Môn KHTN góp phần hình thành, phát triển các NL chung quy định trong Chương trình GDPT tổng thể và góp phần chủ yếu trong việc hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của HS; đón
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGÔ THỊ MỸ HẰNG
THIẾT KẾ MỘT SỐ CHỦ ĐỀ SINH HỌC TRONG DẠY HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN 8 TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
HÀ NỘI – 2021
HÀ NỘI – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGÔ THỊ MỸ HẰNG
THIẾT KẾ MỘT SỐ CHỦ ĐỀ SINH HỌC TRONG DẠY HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN 8 TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC CHUYÊN NGÀNH LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN SINH HỌC
MÃ SỐ: 8140213.01
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Phượng
HÀ NỘI – 2021
Trang 3
i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài này, bên cạnh sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tác giả còn nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô, bạn bè và gia đình
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến: cô giáo
TS Lê Thị Phượng - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tác giả suốt
trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài
Tác giả xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu, các thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh trường THCS Mỹ Hưng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và hợp tác nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu
Dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do điều kiện có hạn, luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các thầy, cô giáo
và các bạn đọc
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 1 năm 2021
Tác giả
Ngô Thị Mỹ Hằng
Trang 4ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
EU Liên minh châu Âu
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc
(United Nations Educationnal Scientific and Cultura Organization)
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phiếu điều tra giáo viên - 38
Bảng 1.2 Nhận thức của HS về dạy học theo chủ đề - 41
Bảng 2.1 Danh sách SGK nước ngoài được lựa chọn nghiên cứu - 44
Bảng 2.2 Cấu trúc một chương - 50
Bảng 2.3 Các mục trong một bài - 52
Bảng 2.4 Các thành phần cấu trúc SGK của Anh, Mĩ, Canada, Australia, Singapore - 53
Bảng 2.6 Các nội dung có thể xây dựng trong hai chủ đề mẫu - 62
Bảng 3.1 Kết quả đánh giá sau khi dạy học theo chủ đề - 96
Bảng 3.2 Kết quả xin ý kiến chuyên gia - 99
Bảng 3.3 Kết quả bài kiểm tra số 1 - 100
Bảng 3.4 Phân phối tần số và tần suất tích lũy bài kiểm tra số 1 - 100
Bảng 3.5 Thống kê kết quả bài kiểm tra số 2 - 102
Bảng 3.6 Phân phối tần số và tần suất tích lũy bài kiểm tra số 2 - 102
Bảng 3.7 Phân loại kết quả học tập của HS qua các bài kiểm tra - 103
Trang 6iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Quy trình thiết kế chủ đề dạy học - 32
Hình 2.1 Chủ đề “Sự thích nghi của sinh vật” - Sách Cambridge Checkpoint Science (Anh) - 47
Hình 2.2 Chủ đề “Sinh vật sống” - Sách Focus on Life Science (Australia) - 49
Hình 2.3 Sơ đồ quy trình thiết kế chủ đề Sinh học môn KHTN - 60
Hình 2.4 Cấu tạo bên trong của tim động vật có vú - 66
Hình 2.5 Cấu tạo hệ mạch máu - 67
Hình 2.6 Cấu tạo mao mạch - 68
Hình 2.7 Máu chảy trong tĩnh mạch - 69
Hình 2.8 Cấu tạo động mạch và tĩnh mạch - 69
Hình 2.9 Thành phần của máu - 71
Hình 2.10 Tắc nghẽn mạch máu - 73
Hình 2.11 Sự khuếch tán của các phân tử khí - Error! Bookmark not defined. Hình 2.12 Sự trao đổi khí ở phế nang và mao mạch máu - 82
Hình 2.13 Cấu tạo hệ hô hấp - Error! Bookmark not defined. Hình 2.14 Cấu tạo bên trong mũi - 83
Hình 2.15 Cơ chế hít vào và thở ra - 84
Hình 2.16 Thí nghiệm mô tả cơ chế trao đổi khí ở phổi - 85
Hình 2.17 Ảnh hưởng của khói thuốc đến phổi - Error! Bookmark not defined. Hình 3.1 HS đang thảo luận bài 96
Hình 3.2 HS trình bày sản phẩm của nhóm 96
Trang 7v
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN - i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT - ii
DANH MỤC CÁC BẢNG - iii
DANH MỤC CÁC HÌNH - iv
MỞ ĐẦU - 1
1 Lí do chọn đề tài - 1
2 Mục đích nghiên cứu - 4
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu - 4
4 Giả thuyết khoa học - 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu - 4
6 Phạm vi nghiên cứu - 5
8 Những đóng góp mới của luận văn - 6
9 Cấu trúc luận văn - 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN - 7
1.1 Lược sử nghiên cứu - 7
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về dạy học theo chủ đề - 7
1.2 Cơ sở lí luận - 13
1.2.1 Khái niệm dạy học theo chủ đề - 13
1.2.2 Dạy học theo chủ đề là phương thức phát triển NL HS - 15
1.2.3 Phân tích chương trình KHTN mới với các định hướng và yêu cầu cần đạt - 27
1.2.4 Phân tích nguyên tắc, quy trình xây dựng chủ đề - 31
1.3 Cơ sở thực tiễn - 38
1.3.1 Khảo sát thực trạng thiết kế và dạy học chủ đề trong dạy học sinh học ở các trường trung học cơ sở - 38
1.3.2 Khảo sát tính khả thi khi ứng dụng tổ chức dạy học theo chủ đề cho môn Sinh học vào chương trình giáo dục phổ thông mới - 40
Tiểu kết chương 1 - 42
Trang 8vi
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ MỘT SỐ CHỦ ĐỀ SINH HỌC TRONG DẠY HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN 8 TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI - 44
2.1 Phân tích các chủ đề Sinh học trong môn KHTN theo định hướng phát triển NL của một số nước trên thế giới - 44
2.1.1 Cấu trúc một chủ đề - 50
2.1.2 Cấu trúc một bài học (Unit) - 51
2.1.3 Các thể hiện nội dung của từng chủ đề - 55
2.2 Xây dựng tiêu chí đánh giá chủ đề Sinh học trong dạy học môn KHTN lớp 8 THCS theo định hướng phát triển NL - 56
2.3 Thiết kế một số chủ đề Sinh học trong dạy học môn KHTN lớp 8 THCS theo chương trình GDPT mới - 58
2.3.1 Tổng quan về kiến thức Sinh học trong môn KHTN lớp 8 THCS - 58
2.3.2 Nguyên tắc xây dựng chủ đề Sinh học trong dạy học môn KHTN lớp 8 THCS theo chương trình GDPT mới - 59
2.3.3 Quy trình thiết kế chủ đề Sinh học trong dạy học môn KHTN lớp 8 THCS theo chương trình GDPT mới - 60
2.3.4 Thiết kế mẫu chủ đề Sinh học trong dạy học môn KHTN lớp 8 THCS theo chương trình GDPT mới - 62
Tiểu kết chương 2 - 94
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM - 95
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm - 95
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm - 95
3.3 Tổ chức thực nghiệm sư phạm - 95
3.3.1 Đối tượng thực nghiệm - 95
3.3.2 Thời gian thực nghiệm - 96
3.3.3 Phương pháp xử lí số liệu - 96
3.4 Kết quả thực nghiệm - 96
3.4.1 Phân tích mức độ phù hợp của các chủ đề đã thiêt kế - 96
3.4.2 Kết quả định lượng - 100
Trang 9vii
Tiểu kết chương 3 - 104
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ - 105
1 Kết luận - 105
2 Khuyến nghị - 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 107
PHỤ LỤC
Trang 10là một yêu cầu ngày càng bức bách đối với việc phát triển sự nghiệp giáo dục ở nước
ta Trong bối cảnh đó, môn Sinh học cũng không phải là một ngoại lệ,việc đổi mới phương pháp dạy học Sinh học được đặc biệt coi như một vấn đề then chốt, có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao chất lượng dạy học Sinh học ở nhà trường phổ thông
Đất nước ta đang bước vào thời kì hội nhập quốc tế về mọi mặt, sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học công nghệ, cũng như khả năng ứng dụng chúng vào thực tế Để đáp ứng được thực tế đó đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới trên mọi phương diện đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học Vì vậy, người GV ngoài việc dạy cho HS kiến thức còn phải dạy cho HS cách học để có thể học suốt đời Trong Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc, tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển NL” [5] Thực hiện
Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam [4] và Nghị quyết 88 của Quốc hội, Nghị quyết 44 của Chính phủ (2014), CTGD PT mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và NL, tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp người học tích lũy được kiến thức phát triển vững chắc; biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa, đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại [6]
Trang 112
Trong Đề án đổi mới CTGD PT (GDPT) sau 2018 [5], KHTN là môn học được xây dựng và phát triển trên nền tảng các khoa học Vật lí, Hóa học, Sinh học và Khoa học Trái đất Đồng thời, sự tiến bộ của nhiều ngành khoa học khác liên quan như Toán học, Tin học cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển không ngừng của KHTN Đối tượng nghiên cứu của KHTN là các sự vật, hiện tượng, quá trình, các thuộc tính
