩn kiến thức kỹ năng) mà còn tăng hứng thú của các em, để các em yêu thích môn học từ đó học tập với thái độ tốt Ngoài các tiết dạy lý thuyết thì phần bài tập Vật lí đóng vai trò rất quan trọng không chỉ giúp củng cố kiến thức, tạo nền tảng để học tốt các phần kiến thức sau mà còn giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Do vậy với các tiết bài tập thì cũng cần GV thiết kế bài dạy để tạo hứng thú cho HS nâng cao hiệu quả học tập
Xuất phát từ những lí do trên đề tài:“Thiết kế và tổ chức trò chơi trong dạy học bài tập Sóng điện từ và Sóng ánh sáng nhằm phát huy hứng của học sinh” sẽ có những đóng góp thiết thực và hiệu quả
Trang 13Quá trình giảng dạy các tiết bài tập Vật lí 12 ở trường trung học phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Phát huy hứng thú của học sinh thông qua việc thiết kế và tổ chức trò chơi các tiết bài tập Sóng điện từ và Sóng ánh sáng
4 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng hoạt động dạy học tiết bài tập của trường THPT Khoái Châu như thế nào?
Thiết kế và tổ chức trò chơi trong dạy học các tiết bài tập như thế nào để phát huy hứng thú học sinh ?
5 Giả thuyết khoa học
Dựa trên lí thuyết trò chơi trong học tập để thiết kế và Tổ chức trò chơi trong các tiết dạy bài tập nhằm phát huy hứng thú của học sinh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa các vấn đề lí luận phương pháp tổ chức trò chơi trong các tiết dạy bài tập Vật lí
Điều tra thực trạng hoạt động dạy và học các tiết bài tập môn Vật lí của trường THPT Khoái Châu- Hưng Yên
Thiết kế và tổ chức trò chơi để phát huy hứng thú của học sinh khi dạy các tiết bài tập Vật lí
Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi, hiệu quả của đề tài nghiên cứu thiết kế và tổ chức trò chơi nhằm tăng hứng thú học sinh
7 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động dạy và học các tiết bài tập Vật lí 12
Phạm vi thời gian: Năm học 2019-2020 từ tháng 2/ 2020 đến tháng 11/2020 Học sinh: Khối 12 - THPT Khoái Châu
Trang 143
8 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lí thuyết: Đọc các tài liệu, sách, báo về các năng lực cần đạt, vai trò của bài tập Vật lí, phương pháp tổ chức trò chơi, sơ đồ tư duy
Nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra bằng phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp nhằm tìm hiểu thực trạng dạy học các tiết bài tập, nguyên nhân và đề xuất biện pháp phát triển năng lực khi học các tiết bài tập môn Vật lí của học sinh trung học phổ thông
Thực nghiệm sư phạm: Soạn thảo một số tiến trình dạy học có sử dụng các biện pháp đã đề xuất để tổ chức dạy học nhằm kiểm nghiệm tính đúng đắn của giả thuyết khoa học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học: Xử lí kết quả, thống kê, đánh giá kết quả điều tra và kết quả thực nghiệm sư phạm khi sử dụng trò chơi trong dạy học tiết bài tập Vật lí
9 Đóng góp mới của đề tài luận văn
Về lý luận: Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề phát triển năng lực khi sử dụng phương pháp tổ chức trò chơi cho học sinh trung học phổ thông
Về thực tiễn: Hệ thống biện pháp tổ chức trò chơi nâng cao kết quả học tập môn Vật lí cho học sinh trung học phổ thông; một số giáo án dạy học các tiết bài tập
có sử dụng sơ đồ tư duy và phương pháp tổ chức trò chơi
10 Cấu trúc của đề tài luận văn
Luận văn gồm các phần sau: Mở đầu; chương 1; chương 2; chương 3; phần kết luận và khuyến nghị, với nội dung các chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức trò chơi trong dạy học bài tập Vật
lí
Chương 2 Biện pháp thiết kế và tổ chức trò chơi trong dạy học bài tập Vật lí Chương 3: Thực nghiệm sư phạm về tổ chức trò chơi trong dạy học bài tập Vật lí
Trang 154
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC TRÕ CHƠI
TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP VẬT LÍ 1.1 Tổng quan nghiên cứu của tổ chức trò chơi trong dạy học
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Lý thuyết trò chơi là nghiên cứu các tình huống chiến thuật trong đó các đối thủ lựa chọn các hành động khác nhau để cố gắng đạt tối đa kết quả nhận được Ban đầu lý thuyết trò chơi phát triển như là một công cụ để nghiên cứu hành vi kinh tế học, ngày nay nó được sử dụng trong nhiều ngành khoa học khác nhau [22]
Lý thuyết trò chơi đầu tiên được đề xuất bởi James Waldegrave vào năm
1713, Antoine Augustin Cournot công bố Nghiên cứu về những Định luật toán học
của lý thuyết Tài sản vào năm 1838 Những kết quả này sau này được mở rộng
thành Lý thuyết trò chơi và các hành vi kinh tế bởi John Von Neumann và Oskar
Morgenstern [22]
Theo I.B.Bazedov, trò chơi là phương tiện dạy học, nếu trên tiết học, giáo viên sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành tiết học dưới hình thức chơi thì sẽ đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của người học và tất nhiên hiệu quả tiết học sẽ cao hơn I.B.Bazedov đã đưa ra hệ thống trò chơi học tập dùng lời như: Trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển kỹ năng khái quát tên gọi của
cá thể, trò chơi đoán từ trái nghĩa, điền từ còn thiếu… Theo ông, những trò chơi này mang lại niềm vui và phát triển năng lực trí tuệ, tư duy của người học Vào những năm 30-40-60 của thế kỷ XX, vấn đề sử dụng trò chơi dạy học trên “tiết học” được phản ánh trong công trình của R.I.Giucovxkaia, VR.Bexpalova, E.I.Udalsova R.I.Giucovxkaia đã nâng cao vị thế của dạy học bằng hình thức tổ chức trò chơi [22]
