Qua luận văn này, chúng tôi mong muốn sẽ góp một tiếng nói vào việc học văn theo đặc trưng thể loại, cũng như tìm ra một hướng đi mới cho việc dạy tác phẩm văn chương trung đại theo định
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẶNG QUYẾT TIẾN
DẠY HỌC TÁC PHẨM “HỊCH TƯỚNG SĨ” CHO HỌC SINH LỚP 8 THEO HƯỚNG TIẾP CẬN
ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Hà Nội – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ Nhân dịp này, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô giáo của trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong thời gian học tập
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, chân thành tới PGS.TS Phạm Minh Diệu – người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình làm và hoàn thiện luận văn này
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu, tổ Văn trường THCS Ái Mộ, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài
Sau cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2020
Tác giả
Đặng Quyết Tiến
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT: Chương trình GS: Giáo sư GV: Giáo viên HS: Học sinh NXB: Nhà xuất bản PGS.TS: Phó giáo sư, tiến sĩ PPDH: Phương pháp dạy học SGK: Sách giáo khoa
SGV: Sách giáo viên THCS: Trung học cơ sở
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Những thuận lợi và khó khăn trong việc giảng dạy 29
Bảng 1.2 Những thuận lợi và khó khăn trong việc học Hịch tướng sĩ 30
Bảng 1.3 Cảm nhận của em về hình ảnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong văn bản Hịch tướng sĩ 30
Bảng 3.1 Số lượng học sinh tham gia thực nghiệm 63
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả (Tính ra %) của lớp thực nghiệm thăm dò 76
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả (Tinh ra %) của lớp thực nghiệm 78
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cấu trúc của năng lực 19 Hình 1.2 Quá trình hình thành năng lực 21
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Phạm vi, đối tượng và khách thể nghiên cứu 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Giả thuyết khoa học 7
7 Cấu trúc luận văn 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Khái niệm về thể loại văn học 9
1.1.2 Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại 11
1.1.3 Hịch và vấn đề thể loại 11
1.1.4 Lí luận dạy học theo định hướng phát triển năng lực 18
1.1.5 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh trung học cơ sở 25
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
1.2.1 Mục đích, nội dung, phương pháp dạy học bài Hịch tướng sĩ theo chương trình hiện hành và chương trình Ngữ văn 2018 25
1.2.2 Kết quả dạy học Hịch tướng sĩ theo đặc trưng thể loại ở trường trung học cơ sở 28
Tiểu kết chương 1 35
Trang 8CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM HỊCH TƯỚNG SĨ THEO
HƯỚNG TIẾP CẬN ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 36
2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 36
2.1.1 Bám sát đặc trưng thể loại, coi trọng thể loại văn bản cổ 36
2.1.2 Bám sát mục tiêu chương trình mới 36
2.1.3 Đảm bảo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học 38
2.1.4 Đảm bảo tính vừa sức, phù hợp trình độ, nhận thức học sinh 38
2.2 Một số biện pháp 39
2.2.1 Định hướng cách đọc, sử dụng giọng đọc mẫu 39
2.2.2 Hướng dẫn học sinh vượt qua rào cản ngôn ngữ thông qua hoạt động cắt nghĩa, chú giải 40
2.2.3 Cung cấp cho học sinh những kiến thức về thể loại hịch nói chung 43
2.2.4 Khơi gợi không khí văn học cổ 46
2.2.5 Khai thác đặc trưng của văn bản chính luận - trữ tình đối với thể loại hịch 49
2.2.6 Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại 55
2.2.7 Chú trọng phương pháp dùng lời (còn gọi là phương pháp diễn giảng, phương pháp giảng bình, phương pháp thuyết trình ) 55
2.2.8 Đề xuất qui trình dạy học 57
Tiểu kết chương 2 61
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM 62
3.1 Những vấn đề chung về thực nghiệm 62
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 62
3.1.2 Thời gian, địa điểm, số lượng học sinh tham gia thực nghiệm 63
3.2 Nội dung thực nghiệm 64
3.2.1 Thực nghiệm thăm dò 64
3.2.2 Thực nghiệm đối chứng 64
Trang 93.3.1 Tóm tắt giáo án 64
3.3.2 Những điểm mới trong giáo án thực nghiệm 75
3.4 Kết quả thực nghiệm 76
3.4.1 Kết quả thực nghiệm thăm dò 76
3.4.2 Kết quả thực nghiệm đối chứng 77
Tiểu kết chương 3 81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Khuyến nghị 83
2.1 Đối với giáo viên 83
2.2 Đối với học sinh 84
2.3 Đối với nhà quản lí 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thể loại và kiểu văn bản là 2 trục chính trong CT Ngữ văn phổ
thông hiện hành (CT 2000) Quan điểm đó thể hiện rõ hơn trong CT Ngữ văn mới (2018)
Xác định rõ thể loại cho mỗi văn bản văn học sẽ có tác dụng giúp cho việc định hướng khai thác đúng đắn những kiến thức cơ bản trong tác phẩm, làm cơ sở hình thành và phát triển năng lực cho HS Giả sử một văn bản trữ tình mà lại được khai thác như với tác phẩm tự sự thì rõ ràng đó là một sai lầm quan trọng trong đọc hiểu Và hơn nữa, khi dạy học, quan điểm này cũng tránh cho GV và HS sa quá sâu vào các văn bản cụ thể mà quên mất đặc trưng thể loại; tức tránh sa vào chi tiết - cái hiện thực vốn là vô cùng của đời sống văn học, mà quan tâm hơn đến đặc trưng thể loại - một trong những kiến thức khái quát, có tính phương pháp luận trong đọc hiểu
1.2 Từ lâu, trong nhà trường Việt Nam đã nêu và thực hiện giảng dạy văn học theo loại thể Đã có thời kì, công việc này được chú trọng và do đó đem lại hiệu quả rất cao
Tuy nhiên, những năm gần đây, vấn đề loại thể có phần bị sao nhãng trong thực tế Tuy có đặt vấn đề coi đây là trọng tâm nhưng trong thực tế, các bài học thường xa rời đặc trưng thể loại (có thể do ảnh hưởng của lý thuyết bạn đọc, quá nhấn mạnh tính chủ quan của HS trong cảm thụ) Ngay đến CT
và SGV cũng sai khi xác định thể loại Chẳng hạn nhầm văn tế với thơ, Hịch
tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi được coi là
“văn nghị luận”.v.v… Chính vì xác định sai hoặc chưa thật sự coi trọng tính chính xác của loại thể, khiến cho việc dạy học thiếu đi sự chuẩn xác, sâu sắc cần thiết
1.3 Văn học trung đại Việt Nam là một di sản vô cùng quý báu, rất
Trang 11loại Nghiên cứu di sản này là quá trình tìm về với cội nguồn của dân tộc Các
áng văn lớn như Chiếu dời đô của Lí Thái Tổ, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi… là những viên ngọc lấp lánh sắc
màu, tràn đầy ánh sáng, lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập… được thể hiện bằng một hình thức nghệ thuật chính luận – trữ tình đặc sắc trong các thể loại riêng biệt, độc đáo Văn học trung đại nói chung và
tác phẩm Hịch tướng sĩ nói riêng là những tác phẩm được chọn lựa, tinh