cơ bản về sự tồn tại, vận động của thế giới tự nhiên Vì vậy, trong môn KHTN , những nguyên lí, khái niệm chung nhất của thế giới tự nhiên được tích hợp xuyên suốt các mạch nội dung Trong quá trình dạy học, các mạch nội dung được tổ chức sao cho vừa tích hợp theo nguyên lí của tự nhiên, vừa đảm bảo logic bên trong của từng mạch nội dung Môn KHTN góp phần hình thành, phát triển các NL chung quy định trong Chương trình GDPT tổng thể và góp phần chủ yếu trong việc hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của HS; đóng vai trò quan trọng trong việc GD HS phẩm chất
tự tin, trung thực, khách quan, tình yêu thiên nhiên, hiểu, tôn trọng và biết vận dụng các quy luật của thế giới tự nhiên để từ đó biết ứng xử với thế giới tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững; đồng thời hình thành và phát triển được các NL tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo Bên cạnh đó, môn học còn giúp phát triển NL giúp người học thích ứng được với cuộc sống luôn luôn biến đổi, ngày càng đa dạng về mọi mặt; giúp người học biết tổ hợp, hệ thống hóa các tri thức, kĩ năng ở nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết những nhiệm vụ phức tạp, đa dạng, thường xuyên xảy ra trong cuộc sống hàng ngày Để việc đổi mới diễn
ra một cách đồng bộ, triệt để, tiếp cận với nền giáo dục trong khu vực và trên thế giới, cần đổi mới sâu sắc và mang tính hệ thống từ mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và phương tiện kiểm tra, đánh giá
Chương trình môn KHTN được tổ chức theo 4 chủ đề khoa học chính, gồm: (i) Chất và sự biến đổi của chất: chất có ở xung quanh ta, cấu trúc của chất, chuyển hoá hoá học các chất; (ii) Vật sống: sự đa dạng trong tổ chức và cấu trúc của vật sống; các hoạt động sống; con người và sức khoẻ; sinh vật và môi trường; di truyền, biến
dị và tiến hoá; (iii) Năng lượng và sự biến đổi: năng lượng, các quá trình vật lí, lực
và sự chuyển động; (iv) Trái Đất và bầu trời: chuyển động nhìn thấy của Mặt Trời, chuyển động nhìn thấy của Mặt Trăng, hệ Mặt Trời, Ngân Hà, chu trình các chất trong
Trang 123
hệ sinh thái, Sinh quyển Có thể nhận thấy, nội dung môn KHTN được xây dựng dựa trên sự thống nhất của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên vì khi giải quyết một vấn đề của tự nhiên, không thể chỉ sử dụng kiến thức của một khoa học nào, mà cần kiến thức tổng hợp tích hợp từ nhiều lĩnh vực khác nhau, theo đó, chương trình giáo dục mới sẽ được đổi mới theo tiếp cận NL trên cơ sở dạy học tích hợp trong lĩnh vực KHTN , Khoa học xã hội – Nhân văn, Khoa học – Công nghệ Sự kết hợp đó dựa trên nguyên lí - tích hợp là phương thức hình thành nhân cách và phát triển toàn diện
và phát triển NL là nguyên tắc xuyên suốt chương trình GDPT mới
Dạy học theo chủ đề là một trong những xu thế dạy học hiện đại Hiện nay, nhiều nước ở khu vực châu Á và trên thế giới đã thực hiện dạy học theo chủ đề trong dạy học và đã đem lại hiệu quả nhất đinh, thí dụ như Australia, Anh, Hoa Kì, Canada, Pháp, Đức, Nhật Bản, Ấn độ, Singapo, CHLB Đức Với bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam cần thiết phải xây dựng chương trình học theo chủ đề nhằm giúp HS vận dụng tri thức một cách logic đồng thời có thể phát hiện và giải quyết những vấn đề gắn với thực tiễn cuộc sống Có thể nói, xây dựng các chủ đề để phục vụ dạy học là một nhiệm vụ bức thiết đặt ra đối với giáo dục Vì thế, việc xây dựng chủ đề phục vụ
tổ chức dạy học Sinh học giúp người học nắm chắc kiến thức và rèn kĩ năng tổng hợp,
xử lý thông tin, đặc biệt là kĩ năng hệ thống hóa, kĩ năng phát hiện vấn đề, kĩ năng phân tích tổng hợp Từ đó, người học có khả năng vận dụng những kiến thức mình
đã học một cách linh hoạt vào các tình huống khác nhau trong cuộc sống thực
Vì vậy, dạy học theo chủ đề, một trong những cách thức giúp HS chiếm lĩnh, khám phá tri thức, kiến thức Sinh học một cách logic, đồng thời phát huy vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo trong quá trình tiếp nhận và khai mở những kiến thức, kĩ năng, thái độ khi học các phần kiến thức “con người và sức khỏe; sinh vật và môi trường” nằm trong chủ đề “Vật sống” thuộc chương trình KHTN lớp 8 THCS Những nội dung rất hay và lí thú này giúp HS có thể được tìm hiểu về cấu tạo và khám phá
về cách thức vận động của chính cơ thể mình cũng như vai trò của mình trong thế giới sống Cùng với đó, dạy học theo chủ đề tìm ra các đáp ứng được 10 NL cần hình thành cho HS trong Chương trình GD PT tổng thể ban hành tháng 12 năm 2018 do
Bộ Giáo dục ban hành Các NL bao gồm 3 NL chung và 7 NL đặc thù: NL tự chủ và
Trang 13Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thiết kế một số chủ đề
Sinh học trong dạy học KHTN 8 THCS theo chương trình GDPT mới”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích cấu trúc chương trình GDPT hiện hành môn Sinh học cấp THCS của Việt Nam và chương trình GDPT môn Khoa học một số nước
có nền giáo dục tiên tiến với những tiêu chí đặc trưng, tiến hành thiết kế một số chủ
đề Sinh học trong học môn KHTN 8 THCS theo chương trình GDPT mới để phát huy tính sáng tạo, chủ động của HS, phát triển các kĩ năng khoa học và nâng cao chất lượng dạy học KHTN
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu chương trình GDPT môn KHTN cấp THCS với các tiêu chí cấu trúc, chức năng và hình thức trình bày theo định hướng phát triển NL người học
- Quy trình thiết kế một số chủ đề Sinh học, KHTN 8 – THCS theo các yêu cầu cần
đạt của chương trình GDPT mới (2018)
3.2 Khách thế nghiên cứu
Quá trình dạy học môn KHTN 8
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được những đặc trưng cơ bản với các tiêu chí về kiến thức, kĩ năng,
thái độ và NL cần hình thành cho HS theo định hướng phát triển NL và thể thiết kế được
một số chủ đề Sinh học trong dạy học môn KHTN 8 theo chương trình GDPT mới thì
sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao hiệu quả dạy học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về thiết kế và tổ chức dạy học theo chủ đề
- Nghiên cứu, phân tích cấu trúc một số chủ đề trong môn Khoa học cấp THCS
Trang 14- Đề xuất nguyên tắc và xây dựng quy trình thiết kế chủ đề Sinh học trong môn
KHTN lớp 8 theo chương trình GDPT mới
- Thiết kế một số chủ đề Sinh học môn KHTN 8 theo chương trình GDPT mới
- Thực nghiệm sư phạm và xin ý kiến chuyên gia để đánh giá tính khả thi của các
chủ đề đã thiết kế, từ đó điều chỉnh, kiến nghị cho những hướng nghiên cứu tiếp theo
6 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu, so sánh SGK hiện hành môn Sinh học cấp THCS của Việt Nam
và SGK môn Khoa học của 05 nước có nền giáo dục tiên tiến: Anh, Mĩ, Canada,
Australia và Singapore
- Nghiên cứu mô hình SGK môn KHTN theo chương trình GDPT mới, đặc biệt
là kiến thức Sinh học trong KHTN lớp 8 THCS
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan làm cơ sở xây dựng lí luận cho đề tài Trong đề tài này, phương pháp nghiên cứu tài liệu giúp người nghiên cứu có được:
- Lược sử vấn đề nghiên cứu
- Cơ sở lí luận về đề tài nghiên cứu như: Chủ trương, chính sách liên quan đến nội dung nghiên cứu; nội dung chương trình GDPT môn KHTN ; các phương pháp
thiết kế chủ đề dạy học
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Xem xét và khảo sát mô hình, cấu trúc trong các SGK môn KHTN của các nước để tiếp cận với chuẩn quốc tế và có những nhận xét, đánh giá thống nhất, đáp ứng được yêu cầu hội nhập thể giới theo xu hướng toàn cầu hóa
- Xây dựng và sử dụng phiếu điều tra để đánh giá về dạy học theo chủ đề với chương trình Sinh học hiện hành và các chủ đề đã được thiết kế theo chương trình GDPT mới
Trang 156
- Phỏng vấn trao đổi với GV về tầm quan trọng của thiết kế chủ đề trong dạy học Sinh học
7.3 Phương pháp tham vấn chuyên gia
- Tham khảo ý kiến các chuyên gia, các giảng viên và GV về mức độ đáp ứng của chủ đề đã thiết kế căn cứ vào các yêu cầu cần đạt của chương trình
7.4 Phương pháp thực nghiệm
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm trên các chủ đề học tập đã xây dựng
- Phân tích kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm, đối chiếu với
mục tiêu nghiên cứu và rút ra kết luận của đề tài
7.5 Phương pháp thống kê toán học
- Sử dụng các thuật toán thống kê để xử lý số liệu, xác định các tham số đặc trưng (sử dụng phần mềm Microsoft excel)
8 Những đóng góp mới của luận văn
- Tổng quan các nghiên cứu về chương trình GDPT theo định hướng phát triển
NL và xây dựng tiêu chí đánh giá
- Đề xuất nguyên tắc xây dựng chủ đề Sinh học theo chương trình GDPT mới,