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Trong các hoạt động giáo dục, hình thức tổ chức trò chơi được sử dụng rất nhiều trong hầu hết các môn học, ở tất cả các cấp học từ mầm non, tiểu học, trung học, đại học, trong các lớp bồi dưỡng thường xuyên, trong các buổi tập huấn, trong
Trang 165
các hoạt động vui chơi giải trí….Như vậy theo nghiên cứu thì phương pháp tổ chức trò chơi rất quen thuộc với mọi người trong xã hội và đặc biệt là đối với học sinh Với mầm non và tiểu học, một số tác giả như Trần Thị Thanh Huyền, Võ Thị Mỹ Dung, Trần Nguyễn Nguyên Hân …xây dựng và thiết kế trò chơi, với trò chơi vận động, tăng khả năng phản xạ: Trò chơi gió thổi, trời mưa trời mưa, chim bay cò bay…; bên cạnh đó còn có trò chơi trí tuệ dụng ở giữ tiết học và cuối tiết học, đề luyện đọc có trò chơi thi đọc tiếp sức, thi đọc nhanh thuộc giỏi, thi thả thơ, ghép hình , truyền điện, ô chữ kì diệu…, môn toán có thi ai nhanh ai đúng, thi xếp nhiều hình chữ nhật, thi điền số thích hợp…, môn khoa học có cuộc thi tôi là ai, tập làm bác sĩ, ghép chữ vào sơ đồ…, môn đạo đức có trò chơi phỏng vấn, hãy nghe và đoán, dòng chữ kì diệu…Bên cạnh đó một số tác giả còn nghiên cứu phần mềm trò chơi hỗ trợ trẻ tự kỷ học chữ cái Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang, thiết
kế bài tập dưới dạng trò chơi Flash hỗ trợ học sinh lớp 1 mắc chứng khó đọc….Với cấp trung học thì việc áp dụng phương pháp trò chơi sử dụng rất nhiều ở hầu hết các môn: Văn học, Toán học, Sinh học, Tiếng Anh, Địa lý….của các tác giả Nguyễn Thị Bình, Trịnh Thị Ngân Hà…
Với các cấp học cao hơn đó là cao đẳng, đại học, đã có nghiên cứu của nhiều tác giả như: Tác giả Hoàng Thị Thu Hoài, Nguyễn Thị Nguyệt Minh với nghiên cứu
về áp dụng trò chơi ngôn ngữ để phát triển kỹ năng giao tiếp cho sinh viên trong các giờ học nói; Tác giả Vũ Thi Thu An với nghiên cứu về trò chơi trong dạy học tiếng Đức; Tác giả Nguyễn Kim Chuyên với đề tài xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên sư phạm trong dạy học môn Giáo dục học ở trường đại học Đồng Tháp… Điểm qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy từ trước đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi dạy học, rất phong phú ở hầu hết các lĩnh vực ở các môn học trong nhà trường
Với Vật lí học, môn học tương đối khó đối với học sinh các cấp, rất nhiều các nhà giáo dục, giáo viên đã áp dụng phương pháp tổ chức trò chơi vào trong quá trình giảng dạy để tăng hiệu quả của quá trình dạy học, giúp học sinh yêu thích môn học từ đó chăm học hơn và nâng cao chất lượng giáo dục Cô Chung Thị Sen chia
sẻ kinh nghiệm làm hấp dẫn tiết dạy Vật lí bằng việc thực hiện trò chơi trên phần
Trang 176
mềm, đan xen với các phương pháp dạy học các bài khác nhau, với trò chơi trắc nghiệm bốn đáp án, lật ô chữ bí mật đằng sau mỗi câu hỏi là một bức tranh nhà khoa học hoặc nội dung cần truyền tải tới học sinh, trò chơi mô tả Vật lí người chơi
sẽ cầm danh sách các từ mô tả bằng hành động để bạn chơi đoán từ hoặc khái niệm Vật lí Cùng nghiên cứu các trò chơi trên còn có các tác giả là Nguyễn Hữu Bằng: Với lật ô chữ bí mật dùng để trả lời 10 câu hỏi thuộc các chương 4, 5,6 Vật Lí 12, trò chơi miêu tả Vật lí cho một số bài tập chương 1, 2 Vật lí 12, đố vui vật lí, lật ô chữ cho toàn bộ kiến thức Vật lí 12 Tuy nhiên những bài tập đưa ra còn tương đối
ít, chủ yếu dùng để củng cố vào các bài lí thuyết… Lý luận về trò chơi trong dạy học có rất nhiều trong các tài liệu như cuốn sách của tác giả Nguyễn Ngọc Lâm với tiêu đề: “Sinh hoạt trò chơi trong dạy và học”- Đại học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh và luận văn: “Sử dụng trò chơi trong dạy học Vật lí ở trường Cao Đẳng Lào Cai” của Nguyễn Thị Sơn Hà…
Qua quá trình nghiên cứu thấy rằng phương pháp tổ chức trò chơi được sử dụng đan xen với nhiều phương pháp khác nhau nhiều trong quá trình dạy các tiết lý thuyết ở phần củng cố, khởi động còn các tiết bài tập thì ít và chưa có hệ thống, nếu
có thì chỉ dùng lại ở một vài sáng kiến kinh nghiệm Vậy trong đề tài này sẽ nói đến cách thức sử dụng trò chơi trong các tiết bài tập, với điển hình là tiết bài tập về sóng điện từ và sóng ánh sáng, mong rằng sẽ có những đóng góp đáng kể trong kho tàng kinh nghiệm, lý luận dạy học nhằm đạt các mục tiêu về hoạt động giáo dục
1.2 Lý thuyết trò chơi trong dạy học
1.2.1 Khái niệm về trò chơi trong dạy học
Theo các nhà nghiên cứu, ta có một số khái niệm về trò chơi như sau:
Katie Salen và Eric Zimmerman cho rằng: Trò chơi là một hệ thống trong đó người chơi tham gia vào một cuộc xung đột nhân tạo, được xác định bởi các quy tắc, dẫn đến một kết quả có thể định lượng được Greg Costikyan cho rằng: Trò chơi là một
hình thức nghệ thuật, trong đó những người tham gia, được gọi là người chơi, đưa
ra quyết định để quản lý tài nguyên thông qua các thẻ trò chơi để theo đuổi mục
tiêu Clark C Abt cho rằng: Trò chơi là một hoạt động giữa hai hoặc nhiều người ra
quyết định độc lập nhằm đạt được mục tiêu của họ trong một số bối cảnh hạn
Trang 187
chế Elliot Avedon và Brian Sutton-Smith cho rằng: Ở cấp độ sơ đẳng nhất, chúng
ta có thể định nghĩa trò chơi là một bài tập của các hệ thống điều khiển tự nguyện, trong đó có sự đối lập giữa các lực lượng, bị giới hạn bởi một thủ tục và quy tắc để tạo ra một kết quả phi nghĩa Kevin J Maroney cho rằng: Trò chơi là một hình thức vui chơi có mục tiêu và cấu trúc Bernard Suits cho rằng: Chơi một trò chơi là tham gia vào hoạt động hướng tới việc đưa ra một trạng thái cụ thể, chỉ sử dụng các phương tiện được các quy tắc cụ thể cho phép, trong đó các phương tiện được các quy tắc cho phép có phạm vi hạn chế hơn so với khi không có quy tắc, và lý do duy nhất để chấp nhận giới hạn đó là để thực hiện hoạt động đó Jane McGonigal cho rằng: Khi bạn loại bỏ sự khác biệt về thể loại và sự phức tạp về công nghệ, tất cả các trò chơi đều chia sẻ bốn đặc điểm xác định: mục tiêu, quy tắc, hệ thống phản hồi