tuyển, chứa đựng giá trị nội dung, nghệ thuật cao Để bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm nhân văn cho HS thì những tác phẩm văn học này chính là công cụ quan trọng, hữu hiệu nhất Tuy nhiên để giúp HS cảm nhận được hết cái hay, cái đẹp của văn bản đối với GV không phải là điều dễ vì khoảng cách văn hóa của các em, những con người hiện đại, với thời kì trung đại, trong đó có khoảng cách quan trọng về tri thức thể loại văn học
1.4 Về PPDH, việc dạy tác phẩm văn học trung đại trong nhà trường phổ thông vẫn còn dừng lại ở lối mòn truyền thống, đặc biệt là đối với thể loại hịch GV không giúp HS khắc phục được khoảng cách thời gian, khoảng cách văn hóa, vì vậy càng làm cho HS giảm hứng thú khi học các bài học này
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Dạy học tác phẩm Hịch
tướng sĩ cho HS lớp 8 theo hướng tiếp cận đặc trưng thể loại” làm đề tài
nghiên cứu Qua luận văn này, chúng tôi mong muốn sẽ góp một tiếng nói vào việc học văn theo đặc trưng thể loại, cũng như tìm ra một hướng đi mới cho việc dạy tác phẩm văn chương trung đại theo định hướng phát triển năng lực HS
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Về phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
Vấn đề lí luận về thể loại chủ yếu được nghiên cứu đúc kết, biên dịch trong các bộ giáo trình đại học, cao đẳng cùng một số chuyên luận của Hà Minh Đức, Phương Lựu, Trần Đình Sử… Tiếp đến là một số công trình
Trang 12nghiên cứu liên quan đến loại thể văn học như của Đặng Thai Mai, Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Đăng Na phần nào giúp cho đông đảo GV văn có được cái nhìn mới mẻ, phong phú về thể loại
Cuốn Mấy vấn đề giảng dạy văn học theo loại thể (1970) của nhóm tác
giả Trần Thanh Đạm, Huỳnh Lý, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn, Đàm Gia Cẩn
và PPDH tác phẩm văn chương theo loại thể (2001) của Nguyễn Viết Chữ là
những tài liệu vẫn thường được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên Ngữ văn và học viên cao học ngành Lý luận và PPDH văn
Dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường luôn là vấn đề có tính thời sự Dạy văn, học văn trực tiếp liên quan đến chiến lược con người, đến sứ mệnh của chế độ và cả đời sống văn học của xã hội chứ không còn là công việc riêng của nhà giáo, nhà trường Nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu vấn đề này với các hướng giải quyết khác nhau nhằm xác lập lại
cơ chế dạy và học văn hợp lí và giải quyết mối quan hệ giữa ba chủ thể GV –
HS – tác phẩm Giải quyết được mối quan hệ cơ bản này cũng là lúc chúng ta hiểu đúng và hay tác phẩm Công trình nghiên cứu bao gồm: “Văn học nhà trường nhận diện tiếp cận đổi mới”, “Văn chương bạn đọc sáng tạo”, “Văn học giáo dục thế kỉ XXI” của Phan Trọng Luận; “PPDH tác phẩm văn chương theo loại thể” của TS Nguyễn Viết Chữ; “Đọc và tiếp nhận văn chương”,
“Văn học tầm nhìn, biến đổi”, “ Kĩ năng đọc hiểu văn” của Nguyễn Thanh Hùng; “Dạy học văn ở nhà trường phổ thông” của Nguyễn Thị Thanh Hương…Đây là những công trình có ý nghĩa và vài trò to lớn trong việc định hướng dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường Việc nghiên cứu các công trình này sẽ giúp chúng ta nhìn nhận đầy đủ hơn về vai trò tổ chức, định hướng dạy học của GV, cách hướng dẫn, định hướng cho HS tiếp cận tác
phẩm văn chương một cách đầy đủ, đúng đắn và toàn diện
Tác giả Trần Thanh Đạm trong cuốn “Mấy vấn đề giảng dạy văn học
Trang 13loại thể nhất định Vì vậy, vấn đề loại thể văn học trong thực tế giảng dạy ở trường phổ thông đặt ra không những như một vấn đề tri thức mà chủ yếu còn
là một vấn đề phương pháp” [9, tr48] Cuốn sách đã giới thiệu những kiến thức cơ bản về các loại, thể văn học chủ yếu có liên quan đến CT cấp III, từ
đó giới thiệu phương pháp vận dụng đặc trưng các loại thể vào việc giảng dạy các tác phẩm trong CT phổ thông
Các tác phẩm PPDH văn do Phan Trọng Luận chủ biên, Phân tích tác
phẩm văn học trong nhà trường của Phan Trọng Luận, Đổi mới PPDH Văn - Tiếng Việt ở trường phổ thông của Nguyễn Trí - Nguyễn Trọng Hoàn đã
mang lại cho GV những kiến thức lí luận bổ ích và những phương pháp giảng dạy văn học căn bản
Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn Giáo trình PPDH Ngữ văn THCS đã
đặt vấn đề dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể như một nguyên tắc cơ bản trong dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường Từ đó tác giả đưa
ra mô hình dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chương theo loại thể ở trường trung học Đây là công trình có ý nghĩa về mặt lí luận giúp GV có định hướng
cụ thể về hoạt động dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chương theo loại thể ở trường trung học
Nguyễn Viết Chữ trong cuốn PPDH tác phẩm văn chương theo loại thể
đã đề xuất biện pháp và định hướng dạy học các tác phẩm tự sự, trữ tình và văn học nước ngoài
Trong những công trình như Dạy học văn trong nhà trường phổ thông,
Thiết kế bài giảng và lời bình một số tác phẩm văn chương ở trường phổ thông của Nguyễn Thị Thanh Hương đã đề cập tới vấn đề dạy học tác phẩm
văn chương theo loại thể một cách khá cụ thể Từ đó tác giả đưa ra định hướng dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể và đặc biệt là vấn đề định hướng hoạt động tiếp nhận sáng tạo khi dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể - một hướng nghiên cứu mới mẻ
Trang 14Phạm Thị Thu Hương trong bài viết “Một số nguyên tắc vận dụng thi pháp thể loại” vào việc dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường trung học phổ thông cho rằng việc quan tâm đến những đặc điểm thi pháp của từng loại thể nhất định có ý nghĩa khoa học và thực tiễn không nhỏ đối với việc rèn luyện kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn chương cho HS Tác giả đưa ra một số nguyên tắc như tìm hiểu thi pháp thể loại không tách rời với việc tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường Tìm hiểu thi pháp thể loại là
cơ sở để phát hiện nét độc đáo của thi pháp tác phẩm, thi pháp tác giả, vận dụng thi pháp thể loại vào dạy học tác phẩm văn chương gắn liền với lí luận dạy học hiện đại Đây là những gợi ý có ý nghĩa thiết thực đối với các GV giảng dạy văn học, góp phần xác lập những nguyên tắc có tính lí luận trong dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể
Về dạy học tác phẩm văn chương theo thể loại phần văn học trung đại, chúng tôi cũng thấy rằng đây là hướng nghiên cứu còn ít người quan tâm và chỉ được đề cập tới trong một số công trình, tài liệu về dạy học tác phẩm văn chương nói chung Chẳng hạn, Lã Nhâm Thìn cũng khẳng định việc phân tích
tác phẩm văn học từ góc nhìn thể loại, trong cuốn Phân tích tác phẩm văn học
trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại, là một hướng nghiên cứu khoa học,
hiệu quả Tuy nhiên ở công trình này tác giả cũng mới chỉ đưa ra cách phân tích, bình giảng các thể loại trong văn học trung đại chứ chưa đề xuất các biện pháp, PPDH cụ thể
2.2 Về giảng dạy Hịch tướng sĩ theo đặc trưng thể loại