môn KHTN cấp THCS theo định hướng phát triển NL
- Thiết kế minh họa một số chủ đề phần Sinh học theo các yêu cầu cần đạt
- Đề xuất được tiêu chí cụ thể đánh giá mức độ đáp ứng các chủ đề
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương:
❖ Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
❖ Chương 2: Thiết kế một số chủ đề Sinh học trong dạy học KHTN lớp 8 THCS
theo định hướng phát triển NL
❖ Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16Tư tưởng dạy học theo chủ đề đã xuất hiện khá sớm, Từ thời trung cổ “Tính vấn
đề” trong dạy học đã được nhà triết học cổ Hy Lạp Sôcrat quan tâm đến, ông đã xây
dựng một phương pháp độc đáo: “Toạ đàm, tranh luận” đó là tư tưởng khởi đầu cho dạy học theo chủ đề sau này Các nhà giáo dục Nga như A.IaGheeđơ; B.E.Raicop; N.A.Rizôlôp… đã đề xuất phương pháp tìm tòi ơritxtic trong dạy học nhằm phát huy
tính tích cực, tự lực của HS trong quá trình nhận thức
Quan điểm về dạy học theo chủ đề đã được nhà giáo dục nổi tiếng Hoa kỳ J.Dewey trình bày trong cuốn: “Dân chủ và giáo dục” (1916), đừng quan niệm giáo dục là chuẩn bị cho cuộc sống tương lai mà phải làm cho giáo dục gắn đầy đủ với cuộc sống hiện tại, nghĩa là xã hội rộng lớn và lớp học đều phải tham gia nghiên cứu
cuộc sống hiện tại với các vấn đề cần giải quyết
Trong nhiều thập kỷ tiếp theo các nhà tâm lý học và sư phạm Xô Viết (cũ) đã đóng góp nhiều cống hiến trong việc nghiên cứu lý luận phát huy tính tích cực nhận thức của HS trong học tập như: Lev Vưgotsky, S.L.Rubinstein, A.M Machjusin, A.V Bruslinskii, B E.Raikov, P.I.Pidkasistưi, A.M Machjiusin, A.V Bruslinskii,
B.E.Raikov, M.N.Skatkin,… Đặc biệt năm 1968, W.Ôkôn - nhà giáo dục học Ba Lan
đã hoàn thành một công trình khá hoàn chỉnh và có giá trị về dạy học theo chủ đề Đó
là cuốn “Những cơ sở của dạy học theo chủ đề” Trong lĩnh vực lí luận dạy học Xô viết thì Giáo sư E.P.Brunov và Viện sĩ I.D Zverev có các công trình lớn chuyên khảo
về phát triển NL độc lập tích cực nhận thức của HS trong quá trình học tập giáo trình
sinh học nói chung và Giải phẫu sinh lí vệ sinh người nói riêng
Trong thế kỉ XXI, thế giới có những bước chuyển mình mạnh mẽ trong lĩnh vực giáo dục Do sức ép và thách thức lớn mang tính thời đại nên giáo dục buộc phải thay đổi cách tiếp cận từ nội dung sang tiếp cận NL để sản phẩm của đào tạo là HS phải
“biết làm”, nghĩa là mang tính ứng dụng cao UNESCO đã đề xướng mục tiêu học
Trang 178
tập: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” Ngân
hàng thế giới gọi thế kỉ XXI là kỉ nguyên của kinh tế dựa vào kĩ năng (Skills Based
Economy) NL của con người được đánh giá trên 3 góc độ: kiến thức, kĩ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa Muốn tăng cường NL cạnh tranh, rút ngắn khoảng cách ứng dụng khoa học công nghệ, thì phải biết cách giảng dạy và cách học
Trước đây, nhà trường là nơi duy nhất để ta tiếp nhận kiến thức Ngày nay, thế giới càng trở nên phẳng hơn nhờ sách vở, internet và các phương tiện truyền thông làm cho mọi người đều có thể tiếp cận thông tin, dữ liệu một cách bình đẳng, mọi lúc, mọi nơi Như vậy, để tiếp nhận kiến thức không phải là quá khó khăn trong thời đại ngày nay mà quan trọng là biến kiến thức đó thành kĩ năng, nói như M.A Đanhilop:
“kĩ năng chính là kiến thức trong hành động” Từ biết, đến hiểu, đến làm việc chuyên
nghiệp với năng suất cao là một khoảng cách rất lớn không phải ai cũng thực hiện
được, cần có những bứt phá chuyển thói quen thành kĩ năng [5]
Thế giới đã và đang thiết kế chương trình giáo dục, nội dung giáo dục, PPDH theo hướng tiếp cận NL và xây dựng hệ thống các NL chung và chuyên biệt cho từng môn học Số lượng NL chung ở mỗi nước không giống nhau Úc có 10 NL, Canada -
9 NL, khối EU - 8 NL, New Zealand – 5 NL, Nam Phi – 4 NL Các NL này khi xây dựng thường được nhấn mạnh ở mỗi NL người học phải làm được gì Đối với NL chuyên biệt, mỗi NL phải được cụ thể hóa đầu ra làm được gì Ngoài ra, cần lưu ý đến khả năng tích hợp liên quan đến lý thuyết, thực hành, ứng dụng vào thực tiễn
cuộc sống xã hội
Sau năm 2000, các nước có sự xem xét, cải tổ chương trình giáo dục theo định
hướng vừa nêu Có thể phân thành 3 loại chương trình từ các nước: Một số nước
tuyên bố chương trình thiết kế theo NL và nêu rõ các NL cần có của HS (Úc, Canada, New Zealand, Pháp,…); Một số nước cũng tuyên bố chương trình thiết kế theo NL nhưng không nêu hệ thống NL, mà chỉ nêu tiêu chuẩn cụ thể cho chương trình theo
hướng này (điển hình là chương trình của Indonesia); Một số nước khác không tuyên
bố chương trình thiết kế theo NL nhưng thực chất chương trình vẫn được thiết kế dựa
trên cơ sở NL (Hàn Quốc, Phần Lan…) Theo đánh giá của UNESCO, việc đổi mới
Trang 189
nội dung, chương trình và cách tiếp cận nội dung chương trình dạy học ở nhiều quốc gia đang có xu hướng tích hợp theo chủ đề học tập cùng với sự tích hợp công nghệ
vào dạy học Các chủ đề có ý nghĩa thực tiễn thường có sự tích hợp Vì vậy, ở Mĩ,
nhiều nước Tây Âu và ngay cả nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia, Singapore, Malaysia, Philipin,… đã từ lâu không tách rời các môn Lý, Hóa, Sinh ở cấp Tiểu học và THCS Ở hai cấp học này, các môn này tích hợp thành môn Khoa học, đến cấp THPT, các môn này được tách ra, nhưng cấp này cũng xây
dựng các chủ đề tích hợp có tính thực tiễn cao
Sự tích hợp thành môn Khoa học sẽ được giảng dạy theo một số chủ đề chính, sau đó được phân cấp thành các chủ đề nhỏ hơn Chẳng hạn, ở Úc, chương trình Khoa học gồm các chủ đề chính: Làm việc khoa học; Cuộc sống và vật thể sống; Vật liệu
tự nhiên và vật liệu nhân tạo; Năng lượng và sự biến đổi; Trái đất và vũ trụ Ở Thái Lan, chương trình Khoa học gồm các chủ đề chính: Quá trình khoa học; Chất; Sinh vật và môi trường; Năng lượng và sự biến đổi Mỗi chủ đề chính lại được phát triển thành các chủ đề nhỏ và được phân thành các mức khác nhau từ Tiểu học đến THCS
và THPT; Ở Phần Lan, một nước có một nền giáo dục rất hiệu quả, luôn nằm trong nhóm dẫn đầu trên các bảng xếp hạng khả năng đọc hiểu và tính toán của thế giới, đang chuẩn bị triển khai những chương trình cải cách giáo dục cấp tiến nhất từ trước tới nay: loại bỏ việc “dạy theo môn học” truyền thống và ủng hộ việc “giảng dạy theo chủ đề” Các bài giảng theo môn học được thay thế bởi các bài học dạy theo “hiện tượng”, hay giảng dạy theo chủ đề Bên cạnh đó còn có những thay đổi khác thay cho những khuôn mẫu truyền thống Chẳng hạn, HS không còn ngồi theo hàng ngang thụ động trước mặt GV , lắng nghe những bài học hay chờ đợi để được GV hỏi mà học
bài theo phương pháp hợp tác như làm việc theo nhóm nhỏ để giải quyết vấn đề
Xu hướng dạy học theo chủ đề đã đặt ra yêu cầu cải tiến về PPDH, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá Việc dạy học sẽ chú ý nhiều đến việc tạo cơ hội cho HS tham gia hoạt động học tập, quá trình học tập sẽ được tiến hành bằng các hoạt động và thông qua các hoạt động Trên con đường hướng tới một xã hội tri thức, thông tin và hợp tác toàn cầu, nhu cầu về tiếp nhận, tìm hiểu thông tin,
Trang 1910
tìm kiếm tri thức của loài người ngày càng cao, cũng như lượng tri thức cần cập nhật hàng ngày là vô cùng lớn nên HS cần có những kỹ năng như cộng tác làm việc, khả năng tìm kiếm, khai thác, xử lý, sử dụng thông tin, một cách có hiệu quả Hình thức học tập không còn bó hẹp trong lớp học mà mở ra ngoài thực tiễn; thời gian học tập
để hoàn thành một nội dung, một chủ đề không nhất thiết trong một, hai tiết học mà
có thể kéo dài trong một, vài tuần, tùy thuộc vào ý nghĩa, mức độ quan trọng và khó khăn của kiến thức Việc đánh giá không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra kết quả mà HS đạt được sau một khoảng thời gian nhất định nào đó mà phải đồng thời diễn ra trong suốt quá trình dạy học (đánh giá tiến trình) Nghĩa là, không những đánh giá xem HS
đã biết những gì mà quan tâm nhiều hơn đến việc đánh giá xem HS đã làm gì và làm
như thế nào để biết được những điều đó
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề dạy học theo tiếp cận NL sớm được đưa vào nguyên lí giáo
dục trong nhà trường với phương châm “học đi đôi với hành”, “giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”, “lí luận gắn với thực tiễn”, “giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội” Tuy nhiên, cho đến nay, trong thực tiễn soạn thảo chương trình, SGK vẫn nặng về tiếp cận nội dung; điều này đã làm chậm sự đổi mới, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, sản phẩm đào tạo không đáp ứng được nhu cầu thực
tiễn của xã hội đang phát triển