và sự tham gia tự nguyện
Trò chơi trong dạy học là kỹ thuật, là phương pháp dạy học tích cực được áp dụng khá phổ biến ở nhiều môn Dạy học kết hợp với tổ chức trò chơi chính là việc giáo viên hướng dẫn học sinh hình thành và phát triển các phẩm chất tốt của con người thời đại mới
Khi tiến hành tổ chức trò chơi, thấy đây là một biện pháp học tập có hiệu quả của học sinh Thông qua việc tham gia trò chơi do giáo viên tổ chức có mục đích, học sinh được tập luyện, làm việc cá nhân, làm việc theo nhóm theo sự phân công của giáo viên, của các thành viên trong lớp với tinh thần hợp tác từ đó phát huy được hứng thú của học sinh trong quá trình học tập
1.2.2 Đặc điểm hoạt động trò chơi
Nhà xã hội học người Pháp Roger Caillois, trong cuốn sách Trò chơi và con người, định nghĩa trò chơi là một hoạt động phải có các đặc điểm sau: Thứ nhất là vui vẻ, tức là hoạt động được chọn có tính cách nhẹ nhàng; thứ hai là riêng biệt, tức
nó được khoanh tròn về thời gian và địa điểm; thứ ba là không chắc chắn, tức kết quả của hoạt động là không thể lường trước được; Thứ tư là phi năng suất, tức người tham gia có thể không đạt được bất cứ điều gì hữu ích; thứ năm là bị chi phối bởi các quy tắc, tức hoạt động có những quy tắc khác với cuộc sống hàng ngày; thứ sáu là hư cấu, tức nó đi kèm với nhận thức về một thực tế khác
Trang 198
Trò chơi dạy học có mọi đặc điểm của trò chơi thông thường, ngoài ra nó kết hợp các yếu tố chơi và các yếu tố sư phạm cho nên nó có thêm các đặc điểm sau: Mục đích chơi, đó cũng là những nhiệm vụ học tập của học sinh trong khi tham gia chơi Mục đích chơi chi phối tất cả những yếu tố của trò chơi, mức độ đạt được phản ánh ở kết quả hiện thực mà học sinh thu được và đó cũng là kết quả giải quyết các nhiệm vụ học tập Để học sinh học được một điều gì đó cụ thể thì chính những cái đó phải thể hiện trong kết quả chơi khi học sinh tham gia, ví dụ : Để HS biết vận dụng công thức tính chu kì mạch dao động LC để giải bài tập thì trong trò chơi có bài tập áp dụng công thức tính chu kì và khi vận dụng công thức thì HS phải đưa ra kết quả chính xác…
Các hành động hay hành động chơi là những hoạt động thực sự mà người tham gia trò chơi sử dụng các thao tác lời nói hành động tiến hành thực hiện nhiệm
vụ và vai trò của mình trong trò chơi Luật chơi hay còn gọi quy tắc chơi là những quy định nhằm bảo đảm sự định hướng các hoạt động và hành động chơi vào mục đích chơi hay nhiệm vụ học tập, ví dụ: Khi cùng làm một bài tập, đội chơi nào giải quyết nhiệm vụ nhanh nhất, chính xác nhất sẽ có điểm cao nhất như vậy trong quá trình chơi các đội phải thật tích cực để đạt mục tiêu đề ra… Trong quy định đặt ra
có các mục tiêu, kết quả của các hành động, các phương thức, tính chất của hoạt động, đồng thời xác định trình tự và tiến độ của các hành động tạo ra các tiêu chí để
có thể điều chỉnh các quan hệ, hành vi của người tham gia Để đáp ứng tốt nhiệm
vụ học tập, thì các đối tượng hoạt động và giao tiếp, là các thành tố chính, cần được xác định và thiết kế chặt chẽ, được nêu ra, chỉ dẫn cụ thể và thể hiện rõ ràng trong luật chơi
1.3 Bài tập Vật lí
1.3.1 Khái niệm về bài tập Vật lí
Trong thực tế dạy học, bài tập Vật lí được hiểu là một vấn đề đặt ra có thể gắn liền với cuộc sống đòi hỏi phải giải quyết nhờ phân tích hiện tượng, có suy luận, áp dụng các công thức, thực hiện các phép toán và đôi khi phải làm thí nghiệm dựa trên các định luật vật lí Giải tốt các bài tập Vật lí là thể hiện sự tư duy tích cực,
Trang 209
sắc bén do đó các tiết bài tập vật lí có tầm quan trọng đặc biệt Bài tập Vật lí là vừa phương tiện nghiên cứu kiến thức mới, rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức liên hệ lý thuyết đã học với thực tế, là phương tiện ôn tập củng cố kiến thức đã học một cách có hiệu quả Thông qua việc giải bài tập Vật lí hình thành và phát huy những đặc tính tốt như tính tự lập, cẩn thận, kiên trì, bên cạnh đó ta có thể kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng của HS một cách chính xác
1.3.2 Vai trò của bài tập Vật lí
+ Bài tập Vật lí là phương tiện nghiên cứu kiến thức mới, thông qua việc làm bài tập có thể đảm bảo cho học sinh lĩnh hội được kiến thức mới một cách sâu sắc và vững chắc, là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng giảng dạy Ví dụ: Khi nghiên cứu thí nghiệm về hiện tượng tán sắc, trong bài tán sắc ánh sáng Vật lí lớp 12 từ kết quả của thí nghiệm cho thấy ánh sáng trắng khi qua lăng kính bị phân tách thành nhiều chùm sáng đơn sắc khác nhau, tia đỏ bị lệch ít nhất, tia tím bị lệch nhiều nhất Giáo viên có thể cho học sinh tham gia giải quyết vấn đề này một cách tích cực dưới hình thức nêu ra cho học sinh một bài tập phát biểu như sau: Trình bày thí nghiệm của Niu-Tơn về tán sắc ánh sáng, từ đó hãy giải thích kết quả có được
+ Bài tập Vật lí là một phương tiện giúp học sinh rèn luyện cho khả năng vận dụng kiến thức lý thuyết với bài toán thực tế, học tập gắn với đời sống Thí dụ khi học về sóng điện từ, có thể ra cho học sinh bài tập: Giải thích tại sao khi dò kênh trên ti vi mỗi kênh lại có một tần số khác nhau? Sau khi đã học về tán sắc ánh sáng hãy giải thích hiện tượng cầu vồng ?