Trong các công trình nghiên cứu có liên quan đến phương pháp giảng dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại tuy có đề cập đến phương pháp giảng dạy thể loại song mới chỉ là những lí thuyết chung còn khá sơ lược và
Hịch tướng sĩ chưa được quan tâm một cách thích đáng
Đã có nhiều nhà khoa học sư phạm, nhiều thầy cô giáo tâm huyết đã
Trang 15pháp dạy tác phẩm Hịch tướng sĩ sao cho có hiệu quả cao nhất nhằm nâng cao
chất lượng dạy học văn trong nhà trường Cụ thể:
- Bình giảng văn 8 của Vũ Dương Quỹ, Lê Bảo
- Thiết kế bài giảng Ngữ văn 8 của Nguyễn Văn Đường, Hoàng Dân
- SGV Ngữ văn 8, tập hai của Nhà xuất bản Giáo dục
- Bình giảng 29 tác phẩm Văn học Ngữ văn 8 của Nguyễn Quang Ninh
(chủ biên)
- Kĩ năng đọc hiểu văn bản Ngữ văn 8 của Nguyễn Kim Phong (chủ
biên)
Từ phần lịch sử vấn đề trên đây, chúng tôi đã có cái nhìn tổng quát về
việc nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn học nói chung và Hịch tướng sĩ
nói riêng theo đặc trưng thể loại Những công trình này sẽ là những tư liệu quý cho chúng tôi nghiên cứu đề tài của mình như một đóng góp vào lịch sử
nghiên cứu dạy học Hịch tướng sĩ theo đặc trưng thể loại
3 Phạm vi, đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu với phạm vi cụ thể là tác phẩm Hịch
tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong CT Ngữ văn lớp 8 ở
trường THCS Đối tượng được áp dụng thực nghiệm nghiên cứu là HS lớp 8 trường THCS Ái Mộ, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tiếp cận đặc trưng thể loại trong dạy học tác
phẩm Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Trang 16Nghiên cứu đề tài “Dạy học tác phẩm Hịch tướng sĩ cho học sinh lớp 8
theo hướng tiếp cận đặc trưng thể loại” nhằm góp phần chính xác hóa việc
xác định thể loại và lưu ý các biện pháp dạy học theo loại thể đối với tác
phẩm Hịch tường sĩ của Trần Hưng Đạo nói riêng và với các tác phẩm văn
học trung đại ở trường phổ thông nói chung
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có các nhiệm vụ nghiên cứu dưới đây:
- Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc dạy học thể loại hịch theo hướng tiếp cận đặc trưng thể loại
- Xây dựng một số biện pháp dạy học tác phẩm hịch theo hướng tiếp cận đặc trưng thể loại
- Thực nghiệm sư phạm
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: vận dụng những thành tựu của các ngành như lí luận văn học, tâm lí học, giáo dục học…
- Phương pháp điều tra khảo sát: khảo sát GV, HS thông qua các phiếu
hỏi về tình hình dạy học tác phẩm Hịch tướng sĩ…
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: dự giờ dạy thực nghiệm để đưa ra những nhận xét, đánh giá về khả năng ứng dụng, tính khả thi của những biện pháp đề ra trong chương 2
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các tài liệu liên quan đến
đề tài như vấn đề dạy học các tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại; vấn
đề giảng dạy Hịch tướng sĩ …
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được một biện pháp dạy học tác phẩm Hịch tướng sĩ của
Trần Hưng Đạo theo tinh thần tiếp cận đặc trưng thể loại một cách chính xác thì HS sẽ hiểu sâu sắc hơn và có thể tự tiếp nhận loại tác phẩm này một cách
Trang 177 Cấu trúc luận văn
Phần mở đầu: Trình bày những vấn đề chung (Lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giả thuyết khoa học, đóng góp của luận văn…)
Phần nội dung chính gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2 Biện pháp dạy học tác phẩm “Hịch tướng sĩ” theo hướng tiếp cận đặc trưng thể loại
Chương 3 Giáo án và thực nghiệm
Phần kết luận và kiến nghị
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm về thể loại văn học
Trong cuốn Lí luận văn học tập 2 (NXB Đại học Sư phạm năm 2008),
Trần Đình Sử cho rằng “Thể loại văn học là khái niệm chỉ qui luật loại hình của tác phẩm trong đó ứng với một loại nội dung nhất định của một loại hình thức nhất định tạo cho tác phẩm” [27, tr.221]
Phương Lựu, trong cuốn Lí luận văn học (NXB Giáo dục năm 1997)
cho rằng: “Thể loại văn học là phạm trù chỉnh thể tác phẩm, bất cứ tác phẩm nào được sáng tác đều thuộc về một chỉnh thể nhất định, không tác phẩm nào
là “siêu thể loại” Cho nên, ta có thể hiểu thể loại văn học là một hiện tượng loại hình của sáng tác và giao tiếp văn học, hình thành trên cơ sở sự lặp lại có qui luật của các yếu tố tác phẩm Đó là cơ sở để người ta phân loại tác phẩm” [19, tr340]
Từ đó, chúng tôi thống nhất cách hiểu về thể loại văn học là phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu tạo văn bản
Nói tới thể loại là nói tới một phương thức tái hiện đời sống, một cách
tổ chức tác phẩm và một kiểu giao tiếp nghệ thuật Lí luận văn học dựa vào các yếu tố ổn định để chia tác phẩm văn học thành các loại và các thể loại khác nhau
Theo quan niệm đã có từ thời Aristote, phần lớn các nhà nghiên cứu cho rằng văn học có ba loại: tự sự, trữ tình và kịch Đây là kết quả của sự trừu tượng hóa, thực tế hóa tác phẩm vô cùng phong phú và sinh động của nhà văn, căn cứ vào phương thức phản ánh hiện thực đời sống và biểu hiện nội tâm tác giả, sự cấu tạo hiện tượng và cấu trúc tác phẩm văn học Mỗi loại nói trên lại gồm một số thể loại Chẳng hạn, loại trữ tình có thơ trữ tình, từ khúc,
Trang 19kịch gồm chính kịch, bi kịch, hài kịch…Một tác phẩm văn học bất kì sẽ thuộc một loại nhất định và quan trọng hơn là thuộc một thể loại nào đó Nhưng ngay ở những tác phẩm thuộc cùng một thể loại thì nội dung cảm hứng và sắc thái thẩm mĩ cũng rất khác nhau Cũng là tiểu thuyết nhưng lại có tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết trinh thám…Cũng là thơ nhưng lại
có thơ trữ tình, thơ tự do, thơ lục bát…
Thể loại tác phẩm là hiện tượng loại hình của sáng tác và giao tiếp văn học Nó không chỉ được hình thành trên cơ sở sự lặp lại có qui luật của các yếu tố của tác phẩm, tạo nên tính ổn định, bền vững trong cấu trúc tác phẩm
mà còn được biến đối, phát triển qua từng thời đại, qua sự sáng tạo độc đáo của nhà văn Trong thể loại vừa có những yếu tố ổn định, bền vững đồng thời lại có những yếu tố đổi mới để thích ứng với những nội dung hiện thực mới Những tác giả lớn thường tiếp thu những truyền thống thể loại khác nhau để tạo ra những hình thức thể loại mới M.Bakhtin cho rằng: “Thể loại văn học xét theo bản chất của nó là sự phản ánh các khuynh hướng vững bền, vĩnh viễn hơn cả của sự phát triển văn học Thể loại bao giờ cũng gìn giữ các yếu
tố cổ xưa, không mai một Cái cổ xưa ấy chỉ được giữ lại trong thể loại nhờ sự đổi mới của chính nó, hay như người ta nói, nhờ sự hiện đại hóa nó” [1, tr.121-122]
Mỗi tác phẩm văn học, xét đến cùng đều thuộc về một thể loại nhất định nhưng lại rất ít tác phẩm tuân thủ nghiêm ngặt những qui định chặt chẽ của một thể loại, tiêu biểu cho một thể loại ở dạng thuần túy Trong đời sống văn học, các loại và các thể thường có sự kết hợp, giao thoa với nhau Những tác phẩm xuất sắc, nhất là những kiệt tác thường vi phạm những nguyên tắc của một thể loại đã được xác định