Nhận thấy được thực trạng này, thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đồng thời đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh thế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nghiên cứu dự thảo chương trình GDPT tổng thể, trong đó xác định việc hình thành và phát triển cho HS những NL cốt lõi 3 nhóm NL chung được đề cập đến là nhóm NL tự chủ và tự học, nhóm NL giao tiếp và hợp tác, nhóm NL giải quyết vấn đề và sáng tạo 5 nhóm NL chuyên môn bao gồm NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự
nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mỹ, NL thể chất [6]
Dạy học theo chủ đề (Themes - Based Learning), dạy học giải quyết vấn đề (Problem - Based Learning), dạy học dự án (Project - Based Learning) là 3 trong số
Trang 2011
các mô hình dạy học tích cực có thể hướng tới nhiều mục tiêu dạy học tích cực, trong
đó mỗi mô hình chú trọng hơn đến một kỹ năng rất thuyết phục được cho là quan trọng và cần thiết đối với người học trong cuộc sống đương đại Trong thời đại của công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông, các mô hình dạy học này bằng nhiều con đường đã đến với một số GV , nhiều nhà nghiên cứu, nhưng chúng ta hình như vẫn loay hoay trong việc tìm ra con đường để đi vào thực tiễn giáo dục
Việt Nam
Dạy học theo chủ đề ở nước ta, đang được nghiên cứu thử nghiệm trong phạm
vi hẹp, chưa được triển khai đại trà Các Sở Giáo dục, các trường học trong sinh hoạt chuyên môn đã chú trọng về đổi mới PPDH, trong đó có những yêu cầu nhất định đối với dạy học theo chủ đề Tuy nhiên, còn dừng ở mức khuyến khích, dự thi Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 8 tháng 10 năm 2014, hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới PPDH và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng, trong đó có hướng dẫn các bước xây dựng chủ đề dạy học theo 5
bước
Trong đề án cải cách giáo dục sau 2015 của Bộ giáo dục và Đào tạo, nhấn mạnh việc chuyển từ “dạy học tiếp cận nội dung” sang “dạy học tiếp cận NL” Ở đó sẽ tiến hành “dạy học tích hợp” , “dạy học giải quyết vấn đề” với nội dung học tập thiết kế theo chủ đề Xét ở phương diện kỹ thuật thuần túy tư duy của cơ quan quản lý giáo dục trung ương đã có sự dịch chuyển hợp xu thế Tuy nhiên, nếu không có các nghiên cứu làm nền tảng, kết cục trong thực tế sẽ chỉ dừng lại ở dạng “phong trào” và GV sẽ chỉ học lấy vài “kĩ thuật” ở lớp vỏ bên ngoài
Nguyễn Thành Long, trong dạy học hiện đại: lý luận, biện pháp, kĩ thuật, đã đề cập đến nội dung học vấn có thể không được tổ chức thành môn học chặt chẽ mà được tổ chức thành những chuyên đề, chủ đề Chủ đề nói chung không bao hàm khái niệm thuần túy bộ môn, không tương ứng với một khái niệm mà tương ứng với những quan hệ phạm trù có tính chất kết hợp [13]
Cũng theo tác giả Nguyễn Thành Long, khi lấy chủ đề làm đơn vị học trình, thì kiểu học trình này là học trình chủ đề Các học trình chủ đề dễ chỉnh lý, bổ sung và
Trang 2112
thiết kế lại hơn so với môn học Hệ thống chủ đề cũng được thực hiện bằng giờ học trên lớp và giờ học ngoài lớp, có thể thêm một số hoạt động khác ngoài lớp với tương quan cân bằng Mỗi chủ đề có thể gồm một hoặc vài giờ học, có thể kéo dài cả buổi học hoặc vài buổi học, vài tuần qua một số giờ học được phân chia gián đoạn, hoặc một số giờ học cộng với vài hoạt động khác nhau như vui chơi, giao lưu, lễ hội
Có thể điểm qua một số nghiên cứu về dạy học theo chủ đề tích hợp ở Việt Nam như sau:
Trong công trình nghiên cứu “Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triển chương trình giáo dục Việt Nam giai đoạn sau 2015”, tác giả Cao Thị Thặng,
đã tổng quan các vấn đề về lí luận và thực tiễn về xu thế dạy học chủ đề tích hợp trong chương trình giáo dục của một số nước trên thế giới Tác giả phân tích thực trạng việc vận dụng quan điểm dạy - học theo chủ đề tích hợp trong chương trình giáo dục Việt Nam và đề xuất giải pháp vận dụng quan điểm tiếp cận tích hợp và phát triển
chương trình trường phổ thông Việt Nam trong tương lai sau 2015 [15]
Tác giả Hoàng Thị Tuyết đã phân tích lí thuyết chủ đề tích hợp, chương trình giáo dục tích hợp và thực tiễn ứng dụng lí thuyết này ở Việt Nam trong việc xây dựng
chương trình phổ thông, đặc biệt là xây dựng chương trình tiểu học sau 2015 [17] Tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh nghiên cứu “Hình thành NL dạy học tích hợp cho
GV trung học phổ thông” Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu cơ sở lí luận
và thực tiễn nghiên cứu biên soạn tài liệu dạy học tích hợp một số môn học (Vật lí, Sinh học, Địa lí ) ở trường trung học phổ thông, tổ chức tập huấn hình thành NL dạy
học tích hợp cho GV trung học phổ thông [9]
Đặc biệt trong công trình nghiên cứu của nhóm tác giả do Đỗ Hương Trà (Chủ biên), các nhà khoa học đã biên soạn 2 cuốn sách về dạy học tích hợp các môn học KHTN và dạy học tích hợp các môn Khoa học xã hội Các tác giả đã đề xuất cơ sở lí luận, quy trình các bước để thiết kế các chủ đề dạy học tích hợp, đưa ra nhiều gợi ý
và định hướng kiểm tra đánh giá [16]
Như vậy, có thể thấy rằng chủ đề là cách thức tổ hợp nội dung học vấn, chủ đề
có thể không bao hàm khái niệm thuần túy trong một bộ môn và chủ đề tương ứng với những phạm trù có tính chất kết hợp, tính chất này phù hợp với quan điểm chủ đề
Trang 2213
là phương thức tích hợp Ngoài ra, dạy học theo chủ đề đem lại nhiều thuận lợi cho quá tình dạy học, giúp quá trình tổ chức dạy học trở nên linh hoạt hơn nhờ xác định được cái cốt yếu của quá trình dạy học và phân biệt được nó với những cái ít quan trọng hơn
Tuy nhiên việc nghiên cứu về dạy học theo chủ đề trong chương trình GDPT môn KHTN ban hành năm 2018 thì chưa có tác giả nào nghiên cứu
đề cập đến
Theo từ điển tiếng Anh, chủ đề là mục tiêu chính của một nội dung, chẳng hạn như một cuốn sách, bài nói chuyện hay triển lãm nghệ thuật, hay một cuộc thảo luận
Theo các chuyên gia giáo dục học, chủ đề là vấn đề chính, vấn đề chủ yếu mang tính khái quát về một hiện tượng nào đó trong đời sống tự nhiên và xã hội, đó là điểm nhấn gây ấn tượng nhất
Theo quan điểm triết học, chủ đề là sự thể hiện sự thống nhất hữu cơ giữa hiện thực khách quan và tư tưởng chủ quan của con người
Như vậy, mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về chủ đề, nhưng những quan niệm này đều có điểm chung thống nhất về chủ đề là sự thống nhất hữu cơ giữa hiện thực khách quan và tư tưởng chủ quan của con người, mỗi chủ đề đều tồn tại trong
hệ thống chủ đề (hay hệ vấn đề) Trong đó, có một vài chủ đề có ý nghĩa trung tâm (chủ đề lớn) và những chủ đề cơ ý nghĩa bộ phận, góp phần bổ sung, làm nổi bật chủ
đề chính (chủ đề nhỏ) và mỗi chủ đề có ý nghĩa và giá trị khác nhau
1.2.1.2 Chủ đề cốt lõi
Theo Từ điển tiếng Việt, - cốt lõi có nghĩa là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất
Trang 2314
Như vậy, có thể hiểu chủ đề cốt lõi là những chủ đề có tính xuyên suốt, mang tính nguyên lý, bao trọn, giúp con người có được cái nhìn tổng quan, hệ thống Chủ đề cốt lõi trong KHTN là những chủ đề có tính xuyên suốt, nguyên lý, bao trùm tất cả các sự vật hiện tượng của thế giới tự nhiên, giúp con người có được cái nhìn tổng quan, hệ thống về Thế giới tự nhiên
Quan điểm và nguyên tắc xây dựng chủ đề cốt lõi và dạy học theo chủ đề: Phát triển NL được coi là kim chỉ nam của chương trình GDPT NL chỉ có thể hình thành và phát triển ở người học thông qua tổ chức dạy học Khi tổ chức dạy học một môn học nào đó, đồng nghĩa với việc người học đang nghiên cứu một bộ phận của khoa học, với đối tượng là một bộ phận của thế giới khách quan Vì vậy, người dạy cần phải biết gắn việc dạy học môn học với các bộ phận khác (các môn học khác) Thực hiện được như vậy, tức là người dạy đã thực hiện tích hợp trong dạy học, mà bản chất là việc người học sử dụng các nguồn tri thức khác nhau để giải quyết vấn
đề Vì thế, khi dạy học môn học, người dạy vừa phải tổ chức người học sử dụng các
kĩ năng nhận thức chung (Ví dụ: phân tích, so sánh, tổng hợp, quan sát, khái quát hóa…) để tiếp thu kiến thức môn học, vừa phải qua đó phát triển NL cho người học thông qua dạy kiến thức
Mặc dù được phân ra làm nhiều chuyên ngành khoa học khác nhau, tất cả các ngành khoa học, hoặc một số nhóm ngành khoa học, có một hệ thống khái niệm, nguyên lí có tính cốt lõi, mang tính khái quát (Ví dụ: chủ đề Chu kì, Tính hệ thống trong cấu trúc…) Vì vậy, người xây dựng chương trình giáo dục cũng như người tổ chức dạy học phải xác định, lựa chọn được hệ thống các khái niệm, các nguyên lý chung đó và thể hiện được mối quan hệ logic giữa các chủ đề đó, cũng như giữa các chủ đề với các NL (NL chung và NL chuyên biệt) Trong đó, việc tổ chức người học gia công kết nối kiến thức trong phạm vi nội dung càng rộng thì NL càng phát triển Dạy học theo chủ đề (Themes-based learning) là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại, ở đó người dạy không chỉ dạy học bằng cách truyền thụ (xây dựng) kiến thức mà chủ yếu là hướng dẫn người học tự lực tìm kiếm thông tin,
sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn
Trang 24Dạy học theo chủ đề ở cấp THCS là sự tăng cường sự tích hợp kiến thức (các khái niệm) có mối liên hệ mạng lưới nhiều chiều, là sự tích hợp vào nội dung học những ứng dụng kĩ thuật và đời sống thông dụng làm cho nội dung học có ý nghĩa hơn, hấp dẫn hơn, đó là thổi hơi thở của cuộc sống ngày hôm nay vào những kiến thức cổ điển, nâng cao chất lượng cuộc sống thật trong các bài học
1.2.2 Dạy học theo chủ đề là phương thức phát triển năng lực học sinh
1.2.2.1 Năng lực
Phạm trù NL thường được hiểu theo những cách khác nhau và mỗi cách hiểu có những thuật ngữ tương ứng:
NL (Competence) hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng (hoặc tiềm năng) mà
cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định [12] Chẳng hạn, khả năng giải toán, khả năng nói tiếng Anh, thường được đánh giá bằng các trắc nghiệm trí tuệ (ability tests)
Theo Đinh Quang Báo và Hà Thị Lan Hương [3], Bản chất của NL là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lý các kiến thức, kĩ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định
Theo Nguyễn Công Khanh [11], NL của người học là khả năng làm chủ những
hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống
Như vậy, các tác giả đều đồng ý về khái niệm NL là sự chủ động huy động một tập hợp các nguồn lực để nắm bắt một tình huống cụ thể và ứng phó theo một cách phù hợp
Trang 2516
Từ cấu trúc của khái niệm NL cho thấy, giáo dục định hướng NL không chỉ nhằm mục tiêu phát triển NL chuyên môn bao gồm tri thức, kĩ năng chuyên môn mà còn phát triển NL phương pháp, NL xã hội và NL cá thể Những NL này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ NL hành động được hình thành trên cơ sở có
sự kết hợp các NL này
Nội dung Chương trình GDPT tổng thể (2018) [6] cũng đã nêu rõ: Chương trình GDPT cụ thể hóa mục tiêu GDPT, giúp người học làm chủ kiến thức phổ thông; biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có
cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa, đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại
Chương trình GDPT tổng thể đã đưa ra khái niệm về NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể Trong đó: NL cốt lõi là
NL cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả; NL đặc biệt là những năng khiếu về trí tuệ, văn nghệ, thể thao, kĩ năng sống, nhờ tố chất sẵn có ở mỗi người [7]
Như vậy, từ đầu thế kỉ XXI đến nay, các nước đều chú ý hình thành, phát triển những NL cần cho việc học suốt đời, gắn với cuộc sống hằng ngày, trong đó chú trọng các NL chung như: NL tự học; NL cá nhân (tự chủ, tự quản lí bản thân); NL xã hội;
NL hợp tác; NL giao tiếp; NL tư duy; NL giải quyết vấn đề; NL công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)
1.2.2.2 Năng lực chung và năng lực đặc thù trong môn Khoa học tự nhiên
❖ NL chung
Là NL cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong
xã hội NL này được hình thành và phát triển từ nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học Vì thế, có nước gọi là NL xuyên chương trình (Cross-curricular competencies), EU gọi là NL chính (Key competence) Theo quan niệm của EU, mỗi
Trang 2617
NL chung cần góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng, giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp Những NL này rất quan trọng cho tất cả mọi người
❖ NL đặc thù (NL chuyên môn)
Là NL riêng, được hình thành và phát triển cho một lĩnh vực/môn học nào đó,
vì thế chương trình Québec gọi là NL môn học cụ thể (Subject-specific competencies)
để phân biệt với NL xuyên chương trình - NL chung Mặc dù cùng xuất phát từ các yếu tố trên, nhưng việc xác định hệ thống NL chung cho chương trình GDPT mỗi nước lại hết sức đa dạng, phong phú Theo tác giả Lê Đình Trung và Phan Thị Thanh Hội (2016) [18], Phan Khắc Nghệ (2016) [15], NL đặc thù trong môn Sinh học là các
NL như: NL nhận thức về kiến thức sinh học (Biology knowledge), NL nghiên cứu khoa học, NL thực địa, NL thí nghiệm
❖ NL đặc thù trong môn Khoa học tự nhiên
Đối với môn KHTN , theo Chương trình giáo dục tổng thể GDPT (2018) [9], bên cạnh vai trò góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và NL chung cho HS, giáo dục KHTN có sứ mệnh và ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của HS; đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục
HS phẩm chất tự tin, trung thực, khách quan, tình yêu thiên nhiên, tôn trọng các quy luật của tự nhiên để từ đó biết ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và môi trường Thông qua các hoạt động học tập của lĩnh vực này, HS dần hình thành và phát triển NL tìm hiểu và khám phá thế giới tự nhiên qua quan sát
và thực nghiệm, NL vận dụng tổng hợp kiến thức khoa học để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
Chương trình GDPT môn KHTN (2018) [6], hình thành và phát triển cho HS
NL khoa học tự nhiên, bao gồm:
❖ Nhận thức khoa học tự nhiên: Trình bày, giải thích và vận dụng được
những kiến thức phổ thông cốt lõi về thành phần cấu trúc, sự đa dạng, tính hệ thống, quy luật vận động, tương tác và biến đổi của thế giới tự nhiên bao gồm các chủ đề khoa học: chất và sự biến đổi của chất, vật sống, năng lượng và sự biến đổi vật lí, Trái Đất và bầu trời; vai trò và cách ứng xử phù hợp của con
Trang 2718
người với môi trường tự nhiên Các biểu hiện cụ thể:
- Nhận biết và nêu được tên các sự vật, hiện tượng, khái niệm, quy luật, quá trình của
tự nhiên
- Trình bày được các sự vật, hiện tượng; vai trò của các sự vật, hiện tượng và các quá trình tự nhiên bằng các hình thức biểu đạt như ngôn ngữ nói, viết, công thức, sơ đồ, biểu đồ,…
- So sánh, phân loại, lựa chọn được các sự vật, hiện tượng, quá trình tự nhiên theo các tiêu chí khác nhau
- Phân tích được các đặc điểm của một sự vật, hiện tượng, quá trình của tự nhiên theo logic nhất định
- Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối được thông tin
- Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng (quan hệ nguyên nhân - kết quả, cấu tạo - chức năng,.)
- Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được; đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề thảo luận
❖ Tìm hiểu tự nhiên: Bước đầu thực hiện được một số kĩ năng cơ bản
trong tìm tòi, khám phá một số sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên và trong đời sống: quan sát, thu thập thông tin; dự đoán, phân tích, xử lí số liệu;
dự đoán kết quả nghiên cứu; suy luận, trình bày
❖ Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Bước đầu vận dụng kiến thức khoa
học vào giải quyết vấn đề của một số tình huống đơn giản trong thực tiễn; mô
tả, dự đoán, giải thích được các hiện tượng khoa học đơn giản Ứng xử thích hợp trong một số tình huống có liên quan đến vấn đề bản thân, gia đình và cộng đồng Trình bày được ý kiến cá nhân nhằm vận dụng kiến thức đã học
vào bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững
Như vậy, để đáp ứng mục tiêu đổi mới chương trình GDPT nói chung và đáp ứng mục tiêu phát triển NL trong môn KHTN nói riêng, giáo dục theo định hướng phát triển NL không chỉ phát triển NL chuyên môn mà cần tập trung khai thác và phát triển các NL: NL phương pháp, trong đó tập trung vào NL lập kế hoạch, thu thập, xử
lí, đánh giá và trình bày thông tin; NL giao tiếp, xã hội như NL làm việc nhóm, tinh
Trang 2819
thần trách nhiệm, khả năng giải quyết các vấn đề, ; NL tự trải nghiệm, tự nghiên cứu
và đánh giá đáp ứng các mục tiêu giáo dục chung và mục tiêu giáo dục môn KHTN nói riêng đó là: nhận thức KHTN ; tìm tòi khám phá thế giới tự nhiên và vận dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó hình thành đạo đức – giá trị trong khoa học cho HS
Về mặt nhận thức kiến thức môn KHTN được xây dựng dựa trên sự kết hợp các chủ đề khoa học gồm 4 chủ đề, 5 nguyên lí cụ thể: Hình thành các khái niệm xuyên suốt và gắn kết 4 chủ đề lại với nhau: Chất và sự biến đổi của chất, vật sống, năng lượng và sự biến đổi, Trái Đất và bầu trời, các nguyên lí, khái niệm chung về thế giới
tự nhiên: sự đa dạng, tính cấu trúc, tính hệ thống, sự vận động và biến đổi, sự tương tác Các chủ đề được sắp xếp chủ yếu theo logic tuyến tính, có kết hợp ở mức độ nhất định với cấu trúc đồng tâm, đồng thời có thêm một số chủ đề liên môn, tích hợp nhằm hình thành các nguyên lí, quy luật chung của thế giới tự nhiên