+ Bài tập Vật lí là phương tiện giúp học sinh rèn luyện tư duy logic, suy luận, phán đoán, dự kiến kết quả, qua đó bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học Sau khi làm các bài tập học sinh có thể xây dựng những lập luận, thực hiện việc tính toán, khi cần thiết, đôi khi phải tiến hành các thí nghiệm, thực hiện các phép đo, tìm các mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng, kiểm tra các kết luận Sau khi tiến hành tốt các yêu cầu của việc làm tốt bài tập thì tư duy logic, tư duy sáng tạo của học sinh được phát triển, năng lực làm việc độc lập của học sinh được
Trang 2110
nâng cao, ví dụ: Sau khi học xong bài giao thoa ánh sáng, học sinh biết được cách thức xác định bước sóng của các bức xạ
+ Bài tập Vật lí là một phương tiện củng cố, giúp HS nhớ lại kiến thức và rèn
kỹ năng sử dụng kiến thức đã học để giải quyết các bài tập Muốn giải được các bài tập, học sinh cần biết đã học những kiến thức nào, vận dụng công thức, định luật nào vào bài tập để tìm ra đáp án
+ Bài tập Vật lí là một phương tiện để giáo viên kiểm tra đánh giá kiến thức
kỹ năng của học sinh hoặc tự học sinh kiểm tra chính mình
1.3.3 Phân loại các dạng bài tập Vật lí
- Dựa vào phương tiện giải bài tập, có các dạng bài tập sau: Bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập thí nghiệm, bài tập đồ thị
+ Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải chúng ta cần nắm chắc nội dung các định luật, bản chất các hiện tượng Vật lí là giải được, đó thường là những bài gắn liền với cuộc sống thực tế
+ Bài tập định lượng là những bài tập mà khi muốn giải ta cần thuộc các công thức, thực hiện tốt các tính toán để tìm ra yêu cầu bài toán
+ Bài tập thí nghiệm Vật lí là những bài tập yêu cầu học sinh làm thí nghiệm nhiều lần với các thao tác thực hiện chính xác; hoặc làm thí nghiệm để kiểm chứng lời giải lý thuyết hay tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài tập
+ Bài tập đồ thị là những bài tập mà các dữ kiện cho ở trên đồ thị, muốn giải được bài toán này ta cần “đọc” được đồ thị
- Dựa vào mức độ khó khăn khi tiến hành giải bài tập để phân bài tập thành bài tập cơ bản và tổng hợp
+ Bài tập cơ bản, là bài tập mà khi giải cần sử dụng vài công thức tính đơn giản
có thể giải quyết được
+ Bài tập tổng hợp các kiến thức và sử dụng suy luận toán học hay còn gọi là bài tập nâng cao, đó là những bài tập khi giải cần phải vận dụng nhiều kiến thức, định luật, sử dụng kết hợp nhiều công thức Để làm được loại bài tập này yêu cầu học sinh có tư duy suy luận tốt
- Dựa hình thức trình bày lời giải phân bài thành bài tập trắc nghiệm và tự luận
Trang 2211
+ Bài tập trắc nghiệm khách quan là hình thức học sinh chỉ cần chọn một hoặc nhiều đáp án đúng theo yêu cầu đề bài
+ Bài tập tự luận là hình thức tự trình bày lời giải bằng ngôn từ của mình
1.4 Tổ chức trò chơi trong dạy học bài tập Vật lí
1.4.1 Nh ng yêu c u của một trò chơi Vật lí
Vật lí học là môn khoa học thực nghiệm, hầu hết các định luật, hiện tượng
…đều được rút ra từ thí nghiệm và những kiến thức đã học Chính vì vậy, khi dạy học môn Vật lí, người giáo viên cần phải thực hiện tốt các công việc như sau: thiết
kế mô hình, có thể chế tạo một số dụng cụ thí nghiệm đơn giản, có thể lắp ráp thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm, sử dụng thông thạo vài dụng cụ đo, biết cách lấy liệu, phán đoán kết quả,…
Học tốt môn Vật lí học sinh biết đặt câu hỏi đúng chỗ, có khả năng giải thích các hiện tượng Vật lí, đồng thời vận dụng các kiến thức đã học giải quyết các vấn
đề được đưa ra Khi lồng ghép nhiều phương pháp, sử dụng nhiều phương tiện dạy học thì sẽ thu hút học sinh tham gia hoạt động, trong đó có hình thức dạy học thông qua trò chơi vật lí sẽ làm cho học sinh đạt kết quả tốt trong học tập Tức là cách sử dụng trò chơi, lồng ghép kiến thức vật lí vào trò chơi, làm cho học sinh có những giây phút thoải mái, làm giảm bớt căng thẳng nhưng vẫn đảm bảo kiến thức, thông qua trò chơi nắm bắt kiến thức để học tốt
Với mong muốn sử dụng trò chơi đem đến hiệu quả giáo dục cao thì cần phải thiết kế nó với các yêu cầu như sau: Việc đầu tiên cần xác định loại trò chơi phù hợp mục tiêu giáo dục; Thứ hai cần tìm hiểu nhiều loại trò chơi để sử dụng với mục đích trò chơi phải có nội dung phong phú, đa dạng dựa trên kiến thức chuyên môn, hình thức tổ chức phải gọn nhẹ, dễ hiểu, dễ nhớ, hấp dẫn, vui tươi, lành mạnh
và thời gian hợp lý
1.4.2 Nguyên tắc thiết kế trò chơi trong dạy học tiết bài tập Vật lí
1.4.2.1 Cơ sở thiết kế trò chơi trong dạy học các tiết bài tập Vật lí
Để xây dựng trò chơi trong dạy học các tiết bài tập, ta căn cứ vào các tiêu chí sau: Thứ nhất là căn cứ vào mục tiêu, phương pháp của bài học, nội dung dạy học; Hai là căn cứ vào logic của quá trình dạy học trên lớp; Ba là căn cứ vào cách
Trang 2312
