Có thể nói, trong đau khổ tột cùng Kiều vẫn sáng lên vẻ đẹp của một nhân cách cao thượng: ân cần, chu đáo với Kim Trọng mà vẫn tự trách, nàng quên đi bất hạnh của mình để cảm thông c[r]
Trang 1GIÁO ÁN THỰC TẬP GIẢNG DẠY
(Khóa 34, hệ đại học chính quy, Trường Đại học Quy Nhơn)
SỞ GD&ĐT TỈNH KHÁNH HÒA TRƯỜNG THPT HOÀNG HOA THÁM
Họ và tên GV hướng dẫn: Tào Quý Hợi Tổ chuyên môn: Ngữ Văn
Họ tên sinh viên: Danh Thị Thịnh Môn dạy: Ngữ Văn
Sinh viên của Trường Đại học Quy Nhơn Năm học: 2014-2015
Ngày soạn: 29/3/2015 Thứ/ngày lên lớp: 2/4/2015
BÀI DẠY:
TRAO DUYÊN (Trích “Truyện Kiều”) - Nguyễn
Du-I MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Kiến thức: Giúp học sinh:
- Hiểu dược tình yêu sâu nặng và bi kịch của Kiều qua đoạn trích Đối với Kiều hiếu và tình thống nhất chăt chẽ
- Nắm được nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật qua đoạn trích
2 Kĩ năng: Có kĩ năng cảm nhận một đoạn trích văn học
3 Thái độ: Hiểu sự thống nhất của 2 mặt tình cảm : tình và nghĩa như là một điểm
quan trọng của quan niệm truyền thống về tình yêu
4 Phát triển năng lực HS: Phát triển năng lực nhận biết, thông hiểu, vận dụng, kĩ
năng viết, thực hành
II TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 Ổn định lớp :
2 Kiểm tra bài cũ :- Hãy trình bày đôi nét về nội dung và nghệ thuật trong các tác
phẩm của Nguyến Du?
- “Truyện Kiều” có nguồn gốc từ đâu? Em hãy kể tóm tắt văn bản này?
3 Bài mới: Toàn bộ “Truyện Kiều” là một bi kịch Đoạn trích này là 1 bi kịch nhỏ
trong bi kịch lớn ấy Quyết định bán mình cứu cha trong đêm cuối cùng trước khi theo MGS, TK vẫn canh cánh bên lòng món nợ tình với KT Thúy Vân thức giấc, ghé đến ân cần hỏi han, K nảy ra ý định trao duyên, trao lại mối tình đầu dang dở cho em mình để trả nghĩa cho chàng Kim Đoạn thơ “Trao duyên” tái hiện lại câu chuyện đặc biệt ấy
Trang 2TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT
ĐỘNG
NỘI DUNG CẦN ĐẠT
Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu
chung
- Trình bày vị trí đoạn trích
Từ câu 723-756/3254 câu thơ lục bát
- Tìm hiểu bố cục của đoạn trích
?: Nhan đề có gì đặc biệt? Vì sao TK phải
“Trao duyên”
(tiêu đề do người soạn tự đặt)
Đoạn trích miêu tả tình cảnh trớ trêu của
Kiều khi phải trao duyên cho em Đồng thời
làm rõ diễn biến tâm trạng đau khổ tuyệt vọng
của nàng khi tình yêu tan vỡ, mình buộc phải
phụ tình với Kim Trọng
Hoạt động 2 : Đọc hiểu đoạn trích
- Tìm hiểu TK nhờ TV thay mình trả nghĩa cho
KT
? Em hãy tìm hiểu từ ngữ trong 2 câu thơ “Cậy
em…sẽ thưa” Em có nhận xét gì? nếu thay vào
đó bằng những từ ngữ tương đương có đựơc
không? Vì sao?
- Không phải “nhờ” mà là “cậy”,chị nhờ em
giúp chị với tất cả lòng tin Nhờ em nhưng cũng
là gửi gắm vào em Bao nhiêu tin tưởng, bao
nhiêu thiêng liêng Kiều đặt cả vào từ “cậy” ấy!