Ở nước ta, việc phân chia các thể loại văn học cũng có nhiều dạng Các giáo trình chủ yếu dựa theo phân loại của phương Tây nhưng trình bày thành
4 loại chủ yếu: thơ, tiểu thuyết, kí và kịch Trong cuốn Lí luận văn học tập 2
Trang 20(NXB Đại học Sư phạm năm 2008), Trần Đình Sử phân chia thành: tự sự, trữ tình, kịch, kí và chính luận Dựa vào sự phân loại trên, có thể sắp xếp các thể loại vào các loại tương ứng:
Loại tự sự bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện thơ, anh hùng ca, truyện cổ tích…
Loại trữ tình bao gồm thơ trữ tình và văn xuôi trữ tình…
Loại kịch bao gồm chính kịch, bi kịch, hài kịch…
Loại kí bao gồm kí sự, phóng sự, bút kí…
Loại chính luận bao gồm các kí chính luận, nghị luận văn chương, xã hội, chính trị…
1.1.2 Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
Phân tích tác phẩm văn học phải gắn với đặc trưng thể loại, điều đáng quan tâm ở đây là phải làm thể nào và bằng cách nào để giúp HS cùng ý thức được là các em đang được tiếp xúc với một tác phẩm văn học thuộc một thể loại văn học nhất định
Dạy học tác phẩm văn chương theo hướng tiếp cận đặc trưng thể loại là một hướng đi có nhiều ưu thể để rèn luyện kĩ năng đọc, cảm thụ, phân tích, lí giải, đánh giá tác phẩm một cách hợp lí, hiệu quả
Không thể tiếp cận được tác phẩm nếu không hiểu bản chất thể loại Càng hiểu rõ đặc điểm của thể loại bao nhiêu người dạy, người học càng có mức độ lí giải, cảm thụ sâu sắc bấy nhiêu bởi mỗi thể loại có PPDH riêng
Dạy học tác phẩm văn chương là giúp HS nhận thức được cái hay, cái đẹp của tác phẩm Người GV khi định hướng dạy học tác phẩm văn chương phải biết xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm để tổ chức, hướng dẫn cho HS phân tích, cảm thụ tác phẩm, tiến hành soạn giáo án phù hợp, tránh rập khuôn, máy móc
1.1.3 Hịch và vấn đề thể loại
Hịch là thể loại văn học cổ xuất hiện từ thời Lý và tồn tại trong thời
Trang 21chống xâm lược Song trên thực tế, khi nói đến những phẩm chất của thể loại này, trong văn học Việt Nam, người ta chủ yếu chỉ căn cứ vào tác phẩm tiêu
biểu của thời Trần là Hịch tướng sĩ (Dụ chư tì tướng hịch văn) của Trần Hưng
Đạo, bởi lẽ đây là tác phẩm thành công nhất của văn hịch Việt Nam
Hịch Việt Nam nói chung và hịch thời Trần nói riêng đều tiếp thu của Trung Quốc, song sự khu biệt cả về phương diện biểu cảm và nội dung chức năng của hịch Việt Nam so với hịch Trung Quốc được biểu hiện rõ rệt qua
hịch thời Trần mà tiêu biểu là tác phẩm Hịch tướng sĩ
1.1.3.1 Nguồn gốc và đặc trưng của hịch
Người Trung Quốc hiện đại căn cứ vào chức năng của hịch đã xếp hịch cùng loại với chiếu, đó là loại văn ứng dụng, nhưng khác chiếu là loại “công văn gửi cấp dưới”, còn hịch là “công văn gửi cấp ngang hàng” Hịch là thể văn Trung Quốc có lịch sử trên 2000 năm, phát triển nhất vào thời Tiên Tần, Lưỡng Hán
Căn cứ vào một số bài hịch tiêu biểu của Trung Quốc và vào các công
trình nghiên cứu của Trung Quốc như Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, Cổ
đại Hán ngữ của Vương Lực, Lịch sử văn hóa Trung Quốc của Đàm Gia
Kiên…và các công trình nghiên cứu khác của Việt Nam, chúng tôi nhận thấy, những đặc điểm cơ bản sau của hịch văn Trung Quốc:
- Hịch Trung Quốc ra đời phần nhiều để phục vụ các cuộc chiến tranh nội chiến dân tộc thời cổ đại, tính chất chống ngoại xâm không rõ rệt
- Nội dung của hịch thường phản ánh trực tiếp ý nguyện của các tập đoàn phong kiến thống trị trong lịch sử chiến tranh nội chiến liên miên của xã hội quốc gia này, nhằm mục đích thống nhất đất nước
- Hịch tuy là loại văn tín thực quốc gia nhưng để phục vụ cho mục đích
kể tội trách mắng lẫn nhau qua các tập đoàn phong kiến, nên ưu tiên lựa chọn một hệ ngôn từ có phần khoa trương, bịa đặt, một hệ thống sắp xếp ngôn ngữ
có phần bạo liệt, quyết đoán
Trang 221.1.3.2 Đặc điểm của hịch thời Trần
a) Cơ sở lịch sử xã hội của văn hịch thời Trần
Văn hịch thời Trần được xem là thể loại tiêu biểu cho văn hịch Việt Nam trung đại Đây là thể loại văn học của Trung Quốc được tiếp thu và sử dụng rất sớm trong văn học Việt Nam Vì nó là thể loại có chức năng cao, phục vụ chiến đấu, cho nên nó nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của dân tộc trong các cuộc chiến tranh, chủ yếu là chiến tranh chống xâm lược bảo vệ độc lập dân tộc và chiến tranh chống cát cứ phân liệt, bảo vệ thống nhất đất nước
Thời Lý - Trần là thời kì đầu tiên của kỉ nguyên độc lập dân tộc Dân tộc ta phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc của Trung Quốc
và phải chịu nhiều đau thương để giữ vững độc lập Trong những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đó, toàn dân tộc ta đã nhất tề đứng dậy, đồng tâm nhất trí lao vào cuộc chiến đấu sinh tử, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Đóng góp vào thắng lợi to lớn đó có công lao của những bài văn hịch
Văn hịch chỉ ra đời trong chiến tranh Chiến tranh là điều kiện tồn tại của nó bởi vì hịch có chức năng chuyên biệt là kêu gọi, động viên, cổ vũ, thúc giục chiến đấu
Trong thời Lý - Trần có hai loại chiến tranh Thứ nhất đó là chiến tranh chống nạn cát cứ phân liệt nhằm bảo vệ sự thống nhất dân tộc một yêu cầu to lớn của lịch sử thời này trong việc xây dựng và củng cố nhà nước phong kiến
tự chủ đầu tiên Bài hịch còn lại ra đời trong hoàn cảnh này là Thảo Masa
động hịch của Lí Nhân Tông Thứ hai, đó là chiến tranh chống xâm lược
nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc Hiện còn lại hai bài hịch tiêu biểu là
Phạt Tống lộ bố văn của Lí Thường Kiệt trong cuộc chiến tranh chống Tống
năm 1075 và bài Dụ chư tì tướng hịch văn (Hịch tướng sĩ) của Trần Hưng
Đạo trong cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông năm 1285 Đây là bộ phận văn học tiêu biểu có giá trị, làm thành truyền thống của hịch văn Việt Nam
Trang 23thời kì lịch sử sôi động chống Pháp xâm lược cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX
của dân tộc, với Hịch đánh Tây của Lãnh Cồ, Hịch diệt chuột của Nguyễn Đình Chiểu, Hịch Cần Vương của các sĩ phu yêu nước thời Pháp thuộc
b) Nội dung của văn hịch thời Trần
Trong lịch sử văn học Trung Quốc, người ta hay nhắc tới các danh tác
hịch văn như Vi Viên Thiệu hịch Dự Châu văn của Trần Lâm, Thảo Võ Chiếu
hịch của Lạc Tân Vương, thứ đến là những bài hịch của Trương Nghi kể tội
vua Sở…
Đặc điểm nổi bật của nội dung những bài văn hịch này thiên về phản ánh những cuộc chiến tranh nội chiến dân tộc tàn khốc, dữ dội kéo dài suốt lịch sử phong kiến Trung Quốc theo đánh giá của chính các nhà nghiên cứu người Trung Quốc như Ngô Vĩnh Chính, Đàm Gia Kiện, các tác giả lịch sử văn học Trung Quốc Vương Lực khi nhận xét về văn hịch Trung Quốc cũng nhận định: “Trong thời phong kiến, chiến tranh chính nghĩa ít”