phân loại trò chơi trong dạy học; Bốn là căn cứ vào kết quả khảo sát thực tiễn dạy học môn Vật lí ở tiết bài tập; Năm là căn cứ vào đặc điểm của HS trường THPT Khoái Châu cơ sở 2; Sáu là căn cứ chương trình dạy học môn Vật lí ở tiết bài tập
1.4.2.2 Nguyên tắc thiết kế trò chơi trong dạy học các tiết bài tập Vật lí
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, chúng tôi thiết kế trò chơi dạy học dựa trên một số nguyên tắc sau: Đảm bảo tính mục đích: Mục đích của trò chơi
là phát huy hứng thú của học sinh Vì vậy luật chơi, nhiệm vụ chơi, hành động của trò chơi đòi hỏi HS phải sử dụng các giác quan, các thao tác trí tuệ, đặc biệt là thao tác tư duy: Tổng hợp, phân tích, khái quát hóa, trừu tượng hóa để lĩnh hội kiến thức bài học; Đảm bảo tính chất của hoạt động chơi: Mỗi trò chơi học tập phải là trò chơi hấp dẫn, tạo hứng thú phát huy tính tích cực của HS Những trò chơi phải tạo cho các em hứng thú, tự nguyện tham gia vào trò chơi tích cực sử dụng vốn hiểu biết, năng lực trí tuệ của mình để giải quyết nhiệm vụ học tập trong những hoàn cảnh chơi sinh động với yếu tố thi đua lẫn nhau; Đảm bảo tính hệ thống và phát triển: Các trò chơi được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp từ dễ đến khó, tạo thành một hệ thống gồm các nhóm trò chơi nhằm nâng cao năng lực phát triển trí tuệ của học sinh; Đảm bảo tính đa dạng: Các trò chơi đa dạng phong phú tạo cơ hội cho học sinh thực hành, vận dụng vốn hiểu biết thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và khả năng
tư duy của họ để giải quyết nhiệm vụ học tập trong những tình huống chơi đa dạng phong phú
1.5 Hứng thú học tập của học sinh
1.5.1 Khái niệm về hứng thú trong học tập của học sinh
Theo quan niệm nhiều nhà nghiên cứu, hứng thú học tập là thái độ, quan điểm, lựa chọn của con người đối với một đối tượng trong quá trình học tập Đối tượng đó có sức hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thực tiễn
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu khác lại đưa ra khái niệm về hứng thú như sau: Khi con người có hứng thú về một cái gì đó thì được con người ý thức và hiểu được ý nghĩa của nó đối với cuộc sống Hơn nữa ở con người xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với đối tượng, đối tượng lôi cuốn hấp dẫn con người về phía nó, tạo ra tâm lý khát khao tiếp cận muốn tìm hiểu kỹ về đối tượng Có thể nói, hứng
Trang 241.5.2 Biểu hiện hứng thú trong học tập của học sinh
Hứng thú được biểu hiện ở các mặt sau được coi là gần với đề tài:
Về mặt kiến thức, biểu hiện của hứng thú là thái độ thích làm những công việc khó, luôn say mê, ham hiểu biết, sẵn sàng học hỏi, tích cực sáng tạo trong tìm hiểu nhận thức sự việc, có đầu óc tò mò khoa học, vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống
Về mặt ý chí, biểu hiện của hứng thú là kiên nhẫn, khắc phục khó khăn tìm hiểu nhiệm vụ được giao cho đến cùng, ví dụ khi được yêu cầu vẽ sơ đồ tư duy trình bày các công thức bài mạch dao động thì học sinh không ngại khó tìm hiểu cách vẽ
sơ đồ tư duy, kiến thức bài mạch dao động qua các phương tiện thông tin đại chúng, chịu khó tìm hiểu qua internet hay qua những người xung quanh để nâng cao tầm hiểu biết của mình về vấn đề
Về mặt kỹ năng, biểu hiện của hứng thú là thể hiện rõ nét những năng lực thuộc lĩnh vực nhận thức như năng lực phân tích, ví dụ có thể phân tích dữ kiện của bài tập viết biểu thức cường độ dòng điện trong mạch dao động LC, áp dụng được các công thức đã học để giải quyết Sau đó có thể phát triển năng lực tổng hợp, năng lực khái quát hóa, trừu tượng hóa rút ra kinh nghiệm, kết luận chính xác khoa học về phương pháp giải bài tập nói trên
Về thái độ tình cảm, biểu hiện của hứng thú là rất vui, rất phấn khởi trong quá trình tham gia học tập, trao đổi thông tin, tranh luận với bạn về vấn đề được
Trang 251.5.3 Đặc điểm hứng thú trong học tập của học sinh
Khi học môn Vật lí không chỉ học những định luật, học thuyết cơ, tiến hành thí nghiệm mà còn có các tiết bài tập yêu cầu học sinh phải nắm bắt Việc tiếp thu
và ghi nhớ các kiến thức vận dụng vào giải các bài tập này đòi hỏi ở học sinh sự chủ động, tích cực từ đó các em thêm say mê tìm hiểu môn Vật lí và đem lại hiệu quả trong việc tìm tòi Trong quá trình giảng dạy gây hứng thú sẽ tạo nguồn kích thích tới học sinh, cụ thể: Hứng thú duy trì trạng thái tỉnh táo của cơ thể, cơ thể sẽ xuất hiện nhu cầu hoạt động liên tục, tránh được sự uể oải, duy trì sự chú ý trong một thời gian dài, qua đó hứng thú làm chỗ dựa cho sự ghi nhớ, sự ghi nhớ là tự nguyện
và kiến thức được khắc sâu hơn Hứng thú có vai trò quan trọng trong việc duy trì tình cảm thầy trò, tình cảm thầy trò trở nên tốt đẹp hơn, là một trong những yếu tố giúp xây dựng bầu không khí lớp học trở nên thân thiện và sẽ thúc đẩy hiệu quả của quá trình truyền thụ tri thức được nâng cao Ngược lại, nếu không có hứng thú sẽ nảy sinh cảm xúc tiêu cực, sẽ có cảm giác buồn chán không quan tâm đến mọi việc Giáo dục hứng thú phải gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học, người học phải thấy quá trình học tập là hoạt động dễ chịu, vui sướng Thực tiễn cho thấy rằng thiếu hứng thú học tập là nguyên nhân dẫn đến kết quả yếu kém trong học tập, từ đó quá trình học tập trở thành gánh nặng và nảy sinh tiêu cực Trong quá trình dạy học Vật lí thì việc tạo hứng thú cho học sinh sẽ giúp các em say mê tìm hiểu môn Vật lí