NL tìm hiểu tự nhiên: nhấn mạnh tới học tập tích cực và HS tự chiếm lĩnh kiến thức, được hình thành thông qua các khái niệm tiến trình theo phương pháp nghiên cứu khoa học của nhà khoa học Các chủ đề trong môn KHTN đều thống nhất với nhau về mặt phương pháp
NL vận dụng kiến thức và khái niệm: Việc tách ra từng phần là để học tập và nghiên cứu nhưng khi giải quyết vấn đề của thực tiễn thì cần tích hợp theo nguyên lí tổng – phân – hợp
1.2.2.3 Dạy học theo chủ đề là phương thức tích hợp để hình thành và phát triển NL
❖ Đặc trưng về nội dung của dạy học theo chủ đề
Dạy học theo chủ đề chú trọng những nội dung học tập mang tính tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực Tư tưởng của chủ đề mang tính khái quát, gắn liền với các tình huống thực tiễn trong cuộc sống của HS Dạy học theo chủ đề không chỉ giúp
HS vận dụng kiến thức, kĩ năng vào giải quyết các tình huống có vấn đề mà còn giúp phát triển tư duy bậc cao, khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa Để làm được điều này, kiến thức trong chủ đề cần phải được sắp xếp một các thuận lợi cho quá trình học tập Vì thế, theo cách tiếp cận này, kiến thức trong chủ đề học tập cần được trình bày một cách có hệ thống, theo từng mạch nội dung có liên quan đến nhau trong kết
Trang 29❖ Đặc trưng về phương pháp của dạy học theo chủ đề
Trong dạy học theo chủ đề, HS có nhiều cơ hội làm việc nhóm để giải quyết các vấn đề thực tiễn Vì thế, việc học của HS thực sự trở nên có ý nghĩa vì nó rèn luyện
kĩ năng hoạt động, rèn luyện các kĩ năng sống, hình thành các giá trị sống trong các tình huống thực tế, gần gũi với cuộc sống thực của HS Thông qua cách tiếp cận theo chủ đề, GV trở thành người định hướng, người đồng hành, làm cho quá trình học tập trở nên dễ dàng hơn Từ đó, thuật ngữ “dạy học theo chủ đề” không phải là tên một phương pháp cụ thể mà là đề cập đến nhóm các phương pháp dạy học được GV , HS lựa chọn để tổ chức thực hiện các chủ đề, hướng đến các mục tiêu, hình thành các
NL
Trong phương pháp dạy học truyền thống, các nội dung kiến thức được sắp xếp một cách tuần tự, phù hợp với tiến trình nhận thức của HS, theo các đơn vị cụ thể, trọn vẹn, tương đối độc lập Việc phân chia thành này khiến cho kiến thức HS thu nhận được trở nên chắp vá, rời rạc, khiến cho HS khó lưu trữ, không bền vững và thiếu thực tế
Các chủ đề chứa đựng các kiến thức mà HS cần lĩnh hội, có thể liên quan đến một hay nhiều lĩnh vực Các kiến thức trong chủ đề được kết nối thông qua các hoạt động học tập và hệ thống câu hỏi định hướng, bao gồm các câu hỏi cốt lõi và các câu hỏi bài học HS được tiếp cận với các kiến thức này theo các góc độ khác nhau thông
Trang 3021
qua hoạt động dạy học được thiết kế bởi GV theo nguyên tắc khuyết khích, tạo điều kiện để HS được trải nghiệm sáng tạo GV là người tổ chức, định hướng và đồng hành cùng HS trong quá trình lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng để hình thành các NL
Để thực hiện các hoạt động học tập và hệ thống câu hỏi định hướng, HS phải sử dụng đồng thời các biện pháp logic: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa…Qua đó, dạy học theo chủ đề giúp HS hình thành một loạt các kĩ năng Các kĩ năng này có mối quan hệ quyết định lẫn nhau nhờ mối liên hệ của hệ thống các câu hỏi và hoạt động học tập trong chủ đề, trong đó, biện pháp khái quát hóa và hệ thống hóa đóng vai trò quan trọng bậc nhất
Như vậy, khái quát hóa và hệ thống hóa là hai con đường không tách rời nhau của quá trình tư duy của con người về thế giới khách quan, một đi từ cái riêng đến cái chung, một đi từ cái chung đến cái riêng Việc dạy học theo chủ đề không tách rời khỏi quá trình tư duy đó, bởi vậy, hệ thống câu hỏi định hướng hoạt động học tập của
HS là vô cùng quan trọng để xác định con đường chiếm lĩnh tri thức thông qua làm chủ các kĩ năng, từ đó hình thành thái độ
Trong dạy học theo chủ đề cốt lõi, hệ thống các câu hỏi cốt lõi được xác định
để định hướng nội dung kiến thức, phương pháp hoạt động của HS Dấu hiệu đặc trưng nhất của câu hỏi cốt lõi là đề cập đến khía cạnh cốt lõi, trọng tâm của đối tượng, hiện tượng nghiên cứu, tìm hiểu Do tính cốt lõi nên câu hỏi đó liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều đặc điểm, quan hệ của đối tượng nghiên cứu Chính vì vậy mà phạm vi thông tin cần huy động để tìm câu trả lời rộng hơn Đó là lý do vì sao câu hỏi cốt lõi
là câu hỏi mở (mở về thông tin huy động vận dụng, mở về định hướng trả lời…) [17] Căn cứ vào hệ thống câu hỏi cốt lõi này, GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS nhằm giải quyết những vấn đề, trả lời những câu hỏi đặt ra
Như vậy, với vai trò là phương thức để tích hợp, dạy học theo chủ đề, về cả nội dung và phương pháp đều hướng tới mục tiêu phát triển ở người học NL tích hợp Thông qua hình thành một loạt các NL theo trình tự các hoạt động học tập được GV
tổ chức, định hướng, HS đạt được NL tích hợp phù hợp với mục tiêu của nội dung học tập và phù hợp với cuộc sống thực Việc học tập vì thế trở nên có ý nghĩa với HS
Trang 3122
1.2.2.4 Xây dựng các chủ đề để tổ chức dạy học là phương thức xác định nội dung môn học trong chương trình GDPT theo định hướng phát triển NL
❖ Cơ sở của việc xác định nội dung môn học theo các chủ đề cốt lõi
KHTN hướng tới mục đích là giúp HS có được một cái nhìn tổng quan về một bức tranh toàn cảnh, hệ thống, hài hòa, trọn vẹn về Thế giới tự nhiên xung quanh, từ
đó HS biết cách hành động một cách có chủ đích và có ý nghĩa hơn với mọi tình huống trong cuộc sống Kiến thức về các ngành Khoa học trong các môn học thường đưa đến cho HS những cái nhìn đơn lẻ, cục bộ, ít ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau của những cái bộ phận Việc xác định ra mục tiêu chung để từ đó việc dạy học các môn học đều hướng về là phương thức tích hợp xây dựng cho HS một cái nhìn tổng quan
về Thế giới tự nhiên
Dạy học theo các chủ đề cốt lõi đảm bảo NL HS được phát triển qua các giai đoạn tuần tự thông qua các hoạt động học tập được GV thiết kế phù hợp với lý thuyết kiến tạo nhận thức, với nhu cầu phát triển bản ngã tương ứng với độ tuổi của HS Các chủ đề cốt lõi đóng vai trò trục tâm, sự phát triển theo các giai đoạn của các chủ đề cốt lõi là cơ sở cho sự phát triển các kiến thức, kĩ năng quanh nó theo cách phù hợp với sự phát triển tâm lý của con người Sự phát triển hệ thống các chủ đề cốt lõi cũng chính là bức tranh thể hiện sự phát triển nhận thức Việc xác định các giai đoạn phát triển của các chủ đề cốt lõi vì thế chính là xác định cách thức phát triển phù hợp với tâm lí con người của mọi kiến thức, kĩ năng của các ngành, phân ngành khoa học Xây dựng chương trình dạy học theo chủ đề là một hướng nghiên cứu được quan tâm trên thế giới Ở các nước tiên tiến, chương trình học đều được xây dựng gồm một
số các chủ đề chính, xuyên suốt nội dung dạy học từ mẫu giáo cho đến hết cấp THPT Các kiến thức của các ngành khoa học phát triển đồng tâm quanh những chủ đề này
và được phân thành những tầng bậc chủ đề nhỏ hơn Đây cũng chính là phương thức xây dựng nội dung học tập theo các chủ đề cốt lõi Có thể kể đến một số ví dụ ở các nước như sau:
+ Chương trình KHTN của Singapore [34] đề cập đến các nguyên lý chung của tự nhiên gồm: sự đa dạng; các chu kì; mô hình và hệ thống, tương tác và năng lượng Các nguyên lý này được sử dụng làm các chủ đề lớn, cốt lõi của toàn bộ
Trang 3223
chương trình và nội dung trong từng chủ đề được phát triển theo kiểu xoáy ốc từ cấp tiểu học đến THCS Đến cấp THPT thì phân hóa thành các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học nghiên cứu sâu về từng khía cạnh trong thế giới tự nhiên
+ Chương trình KHTN của Úc [24]: Xây dựng chủ đề cốt lõi dựa trên 6 ý tưởng tổng quát, gồm: Mô hình, trật tự và tổ chức; Cấu tạo và chức năng; Ổn định và biến đổi; Thang đo và các phép đo; Vật chất và năng lượng; Các hệ thống Các ý tưởng này được thể hiện thông qua các mạch nhỏ của vật lý, hóa học, sinh học, khoa học trái đất xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 10 Đến lớp 11 và 12, chương trình phân ra thành các môn riêng biệt gồm Sinh học, Hóa học, Vật lý, Khoa học trái đất và môi trường với mỗi môn học tại có các chủ đề nghiên cứu riêng
+ Chương trình KHTN Liên bang Mỹ (theo NGSS - Next Genenation Science Standards) đề cập đến các ý tưởng tổng quát [26]: Mô hình; Nguyên nhân và kết quả; Thang đo, tỉ lệ và đại lượng; Hệ thống và mô hình hệ thống; Năng lượng và vật chất; Cấu trúc và chức năng; Ổn định và thay đổi Các ý tưởng này được sử dụng làm các chủ đề cốt lõi để các mạch Khoa học sự sống, Khoa học vật lý, Khoa học Trái đất và không gian; Kĩ thuật, công nghệ và Ứng dụng của khoa học phát triển xoay quanh chúng, mỗi mạch lại được chia làm nhiều mạch nhỏ hơn