Hịch văn thời Lý - Trần có những đặc điểm khác biệt Nó phản ánh hai nội dung lớn, hai chủ đề lớn như đã nêu Thứ nhất là chủ đề thống nhất đất nước Thứ hai, và đây là chủ yếu, là khát vọng độc lập dân tộc Nội dung chủ yếu của Hịch văn Lí Trần phản ánh tinh thần và khát vọng xây dựng đất nước thống nhất, cường thịnh và quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc Bao trùm lên tất cả đó là sự đề cao chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng phong kiến của con người, đề cao tinh thần dân tộc, nghĩa vụ và trách nhiệm của con người khi Tổ quốc lâm nguy Hịch văn Lý - Trần là tiếng nói của cả cộng đồng thống nhất, đoàn kết cùng một mục đích chung là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Sự lựa chọn này đem đến cho hịch văn một vị trí trang trọng đặc biệt trong lịch sử văn học, bởi nó không chỉ là thể loại có giá trị thiết thực, trực tiếp phục vụ cuộc sống, phục vụ những chức năng mà lịch sử giao phó mà nó còn là một trong những thể loại văn học góp phần phản ánh đời sống tâm hồn,
Trang 24tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng của cả dân tộc Việt Nam trong giai đoạn lịch
sử hào hùng này
c) Hình thức thể loại của văn hịch
Hình thức thể loại của văn hịch chủ yếu tiếp thu và sử dụng của Trung Quốc Song do đặc điểm của lịch sử xã hội Việt Nam, đặc điểm tâm lí và thị hiếu con người Việt Nam, chúng tôi thấy có những dấu hiệu của sự khác biệt nhất định giữa hịch văn Lý - Trần và hịch văn Trung Quốc
Thứ nhất, đó là ngôn từ thay đổi Hịch văn Trung Quốc rất chú trọng văn tự, trong đó quan trọng nhất là dùng lời nói khoa trương, thậm chí điêu trá
để làm táng đởm kinh hồn bọn gian cừu, làm vững lòng kẻ tín thần Vương Lực giải thích về hiện tượng này như sau; “Do trong thời phong kiến chiến tranh chính nghĩa ít nên văn hịch dùng lời lẽ khoa trương” Ngôn từ của văn hịch thường do nội dung của văn hịch qui định Nội dung văn hịch Trung Quốc (trong phạm vi tìm hiểu của chúng tôi) chủ yếu phản ánh những cuộc chiến tranh nội chiến Nó đề cập tới vấn đề của những bộ phận người khác nhau trong một cộng đồng dân tộc Mục đích chính của những bài hịch văn Trung Quốc này là lời kể tội kẻ thù Kể tội là đặc điểm quan trọng bậc nhất được Lưu Hiệp quan tâm hàng đầu khi tìm hiểu nội dung loại văn này Vì vậy
mà ngôn từ của hịch văn Trung Quốc thiên về khoa trương, có khi ngoa ngoắt, bêu xấu, cốt kể tội kẻ thù có hiệu quả nhất Vì thế mà những lời khoa trương của Trần Lâm trong bài hịch kể tội Tào Tháo có tác dụng rất lớn, khiến cho “Tháo xem xong rợn tóc rùng mình, mồ hôi toát ra như tắm” [30, tr.125] Hịch văn Lý - Trần cũng rất chú trọng văn tự Song do văn tự của nó
do một nội dung rất khác qui định Hịch văn Lý - Trần chủ yếu đề cập tới những vấn đề lớn lao của sơn hà xã tắc, những vấn đề sống còn của quốc gia, dân tộc Nó đề cập tới quyền lợi và nghĩa vụ của cả cộng đồng dân tộc chứ không riêng của giai cấp thống trị hay một ông vua Mục đích của nó không
Trang 25quân ta Cho nên ngôn từ của nó được lựa chọn theo chiều hướng phục vụ sự thiết xác, minh bạch, bộc lộ sự chân thành của ta với ta, hay những lời nói có
lí có tình của ta với địch Điều này được thể hiện sáng rõ trong Dụ chư tì
tướng hịch văn (Hịch tướng sĩ)
Thứ hai là thay đổi hình thức thể loại Hịch văn Trung Quốc phần nhiều dùng biền thể, ít khi dùng cổ văn, dường như không dùng vận văn Hịch văn thời Lý - Trần tiếp thu các hình thức của hịch văn Trung Quốc, nó tuân thủ nghiêm túc của thể loại văn học này, chủ yếu cũng dùng hình thức biền thể, hay cổ văn Song hịch văn Việt Nam còn dùng cả vận văn Sự ưu tiên tối đa cho vận văn trong các hình thức thể loại khác nhau là một đặc điểm quan trọng của văn học Việt Nam Hình thức vận văn đóng góp to lớn vào quá trình hình thành các thể loại có tính dân tộc ở các giai đoạn văn học sau này như truyện thơ, khúc ngâm trữ tình, hát nói…Trong thời kì Lý - Trần, vận văn
cũng để lại dấu vết trong thể hịch Đó là trường hợp Nam quốc sơn hà của Lý
Thường Kiệt Có người cho đây là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc, căn cứ vào chỗ bài thơ này lần đầu tiên nêu lên chủ quyền tất yếu của dân tộc ta Song nhiều nhà nghiên cứu khi phân tích tác phẩm này đã tỏ ra phân vân vì nó thể hiện rất rõ tinh thần của lời kết tội kẻ thù xâm lược, lời khích lệ,
cổ vũ chiến đấu đối với quân dân nhà Lý trong cuộc kháng chiến chống Tống
năm 1076 nên đã đưa ra một cách gọi nước đôi rằng Nam quốc sơn hà là tác
phẩm vừa mang lời hịch kêu gọi chiến đấu vừa mang lời tuyên ngôn độc lập
Chúng ta biết rằng, Nam quốc sơn hà ra đời trong cuộc chiến đấu gay go, ác
liệt giữa ta và địch trên sông Như Nguyệt, ta bị tấn công, vận nước ngàn cân treo sợi tóc, chỉ cần vượt qua sông, quân Tống sẽ tràn vào Thăng Long và chắc chắn đất nước lâm nguy Trong cảnh nước sôi lửa bỏng đó, tương truyền
Lý Thường Kiệt cho người lẻn vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát bên sông ngâm vang bài thơ thần Bài thơ có một sức mạnh thần kì làm quân dân
ta vững chí chiến đấu, làm quân Tống run sợ Sau đó quân ta phản công thắng
Trang 26lợi Chúng tôi cho rằng Nam quốc sơn hà có tính chất hịch nhằm kêu gọi chiến đấu đặc sắc trong thời kì Lý - Trần, bởi lẽ nó chỉ rõ cuộc chiến tranh chúng ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa, việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là yêu cầu tất yếu đối với toàn dân tộc cũng như sự tất thắng của chúng ta, hơn nữa, nó vạch rõ sự phi nghĩa và tất bại của cuộc chiến tranh xâm lược của quân Tống Bài thơ thần này mang những phẩm chất của một bài hịch Nó nêu
rõ danh nghĩa chiến đấu của quân ta, kể tội quân địch, nó thuật rõ sự tốt lành
của quân ta, kể rõ sự ác ngược của địch Nam quốc sơn hà là văn hay giúp cho
võ lược của Lý Thường Kiệt thành công trong chiến đấu Nam quốc sơn hà là
bài thơ mang chức năng hịch trong văn học Việt Nam thời trung đại Đây là dấu hiệu mở rộng hình thức văn hịch của thời Lý song vẫn nằm trong qui luật tiếp thu, lựa chọn hình thức thơ ca Trung Quốc, chỉ có điều hình thức thơ ca
đó được chuyển giao sang một nhiệm vụ cấp bách và thiết thực lúc bấy giờ do yêu cầu của lịch sử, đó là nhiệm vụ của một bài hịch Hay nói cách khác, trong hoàn cảnh cụ thể lúc đó, con người đã chọn cho lời hịch, lời kêu gọi động viên chiến đấu này một hình thức phù hợp và có tác dụng cao nhất, đó là
hình thức của một bài thơ tuyệt cú Nam quốc sơn hà đương nhiên là một bài
thơ nhưng là một bài thơ có tính hịch, cũng theo cách hiểu này
1.1.3.3 Đặc tính của hịch văn thời Trần qua bài Hịch tướng sĩ
Dụ chư tì tướng hịch văn (Hịch tướng sĩ) là tác phẩm tiêu biểu nhất của
hịch văn Lý - Trần cũng như của hịch văn Việt Nam Tác phẩm này là sự kết tinh cao nhất những phẩm chất của thể loại hịch văn Việt Nam Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng, văn hịch thời Trần tuy vẫn sử dụng hình thức nghệ thuật phổ biến nhất của hịch Trung Quốc là văn biền ngẫu, song lại có sự biến đổi
to lớn trong cách biểu cảm của nó, ở chỗ nó đã phản ánh một nội dung tư tưởng mới là tư tưởng yêu nước, là chủ nghĩa anh hùng phong kiến trong bảo