Thật vậy, từ “cậy”( thanh trắc) làm thanh điệu
lời thơ trở nên trúc trắc, như góp phần diễn tả
được cái quằn quại, khó nói của nàng Kiều và
cả hy vọng tha thiết của một lời gửi gắm, nương
tựa, trối trăng
- “Chịu”: Nhận lời trong tâm thế bị ràng
buộc, người được nhờ sẽ phải chịu thiệt thòi,
đòi hỏi phải có sự chia sẻ, thấu hiểu, cảm
thông đối với người nhờ mình Cách dùng từ
cho thấy Kiều rất hiểu sự khó xử của Vân
->khéo léo ràng buộc
“Nhận”: Mang sắc thái thỏa mãn, người
I Tìm hiểu chung.
1.Vị trí đoạn trích : từ câu 723
đến câu 756
2 Bố cục
- 18 câu đầu : Thúy Kiều nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho KT
- Còn lại : Tâm trạng của Kiều sau khi trao duyên
II Đọc hiểu đoạn trích
1 Thúy Kiều nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.
Từ ngữ:
- “Cậy”: Nhờ vả với sự tin
tưởng
- “Chịu”: Nhận với nghĩa nài
ép, bắt buộc, không nhận không
được (Nhận->Tự nguyện).
Trang 3nghe có thể nhận lời hoặc không Nhưng trong
trường hợp này Kiều mong muốn em mình
chấp nhận lời đề nghị của mình
Kiều mở đầu lời trao duyên không chỉ bằng
lời tha thiết gửi gắm, có sức ràng buộc mà còn
bằng cả một thái độ khẩn khoản, chân thành
Kiều “lạy” là lạy đức hi sing của TV, bởi vì sau
này TV phải “lấy người yêu chị làm chồng”,
tình yêu đó có thể hộp với TK nhưng chắc gì hợp
với TV, nó còn có thể khiến TV xấu hổ, thậm chí
là cảm thấy bị xúc phạm Hiểu được điều đó nên
Kiều phải khẩn khoản, van nài.
+Kiều phải dứt bỏ tình yêu vì lí do gì? khi con
người ở hạnh phúc tột đỉnh lại rơi vào đường
cùng sẽ có tâm trạng gì?
Kiều không nói dài dòng về chuyện tình
giữa hai người mà nhấn mạnh đến sự bất hạnh
tan vỡ.
Theo quan niệm của người xưa, "Tình" và
"Nghĩa" thường đi liền với nhau, Thúy Kiều trao
duyên cho em cũng có nghĩa là nhờ cậy em
thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.
Trong lời tâm sự, Kiều có nói “Hiếu tình
khôn lẽ hai bề vẹn hai” nhưng thật ra mâu thuẫn
trong lòng Kiều lúc này không phải là mâu
thuẫn giữa hiếu và tình (Kiều đã từng cân: “Bên
tình bên hiếu bên nào nặng hơn” và Kiều đã
chọn chữ hiếu, đành phụ chữ tình với chàng
Kim) Giờ đây, khi đang đứng trước một mối
tình không trọn vẹn, Kiều rơi vào mâu thuẫn
giữa hạnh phúc đã có trong quá khứ và sự đau
khổ trong hiện tại
Hiện tại đổ vỡ, chia lìa: Nỗi đau khổ của
Kiều vì tình yêu dang dở được thể hiện qua câu
thơ mang sắc thái thành ngữ “Giữa đường đứt
- Thái độ: “Lạy_ Thưa” Thái
độ kính cẩn với người bề trên hoặc với người mình hàm ơn
Lời xưng hô của Kiều vừa như trông cậy vừa như nài
ép, phù hợp để nói vấn đề tế nhị: “Tình chị duyên em” -> Đoan trang, thùy mị của Kiều
- Kiều giải bày với em về mối tình với Kim Trọng:
+Hình ảnh :
"Quạt ước", "Chén thề".
Điệp từ "Khi"
->Diễn tả tình yêu thắm thiết, sâu sắc
+"Đứt gánh tương tư", "Sóng gió bất kì": Mong manh, tan vỡ
đột ngột, bất ngờ
- Kiều xin em hãy chấp nhận thay mình để trả nghĩa cho chàng Kim
+ “Mối tơ thừa”: Cách nói nhún
mình vì nàng hiểu sự thiệt thòi của em
+ “Mặc em”: Phó mặc, ủy thác;
vừa có ý mong muốn vừa có ý
ép buộc Thúy Vân phải nhận lời
Giải bày tâm sự, hoàn cảnh để Thúy Vân thấu cảm
Trang 4gánh tương tư” Hình ảnh “đứt gánh tương tư”
nói lên sự bất lực, tuyệt vọng của Kiều khi tình
yêu đột ngột tan vỡ bởi “sóng gió bất kì”
Quá khứ hạnh phúc: Điệp từ “khi” cộng với
từ chỉ thời gian không hạn định “ngày, đêm” và
hình ảnh ước lệ “quạt ước, chén thề” cho thấy
Kiều vừa kể với Vân về mối tình giữa mình với
chàng Kim, vừa hồi tưởng, vừa sống lại với
những kỉ niệm êm đềm, những tháng ngày hạnh
phúc, mối tình đẹp, sâu đậm, thiêng liêng
Mối tình giữa Kiều với chàng Kim không
chỉ là một mối tình đẹp mà còn là một mối
tình sâu đậm, thiêng liêng vì mối tình ấy có lời
thề son sắc, có chén rượu giao bôi, có vật làm
tin và có vầng trăng làm chứng
?: khi trao duyên cho em, TK đã ràng bụôc
TV bằng những lí do gì? đưa ra lí do đó buộc
TV phải làm gì?
+ “Ngày xuân em hãy còn dài”: nói đến
tuổi trẻ của Vân
+ Lay động ở em tình máu mủ ruột
thịt (chỉ có tình chị em thiêng liêng sâu nặng
mới có thể khiến em vì chị mà gánh lấy trách
nhiệm nặng nề)
+ Vừa là tiếng trao lời khẩn thiết đến tan nát
cõi lòng đồng thời vừa là sự đồng cảm sâu sắc
của Kiều đối với Vân Kiều viện cả cái chết để
nói lên sự toại nguyện và biết ơn của mình nếu
được Vân nhận lời, Kiều vừa khẩn cầu, vừa
cảm kích trước đức hi sinh của Vân
?: Ở điểm này theo em, con người nào trong
Thúy Kiều đã chiến thắng?( lý trí)
-> Kiều đã thuyết phục em bằng ngôn ngữ
của lí trí, bằng cả “lí, sự, tình” Lời lẽ của nàng
điềm tĩnh, rạch ròi song dường như có sự kìm
nén tình cảm và nỗi đau
- Kiều trao duyên cho em:
+ “Ngày xuân em hãy còn dài”:
Nói đến tuổi trẻ của Vân
+ “Xót tình máu mủ, thay lời nước non”: Vì tình chị em mà
đáp nghĩa chàng Kim
+Thành ngữ "Thịt nát xương mòn", "Ngậm cười chín suối”:
Nếu phải chết, Kiều cũng yên lòng
Trầm tĩnh, khôn ngoan ,
tự kiềm chế nỗi đau nói lời tâm
sự, đủ tỉnh táo để thuyết phục
Trang 5?: Trao duyên cho e, Kiều còn trao cả những gì
?
- Hình ảnh:
+ “Chiếc vành”: (vòng, xuyến đeo tay) kỉ
vật đầu tiên của Kim Trọng tặng cho kiều
+ “Bức tờ mây”: tờ giấy có trang trí hình
mây ghi lời thề nguyền của hai người
-> “chiếc vành, bức tờ mây”: gợi tình cảm
sâu nặng, lời thề ước thiêng liêng của
Kim-Kiều
+ “Đàn và hương” : những vật mà Kim
-Kiều có chung kỉ niệm (đốt hương và gảy đàn
bên nhau)
-> Những vật mà Kim - Kiều có chung kỉ
niệm
?: Khi trao kỉ vật TK ở trong tâm trạng gì? tại
sao duyên (giữ) – vật (của chung)? Lúc này
tâm lý của Kiều ntn? Ngôn ngữ ở đây là ngôn
ngữ gì?
– Kiều đã không thể kìm nén tình cảm, cảm
xúc của mình nên đã thốt lên tiếng nói chân
thành của trái tim: “Duyên này thì giữ vật này
của chung.”
Qua đó ta thấy với Thúy Kiều, lời có thể
trao, nhưng khi nhìn thấy kỉ vật – vật
chứng tình yêu, Kiều không thể và không nỡ
trao đi Nhìn thấy kỉ vật như nhìn
thấy người, tình yêu, kỉ niệm, … như hiện hữu
Vì vậy, Kiều đã dùng dằng khi trao kỉ vật Để
Kiều thốt lên hai tiếng “của chung”
Nguyễn Du đã để lí lẽ của con tim nàng lên
tiếng Kiều có thể trao cho em trọn vẹn chữ
“duyên”, còn bao nhiêu tình cảm trong đó Kiều
không thể trao đi Nhịp thơ 4/2/2 diễn tả sự lưu
luyến, ngập ngừng và từ "của chung" nhấn
mạnh nỗi xót xa của một trái tim sâu đậm đang
nhói đau, quặn thắt
- Trao kỉ vật tình yêu:
+ “Chiếc vành”, “Bức tờ mây”:
Gợi tình cảm sâu nặng, lời thề ước thiêng liêng của Kim -Kiều
+ “Của chung”: Trao duyên
nhưng không muốn trao tình cảm -> Sự tiếc nuối, đau đớn
+ “Phím đàn”, “Mảnh hương nguyền”: Trở thành ngày xưa,
quá khứ
Sự mâu thuẫn giữa lí trí
và tình cảm, lí trí muốn trao nhưng trong lòng không muốn
Trang 6Đây cũng có thể hiểu là mâu thuẫn giữa lí
trí và tình cảm Về lí trí, Kiều muốn Kim Trọng
hạnh phúc nên trao nghĩa cho Thuý Vân ;
nhưng về tình, tình yêu của Kim - Kiều quá sâu
nặng nên Kiều không thể trao đi, dù là trao cho
em mình Tình yêu sâu nặng mà vẫn phải "trao
duyên" chứng tỏ rằng Kiều là người trọng tình
yêu và vì tình yêu, Kiều đặt hạnh phúc của
người yêu lên trên hết Đó là biểu hiện của một
tình yêu đích thực, của tấm lòng vị tha, hi sinh
cao cả
?: Tgiả miêu tả tâm trạng của Thúy Kiều dựa
vào phép miêu tả gì?
(Phép biện chứng tâm hồn theo thời gian)
-Phân tích diễn biến tâm trạng TK sau khi trao
duyên
-Chơi vơi trước viễn cảnh tương lai, Kiều
như nửa tỉnh, nửa mê; nửa như đang sống, nửa
như người đã chết Nói với em mà lời Kiều như
phảng phất từ cõi bên kia đang vọng về Hình
ảnh thơ chập chờn, ma mị, mang không khí liêu
trai (ngọn cỏ, lá cây, gió hiu hiu, hồn, dạ đài,
hương khói, …) thể hiện sự cảm nhận của Kiều
về số phận bi thảm của mình, qua đó cho thấy
nỗi đau đớn trong lòng Kiều đang dâng cao tột
độ
- Hướng đến tương lai đã không cho Kiều
một sự giải thoát, quay về thực tại Kiều càng
đau đớn bội phần Tiếng nói thành tiếng than
khóc, nói với em mà như nói với chính mình,
rồi quên hẳn xung quanh chỉ còn hướng đến
người yêu đang vắng mặt:
– “Bây giờ” của Kiều là “trâm gãy gương
tan”, “tơ duyên ngắn ngủi”, là “phận bạc như
vôi”, là “nước chảy hoa trôi” Hình ảnh ước lệ
“trâm gãy gương tan” và một loạt những thành
ngữ, từ ngữ dân gian cho thấy sự ý thức sâu sắc
về bi kịch hiện tại của Thuý Kiều Thực tại đó
hoàn toàn đối lập với quá khứ hạnh phúc, đẹp
2 Tâm trạng của Kiều sau khi trao duyên
- Hàng loạt những từ nói về cái
chết: “Hồn, nát thân bồ liễu, dạ đài, thác oan”: Nỗi đau đớn
tuyệt vọng và dự cảm tương lai bất hạnh của Kiều Nàng coi như mình đã chết, đó là cái chết của tâm hồn
- Kiều chuyển sang nói với mình, nói với người yêu:
+ Ý thức về hiện tại:
“Bây giờ”:
“Trâm gãy gương tan”.
“Phận bạc như vôi”.
“Nước chảy, hoa trôi”.
Những thành ngữ chỉ sự tan vỡ,
Trang 7đẽ không sao kể xiết mà nàng đã có "muôn vàn
ái ân" Quá khứ giờ đây đã trở thành niềm khát
khao mãnh liệt của Kiều Bi kịch vì vậy càng
sâu sắc
- Ý nghĩa tiếng kêu và sự ngất đi của TK ở
cuối đoạn trích?
?: Theo em, chữ “Phụ” ở cuối đoạn trích có ý
nghĩa ntn?
Hs thảo luận, trả lời
Thúy Kiều từ chỗ nhận mình là người mệnh
bạc, giờ lại tự nhận là người phụ bạc chàng
Kim Vì vậy, đang độc thoại, nàng quay sang
đối thoại tưởng tượng với Kim Trọng, gọi tên
chàng trong đớn đau đến mê sảng Cái lạy ở đây
khác với cái lạy ở phần đầu Kiều nhận tất cả
lỗi về mình nhưng nào nàng có lỗi gì đâu!
Những dòng tiếp đoạn trích này, chúng ta còn
thấy nàng đau đớn , tuyệt vọng đến ngất đi:
“Cạn lời hồn ngất máu say/ Một hơi lặng ngắt,
đôi tay giá đồng”
- Tìm hiểu đặc sắc về nghệ thuật
- Thể loại : Truyện thơ
- Từ ngữ chọn lọc, giàu tính trữ tình, đậm
chất bi kịch
- Miêu tả nội tâm sâu sắc, tinh tế
- Ngôn ngữ trau chuốt, biến hoá linh hoạt
- Nghệ thuật kết hợp các thành ngữ dân
gian và các điển cố ,điển tích,các thán từ
- Nghệ thuật so sánh
Đoạn trích kết lại bằng tiếng kêu xé lòng
trong tột cùng đau đớn của Thúy Kiều khi nàng
dở dang, bạc bẽo của tình duyên
và số phận con người, thể hiện nỗi đau đớn, tuyệt vọng của Kiều
+ Hành động:
Nhận mình là "người phụ bạc"
“Lạy”: cái lạy tạ lỗi, vĩnh
biệt
Gọi Kim Trọng là Kim Lang: Xem như chồng
Hai lần gọi tên Kim Trọng: Tức tưởi, nghẹn ngào, đau đớn đến mê sảng
+ Nhịp 3/3, 2/4/2
+ Thán từ “Ôi, hỡi”
-> Tiếng nấc nghẹn ngào, lời than trách chính mình
Kiều quên đi nỗi đau của mình mà nghĩ nhiều đến người khác, đó chính là đức hy sinh cao quý Thúy Kiều tự cho mình là kẻ phụ bạc -> Sự giằng
xé đau đớn không có lối thoát
Bi kịch về tình yêu tan vỡ
3 Nghệ thuật
- Miêu tả tinh tế diễn biến tâm trạng nhân vật
- Ngôn ngữ độc thoại nội tâm sinh động
III Ý nghĩa đoạn trích
Đoạn trích miêu tả vẻ đẹp nhân cách Thúy Kiều thể hiện
Trang 8ý thức sâu sắc bi kịch tình yêu tan vỡ của mình.
Kiều thương mình thì ít, thương cho chàng Kim
thì nhiều Nàng đã nhận hết mọi trách nhiệm
của sự tan vỡ tình duyên về mình Có thể nói,
trong đau khổ tột cùng Kiều vẫn sáng lên vẻ
đẹp của một nhân cách cao thượng: ân cần, chu
đáo với Kim Trọng mà vẫn tự trách, nàng quên
đi bất hạnh của mình để cảm thông cho người
khác Đây là giây phút độc thoại thật nhất, nhân
bản nhất
Hoạt động 3 : hướng dẫn học sinh tổng kết
Gọi 3 học sinh đọc ghi nhớ
qua nỗi đau đớn khi duyên tình tan vỡ và sự hi sinh đến quên mình vì hạnh phúc của người thân
4.Củng cố :
- Diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều khi trao duyên
- Hãy đặt 1 cái tên khác tên “Trao duyên”? (Thúy Kiều dặn dò Thúy Vân; Tâm sự Kiều + Vân; câu chuyện trong đêm; nợ tình trả nửa)
- Cái thần của đoạn thơ nằm ở chỗ nào? (Trao duyên mà chẳng trao được tình : đau khổ vô tận ! cao đẹp vô ngần ! )
5 Dặn dò :
- Học thuộc lòng đoạn trích
- Tiết sau học đọc văn soạn bài : “Nỗi thương mình”
+ Nỗi cô đơn, đau khổ đến tột đỉnh của Kiều + Cảnh sống xô bồ ở lầu xanh với những trận cười, cuộc say,… diễn
ra triền miên
+ Tâm trạng, nỗi niềm của Kiều
6 Rút kinh nghiệm
7 Nhận xét của giáo viên hướng dẫn