và đem lại hiệu quả trong việc tìm tòi, tiếp thu kiến thức, làm cho hoạt động học trở nên hấp dẫn hơn vì các em được duy trì trạng thái tỉnh táo của cơ thể, giúp học sinh phấn chấn vui tươi, học tập không bị mệt mỏi
Phương pháp kích thích hứng thú học tập của HS có rất nhiều, đó là tăng cường mối liên hệ giữa lí thuyết với thực tiễn, cung cấp các thông tin mới chính
Trang 2615
xác, những điều mang tính bí ẩn, sử dụng những mẩu chuyện vui, lời dẫn bài lý thú, các bài thơ về Vật lí, sử dụng phương tiện dạy học, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học, sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học, liên hệ Vật lí với các môn học khác…
1.6 Thực trạng tổ chức trò chơi trong dạy học bài tập Vật lí
1.6.1 Giới thiệu về khách thể, địa bàn của nghiên cứu
Vài nét về trường Trung học phổ thông Khoái Châu tỉnh Hưng Yên: Trường THPT Khoái Châu gồm có hai cơ sở, một cơ sở ở xã Đại Hưng huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên và một cơ sở ở thị trấn Khoái Châu huyện Khoái Châu , tỉnh Hưng yên, trường có 140 giáo viên với 58 lớp và hơn 2 nghìn học sinh
1.6.2 Phân phối chương trình môn Vật lí của Bộ giáo dục và đào tạo
Trong khung chương trình của bộ giáo dục đào tạo, môn Vật lí 10 có 70 tiết,
kỳ 1 có 36 tiết, kỳ 2 có 34 tiết Cụ thể, chương động học chất điểm có tổng số tiết
là 14 trong đó có 10 tiết lý thuyết, 2 tiết thực hành, 2 tiết bài tập; chương động lực học chất điểm có 11 tiết trong đó có 8 tiết lý thuyết, 2 tiết thực hành, 1 tiết bài tập; chương cân bằng và chuyển động của vật có tổng số tiết là 9, có 8 tiết lý thuyết, 1 tiết bài tập; chương các định luật bảo toàn có tổng số tiết là 10, trong đó có 10 tiết lý thuyết, 2 tiết bài tập; chương chất khí có tổng số tiết là 6, có 5 tiết lý thuyết, 1 tiết bài tập; Chương cơ sở của nhiệt động lực học có tổng số tiết 4 tiết với 3 tiết lý thuyết, 1 tiết bài tập; Chương chất rắn, chất lỏng và sự chuyển thể có 12 tiết trong
đó có 8 tiết lý thuyết, 2 tiết thực hành, 2 tiết bài tập
Môn Vật lí 11 có 70 tiết, kỳ 1 có 37 tiết, kỳ 2 có 33 tiêt Cụ thể, chương điện tích, điện trường có 10 tiết trong đó 7 tiết lý thuyết, 3 tiết bài tập; chương dòng điện không đổi có 13 tiết trong đó có 8 tiết lý thuyết, 2 tiết thực hành, 3 tiết bài tập; Chương dòng điện trong các môi trường có 12 tiết trong đó có 8 tiết lý thuyết, 2 tiết thực hành, 2 tiết bài tập; Chương từ trường có 6 tiết trong đó có 4 tiết lý thuyết, 2 tiết bài tập; Chương cảm ứng điện từ có 6 tiết trong đó có 4 tiết lý thuyết, 2 tiết bài tập; Chương khúc xạ ánh sáng có 4 tiết trong đó có 2 tiết lý thuyết, 2 tiết bài tập; Chương mắt, các dụng cụ quang học có 15 tiết với 8 tiết lý thuyết, 2 tiết thực hành
và 5 tiêt bài tập
Trang 2716
Môn Vật lí 12 có 70 tiết với kỳ 1 có 35 tiết, kỳ 2 có 35 tiết Cụ thể, chương dao động cơ có 11 tiết, với 6 tiết lý thuyết, 2 tiết thực hành, 3 tiết bài tập; Chương sóng cơ và sóng âm có 8 tiết với 6 tiết lý thuyết và 2 tiết bài tập; Chương dòng điện xoay chiều có 14 tiết với 8 tiết lý thuyết với 2 tiết thực hành, 4 tiết bài tập; Chương dao động và sóng điện từ có 5 tiết với 4 tiết lý thuyết, 1 tiết bài tập; Chương sóng ánh sáng có 9 tiết với 5 tiết lý thuyết, 2 tiết thực hành, 2 tiết bài tập; Chương lượng
tử ánh sáng có 7 tiết với 5 tiết lý thuyết, 2 tiết bài tập; Chương hạt nhân nguyên tử
có 9 tiết với 7 tiết lý thuyết, 1 tiết bài tập
Qua các các dữ kiện trên, thấy với phân phối chương trình Vật lí 10 có 10 tiết bài tập và 58 tiết lý thuyết, với Vật lí 11 có 19 tiết bài tập và 47 tiết lý thuyết, với Vật lí 12 có 18 tiết bài tập và 46 tiết lý thuyết Như vậy số tiết bài tập trong phân phối chương trình chiếm phần đáng kể, có sức ảnh hưởng lớn đến việc nắm vững kiến thức của học sinh
1.6.3 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng giáo viên thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học tiết bài tập Vật lí
1.6.3.1 Tổ chức khảo sát thực trạng
Mục đích khảo sát: Xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất tổ chức trò chơi trong dạy học các tiết bài tập Vật lí
Đối tượng khảo sát: Giáo viên dạy Vật lí trường THPT Khoái Châu với hơn
2 nghìn học sinh Trường THPT Khoái Châu
Nội dung khảo sát:
1) Nhận thức của học sinh về xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học môn Vật
Trang 281.6.3.3 Cách tiến hành (Cách chọn mẫu, thu thập thông tin)
Tổng kết kinh nghiệm, câu trả lời của giáo viên để thu thập thông tin về thực trạng nghiên cứu bằng phiếu hỏi trên Microsof form; Tổng kết câu trả lời của học sinh bằng phiếu hỏi trên Microsof form; Cho HS làm bài kiểm tra, sau đó xử lý kết quả
1.6.4 Cách xử lý số liệu
Dùng thống kê toán học, dùng hàm Excel để xử lý số liệu thu thập được dựa trên các bước sau:
Bước 1: Thống kê các điểm số (xi) của bài kiểm tra
Bước 2: Xây dựng chi tiết bảng phân bố tần suất và tần số lũy tích
Bước 3: Vẽ đồ thị các đường lũy tích
Bước 4: Tính trung bình cộng, phương sai, độ lệch chuẩn,
+ Trong đó giá trị trung bình cộng sẽ được tính theo công thức:
Phương sai s2 và độ lệch chuẩn s là các số đo độ phân tán của sự phân bố, s càng nhỏ số liệu càng ít phân tán
∑ ( ̅ )
+ Độ lệch chuẩn:
√
Trang 2918
- Tần số lũy tích:
1.6.5 Thực trạng thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học các tiết bài tập Vật lí
ở trường trung học phổ thông Khoái Châu-Hưng Yên
1.6.5.1 Nhận thức của giáo viên về thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học bài tập Vật lí
Qua 11 câu hỏi đóng và 3 câu hỏi mở, kết quả hỏi ý kiến của 11 giáo viên dạy Vật lí trường THPT Khoái Châu cho thấy (Phụ Lục 1): 100% GV cho rằng cần thiết (có 54,5%: cần thiết, 45,5%: rất cần thiết) của việc sử dụng trò chơi trong dạy học môn Vật lí ở tiết bài tập, xem biểu đồ 1.1
Biểu đồ 1.1 Sự cần thiết của trò chơi trong tiết bài tập Vật lí
Về tác dụng của trò chơi trong tiết học bài tập Vật lí với 5 mức độ đánh giá (rất tác dụng, tác dụng, bình thường, không tác dụng lắm, hoàn toàn không tác dụng) thì được kết quả thể hiện ở biểu đồ 1.2 Qua khảo sát ta thấy khi tổ chức trò chơi trong tiết dạy giúp khả năng tập trung vào bài học tốt hơn, tương tác giữa GV
và HS tốt hơn, ghi nhớ của HS tốt hơn và giúp HS khắc sâu các kiến thức…
Trang 3019
Biểu đồ 1.2 Tác dụng của trò chơi trong tiết học bài tập Vật lí
Với câu hỏi về tổ chức trò chơi trong tiết học ở hoạt động nào thì thấy nhiều giáo viên sử dụng trong hoạt động khởi động, ôn tập và luyện tập, củng cố, xem biểu đồ 1.3, 1.4
Biểu đồ 1.3 Sử dụng trò chơi trong tiết bài tập Vật lí
Trang 3120
Biểu đồ 1.4 Đánh giá của giáo viên khi học sinh tham gia trò chơi
Mặc dù thấy đƣợc lợi ích của việc sử dụng trò chơi trong dạy học làm học sinh hào hứng khi tham gia nhƣng mức độ sử dụng của thầy cô lại không nhiều, xem biểu đồ 1.5
Biểu đồ 1.5 Mức độ sử dụng trò chơi trong các tiết học bài tập
Trong các loại trò chơi thì loại trò chơi phát triển nhận thức đƣợc nhiều giáo viên quan tâm, xem biểu đồ 1.6
Trang 3221
Biểu đồ 1.6 Các loại trò chơi
Căn cứ vào nội dung tiết học để xây dựng trò chơi phù hợp và nhận thấy nội dung tiết bài tập là phù hợp nhất, xem biểu đồ 1.7
Biểu đồ 1.7 Các căn cứ để xây dựng trò chơi
Khi thực hiện tổ chức trò chơi thì hầu hết các giáo viên đều cho rằng thuận lợi là học sinh hào hứng tham gia với thái độ thích thú, thoải mái khiến học sinh tiếp thu kiến thức tốt hơn nhƣng khó khăn là tốn thời gian soạn giảng, lớp đông khó tổ chức… Thấy rằng khó khăn khi thực hiện trò chơi là ở soạn giảng, lý do nhiều giáo
Trang 3322
viên là nữ (có 10/11 GV nữ, 1/11 GV nam) còn trong thời gian nuôi con nhỏ nên không có nhiều thời gian đầu tƣ chuyên môn, trình độ cử nhân, xem biểu đồ, xem biểu đồ 1.8
Biểu đồ 1.8 Giới tính, độ tuổi, chuyên môn của giáo viên
a)
b)
Trang 3423
c) Tổng kết, sau khi phát phiếu điều tra thực trạng dạy học tiết bài tập thì thấy hầu hết các giáo viên đều thấy lợi ích vượt trội của việc tổ chức trò chơi trong tiết bài tập Vật lí Tuy nhiên, mức sử dụng phương pháp tổ chức trò chơi trong dạy học tiết bài tập Vật lí này chưa nhiều, nguyên nhân là khâu soạn bài mất nhiều thời gian
1.6.5.2 Nhận thức của học sinh về sử dụng trò chơi trong dạy học các tiết bài tập Vật lí
Qua 11 câu hỏi đóng và 3 câu hỏi mở, kết quả hỏi ý kiến của HS (Phụ lục 2)cho thấy: Có 22,2 % học sinh thích chia lớp thành các đội và tổ chức trò chơi, 13,2 % thảo luận nhóm và báo cáo và 37% kết hợp vừa thuyết trình vừa đặt câu hỏi, xem biểu đồ 1.9
Biểu đồ 1.9 Phương pháp và hình thức dạy học ở tiết bài tập Vật lí
Trang 35
24
Nhiều học sinh chƣa đƣợc học các tiết dạy tổ chức trò chơi và cụ thể 34,7%
ít khi giáo viên sử dụng, 44,2 % thỉnh thoảng giáo viên mới sử dụng, xem biểu đồ 1.10
Biểu đồ 1.10 Mức độ sử dụng trò chơi trong tiết bài tập
Tuy nhiên, đến 60% HS cho rằng GV sử dụng trò chơi trong tiết dạy Vật lí là cần thiết, số còn lại thấy hoàn toàn chấp nhận đƣợc, xem biểu đồ 1.11
Biểu đồ 1.11 Mức độ cần thiết khi tổ chức trò chơi trong tiết bài tập
Trang 36
25
Với câu 9 (phụ lục 2) hỏi về hứng thú của HS đối với các loại trò chơi dạy học môn Vật lí học ở tiết bài tập Ta thu đƣợc kết quả nhƣ sau: Có 70 % HS thích kiểu trò chơi phát triển nhận thức, xem biểu đồ 1.12
Biểu đồ 1.12 Phân bố các loại trò chơi dạy học hay sử dụng
Nhƣ vậy cả GV và HS đều thấy tiết bài tập Vật lí nên sử dụng trò chơi phát triển nhận thức (tức là trò chơi phát triển tri giác, cảm giác, xúc giác….)
Khi tổ chức trò chơi thì có 69,4% học sinh thích tham gia, số còn lại cũng hoàn toàn tiếp nhận đƣợc, xem biểu đồ 1.13
Biểu đồ 1.13 Biểu hiện của học sinh khi học tiết bài tập có sử dụng trò chơi
Trang 3726
Nếu giáo viên có tổ chức tiết học có sử dụng trò chơi thì học sinh có thái độ sẵn sàng đón nhận một cách tích cực (mặc dù nhiều học sinh thấy bình thường,
nhưng do có việc phải làm nên rất chăm chỉ), xem biểu đồ 1.14
Biểu đồ 1.14 Hành động của học sinh học tiết học bài tập có sử dụng trò chơi
Nhìn vào kết quả khảo sát chúng ta thấy có 69,6% cho rằng các em thích GV xây dựng theo kiểu trò chơi phát triển nhận thức, để rèn luyện trí nhớ, phát triển tư duy, tưởng tượng… Học sinh đã đưa ra những thuận lợi là thấy thoải mái, nhớ được nhiều kiến thức, vui ….và không thấy có các khó khăn khi tham gia trò chơi
Trang 3827
Kết luận chương 1
Trong chương 1 đã nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, tìm hiểu lịch sử vấn
đề, nghiên cứu tổng quan về phương pháp trò chơi, nghiên cứu về hứng thú của học sinh trong học tập Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, xây dựng hệ thống phiếu điều tra, phân tích thực trạng sử dụng trò chơi vào các tiết bài tập Vật lí Qua việc điều tra, phân tích, đánh giá kết quả khảo sát thực trạng xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học môn Vật lí ở tiết bài tập, chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết GV và HS nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của việc tố chức các trò chơi dạy học các tiết bài tập Vật lí Các GV đã có những cố gắng nhất định trong việc xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh và hoạt động này đã có một số kết quả Tuy nhiên trong quá trình thiết kế và sử dụng có nhiều tồn tại cần phải giải quyết
Chúng tôi đã phân tích rõ những nguyên nhân khách quan và chủ quan của các vấn đề cần giải quyết Đây là cơ sở thực tiễn rất có giá trị để thiết kế và sử dụng trò chơi trong các tiết bài tập để phát huy hứng thú của học sinh góp phần nâng cao kết quả học tập Mặc dù các GV đã tổ chức trò chơi vào dạy học Vật lí nhưng chưa được khai thác nhiều Do đó, việc nghiên cứu, bổ sung thêm những trò chơi dạy học trong dạy học môn Vật lí ở tiết bài tập ở chương 2 nhằm phát huy hứng thú học tập của của học sinh là hết sức cần thiết
Trang 3928
CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÕ CHƠI
TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP VẬT LÍ 2.1 Phân tích nội dung và yêu cầu cần đạt khi dạy học phần Sóng điện từ và
Sóng ánh sáng
2.1.1 Nội dung lý thuyết về sóng điện từ và sóng ánh sáng ở trường THPT
2.1.1.1 Sóng điện từ
Trong chương dao động và sóng điện từ, có bài về mạch dao động, sóng điện
từ, nguyên tắc truyền tải thông tin về sóng điện từ với những nội dung cần nhớ như sau
Thứ nhất, cần sử dụng nội dung kiến thức về mạch dao động Cấu tạo của mạch dao động LC gồm một tụ điện (có điện dung C) mắc nối tiếp với một cuộn cảm (có độ tự cảm L) thành mạch kín, xem hình 2.1
Hình 2.1 Mạch dao động
(Nguồn: https://www.google.com.vn)
Khi trình bày về mạch dao động, cần phân biệt mạch dao động lí tưởng có điện trở mạch điện bằng không và mạch dao động không lí tưởng có điện trở mạch điện khác không
Thứ hai, cần đưa ra biểu thức điện tích, dòng điện và điện áp trong mạch LC
q q0.cos( t q)(A)
Trang 4029
) ( 2 cos
.
) (
) )(
sin(
'
0
0 0
0 0
A t
I
i
hay
U C Q
I A t
Q
q
i
q q
Thứ tư, cần sử dụng kiến thức về điện từ trường: Điện từ trường gồm điện trường và từ trường biến thiên trong không gian, xem hình 2.2
Hình 2.2 Điện từ trường lan truyền trong không gian
(Nguồn: https://www.google.com.vn)
Thứ năm, cần sử dụng kiến thức về sóng điện từ: Sóng điện từ là điện từ trường lan truyền trong không gian, lan truyền trong chân không với vận tốc bằng vận tốc ánh sáng (c ≈ 3.108m/s) và trong các điện môi với vận tốc nhỏ hơn trong chân không Sóng điện từ là sóng ngang tức phương dao động của từ trường và điện trường vuông góc với nhau và vuông góc với phương truyền sóng (hay ta có thể nói véc tơ cường độ điện trường, véc tơ cảm ứng từ và chiều truyền sóng hợp thành tam diện thuận) Tại mỗi điểm trong điện từ trường luôn có dao động của điện trường và
từ trường luôn cùng pha (hay còn gọi là đồng pha) với nhau; Khi sóng điện từ gặp