vệ Tổ quốc chống xâm lược, ở chỗ nó đã thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ cho
Trang 27ở chỗ đối tượng đối thoại của hịch không phải là quân địch mà là quân ta, ở chỗ mục tiêu chiến đấu của nó đã thay đổi, không phải kẻ thù vật chất bên ngoài mà là những tên địch trong ta, ở chỗ mục đích nêu trong tác phẩm không phải là phá hoại (làm cho chiến xa lớn trăm thước bị bẻ gãy trước bài văn viết chữ to tám tấc, làm cho tòa thành cao vạn trĩ phải đổ sụp trước một tờ hịch” (Lưu Hiệp) mà là “xây dựng”, là “bồi dưỡng” là động viên khích lệ con người hãy chiến thắng chính bản thân mình trước khi chiến thắng giặc ngoại xâm Sự chuyển dịch này của hịch thời Trần là kết quả của sự chuyển dịch nội dung chức năng của thể loại, do yêu cầu lịch sử qui định, khi hịch vốn là một thể văn phục vụ nội chiến dân tộc thành một thể văn phục vụ chiến tranh chống xâm lược Do nội dung chức năng thay đổi nó đã biến một “công văn hành chính” thành một “phương tiện trữ tình”
Từ những tìm hiểu trên, luận văn xác định thể loại của tác phẩm Hịch
tướng sĩ là chính luận - trữ tình Và việc tìm hiểu, phân tích tác phẩm theo
hướng tiếp cận đặc trưng thể loại sẽ tập trung vào việc làm rõ nội dung cũng như nghệ thuật chính luận – trữ tình của bài hịch
1.1.4 Lí luận dạy học theo định hướng phát triển năng lực
1.1.4.1 Khái niệm năng lực
Khả năng mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định được gọi là năng lực (hiểu theo nghĩa chung nhất) Chẳng hạn, khả năng làm văn, khả năng nói tiếng Trung…thường được đánh giá bằng các trắc nghiệm trí tuệ; là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/ một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động
Các dấu hiệu cơ bản cho thấy người học có được năng lực hành động
về một lĩnh vực hoạt động nào đó được thể hiện như sau:
- Biết cách tiến hành hoạt động hiệu quả và đạt kết quả phù hợp với mục đích
Trang 28- Có kiến thức hay hiểu biết hệ thống/ chuyên sâu về loại/ lĩnh vực hoạt động đó
- Hành động có kết quả, ứng phó linh hoạt, hiệu quả trong những điều kiện mới, không quen thuộc
Từ đó có thể đưa ra một định nghĩa về năng lực hành động, đó là: Năng lực là khả năng huy động, tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định
1.1.4.2 Cấu trúc của năng lực
Cấu trúc của năng lực được trình bày trong sơ đồ dưới đây:
Hình 1.1 Cấu trúc của năng lực
(Nguồn: Báo cáo tập huấn nâng cao năng lực đánh giá thường xuyên
các môn học trường Bigschool Việt Nam năm 2017)
- Vòng tròn nhỏ ở tâm là năng lực (định hướng theo chức năng)
- Vòng tròn giữa (bao quanh vòng tròn nhỏ) là các thành tố của năng lực: kiến thức, các khả năng nhận thức, các khả năng thực hành/ năng khiếu, thái độ, xúc cảm, giá trị và đạo đức, động cơ
Trang 29- Vòng tròn ngoài là bối cảnh (điều kiện/ hoàn cảnh có ý nghĩa)
1.1.4.3 Năng lực của học sinh
Khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ, phù hợp với lứa tuổi của HS và vận dụng chúng một cách hợp lí vào việc thực hiện thành công những nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả các vấn đề đặt ra cho chính HS trong cuộc sống được coi là năng lực của HS
Ba dấu hiệu quan trọng cần lưu ý về năng lực của HS đó là: Khả năng hành động, ứng dụng/ vận dụng tri thức, kĩ năng học được để giải quyết những vấn đề của cuộc sống đang đặt ra với các em HS là năng lực, đồng thời
là khả năng tái hiện kiến thức, thông hiểu kiến thức và kĩ năng được học
Nó là sự kết hợp hài hòa của cả ba yếu tố này, thể hiện ở khả năng hành động (thực hiện) hiệu quả, muốn hành động và sẵn sàng hành động đạt mục đích đề ra (gồm động cơ, ý chí, sự tự tin, trách nhiệm xã hội…), là vốn kiến thức, kĩ năng, thái độ sống phù hợp với lứa tuổi
Nó được hình thành, phát triển trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trong lớp học và ở ngoài lớp học Những năng lực chung, năng lực chuyên biệt phù hợp với lứa tuổi được hình thành trong nhà trường - môi trường giáo dục chính thống, song đó không phải là nơi duy nhất Những môi trường khác như gia đình, cộng đồng cũng góp phần bổ sung và hoàn thiện các năng lực của HS
1.1.4.4 Quá trình hình thành năng lực
Sơ đồ hình bậc thang dưới đây có thể xem như quá trình hình thành năng lực gồm các bước tăng tiến hình thành năng lực Cụ thể:
Trang 30Hình 1.2 Quá trình hình thành năng lực
(Nguồn: Báo cáo tập huấn nâng cao năng lực đánh giá thường xuyên các môn học trường Bigschool Việt Nam năm 2017)
Chú thích: 1) Tiếp nhận thông tin; 2) Xử lí thông tin (thể hiện hiểu biết,
kiến thức; 3) Áp dụng/ vận dụng kiến thức (thể hiện khả năng); 4) Thái độ và hành động; 5) Sự kết hợp đầy đủ các yếu tố trên để tạo thành năng lực; 6) Tính trách nhiệm, thể hiện sự chuyên nghiệp, thành thạo; 7) Kết hợp với kinh nghiệm/ trải nghiệm thể hiện năng lực nghề
1.1.4.5 Các năng lực cốt lõi của học sinh
Năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc được cho là năng lực cốt lõi
Kết quả đầu ra (chuẩn đầu ra) của quá trình dạy học cần được nhận diện như những năng lực cốt lõi của HS trong thế kỉ XXI
Do đó, để nuôi dưỡng, hình thành các năng lực này cần thiết phải phát triển được các CT giáo dục và vận dụng các chiến lược dạy học, các kiểu tổ chức dạy học phù hợp
Trang 31CT giáo dục phổ thông mới của nước ta được cấu trúc theo định hướng phát triển năng lực; các năng lực của HS khi kết thúc CT giáo dục phổ thông được xác định là:
Đây là cơ sở ban đầu cho hoạt động phát triển CT nhà trường, trong đó
có việc xây dựng và tổ chức dạy học các chủ đề
1.1.4.6 Các yêu cầu của bài học thiết kế theo cách tiếp cận năng lực
Các đặc điểm của một bài học được thiết kế theo cách tiếp cận năng lực, đó là:
- Mục tiêu bài học định hướng vào việc mô tả kết quả học tập mong đợi (các khả năng, năng lực HS sẽ phải đạt được) chứ không phải là nội dung kiến thức được GV truyền thụ
- Thúc đẩy sự tương tác giữa GV - HS và giữa HS - HS, khuyến khích
HS trao đổi, tranh luận, đánh giá, chia sẻ quan điểm, kinh nghiệm, thúc đẩy tinh thần hợp tác, kĩ năng làm việc nhóm
- Qua khai thác, tìm kiếm, xử lí thông tin cần nhấn mạnh vào các hoạt động tự học, tự nghiên cứu
- Các năng lực tư duy bậc cao như: năng lực giải quyết vấn đề, năng lực siêu nhận thức, năng lực tư duy phản biện, năng lực sáng tạo… cần được chú trọng phát triển
Trang 32- Cần đặc biệt nhấn mạnh việc vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống gắn liền với thực tiễn cuộc sống Bên cạnh đó cũng cần nhấn mạnh vào hoạt động tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm
- HS cảm thấy mình có sự thay đổi và biết cách sáng tạo/ thay đổi lại bản thân sau khi kết thúc bài học
Một trong những điểm mấu chốt của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ
CT định hướng nội dung dạy học sang CT định hướng năng lực Trong Nghị quyết Trung ương 29, hội nghị Trung ương 8 khóa XI thông qua, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu
tố cơ bản của giáo dục đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học” CT định hướng năng lực hay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra đã được bàn đến từ những năm 90 của thế kỉ XX
và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế
Với tư cách là môn học công cụ, môn Ngữ văn sẽ giúp phát triển ở HS những năng lực chung như: năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực hợp tác…Tuy nhiên, từ đặc trưng môn học, môn Ngữ văn hướng tới phát triển hai năng lực then chốt là năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực cảm thụ thẩm mĩ
Với mục đích là từ đặc điểm thi pháp thể loại hịch, đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu hịch cho HS lớp 8 – THCS, đồng thời qua đó phát triển một số năng lực chung cho HS chúng tôi xác định năng lực đọc hiểu hịch của HS như sau:
- Nhận diện được thể loại hịch và các đặc điểm của thể loại hịch
- Cắt nghĩa, chú giải được các từ Hán, điển tích, điển cố trong tác phẩm
- Phân tích được giá trị nội dung, nghệ thuật tác phẩm, chất chính luận - trữ tình đan xen, hòa quyện
- Phát hiện, so sánh được sự sáng tạo của tác giả trong tác phẩm so với
Trang 33- Những giá trị sống hiện tại của bản thân và xã hội được liên hệ, vận dụng phù hợp
Để làm được việc này, người GV phải nhận thức rõ một số vấn đề sau:
- Mục tiêu, nội dung, cách thức thực hiện (sử dụng SGK, thiết bị dạy học, học liệu phù hợp theo nội dung hoạt động với câu hỏi/lệnh rõ về mục đích, cách thức thực hiện như đọc, nhìn, nghe, nói, làm và yêu cầu về sản phẩm mà HS phải hoàn thành) và sản phẩm cụ thể để giao cho HS thực hiện trong, ngoài lớp học, ở trường, ở nhà Tăng cường giao cho HS tự nghiên cứu SGK và tài liệu tham khảo để tiếp nhận và vận dụng kiến thức; dành nhiều thời gian trên lớp để tổ chức cho HS báo cáo, thuyết trình, thảo luận, luyện
tập, bảo vệ kết quả tự học của mình
- Tăng cường đổi mới PPDH Ngữ văn thông qua công tác bồi dưỡng và
dự giờ thăm lớp; tổ chức rút kinh nghiệm giảng dạy ở các tổ chuyên môn, hội
thảo, chuyên đề
- Vận dụng hiệu quả các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực đọc - hiểu và tạo lập văn bản, hình thành và phát triển tư
duy theo đặc trưng môn học
- Các hình thức học tập cần được đa dạng hóa: Ngoài việc tổ chức cho
HS thực hiện các nhiệm vụ học tập ở lớp, coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn HS học tập ở nhà, ngoài trường…Đa dạng, phối hợp các hình thức dạy
học cá nhân và nhóm
- Thực hiện đổi mới kiểm tra đánh giá HS theo Thông tư số BGDĐT ngày 12/12/2011, Thông tư số 26/2020/TT-BGDĐT ngày 26/8/2020
58/2011/TT-của Bộ Không kiểm tra, đánh giá những nội dung, bài tập, câu hỏi vượt quá
mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng của CT GDPT hiện hành theo Công
văn số 3280/BGDĐT-GDTrH ngày 27/8/2020 của Bộ; Công văn số 2786/SGDĐT-GDPT ngày 03/9/2020 của Sở về việc hướng dẫn thực hiện
điều chỉnh nội dung dạy học cấp THCS
Trang 34- Trong suốt tiến trình dạy học cần chú trọng đánh giá kết quả học tập
theo mục tiêu bài học Mục tiêu quan trọng nhất trong dạy học Hịch tướng sĩ
không chỉ là HS có kĩ năng đọc hiểu hịch mà còn phải liên hệ, đánh giá, mà còn phải vận dụng kiến thức đã học được vào giải quyết những tình huống trong thực tiễn; HS phải đọc hiểu được các văn bản khác cùng thể loại và rộng hơn là đọc hiểu các thể loại khác trong CT Ngữ văn phổ thông cũng như trong suốt quá trình tự học, tự đọc sau này
1.1.5 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
1.1.5.1 Vị trí và giai đoạn phát triển tâm lí lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
Những em HS có độ tuổi từ 11 - 15 tuổi được xếp vào lứa tuổi HS THCS - những HS đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trưởng THCS
Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của trẻ em, còn được gọi là lứa tuổi thiếu niên
1.1.5.2 Những điều kiện của sự phát triển tâm lí lứa tuổi học sinh trung học
cơ sở
Các chức năng trí tuệ phát triển mạnh mẽ ở lứa tuổi thiếu niên, ở lứa tuổi này, não có sự phát triển mới Vỏ não được nối liền với các vùng thái dương, vùng đỉnh, vùng trán bới các tua nhánh phát triển rất nhanh, các nơron thần kinh được liên kết với nhau, hình thành các chức năng trí tuệ
Khi bước vào lứa tuổi này, vị thế của các em hơn hẳn vị thế của HS tiểu học HS THCS ít phụ thuộc vào GV hơn so với nhi đồng Các em học tập theo phân môn Mỗi GV đảm nhiệm một môn học khác nhau, không giống như bậc tiểu học trước đó, các em gắn bó với 1-2 GV dạy trong suốt quá trình học tập
Trang 35+ Về mức độ cần đạt:
- Bổ sung thêm kiến thức về văn nghị luận trung đại
- Thấy được chức năng, yêu cầu nội dung, hình thức của văn bản Hịch tướng
- Hoàn cảnh lịch sử liên quan đến sự ra đời của bài Hịch tướng sĩ
- Tinh thần yêu nước, ý chí quyết thắng kẻ thù xâm lược của quân dân thời Trần
- Đặc điểm văn chính luận Hịch tướng sĩ
(2) Kỹ năng:
- Đọc – hiểu một văn bản viết theo thể hịch
- Nhận biết được không khí thời đại sục sôi thời Trần ở thời điểm dân tộc ta chuẩn bị cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên xâm lược lần thứ hai
- Phân tích được nghệ thuật lập luận, cách dùng các điển tích, điển cổ trong văn bản nghị luận trung đại
Hịch, cáo, chiếu, tấu là những thể văn cổ, lần đầu các em học sinh lớp 8 được tiếp xúc Việc dạy học hịch nói riêng và các thể văn cổ này nói chung có
vị trí rất quan trọng trong việc tìm hiểu văn học trung đại nước nhà, giúp các
em thấy được cái hay, cái đẹp của những áng văn chương cổ cũng như hiểu
hơn về con người, xã hội nước ta lúc bấy giờ Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ,
Bình Ngô đại cáo (đoạn trích Nước Đại Việt ta), Bàn luận về phép học đều là
những tác phẩm hay, giàu giá trị, được tinh tuyển, chọn lựa để đưa vào CT giảng dạy Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng, các tác giả biên soạn sách
Trang 36giáo khoa chủ yếu nhằm mục đích đặt việc tìm hiểu Hịch tướng sĩ trong việc
tìm hiểu đặc điểm văn nghị luận (sự kết hợp yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận), đảm bảo yêu cầu tích hợp, phục vụ giảng dạy phần Tập làm văn nghị
luận, đặt Hịch tướng sĩ trong nhóm các văn bản nghị luận trung đại mà chưa
chú ý nhiều đến đặc trưng thể loại
Hệ thống câu hỏi đọc hiểu trong SGK Ngữ văn 8, tập 2 khi HS được định hướng tìm hiểu bài trước được đưa ra chủ yếu khai thác hệ thống lập luận của tác phẩm Cụ thể:
Câu hỏi 1 Bài hịch có thể chia làm mấy đoạn? Nêu nội dung chính của
từng đoạn Câu hỏi 2 Sự ngang ngược và tội ác của giặc được lột tả như thế nào? Câu hỏi 3 Phân tích lòng yêu nước, căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn
qua đoạn văn tác giả tự nói lên nỗi lòng mình Câu hỏi 4 Sau khi nêu mối ân tình giữa chủ soái và tướng sĩ, Trần Quốc
Tuấn phê phán những hành động sai trái của tướng sĩ, đồng thời khẳng định những hành động đúng nên làm là có dụng ý gì? Khi phê phán hay khẳng định, tác giả tập trung vào vấn đề gì? Tại sao phải như vậy?