+ Chương trình KHTN Bang California Mỹ (theo Ca NGSS – Next Genenation Science Standards) [27] đề cập đến các ý tưởng tổng quát: Mô hình; Nguyên nhân và kết quả: Cơ chế và giải thích; Thang đo, tỉ lệ và đại lượng; Hệ thống
và mô hình hệ thống; Năng lượng và vật chất: Dòng chảy, chu kì và bảo tồn; Cấu trúc
và chức năng; Ổn định và thay đổi Các ý tưởng này được sử dụng làm các chủ đề cốt lõi để các mạch Khoa học sự sống, Khoa học vật lý, Khoa học Trái đấtvà không gian phát triển xoay quanh chúng, mỗi mạch lại được chia làm nhiều mạch nhỏ hơn
+ Chương trình KHTN của Hồng Kông [30] tập trung vào 6 mạch lớn, gồm: (1) Khám phá khoa học; (2) Cuộc sống và thế giới sống; (3) Thế giới vật chất; (4) Năng lượng và sự biến đổi; (5) Trái đất và không gian; (6) Khoa học, công nghệ và
xã hội Nội dung trong các mạch này cũng được thiết kế theo kiểu xoắn ốc từ thấp lên cao qua các cấp tiểu học (Key stage 1, 2), THCS (Key stage 3) và THPT (Key stage 4)
Trang 3324
Từ các ví dụ trên, có thể thấy: Chương trình của các nước tiên tiến đều xây dựng theo các mạch là kiến thức của các ngành Khoa học, xoay quanh và tập trung làm rõ một số chủ đề cốt lõi Các chủ đề cốt lõi này được thể hiện thông qua các nội dung chi tiết theo cách phát triển từ thấp lên cao Các chủ đề cốt lõi này cũng chính là “cái chung”, là trục kết nối để tạo thành môn KHTN tích hợp “cái bộ phận” - kiến thức từ các ngành khoa học như Khoa học Sự sống, Vật lí, Hóa học, Khoa học Trái đất và Không gian…Sự phát triển của các chủ đề cốt lõi quy định sự phát triển của các mạch nội dung xung quanh Các giai đoạn phát triển của các chủ đề cốt lõi được xác định bởi mối quan hệ với mạch có nội dung liên quan đến các kĩ năng nghiên cứu khoa học
Tóm lại, từ những phân tích trên, có thể thấy, việc xây dựng các chủ đề cốt lõi
để tổ chức dạy học là phù hợp với các đặc điểm nhận thức và phát triển trí tuệ, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi Bởi vậy, xây dựng các chủ đề cốt lõi để tổ chức dạy học cũng là một xu thế giáo dục của thế giới, là nội dung giáo dục được nhiều nước phát triển tập trung đầu tư, nghiên cứu
❖ Phương thức xác định nội dung học tập trong các chủ đề
Phát triển NL là nguyên tắc xuyên suốt của chương trình GDPT mới NL chỉ có thể hình thành và phát triển ở HS thông qua tổ chức dạy học bằng các hoạt động Hoạt động xét về phương diện logic khoa học là một tổ hợp các thành phần kiến thức, kĩ năng của nhiều khoa học Các kiến thức khoa học từ các môn học khác nhau phải được lựa chọn theo nguyên tắc hướng vào làm sáng tỏ một vấn đề nào đó có giá trị như một tiêu đề cốt lõi Việc lựa chọn thành phần nội dung và phương pháp tổ chức
HS lĩnh hội, vận dụng nội dung đó được định hướng bởi chủ đề cốt lõi có phạm vi khái quát ở các cấp độ khác nhau
Chương trình GDPT mới sẽ triển khai tiếp cận NL trên cơ sở dạy học tích hợp nội môn, liên môn, xuyên môn trong lĩnh vực KHTN , khoa học xã hội – nhân văn, khoa học – công nghệ Sự kết hợp đó dựa trên nguyên lí tích hợp là phương thức hình thành nhân cách phát triển toàn diện Tích hợp để phát triển nhân cách toàn diện khác
cơ bản về chất theo cách hiểu lâu nay là dạy cho HS nhiều môn học riêng lẻ Phần kiến thức sinh 8 được tóm tắt theo sơ đồ dưới đây
Trang 3425
1.2.2.5 Tâm sinh lý học HS THCS
❖ Đặc điểm về tâm sinh lí
Cơ thể của HS cấp THCS ở lứa tuổi từ 11 đến 15, là giai đoạn đang phát triển mạnh
mẽ, nhưng không đồng đều Cùng với sự phát triển của các hệ cơ quan thì các tuyến nội tiết cũng phát triển Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh, đặc biệt là tuyến giáp trạng, thường dẫn đến rối loạn của hệ thần kinh Vì vậy, HS ở tuổi này dễ xúc động, dễ bực tức,… Hệ thần kinh chưa đạt độ vững vàng nên chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh, đơn điệu kéo dài Nếu có những hoạt động đơn điệu kéo dài dễ gây cho các
Sinh học 8Sinh học
người và cá
thểKhái quát
Môi trường các nhân tố sinh thái
Hệ sinh thái Hệ sinh thái
Cân bằng
tự nhiên Bảo vệ môi trường
Trang 3526
em tình trạng bị ức chế hoặc có những kích động mạnh
Thuyết "Đa trí tuệ" của Howard Gardner [31] đã khẳng định mỗi người đều có một vài kiểu trí tuệ và tài năng riêng biệt như trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ logic - toán, trí tuệ không gian, trí tuệ hình thể - động năng, giao tiếp, nội tâm, trí tuệ
tự nhiên học
Việc tổ chức dạy học theo một cách tiếp cận duy nhất cho tất cả HS sẽ làm cho giờ học đơn điệu, nhàm chán Breaux và Magee, Monique (2010) [33], Tomlinson (2014) [29], VanTassel-Baska (1997) [26], Gayle (2007, 2008) [100], [28] khẳng định: “Việc cung cấp một chương trình và hướng dẫn chung cho tất cả đối tượng người học đã phủ nhận tính cá nhân của mỗi học sinh trong việc học tập” Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của HS, SGK đóng một vai trò quan trọng trợ giúp GV , tạo ra những hoạt động khác nhau nhằm phát huy tối đa NL của HS Breaux và Magee, B (2010) [33], Chapman &King (2005) [28], Carol (2001) [25] đã so sánh rất thú vị để nhấn mạnh những hạn chế của dạy học đồng loạt: “Mỗi HS là một cá thể riêng biệt, chúng
ta không thể mua cùng một cỡ áo cho HS và mong đợi tất cả các em đều mặc vừa”
Vì vậy, việc dạy học phân hóa cũng cần được xét đến, theo Tôn Thân (2006) [25], cần có cách thức tổ chức các loại trường lớp khác nhau cho các đối tượng khác nhau
và cần có các bài tập phân hóa, kiểm tra, đánh giá,… sao cho mỗi cá nhân hoặc nhóm
HS thu được kết quả học tập tốt nhất
Đa dạng về nội dung và hình thức trong SGK sẽ giúp cho việc tổ chức dạy học hướng tới mục tiêu giúp cho tất cả HS cùng hứng thú học tập và tiến bộ sau mỗi bài học Thuyết "Đa trí tuệ" của Howard Gardner [27] đã khẳng định mỗi người đều có một vài kiểu trí tuệ và tài năng riêng biệt như trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ logic – toán học, trí tuệ không gian, trí tuệ hình thể - động năng, trí tuệ giao tiếp, trí tuệ nội tâm và trí tuệ tự nhiên học
❖ Đặc điểm của hoạt động học
Hoạt động học của HS cấp THCS kế thừa hoạt động học đã được hình thành từ bậc Tiểu học nhưng ở trình độ cao hơn, phong phú hơn, hoàn thiện hơn Hoạt động học của HS diễn ra theo phương thức học – hành, học và hành gắn với nhau Học phải hành, qua hành sẽ học được những điều cần học [26]
Trang 3627
Như vậy, khi xây dựng các chủ đề trong dạy học theo chương trình mới nói riêng cần quan tâm đến tâm sinh lứa tuổi của HS cấp THCS Các hoạt động và nội dung trong chủ đề cần được chia nhỏ, tránh nhiều nội dung đơn điệu kéo dài và xây dựng nhiều hoạt động dạy học nhằm phát huy tối đa trí thông minh của HS, giúp mọi HS đều có cơ hội được thể hiện NL và hứng thú với các hoạt động học Nội dung dạy học và PPDH cần phải xây dựng theo theo mục tiêu bài học về kiến thức, kĩ năng, thái độ và NL được đề cập trong chương trình GDPT mới (2018) sao cho phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi HS ở cấp THCS, phát triển tối đa “đa trí tuệ” của HS
1.2.3 Phân tích chương trình KHTN mới với các định hướng và yêu cầu cần đạt
1.2.3.1 Đặc điểm môn học
KHTN là môn học được xây dựng và phát triển trên nền tảng của Vật lý, Hoá học, Sinh học và Khoa học trái đất Đối tượng nghiên cứu của KHTN là các sự vật, hiện tượng, quá trình, các thuộc tính cơ bản về sự tồn tại, vận động của thế giới tự nhiên Vì vậy, trong môn Khoa học tự nhiên, những nguyên lý/khái niệm chung nhất của thế giới tự nhiên được tích hợp xuyên suốt các mạch nội dung Trong quá trình dạy học, các mạch nội dung được tổ chức sao cho vừa tích hợp theo nguyên lý của tự nhiên, vừa đảm bảo logic bên trong của từng mạch nội dung
KHTN là khoa học có sự kết hợp nhuần nhuyễn lý thuyết với thực nghiệm Vì vậy, thực hành, thí nghiệm trong phòng thực hành, phòng học bộ môn, ngoài thực địa
có vai trò và ý nghĩa quan trọng, là hình thức dạy học đặc trưng của môn học này Qua thực hành, thí nghiệm, NL tìm tòi, khám phá của HS được hình thành và phát triển Nhiều kiến thức KHTN rất gần gũi với cuộc sống hằng ngày của HS, đây là điều kiện thuận lợi để tổ chức cho HS trải nghiệm, nâng cao NL nhận thức kiến thức khoa học, NL tìm tòi, khám phá và vận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn KHTN luôn đổi mới để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện đại Do vậy GDPT cần phải liên tục cập nhật những thành tựu khoa học mới, phản ánh được những tiến
bộ của các ngành khoa học, công nghệ và kỹ thuật Đặc điểm này đòi hỏi chương trình môn KHTN phải tinh giản các nội dung có tính mô tả để tổ chức cho HS tìm tòi, nhận thức các kiến thức khoa học có tính nguyên lý, cơ sở cho quy trình ứng dụng khoa học vào thực tiễn cuộc sống
Trang 3728
KHTN là môn học có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của HS,
có vai trò nền tảng trong việc hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của HS cấp THCS
1.2.3.2 Quan điểm xây dựng chương trình
- Chương trình môn KHTN cụ thể hóa những mục tiêu và yêu cầu của Chương trình GDPT tổng thể, các quan điểm chính để xây dựng chương trình KHTN bao gồm:
- Quan điểm hình thành và phát triển phẩm chất và NL HS
- Quan điểm dạy học tích hợp
- Quan điểm khoa học và thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành
- Quan điểm phát triển bền vững và thực tiễn của Việt Nam
1.2.3.3 Mục tiêu chương trình KHTN
- Thực hiện mục tiêu của GDPT: Cùng với các môn học khác, môn KHTN góp phần thực hiện mục tiêu của GDPT, giúp HS phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và NL cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có văn hoá, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới
- Hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu ở HS: Cùng với các môn học khác, môn KHTN hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu đã được nêu trong Chương trình GDPT tổng thể: yêu đất nước, yêu con người, chăm học, chăm làm, trung thực, trách nhiệm Môn KHTN góp phần chủ yếu trong việc hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của HS; đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục
HS phẩm chất tự tin, trung thực, khách quan, tình yêu thiên nhiên, nắm được, tôn trọng và biết vận dụng các quy luật của tự nhiên, để từ đó biết ứng xử với thế giới tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững
- Hình thành và phát triển NL ở HS: Môn KHTN hình thành và phát triển cho
HS những NL chung và NL KHTN gồm các NL thành phần như sau: nhận thức KHTN , tìm hiểu tự nhiên và vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
1.2.3.4 Yêu cầu cần đạt
Trang 3829
- Yêu cầu cần đạt về phẩm chất:
+ Môn KHTN góp phần chủ yếu trong việc hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của HS; đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục HS phẩm chất tự tin, trung thực, khách quan, tình yêu thiên nhiên, hiểu, tôn trọng và biết vận dụng các quy luật của thế giới tự nhiên để từ đó biết ứng xử với thế giới tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững
+ Môn KHTN sẽ giúp cho HS biết trân trọng, giữ gìn và bảo vệ tự nhiên; có thái
độ và hành vi tôn trọng các quy định chung về bảo vệ tự nhiên; hứng thú khi tìm hiểu thế giới tự nhiên và vận dụng kiến thức vào bảo vệ thế giới tự nhiên của quê hương, đất nước
+ Môn KHTN sẽ giáo dục cho HS biết yêu lao động, có ý chí vượt khó; có ý thức bảo vệ, giữ gìn sức khoẻ của bản thân, của người thân trong gia đình và cộng đồng
- Yêu cầu cần đạt về NL:
+ Yêu cầu cần đạt về NL đảm bảo phát triển các NL chung và NL đặc thù
1.2.3.5 Nội dung giáo dục
Chương trình môn KHTN được xây dựng dựa trên sự kết hợp của 3 trục cơ bản là: Chủ đề khoa học - Các nguyên lý/khái niệm chung của khoa học - Hình thành và phát triển NL, trong đó, các nguyên lý/khái niệm chung là vấn đề xuyên suốt, gắn kết các chủ đề khoa học của chương trình
- Chủ đề khoa học chủ yếu của chương trình môn KHTN gồm: (i) Chất và sự biến đổi của chất:chất có ở xung quanh ta, cấu trúc của chất, chuyển hoá hoá học các chất; (ii) Vật sống: Sự đa dạng trong tổ chức và cấu trúc của vật sống; các hoạt động sống; con người và sức khoẻ; sinh vật và môi trường; di truyền, biến dị và tiến hoá; (iii) Năng lượng và sự biến đổi: năng lượng, các quá trình vật lý, lực và sự chuyển động; (iv) Trái Đất và bầu trời: chuyển động trên bầu trời, Mặt Trăng, hệ Mặt Trời, Ngân Hà, hóa học vỏ Trái Đất, một số chu trình sinh - địa - hóa, sinh quyển Các chủ
đề được sắp xếp chủ yếu theo logic tuyến tính, có kết hợp ở mức độ nhất định với cấu trúc đồng tâm, đồng thời có thêm một số chủ đề liên môn, tích hợp nhằm hình thành các nguyên lý, quy luật chung của thế giới tự nhiên
- Các nguyên lý chung của KHTN trong chương trình môn KHTN gồm: Tính
Trang 3930
cấu trúc, sự đa dạng, sự tương tác, tính hệ thống, sự vận động và biến đổi Các nguyên
lý chung, khái quát của KHTN là nội dung cốt lõi của môn Khoa học tự nhiên Các nội dung vật lý, hoá học, sinh học, Trái Đất và bầu trời được tích hợp, xuyên suốt trong các nguyên lý đó Các kiến thức vật lý, hoá học, sinh học, Trái Đất và bầu trời
là những dữ liệu vừa làm sáng tỏ các nguyên lý tự nhiên, vừa được tích hợp theo các logic khác nhau trong hoạt động khám phá tự nhiên, trong giải quyết vấn đề công nghệ, các vấn đề tác động đến đời sống của cá nhân và xã hội Hiểu biết về các nguyên
lý của tự nhiên, cùng với hoạt động khám phá tự nhiên, vận dụng kiến thức KHTN vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn là yêu cầu cần thiết để hình thành và phát triển
NL KHTN ở HS
1.2.3.6 Phương pháp giáo dục
Chương trình môn KHTN thích hợp với các phương pháp giáo dục tích cực, trong đó GV đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho HS, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích HS tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kỹ năng đã tích luỹ được để phát triển
Các phương pháp giáo dục chủ yếu được lựa chọn theo các định hướng sau: dạy học bằng tổ chức chuỗi hoạt động tìm tòi, khám phá tự nhiên; rèn luyện được cho HS phương pháp nhận thức, kỹ năng học tập, thao tác tư duy; thực hành thí nghiệm, hoạt động trải nghiệm trong môi trường tự nhiên, thực tiễn đời sống cá nhân và xã hội; tăng cường phối hợp hoạt động học tập cá nhân với học hợp tác nhóm nhỏ; kiểm tra, đánh giá, đặc biệt đánh giá quá trình được vận dụng với tư cách phương pháp tổ chức hoạt động học tập
Hoạt động học tập của HS là hoạt động chủ động, tích cực chiếm lĩnh, thực hành, vận dụng tri thức dưới sự hướng dẫn của GV Các hoạt động học tập nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường, thông qua một số phương pháp dạy học chủ yếu sau: tìm tòi, khám phá; phát hiện và giải quyết vấn đề; dạy học theo dự án; bài tập tình huống; dạy học thực hành và thực hiện bài tập; tự học, trong đó học tập thông qua các bài thực hành thí nghiệm và khảo sát thực tế là trọng tâm
Các phương pháp giáo dục nói trên góp phần phát triển kỹ năng tiến trình - kỹ
Trang 4031
năng rất quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển NL tìm tòi, khám phá tự nhiên, hình thành và phát triển thế giới quan khoa học, trong đó, quan sát, đặt câu hỏi với nêu giả thuyết, lập kế hoạch và thực hiện, xử lý và phân tích dữ liệu, đánh giá, trình bày báo cáo là những kỹ năng cần được rèn luyện thường xuyên và có trọng số thích đáng trong đánh giá kết quả học tập
1.2.4 Phân tích nguyên tắc, quy trình xây dựng chủ đề
1.2.4.1 Nguyên tắc xây dựng chủ đề dạy học
Trước tiên, cần tái khẳng định lại rằng: dạy học theo chủ đề là một cách tiếp cận hoàn toàn mới mẻ Do đó, việc đưa ra những định hướng trong quá trình xây dựng chủ đề, bao gồm cách thức, quy trình và những nguyên tắc xây dựng chủ đề chỉ là những gợi mở, tham khảo và chờ đợi sự đóng góp tích cực từ kinh nghiệm giảng dạy của GV trực tiếp tham gia thực hiện mô hình này để chuyên đề có tính khả dụng Tuy nhiên, từ các dữ liệu nghiên cứu, trước khi bắt tay vào xây dựng chủ đề học cần nắm vững những điểm sau:
Một là: Chủ đề tích hợp được soạn theo yêu cầu hình thành một NL nào đó cho
HS trong thực tiễn Các NL này tùy vào tình hình thực tế tại cơ sở có thể thay đổi tùy vào trình độ của HS
Hai là: Công cụ của dạy học theo chủ đề gồm giáo án về chủ đề đó, có liên quan
đến ít nhất kiến thức của hai đơn vị nội dung học hoặc bài trong một bộ môn hoặc hai
bộ môn trở lên Trong quá trình này, phương pháp dạy học có thể sử dụng chính các phương pháp tích cực trong dạy học hiện nay để khai thác chủ đề (phương pháp dự
án, thảo luận…) Đồng thời, chú trọng đến yếu tố công nghệ thông tin như một phương tiện hỗ trợ đắc lực khi khai thác chủ đề
Ba là: Kết quả chủ yếu, căn bản cần đạt được khi dạy học theo chủ đề phải trả
lời cho câu hỏi - Sau chủ đề học, HS biết làm gì? Hình thành NL gì?
Bốn là: Dựa vào chương trình GDPT tổng thể ban hành 2018 mà việc xây dựng
chủ đề dạy học có thể là:
- Chủ đề tích hợp: Dành cho GV (đưa kiến thức từ đời sống đến bài dạy)
- Chủ đề liên môn: Dành cho HS (đưa kiến thức từ nhiều môn học để giải quyết các tình huống trong thực tiễn cuộc sống)