Câu hỏi 5 Giọng văn là lời vị chủ soái nói với tướng sĩ dưới quyền hay
là lời người cùng cảnh ngộ? Là lời khuyên răn bày tỏ thiệt hơn hay là lời nghiêm khắc cảnh cáo? Cách viết của tác giả có tác động tới tướng sĩ như thế nào?
Câu hỏi 6 Hãy nêu một số đặc sắc nghệ thuật đã tạo nên sức thuyết phục
người đọc bằng cả nhận thức và tình cảm ở bài Hịch tướng sĩ
Câu hỏi 7 Khích lệ nhiều mặt để tập trung vào một hướng, đó là cách
triển khai lập luận của bài Hịch tướng sĩ Hãy làm sáng tỏ điều
này bằng một lược đồ về kết cấu của bài hịch
Trang 37Những hướng dẫn trong sách GV đều chỉ tập trung giải quyết các câu hỏi trong SGK Chúng tôi nhận thấy hệ thống câu hỏi đọc hiểu trong SGK và những hướng dẫn trong sách GV đều thể hiện rằng các tác giả biên soạn sách chủ yếu đi sâu khai thác trình tự lập luận của văn bản, do xác định tác phẩm thuộc thể loại văn nghị luận trung đại, coi đây là văn bản nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm
Mặc dù chưa có SGK Ngữ văn theo CT - 2018, nhưng Hịch tướng sĩ là
văn bản (ngữ liệu) bắt buộc giảng dạy, do đó, cần có một sự nhìn nhận thấu đáo về giá trị tác phẩm, cách tiếp cận tác phẩm theo đặc trưng thể loại
1.2.2 Kết quả dạy học Hịch tướng sĩ theo đặc trưng thể loại ở trường trung học cơ sở
1.2.2.1 Mục đích khảo sát
- Tìm hiểu thực tế dạy học ở một trường THCS trên địa bàn thành phố
Hà Nội nhằm phát hiện ra những thuận lợi, khó khăn, những ưu, khuyết điểm
của GV và HS trong quá trình giảng dạy và học tập Hịch tướng sĩ ở trường
THCS hiện nay
- Tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó để đề xuất một số biện pháp khắc phục
1.2.2.2 Thời gian và đối tượng khảo sát
Để tìm hiểu thực tiễn việc dạy và học Hịch tướng sĩ cho HS lớp 8 ở
trường THCS hiện nay, chúng tôi tiến hành khảo sát 100 HS lớp 8 trường THCS Ái Mộ, quận Long Biên, thành phố Hà Nội để thu thập các thông tin về
sở thích, kiến thức, kĩ năng cơ bản của các em HS khi học Hịch tướng sĩ
Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát ý kiến, giáo án của một số GV đang trực tiếp giảng dạy Ngữ văn 8 (những GV phụ trách lớp có HS được chọn
khảo sát ở trên) để nắm bắt rõ hơn về quá trình dạy học Hịch tướng sĩ ở
trường THCS hiện nay
Trang 38Thời gian chúng tôi tiến hành thực hiện cuộc khảo sát thực trạng dạy và
học Hịch tướng sĩ ở trường THCS là trong năm học 2019 – 2020
1.2.2.3 Nội dung khảo sát
- Những thuận lợi và khó khăn của GV khi giảng dạy Hịch tướng sĩ
- Những phương pháp, biện pháp giảng dạy của GV
- Những thuận lợi và khó khăn của HS khi học Hịch tướng sĩ
- Tâm lí, thái độ của HS khi học Hịch tướng sĩ
- Năng lực cảm thụ, phân tích, bình giá tác phẩm Hịch tướng sĩ của HS
(Mẫu phiếu khảo sát ở phần phụ lục 1, 2, 3)
1.2.2.4 Phương pháp khảo sát
- Nghiên cứu các sách, tài liệu tham khảo và đặc biệt là nghiên cứu SGK
- Trao đổi với GV và nghiên cứu giáo án đứng lớp
- Tổng hợp và đánh giá kết quả khảo sát dựa trên việc lấy phiếu điều tra các nội dung đề xuất trong luận văn
- Nghiên cứu bài làm của HS
e) Kết quả khảo sát
Bảng 1.1 Những thuận lợi và khó khăn trong việc giảng dạy
Hịch tướng sĩ ở trường THCS
Nội dung khảo sát Thuận lợi Khó khăn Tổng số phiếu
Trang 39Bảng 1.2 Những thuận lợi và khó khăn trong việc học Hịch tướng sĩ
của HS ở trường trung học cơ sở
Nội dung khảo sát Thuận lợi Khó khăn Tổng số phiếu
Bảng 1.3 Cảm nhận của em về hình ảnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc
Tuấn trong văn bản Hịch tướng sĩ
Bài hay Bài đủ ý Bài sơ sài Bài lạc đề Không
làm bài
Tổng số phiếu
Sau quá trình điều tra khảo sát, thu thập, xử lí thông tin, chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau:
* Ưu điểm:
- Nhìn chung, đội ngũ GV của trường có trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ vững vàng, đảm bảo đạt chuẩn và trên chuẩn so với yêu cầu, qui định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo Các thầy cô đều là những người tâm huyết, nhiệt tình, yêu nghề, trách nhiệm GV đều ý thức được vị trí, vai trò của tác phẩm
Hịch tướng sĩ, đồng thời hiểu được những khó khăn, vướng mắc của HS khi
học tác phẩm Hịch tướng sĩ Các GV của nhà trường đều được bồi dưỡng
chuyên môn hàng năm, một số khác luôn không ngừng tìm tòi, đổi mới PPDH, ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy nhằm tăng cường sự hứng thú cho HS trong giờ học
Trang 40- Hàng tháng, tổ chuyên môn của trường tổ chức các tiết chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn nên GV có nhiều cơ hội tìm hiểu, chia sẻ, học hỏi, rút kinh nghiệm nhiều hơn cho giờ dạy của mình
- Hệ thống sách tham khảo trên thị trường khá phong phú giúp GV, HS
có những định hướng cụ thể cho bài dạy và học văn bản Hịch tướng sĩ
- HS được điều tra, khảo sát là những HS lớp 8 của trường THCS Ái
Mộ - một ngôi trường có bề dày thành tích, giàu truyền thống, một địa chỉ giáo dục uy tín của phụ huynh, học sinh gần xa nên các em có ý thức học tập tương đối tốt Nhiều em HS dành thời gian để đọc thêm các sách tham khảo phục vụ cho việc học, soạn bài đầy đủ trước khi đến lớp đã trở thành công việc tự giác, thường xuyên
- Phần lớn HS được hỏi đều nắm được tên tác giả, nội dung cơ bản của
văn bản Hịch tướng sĩ Nhiều em đã thuộc được những đoạn văn biền ngẫu
trong văn bản ngay sau khi học, các em cũng hiểu được tầm quan trọng của hoàn cảnh sáng tác đối với tác phẩm, sự liên quan mật thiết của tác giả với hoàn cảnh xã hội đương thời Nhiều em có khả năng viết, khả năng cảm thụ tốt đối với nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Em Phạm Diệp Anh, lớp 8H, trường THCS Ái Mộ đã có những cảm nhận khá sâu sắc, chững chạc về hình tượng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: “Trước nạn xâm lược ào ạt của 50
vạn quân Nguyên lần thứ 2, Trần Quốc Tuấn đã viết bài Hịch tướng sĩ để
khích lệ lòng yêu nước, mài sắc ý chí chiến đấu và phê phán tư tưởng cầu an, bàng quan của một bộ phận các tướng sĩ Tác phẩm là một thiên cổ hùng văn
và sáng chói hình tượng Trần Quốc Tuấn với lòng căm thù cao độ, lòng yêu nước sâu sắc và tự đặt trách nhiệm cho mình trước họa xâm lược Vì vậy, người dũng tướng Trần Quốc Tuấn không thể nhắm mắt trước những hành vi ngang ngược của sứ giả nhà Nguyên Ông cũng không thể không tức giận bọn giặc “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể