1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động giám sát của đại biểu quốc hội việt nam hiện nay

178 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 654,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐBQH là người đại diện cho ý chí và nguyện vọngcủa nhân dân, thay mặt cho nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước trong Quốc hội.Cùng với việc tham gia thảo luận và quyết định các vấn đề v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi.Các kết quả số liệu khảo sát nêu trong lu ận án này là trung th ực, khách quan và chưatừng được công b ố ở bất cứ một công trình nghiên cứu khoa học nào Nếu có gì saisót, tôi xin ch ịu hoàn toàn trách nhi ệm.

Nghệ An, ngày tháng 03 năm 2021

Tác giả

Thái Ngọc Châu

Trang 4

Với tình cảm chân thành và lòng kính tr ọng, tác giả luận án xin trân tr ọng cảm

ơn tập thể lãnh đạo và quý th ầy cô T rường Đại học Vinh, Viện Khoa học Xã hội vàNhân văn, Phòng Đào tạo Sau đại học Đặc biệt, xin cảm ơn PGS.TS Đinh Thế Định

và PGS.TS Đinh Trung Thành đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả hoàn thànhluận án

Tác giả cũng chân thành cảm ơn sự quan tâm tạo điều kiện của Uỷ ban Thường

vụ Quốc hội, gia đình, cùng sự động viên, giúp đỡ có hi ệu quả của bạn bè và các đồngnghiệp trong suốt quá trình học tập và viết luận án

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Thái Ngọc Châu

Trang 5

STT Chữ cái vi ết tắt Chữ viết

Trang 6

Sơ đồ 2.1: Quy trình chất vấn của ĐBQH tại phiên họp toàn thể 49

Sơ đồ 2.2: Quy trình chất vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội 50

Sơ đồ 2.4: Quy trình giám sát văn bản quy phạm pháp luật 52

Sơ đồ 2.5: Quy trình giám sát việc thi hành pháp lu ật 53

Sơ đồ 2.6: Quy trình giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của 54

công dân

Sơ đồ 3.1: Cơ cấu Quốc hội nước Cộng hòa xã h ội chủ nghĩa Việt Nam 80

Biểu 3.1: Mức độ thường xuyên sử dụng hình thức chất vấn 90Biểu 3.2: Phân lo ại ngành ngh ề ĐBQH kiêm nhiệm thực hiện quyền chất 91

vấn

Biểu 3.3: Chỉ số tín nhiệm của Bộ trưởng Bộ Công thương và Bộ trưởng Bộ 93

Nội vụ trong nhiệm kỳ khóa XIII

Trang 7

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LU ẬN VÀ KINH NGHI ỆM THỰC 27

TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT C ỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VIỆT NAM

2.1 Khái niệm và vai trò hoạt động giám sát c ủa đại biểu Quốc hội 272.2 Nội dung, quy trình và điều kiện bảo đảm hoạt động giám sát c ủa 40đại biểu Quốc hội

2.3 Hoạt động giám sát c ủa nghị sĩ một số nước trên thế giới và kinh 67nghiệm cho Việt Nam

Chương 3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT C ỦA ĐẠI BIỂU 79

QUỐC HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1 Khái quát v ề cơ cấu tổ chức của Quốc hội và đại biểu Quốc hội 79Việt Nam hiện nay

3.2 Kết quả đạt được và hạn chế trong hoạt động giám sát c ủa đại biểu 85Quốc hội Việt Nam hiện nay

3.3 Những vấn đề đặt ra trong hoạt động giám sát c ủa đại biểu Quốc 110

hội hiện nay

Trang 8

Việt Nam4.2 Giải pháp tăng cường hoạt động giám sát c ủa đại biểu Quốc hội 128Việt Nam

GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trang 9

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Điều 69, Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã h ội chủ nghĩa Việt Namkhẳng định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lựcnhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thực hiệnquyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước vàgiám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” Quốc hội có ba chức năng cơ bảnlà: chức năng lập hiến, lập pháp, chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đấtnước và chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước Trong đó, chứcnăng giám sát đóng vai trò quan trọng nhằm đảm bảo cho Hiến pháp và pháp lu ậtđược thực thi nghiêm minh; đảm bảo cho các cơ quan nhà nước thực hiện đúng và cóhiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn của mình Thực tiễn 75 năm hoạt động của Quốc hộicho thấy, việc thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát là vấn đề có ý nghĩa to lớn,góp phần quan trọng nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan trong hệthống bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, hạn chế những biểu hiện “thahóa” quyền lực, tham nhũng, quan liêu

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) là những công dân tiêu biểu trong các lĩnh vực hoạtđộng của nhà nước và xã hội được nhân dân tín nhiệm trực tiếp bầu ra thông qua tổngtuyển cử tự do - hình thức bầu cử được đánh giá có tính phổ biến, hiện đại và dân chủnhất trong các hình thức bầu cử ĐBQH là người đại diện cho ý chí và nguyện vọngcủa nhân dân, thay mặt cho nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước trong Quốc hội.Cùng với việc tham gia thảo luận và quyết định các vấn đề về lập hiến, lập pháp, quyếtđịnh các chính sách quan trọng phát triển kinh tế, xã hội, ĐBQH thay mặt nhân dânthực hiện giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước Hoạt động giám sát (HĐGS)của ĐBQH có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ thực hiện vai trò là người đại diệncho nhân dân mà còn góp phần kiểm soát quyền lực của nhà nước, kiểm soát quản lýcông và bổ sung cho lập pháp Từ đó đảm bảo cho các cơ quan nhà nước thực thi chứcnăng và nhiệm vụ của mình theo khuôn khổ của pháp luật

Trang 10

Sau 35 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới (1986 - 2021), đặc biệt là từ khi Luật hoạt động giám sát c ủa Quốc hội năm 2003, tiếp đến Luật hoạt động giám sát c ủa Quốc hội và H ội đồng nhân dân năm 2015 có hi ệu lực, HĐGS của Quốc hội, của

ĐBQH đã có s ự đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động, có nhi ều chuyểnbiến tích cực, tập trung vào những vấn đề mà cử tri và dư luận xã hội quan tâm Nhờ

đó góp phần ổn định chính trị, thúc đẩy kinh tế, xã hội ngày càng phát tri ển Tuynhiên, bên c ạnh những kết quả đạt được, thực tiễn HĐGS của ĐBQH thời gian quavẫn còn m ột số hạn chế cần được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết triệt để Việc thựchiện HĐGS của từng đại biểu chưa được thực hiện nhiều do còn thi ếu những quy định

cụ thể và cơ chế hỗ trợ về mặt chuyên môn, do năng lực cũng như kinh nghiệm giámsát của ĐBQH, nhất là ĐBQH kiêm nhiệm chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu ngàycàng cao của hoạt động này Hoạt động giám sát chưa đi sâu, phát hiện và đề xuất giảiquyết kịp thời những vấn đề nảy sinh của xã hội Điều kiện về thời gian, vật chất,thông tin cho ho ạt động giám sát chưa đảm bảo

Trong giai đoạn hiện nay, với tốc độ phát triển nhanh chóng c ủa cuộc cáchmạng công nghi ệp 4.0, quá trình toàn cầu hóa, khu v ực hóa và h ội nhập quốc tế ngàycàng sâu r ộng đã tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn,thách thức cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Bối cảnh mới của thếgiới và đất nước đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốchội nhằm đảm bảo cho Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân,thực hiện tốt các chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng và giám sát tốicao Theo đó, cần chú tr ọng tăng cường hoạt động của ĐBQH, nhất là HĐGS nhằmđáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, góp ph ần củng cố,tăng cường niềm tin của cử tri, nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Việc nghiên cứu

cơ sở lý lu ận, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp tăng cường HĐGS củaĐBQH góp ph ần vào việc đổi mới và nâng cao hi ệu quả HĐGS của Quốc hội nóichung và ĐBQH nói riêng

Trang 11

Với những lý do trên , nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Hoạt động giám sát c ủa

đại biểu Quốc hội Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án Tiến sĩ chuyên ngành Chính

trị học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu, phân tích, làm rõ những vấn đề lý lu

ận, thực trạng HĐGS của ĐBQH, luận án đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cườngHĐGS của ĐBQH Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất: Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên

quan đến hoạt động giám sát của ĐBQH, rút ra những vấn đề tiếp tục nghiên cứu

Thứ hai: Làm rõ cơ sở lý lu ận và kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động giám sát

của ĐBQH Việt Nam

Thứ ba: Đánh giá thực trạng hoạt động giám sát c ủa ĐBQH Việt Nam.

Thứ tư: Đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường hoạt động giám sát c ủa

ĐBQH Việt Nam

3 Đối tượng và ph ạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là HĐGS của ĐBQH Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về phạm vi nội dung:

Luận án nghiên c ứu hoạt động giám sát c ủa ĐBQH với tư cách là một chủ thểgiám sát độc lập, bao gồm các hoạt động chất vấn, giám sát văn bản quy phạm phápluật, giám sát vi ệc thi hành pháp lu ật ở địa phương, giám sát việc giải quyết khiếunại, tố cáo của cô ng dân

Trang 12

- Về phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động giám sát c ủa

ĐBQH Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt tập trung vào giai đoạn từ khi Luật hoạt động giám sát c ủa Quốc hội và H ội đồng nhân dân năm 2015 (Luật số 87/2015/

QH13) được thực hiện (từ 1/7/2016) cho đến nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

- Cơ sở lý luận của luận án là các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước, về tổ chức vàhoạt động của Nhà nước nói chung và về HĐGS của ĐBQH nói riêng

- Tham khảo các lý thuy ết chính trị về tổ chức nhà nước và về HĐGS Đặcbiệt là tham khảo mô hình, phương thức giám sát c ủa nghị viện một số nước như

Singapore, Ba Lan, Thụy Ði ển, Nhật Bản

4.2 Phương pháp luận và p hương pháp nghiên cứu

- Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Trong luận án, tác gi ả sử dụng hai nhóm phương pháp nghiên cứu chính:

- Nhóm phương pháp nghiên c ứu lý thuyết: Luận án chủ yếu sử dụng phương

pháp phân tích hệ thống chính trị, phương pháp phân tích cấu trúc ch ức năng Ngoài

ra luận án còn s ử dụng các phương pháp chung, liên ngành và chuyên ngành khác nhưcác phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgíc, phương pháp thống kê, sosánh, định tính, định lượng Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các tàiliệu nghiên cứu, các số liệu liên quan đến đề tài Phương pháp phân tích được sử dụngtrong toàn bộ các phần của luận án như phân tích tài liệu để rút ra nh ững mặt được vànhững nội dung còn thi ếu trong nghiên cứu vấn đề hoạt động giám sát c ủa ĐBQH,phân tích những vấn đề lý lu ận về hoạt động giám sát c ủa ĐBQH Việt Nam, phântích thực trạng hoạt động giám sát c ủa ĐBQH Việt Nam Phương pháp thống kê, sosánh được sử dụng trong đánh giá hoạt động giám sát của ĐBQH Việt Nam

Trang 13

- Nhóm phương pháp nghiên c ứu thực tiễn: phương pháp khảo sát thực tế và

điều tra xã h ội học, phương pháp thống kê, so s ánh; phương pháp phân tích mô hìnhthực tiễn Nhóm phương pháp nghiên cứu này được sử dụng trong chương 2 vàchương 3, nhất là trong phần nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn hoạt động giám sát củanghị sĩ một số nước trên thế giới và đánh giá thực trạng hoạt động giám sát củaĐBQH

Phương pháp thu thập và xử lý s ố liệu: Luận án sử dụng các số liệu thứ cấp từcác nguồn: Văn phòng Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốchội, Cổng thông tin Qu ốc hội Tác giả theo dõi một số phiên chất vấn của ĐBQH tạicác kỳ họp Quốc hội, các phiên h ọp UBTVQH và các phiên gi ải trình tại HĐDT, Uỷban của Quốc hội để đánh giá tình hình thảo luận, tranh luận, nội dung câu hỏi, câu trảlời và thống kê số liệu chất vấn của ĐBQH Tác giả thực hiện gửi phiếu điều tra đếncác ĐBQH Thời điểm tiến hành khảo sát là tháng 6/2018, t ại kỳ họp thứ 10, Quốc hộikhóa XIV Trên cơ sở các nguồn số liệu đó, tác giả tiến hành phân tích, tính toán thôngqua công c ụ là phần mềm Excel trên máy tính Phương pháp này được sử dụng chủyếu ở chương 3

Ngoài ra, luận án còn s ử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, phương pháp nghiên cứu dự báo, đưa ra những kiến nghị, giải pháp có tính khả thi

5 Đóng góp mới của luận án

5.1 Về mặt lý luận

Thứ nhất, luận án góp ph ần bổ sung lý lu ận về HĐGS của ĐBQH Việt Nam,

làm rõ khái niệm HĐGS, vai trò, nội dung, quy trình HĐGS của ĐBQH cũng như cácđiều kiện bảo đảm HĐGS của ĐBQH

Thứ hai, qua nghiên cứu HĐGS của nghị sĩ một số nước trên thế giới, rút ra m

ột số kinh nghiệm có giá tr ị tham khảo cho HĐGS của ĐBQH Việt Nam.

Trang 14

5.2 Về mặt thực tiễn

Thứ nhất, luận án đánh giá khách quan thực trạng hoạt động giám sát c ủa ĐBQH Việt Nam, nhất là giai đoạn từ khi Luật hoạt động giám sát c ủa Quốc hội và Hội đồng nhân dân (Luật số 87/2015/QH13) được thực hiện cho đến nay.

Thứ hai, luận án đề xuất một số quan điểm và giải pháp tăng cường HĐGS,

nâng cao hiệu lực, hiệu quả HĐGS của ĐBQH Việt Nam

Thứ ba, luận án phục vụ cho việc tham khảo, nghiên cứu lý lu ận và giảng dạy

về tổ chức hoạt động giám sát c ủa ĐBQH Đồng thời, rút ra kinh nghi ệm trong việc

tổ chức hoạt động giám sát c ủa Quốc hội, góp ph ần nâng cao hiệu lực, hiệu quảHĐGS của ĐBQH Việt Nam

6 Câu h ỏi nghiên cứu và gi ả thuyết nghiên cứu

6.1 Câu h ỏi nghiên cứu

Thứ nhất: Hoạt động giám sát c ủa đại biểu Quốc hội Việt Nam dựa trên cơ sở

lý luận nào?

Thứ hai: Thực trạng hoạt động giám sát c ủa ĐBQH Việt Nam hiện nay như thế

nào?

Thứ ba: Yêu cầu đối với hoạt động giám sát c ủa ĐBQH Việt Nam trong thời

gian tới như thế nào?

Thứ tư: Giải pháp nào để tăng cường hoạt động giám sát c ủa ĐBQH Việt Nam?

6.2 Giả thuyết nghiên cứu

ĐBQH là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất cấu thành Quốc hội Tất cả cácnhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội đều do ĐBQH thực hiện Chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của Quốc hội, ĐBQH trong HĐGS được Hiến pháp và pháp lu ật qui địnhkhá cụ thể Tuy nhiên, thực trạng hoạt động giám sát c ủa ĐBQH Việt Nam hiện naycòn nhi ều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cuộc sống vàmong muốn của cử tri Các giải pháp mà lu ận án đưa ra nếu được nhận thức và vận

Trang 15

dụng vào thực tiễn một cách phù h ợp sẽ góp ph ần tăng cường hiệu lực, hiệu quả HĐGS của ĐBQH Việt Nam.

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các công trình khoa học của tác giả, luận án được kết cấu gồm 4 chương, 10 tiết

Trang 16

B NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài được công bố trong nước và ngoài nước

1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài về hoạt động giám sát của Quốc hội và đại biểu Quốc hội

Cuốn sách The public and it's problems (Công chúng và các vấn đề liên quan) xuất bản năm 1927 là công trình nghiên cứu lớn đầu tiên của nhà triết học người Mỹ

John Dewey về triết học và chính trị Trong cuốn sách này, tác giả phân tích tính khảthi của việc xây dựng một xã hội dân chủ thực sự trước sự phát triển mạnh mẽ củacông nghệ và sự biến đổi của xã hội trong thế kỷ XX; phân tích mối liên hệ giữa “côngchúng” và “nhà nước”, chỉ ra những điểm hạn chế trong thực hiện lợi ích cá nhân và

lợi ích công cộng Trong Công chúng và các vấn đề liên quan, John Dewey bác bỏ quan niệm phổ biến về kỷ trị chính trị như là một hệ thống thay thế để quản lý xã hội

ngày càng phức tạp Ô ng khẳng định: dân chủ mới thực sự là phương tiện hữu hiệu vàbền vững nhất để quản lý xã hội nhằm đạt được lợi ích công cộng Tuy nhiên, để dânchủ phát huy hiệu quả đòi hỏi phải có sự tham gia và giám sát thường xuyên của công

chúng Cũng trong Công chúng và các vấn đề liên quan, John Dewey làm rõ các khái niệm như “công chúng ”, “nhà nước”, “chính phủ” và “dân chủ chính trị”; cho rằng

nhà nước là cơ quan phục vụ công chúng nhưng quyền lực của nhà nước thường bị lạmdụng để phục vụ lợi ích của một nhóm người trong xã hội Sở dĩ có tình trạng đó là dothiếu sự giám sát của công chúng đối với nhà nước Để khắc phục tình trạng đó cầnphát huy dân chủ, công chúng cần chủ động tham gia vào quá trình làm chủ của mình

Vì vậy, cần phải có sự kiểm soát quyền lực, và do đó công chúng cần phải giám sátquyền lực của nhà nước [114]

Trang 17

Cuốn sách Democracy and Critics (Dân chủ và các nhà bình luận) xuất bản

năm 1981 bởi Nhà xuất bản St.Martin, New York, Robert A.Dahl (1915–2014) chorằng, chưa có quốc gia hiện đại nào đáp ứng được lý tưởng về dân chủ Theo ông , đểđạt được lý tưởng dân chủ, cần phải đáp ứng các tiêu chí sau:

Sự tham gia hiệu quả: Trước khi một chính sách được thông qua, tất cả thành

viên phải có cơ hội bình đẳng và hiệu quả để bày tỏ ý kiến của mình về chính sách đó.Nói cách khác, công dân ph ải có cơ hội đầy đủ và bình đẳng bày tỏ nguyện vọng củamình, đồng thời được thảo luận về các chương trình nghị sự, các chính sách của nhànước

Sự bình đẳng trong bầu cử (bỏ phiếu): Khi quyết định thông qua các chính sách,

tất cả thành viên phải có quyền bình đẳng và hiệu quả để bỏ phiếu, và các lá phiếu phải

có giá trị như nhau

Sự hiểu biết tập thể: tất cả thành viên phải có cơ hội bình đẳng và hiệu quả để

tìm hiểu về những chính sách thay thế liên quan, từ đó quyết định lựa chọn chính sách

sẽ đem lại lợi ích tốt nhất cho họ

Kiểm soát chương trình nghị sự: Các thành viên phải có cơ hội độc lập nhằm

quyết định lựa chọn và giải quyết các vấn đề sẽ đưa ra trong chương trình nghị sự Cácchính sách của quốc gia phải được sự đóng góp ý kiến của các thành viên và chínhsách có thể thay đổi khi các thành viên tán thành Như vậy, tiến trình dân chủ đáp ứngtheo yêu cầu của ba tiêu chuẩn trên sẽ không bao giờ khép lại

Bao gồm sự bình đẳng của người trưởng thành : Tất cả hoặc ít nhất phần lớn cư

dân thường trú trưởng thành phải có đầy đủ các quyền công dân đã nêu trong bốn tiêuchí trên [112]

Cuốn sách The Sources of Social Power (Các ngu ồn sức mạnh của xã h ội),

xuất bản năm 1986 của tác giả Michael Mann, đã phân biệt bốn nguồn sức mạnh của

xã hội và nhà nước, đồng thời chỉ ra mối liên hệ giữa chúng trong quá trình phát triểnlịch sử nhân loại, đó là: tư tưởng, kinh tế, quân sự và chính trị Michael Mann xác địnhnguồn gốc, cơ chế và kết quả của quyền lực mà nhà nước sở hữu liên quan

Trang 18

đến bốn nhóm quyền lực đó trong xã hội Trong cuốn sách này, Michael Mann đã kháiquát quá trình xuất hiện của nhà nước và sự phân tầng xã hội, đưa ra định nghĩa nhànước, phân tích nội hàm của định nghĩa đó Tác giả cũng đã phân tích hai phần quantrọng của định nghĩa liên quan đến hai loại quyền lực nhà nước, được gọi là sức mạnhphi thường và cơ sở hạ tầng [117].

Trong cuốn Managing Parliament in the 21 st Century: EGPA Yearbook (Quản trị nghị viện trong thế kỷ 21: Niên giám Egpa) , các tác giả đã bàn luận về khái niệm

giám sát c ủa nghị viện, đồng thời chỉ rõ: giám sát th ực thi luật là hệ quả tất yếu củachức năng lập pháp Chỉ thông qua ho ạt động giám sát quá trình thực thi pháp luật, cácthành viên ngh ị viện mới có th ể phát hiện được các hạn chế của pháp luật, trên cơ sở

đó mới có th ể sửa chữa những sai lầm và việc áp dụng pháp luật không đúng đắn của

cơ quan hành pháp Theo đó, giám sát của nghị viện được xem là nh ững hoạt động tấtyếu tiếp theo hoạt động lập pháp nhằm xem xét các đạo luật đã được ban hành có đượcthực thi hiệu quả hay không và trên thực tế các đạo luật đó có giải quyết được các v ấn

đề như dự định của các nhà so ạn thảo hay không Để đạt được điều này, hoạt độnggiám sát c ủa quốc hội đòi hỏi phải thực hiện hiệu quả các kỹ thuật và cơ chế quản lýhành chính công [115]

Ricardo Pelizzo - Rick Stapenhurst trong Các công c ụ giám sát c ủa nghị viện: Báo cáo điều tra thực chứng đã phân tích các công cụ giám sát c ủa nghị viện ở 82

quốc gia, đánh giá về mối quan hệ giữa công c ụ giám sát và n hững khía cạnh khácnhau trong đời sống chính trị quốc gia Các tác gi ả đi sâu phân tích mối quan hệ giữacông c ụ giám sát và hình thức chính thể quốc gia, mối quan hệ giữa công c ụ giám sát

và m ức độ dân chủ Họ cho rằng ở hệ thống chính thể đại nghị, cơ quan lập pháp cónhi ều công c ụ giám sát để lựa chọn hơn so với các cơ quan lập pháp ở mô hình tổngthống và mô hình bán t ổng thống Các tác gi ả cũng chỉ ra mối quan hệ tuyến tính giữamức độ dân chủ và số lượng các công c ụ giám sát [120]

Trong Congressional Investigations and Oversight: Case Studies and Analysis (Điều tra và Giám sát c ủa Quốc hội: Nghiên cứu điển hình và phân tích), các tác giả

Stanley M Brand & Lance Cole xem xét các vấn đề pháp lý và chính sách xung quanh

Trang 19

các cuộc điều tra của quốc hội thông qua một loạt các nghiên cứu điển hình tập trungvào giai đoạn từ nửa sau thế kỷ XX cho đến nay Các tác gi ả khẳng định tầm quantrọng của các hoạt động điều tra và giám sát hiệu quả của Quốc hội trong hệ thốngchính phủ dân chủ Hoa Kỳ, cũng như các cơ sở cho quyền lập hiến, lập pháp của nghị

viện Cũng trong Case Studies and Analysis (Điều tra và Giám sát c ủa Quốc hội: Nghiên cứu điển hình và Phân tích ) các tác gi ả phân tích cơ cấu và các chức năng của

chính phủ, trong đó nhấn mạnh đến vấn đề kiểm soát quyền lực của chính phủ [121]

Sách Changes in Congressional Oversight (Những sự thay đổi trong lĩnh vực giám sát Qu ốc hội Mỹ) của tác giả Joel D Aberbach Cuốn sách tập trung nghiên cứu

chức năng giám sát của Quốc hội Mỹ đối với đối với hoạt động của các bộ, cơ quan và

ủy ban, và các chương trình, chính sách do họ quản lý Tác giả cũng cho rằng hành vicủa các nhà l ập pháp sẽ tạo ra tác động đối với hành vi của cơ quan hành chính quanliêu; giám sát hành chính là c ần thiết bởi nó t ạo ra cơ chế mà những nhà quản lý hành

chính có thể ảnh hưởng đến chúng ta theo nh ững cách cơ bản Cũng trong Changes in Congressional Oversight tác giả chú trọng phân tích các nhân t ố thúc đẩy và tăng cường chất lượng giám sát, các xu hướng cách thức giám sát ủy ban của Quốc hội: sự

kiểm soát của đảng phái với vị trí Tổng thống và Quốc hội; nhóm ch ịu sự tác động;nhóm l ợi ích; tổ chức cơ quan của Quốc hội; tăng cường chất lượng và số lượng nghịsĩ; sự công khai trong hoạt động [110]

Trong cuốn Political Negotiation (Đàm phán chính trị), các tác gi ả Jane

Mansbridge-Cathie Jo Martin chia sẻ bài học từ những câu chuyện thành công và đưa

ra lời khuyên thiết thực để khắc phục sự phân cực đảng phái gay gắt và tạo sự đồngthuận giữa các đại diện lập pháp về các vấn đề chính sách thông qua các ho ạt độngđàm phán Cũng trong cuốn sách này, các tác giả cho rằng: ba cơ quan nhà nước khôngnên ho ạt động quá tách bi ệt mà phải chịu sự giám sát l ẫn nhau ở mức độ cần thiếttheo cơ chế kiềm chế và đối trọng Việc kiểm soát lẫn nhau giữa ba cơ quan nhà nước

sẽ tạo ra sự cân bằng quyền lực, hạn chế tình trạng các cơ quan đó tuỳ tiện sử dụngquyền lực trong quá trình thực thi các hoạt động chức năng của mình, tránh tình trạngchuyên quyền, độc đoán Chức năng giám sát của nghị viện chính là công cụ để

Trang 20

cơ quan lập pháp thực hiện quyền kiểm soát đối với các hệ thống cơ quan khác trong

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước về hoạt động giám sát c ủa Quốc hội và đại biểu Quốc hội

1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu về quyền giám sát và hoạt động giám sát của Quốc hội và đại biểu Quốc hội

Liên quan đến quyền và hoạt động giám sát của của Quốc hội có những nghiêncứu có giá tr ị khoa học sau:

Trong ấn phẩm Quốc hội Việt Nam - những vấn đề lý luận và th ực tiễn đã đưa ra

khái niệm giám sát t ối cao của Quốc hội, phạm vi của quyền giám sát t ối cao của Quốchội là các cơ quan nhà nước ở trung ương và đối tượng của hoạt động giám sát tối cao làhoạt động của các cơ quan, cá nhân do Quốc hội thành lập, bầu hoặc phê chuẩn Đồngthời, trong ấn phẩm khẳng định, giám sát c ủa Quốc hội là quyền hạn và nhiệm vụ củaQuốc hội, là xem xét hoạt động của các cơ quan, cá nhân đứng đầu các cơ quan nhà nước

ở trung ương trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong tổ chức và thực hiệnHiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội được tiến hành tại các kỳ họp của Quốc hội.Căn cứ vào kết quả giám sát , Quốc hội xác định các hiệu quả pháp lý phù h ợp với nộidung giám sát th ể hiện bằng hình thức văn bản là nghị quyết [62]

Trang 21

Sách Kiểm soát quyền lực nhà nước của PGS, TS Nguyễn Đăng Dung Nội

dung cuốn sách gồm có 2 phần Trong phần 1, tác giả tập trung phân tích quyền lựcnhà nước, tính tất yếu khách quan của việc kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm bảođảm nhà nước hoạt động tuân thủ đúng pháp luật, đạt hiệu quả cao, từ đó bảo đảmđược quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân - chủ thể cao nhất của quyền lực nhànước Cũng trong phần 1, tác giả trình bày các nội dung của lý thuyết về nhà nướcpháp quyền và chủ nghĩa hiến pháp, khẳng định công cụ quan trọng nhất, mang tínhquyết định để kiểm soát quyền lực nhà nước chính là Hiến pháp Trong phần 2, tác giả

đi sâu phân tích nội dung, hình thức và công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước Qua đó,tác giả khẳng định: kiểm soát quyền lực nhà nước để bảo đảm quyền lực của nhân dânkhông bị vi phạm; việc bầu cử các chức danh quan trọng của bộ máy nhà nước với mộtnhiệm kỳ nhất định chính là một hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước; quyền lựcnhà nước được kiểm soát từ bên trong bằng việc phân công, phân nhiệm và tăng cườngkiểm tra, kiểm soát giữa các thành t ố cấu thành quyền lực nhà nước, giữa lập pháp,hành pháp, tư pháp và giữa quyền lực nhà nước ở Trung ương và địa phương Đồngthời, quyền lực nhà nước phải được kiểm soát, giám sát từ bên ngoài, từ phía nhân dân,

từ phía các ĐBQH - người đại diện cho cử tri thực hiện quyền lực nhà nước [11]

Sách Hoạt động giám sát c ủa cơ quan dân cử ở Việt Nam - vấn đề và gi ải pháp

của TS Nguyễn Sỹ Dũng và PGS.TS Vũ Công Giao đồng chủ biên Các tác gi ả đã kháiquát sự hình thành chức năng giám sát của nghị viện các nước trên thế giới, trong đó chorằng chức năng giám sát được sinh ra muộn hơn so với chức năng lập pháp và không tuântheo b ất cứ một lý thuy ết nào có trước, kể cả các học thuyết phân quyền Trong cuốnsách này, các tác gi ả đã làm rõ những vấn đề lý lu ận về giám sát c ủa cơ quan dân cửnhư: quan niệm về hoạt động giám sát, đối tượng giám sát Đồng thời các tác giả tập trungphân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát thông qua xét báo cáo, giám sát chuyên

đề và hoạt động chất vấn, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm của các cơ quan dân cử

ở Việt Nam Tuy nhiên các tác gi ả lại chưa đề cập đến hoạt động giám sát vi ệc giải quyếtkhiếu nại, tố cáo của công dân Trên cơ sở đó các tác giả đề xuất một số giải pháp nhằmnâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát c ủa

Trang 22

các cơ quan dân cử ở Việt Nam như: thu hẹp đối tượng chịu sự giám sát; giám sát c ần

có tr ọng tâm, trọng điểm; việc thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát và h ệ quả pháp

lý sau giám sát [1 3]

Tác giả Nguyễn Thái Phúc trong bài “Về hoạt động giám sát c ủa Quốc hội” khẳngđịnh: chỉ có Qu ốc hội tại các phiên h ọp toàn thể mới có th ẩm quyền giám sát t ối cao.Còn ho ạt động của các chủ thể khác thuộc hệ thống các cơ quan của Quốc hội(UBTVQH, HĐDT, các UB, Đoàn ĐBQH và ĐBQH) có tính chất phái sinh từ quyềngiám sát c ủa Quốc hội nên không có quy ền giám sát t ối cao Hoạt động chất vấn ĐBQHcũng không ph ải là HĐGS tối cao, bởi vì đó chỉ là việc thu thập, tổng hợp, kiểm tra, xácminh thông tin giám sát; đại biểu nêu ý ki ến cá nhân v ề những thông tin đó và kết luậncuối cùng v ẫn thuộc về thẩm quyền của Quốc hội Quốc hội dùng quy ền giám sát tối cao

để tìm hiểu xem các cơ quan hành pháp đã thực thi pháp luật như thế nào; giám sát c ủaQuốc hội bao gồm các phương pháp mà Quốc hội sử dụng để biết được, kiểm tra và đánhgiá được về hoạt động của các cơ quan hành pháp, từ đó đưa ra những chế tài áp đặt lên cơquan hành pháp dựa trên kết quả kiểm tra, đánh giá…[49]

Liên quan đến quyền và hoạt động giám sát của ĐBQH có những nghiên cứu có

giá trị khoa học như: Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới của tác giả Đặng Đình Tân [66]; “Giám sát xã hội trong Nhà nước pháp

quyền” của tác giả Vũ Anh Tuấn [72]; “Nâng cao hiệu quả giám sát là đòi hỏi của cửtri” của tác giả Nguyên Nhung [46] Những nghiên cứu này đã tập trung phân tích vaitrò, ý nghĩa của hoạt động giám sát c ủa nhân dân thông qua ĐBQH nhằm kiểm soátquyền lực của nhà nước, kiểm soát quản lý công và bổ sung cho lập pháp Các tác gi ảkhẳng định: ĐBQH đóng vai trò quan trọng trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội,

là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và củanhân dân c ả nước Vì vậy, ĐBQH phải có quan h ệ gắn bó m ật thiết với nhân dân, ch

ịu sự giám sát của nhân dân địa phương và nhân dân cả nước, chịu trách nhiệm trướcnhân dân ĐBQH là cầu nối liên kết chặt chẽ mối quan hệ bền vững giữa chính quyềnnhà nước với nhân dân Do đó, đại biểu Quốc hội phải đủ khả năng tham gia xây dựngluật pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và có m ối quan hệ mật thiết

Trang 23

với cử tri để phản ánh tâm tư, nguyện vọng của cử tri Từ đó các tác giả nhấn mạnh:hoạt động giám sát c ủa ĐBQH cần phải được coi trọng nhất, cần phải được đặt đúngtầm quan trọng của nó.

Trong bài viết: “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong kiểm soát, giám sátquyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, tác giả Nguyễn Thế Trung chỉ rõ, nh ằmxây dựng Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, quản lý, điều hành hiệu lực, hiệuquả, đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân , yêu cầu đặt ra là phải tăngcường giám sát quy ền lực nhà nước, giám sát ho ạt động của Nhà nước trên tất cả cảcác lĩnh vực Tác giả đặc biệt nhấn mạnh quyền giám sát c ủa nhân dân đối với việcthực thi quyền lực nhà nước, đồng thời cho rằng ở nước ta, nhân dân th ực hiện quyềnlực nhà nước của mình thông qua việc lập ra Quốc hội và Hội đồng nhân nhân để bảo

vệ, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp của mình Do vậy, nhân dân có quy ền giámsát các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân nhân Đại biểu Quốc hội là ngườiđại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của nhân dân

cả nước Đại biểu Quốc hội liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát c ủa cử tri; thuthập và phản ánh trung thực ý ki ến, nguyện vọng của cử tri với Quốc hội, các cơ quan,

tổ chức hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo v ới cử tri về hoạt động của đạibiểu và của Quốc hội; trả lời yêu cầu và kiến nghị của cử tri; theo dõi, đôn đốc việcgiải quyết khiếu nại, tố cáo và hướng dẫn, giúp đỡ việc thực hiện quyền khiếu nại, tốcáo [71]

Liên quan đến nội dung của HĐGS của ĐBQH có các công trình tiêu bi ểu như:

Quyền giám sát c ủa Quốc hội, nội dung và th ực tiễn từ góc nhìn tham chiếu, Nguyễn Sỹ

Dũng (chủ biên) [12]; “Cơ sở lý lu ận và thực tiễn về hoạt động chất vấn của ĐBQH”,

tham luận của tác giả Đinh Xuân Thảo tại Hội thảo Pháp lu ật về ĐBQH trong giai đoạn

hiện nay - Những vấn đề lý luận và th ực tiễn [68] Các nghiên c ứu này đã hệ thống hoá

các v ấn đề lý lu ận liên quan đến hoạt động của ĐBQH Trong đó tập trung phân tích hoạtđộng: chất vấn, giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi hành pháp lu ật,

giám sát vi ệc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân Trong Quyền giám sát

c ủa Quốc hội, nội dung và th ực tiễn từ góc nhìn tham

Trang 24

chiếu, Nguyễn Sỹ Dũng làm rõ n ội dung quy trình hoạt động giám sát c ủa gồm: Quy

trình hoạt động giám sát t ối cao của Quốc hội tại kỳ họp; Quy trình hoạt động giámsát của UBTVQH; Quy trình hoạt động giám sát c ủa HĐDT, các Uỷ ban của Quốchội; Quy trình hoạt động giám sát c ủa Đoàn đại biểu Quốc hội và ĐBQH… Từ đó tácgiả đi sâu phân tích quy trình giám sát của ĐBQH như: chất vấn và trả lời chất vấn;giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát vi ệc thi hành pháp lu ật, giám sát vi ệcgiải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân [12]

Theo tác giả Đinh Xuân Thảo trong tham luận “Cơ sở lý lu ận và thực tiễn vềhoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội”, chất vấn là hoạt động do cá nhân ĐBQHthực hiện nhưng khi tiến hành tại kỳ họp Quốc hội trở thành một trong những hoạtđộng giám sát t ối cao của Quốc hội Khi thực hiện quyền chất vấn thì ĐBQH khôngcòn nhân danh cá nhân n ữa mà là nhân danh quy ền lực tối cao của nhân dân, thay m

ặt nhân dân yêu c ầu người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề liên quan đến tráchnhiệm pháp lý c ủa mình, quy trách nhiệm pháp lý đối với người bị chất vấn Vì vậy,nội dung mà ĐBQH chất vấn phải tập trung tới những vấn đề quan trọng nhân dânquan tâm và liên quan trách nhi ệm các cơ quan nhà nước Thực hiện chất vấn, trả lờichất vấn chính là thực hiện quyền dân chủ của nhân dân [ 68]

Tác giả Trần Đình Huề trong công trình nghiên cứu “Mấy vấn đề về vai trò ho

ạt động giám sát c ủa Hội đồng nhân dân và bước đầu xây dựng quy trình một cuộcgiám sát” đã đề xuất quy trình tiến hành hoạt động giám sát Nội dung của quy trìnhhoạt động giám sát c ủa Quốc hội gồm: quy trình hoạt động giám sát t ối cao của Quốchội tại kỳ họp; quy trình hoạt động giám sát c ủa UBTVQH; quy trình hoạt động giámsát của HĐDT, các Uỷ ban của Quốc hội; quy trình hoạt động giám sát c ủa Đoàn đạibiểu Quốc hội và ĐBQH [29]

Theo hướng nghiên cứu trên, tác gi ả Bùi Ng ọc Thanh trong bài viết “Nhữngvấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về điều kiện hoạt động của ĐBQH” đã khẳng định: đểnâng cao chất lượng hoạt động giám sát c ủa ĐBQH, cần đảm bảo được các điều kiệnnhư: năng lực của ĐBQH, thời gian, cung cấp thông tin k ịp thời cũng như các điềukiện vật chất … [67]

Trang 25

1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu về thực tiễn hoạt động giám sát c ủa Quốc hội và đại biểu Quốc hội

Liên quan đến cơ chế kiểm soát quyền lực của nhà nước có các nghiên cứu

khoa học như: Giám sát và cơ chế giám sát vi ệc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước

ta hiện nay của Đào Trí Úc - Võ Khánh Vinh [ 77]; Kiểm soát quy ền lực nhà nước: Một số vấn đề lý luận và th ực tiễn ở Việt Nam hiện nay của Trịnh Thị Xuyến [102]; Hoàn thi ện các quy định của pháp lu ật về chất vấn và tr ả lời chất vấn của ĐBQH của Lê Thanh Vân [9 8]; Hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam của Nguyễn Quang Anh [1] Những nghiên cứu này đã hệ thống hoá

làm rõ cơ sở lý lu ận về cơ chế pháp lý c ủa hoạt động giám sát c ủa Quốc hội, ĐBQHtrong kiểm soát quyền lực nhà nước Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạtđộng giám sát vi ệc thực hiện quyền lực của nhà nước, các tác gi ả cũng đã đề xuấtphương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế giám sát vi ệc thực hiện quyền lựcnhà nước ở nước ta hiện nay

Trong cuốn Kiểm soát quyền lực nhà nước: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, Trịnh Thị Xuyến đã phân tích: kiểm soát quyền lực nhà nước là

một hệ thống những cơ chế được thực hiện bởi nhà nước và xã hội nhằm giữ cho việcthực thi quyền lực nhà nước đúng mục đích, hiệu quả Kiểm soát quyền lực nhà nướcbao gồm kiểm soát phạm vi hoạt động của quyền lực nhà nước; kiểm soát quá trìnhthông qua và sửa đổi Hiến pháp; kiểm soát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước;kiểm soát những người thực thi quyền lực nhà nước và có thể kiểm soát từ bên ngoài

và bên trong nhà nước Ở Việt Nam, những mâu thuẫn, bất cập trong kiểm soát quyềnlực nhà nước mà Việt Nam đang và sẽ phải giải quyết trong tiến trình phát triển;phương hướng và những giải pháp chủ yếu cho kiểm soát quyền lực nhà nước ở ViệtNam [102]

Trong cuốn Hoạt động giám sát c ủa Quốc hội Việt Nam trong cơ chế giám sát quyền lực nhà nước, Trương Thị Hồng Hà cùng nhóm tác gi ả đã luận giải các vấn đề

về quyền lực nhà nước, khẳng định ở nước ta tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhândân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có s ự phân công, ph ối hợp và kiểm soát giữa

Trang 26

các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.Các tác gi ả đã phân tích tính tất yếu tăng cường giám sát quy ền lực nhà nước theoyêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, để khắc phụcbiểu hiện “tha hóa” quyền lực nhà nước với nguy cơ chuyên quyền, lạm quyền, thamnhũng… Từ những cơ sở lý lu ận, thực tiễn, các tác gi ả đã tập trung luận giải cơ chếgiám sát quy ền lực nhà nước ở nước ta và hoạt động giám sát c ủa Quốc hội, đại biểuQuốc hội trong cơ chế giám sát quy ền lực nhà nước [24].

Nghiên cứu Giám sát và đánh giá chính sách công của Lê Văn Hòa đã phân

tích thực tiễn hoạt động giám sát c ủa Quốc hội, trong đó tập trung vào hoạt động đánhgiá Chính sách công Tác gi ả đã chỉ ra những thành tựu đạt được và những hạn chế,bất cập cần khắc phục, trên cơ sở đó đưa ra những định hướng nhằm nâng cao hiệu quảcủa hoạt động giám sát trong hoạt động này [28]

Luận án Hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam của Nguyễn Quang Anh: trên cơ sở những vấn đề lý luận, luận án tập trung

nghiên cứu phân tích lịch sử hình thành và phát triển cơ chế pháp lý nhân dân kiểmsoát quyền lực nhà nướ ở Việt Nam Đồng thời đi sâu đánh giá thực trạng tổ chức, hoạtđộng của các thiết chế và các yếu tố bảo đảm cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyềnlực nhà nước ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân củanhững hạn chế Từ đó luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chếpháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước [1]

Luận án Kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua hoạt động chất vấn của đại biểu quốc hội ở Việt Nam hiện nay của Vũ Thị Hồng Trang Luận án khẳng định: kiểm

soát quyền lực là một nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Việt Nam Ở Việt Nam Quốc hội là thể chế rất quan trọng mang tínhchất quyết định trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước Quốc hội có quyền kiểmsoát tối cao mọi hoạt động của nhà nước thông qua các hình thức cơ bản, trong đó hoạtđộng chất vấn của ĐBQH là một trong những phương thức kiểm soát có hiệu quả nhất.Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát quyền lực nhànước thông qua hoạt động chất vấn của ĐBQH, luận án tập trung nghiên cứu phân tích

Trang 27

thực trạng hoạt động chất vấn của ĐBQH ở Việt Nam với tư cách là phương thức kiểmsoát quyền lực nhà nước trên các mặt: nội dung chất vấn, trả lời chất vấn, tổ chức hoạtđộng chất vấn, năng lực của ĐBQH Từ đó chỉ ra những thành tựu đạt được, nhữnghạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong kiểm soát quyền lực nhà nước thôngqua hoạt động chất vấn của ĐBQH Trên cơ sở đó luận án đề xuất các quan điểm vàgiải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua hoạtđộng chất vấn của ĐBQH [70].

Trên cơ sở phân tích, đánh giá hoạt động giám sát t ại các kỳ họp Hội đồngnhân dân, Tác gi ả Nguyễn Khắc Bộ trong “Công tác giám sát t ại kỳ họp Hội đồngnhân dân- Những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động củaHội đồng nhân dân” đã chỉ ra một số vấn đề hạn chế cần giải quyết, từ đó đề xuất một

số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động giám sát, nâng cao chất lượng và hiệu quảhoạt động của Hội đồng nhân dân [7]

Tăng cường giám sát quyền lực nhà nước là một đòi hỏi khách quan và cấpthiết, một giải pháp quan trọng nhằm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở ViệtNam Tác giả Trần Đình Nghiêm với bài viết “Đổi mới và tăng cường giám sát quyền

lực nhà nước” trong cuốn Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta đã phân

tích tính tất yếu tăng cường giám sát quyền lực nhà nước một cách toàn diện, bao gồm:giám sát việc ban hành pháp luật, tổ chức quản lý xã hội bằng pháp luật và tăng cườngpháp chế XHCN; giám sát quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháptrong thực thi quyền lực của nhân dân; giám sát đội ngũ cán bộ, công chức trong thựcthi quyền lực nhà nước Theo tác giả, những hạn chế trong thực thi quyền lực nhànước hiện nay có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do những bất cập về cơ chế, tổchức và phương thức giám sát đối vối việc thực hiện quyền lực nhà nước Do vậy, đểxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, quản lý, điềuhành hiệu lực, hiệu quả, một yêu cầu quan trọng đặt ra là phải tăng cường và đổi mớimột cách cơ bản, đồng bộ cơ chế, tổ chức và phương thức giám sát đối vối việc thựchiện quyền lực nhà nước, kết

Trang 28

hợp công tác kiểm tra, giám sát c ủa Đảng, giám sát của bộ máy nhà nước với giám sát

của nhân dân [35]

Với bài viết “Hoạt động giám sát c ủa Hội đồng nhân dân c ấp tỉnh đối với việcthực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và vấn đề đặt ra”

trong cuốn Đổi mới, hoàn thi ện hệ thống chính trị ở nước ta Trương Thị Hồng Hà đã phân tích làm rõ cơ sở pháp lý v ề hoạt động giám sát c ủa Hội đồng nhân dân c ấp

tỉnh, vai trò ho ạt động giám sát của Hội đồng nhân dân T ừ việc phân tích, đánh giáthực trạng, những vấn đề đặt ra trong hoạt động giám sát c ủa Hội đồng nhân dân c ấptỉnh đối việc thực hiên quyền lực nhà nước, tác giả đã đề xuất một số giải pháp tăngcường hoạt động giám sát c ủa Hội đồng nhân dân cấp tỉnh [35]

1.2 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố liên quan đến

đề tài và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

1.2.1 Khái quát k ết quả chủ yếu của các công trình đã công bố liên quan đến đề tài

Thứ nhất: Các công trình nghiên cứu của các tác gi ả đã phân tích, làm rõ chức

năng giám sát của cơ quan dân cử, cho rằng giám sát được sinh ra muộn hơn so vớichức năng lập pháp và không tuân theo b ất cứ một lý thuy ết nào Hoạt động giám sát

c ủa cơ quan dân cử tập trung vào những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đòi hỏi, xã hộiquan tâm và ngày càng tr ở nên công khai, minh b ạch hơn Chính vì vậy, nhân dân đãđánh giá cao HĐGS của các cơ quan dân cử, nhờ đó góp ph ần nâng cao vai trò, uy tíncủa các cơ quan này Các công trình nghiên cứu đã góp phần làm rõ những vấn đề lý lu

ận về HĐGS, đánh giá thực trạng HĐGS của cơ quan dân cử, đề xuất giải các phápnâng cao ch ất lượng, hiệu quả thực hiện chức năng quan trọng này

Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nêu trên ở những mức độ khácnhau đã trình bày khái quát về tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, tổchức hoạt động của bộ máy nhà nước, vai trò kiểm soát quyền lực nhà nước của hệ

thống chính trị, luận giải được vai trò, v ị trí của Quốc hội Việt Nam trong đời sống

chính trị của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Trang 29

Tuy nhiên, trong các công trình nghiên c ứu về HĐGS của ĐBQH chủ yếuđược tiếp cận từ khía cạnh pháp lý - chính trị Do đó, đối tượng nghiên cứu chủ yếucủa các công trình nghiên c ứu này là c ác quy định của pháp luật về giám sát Vì vậy,các giải pháp đề ra để tăng cường hiệu lực, hiệu quả của HĐGS của ĐBQH chủ yếutập trung vào các y ếu tố như cơ chế pháp lý, t ổ chức bộ máy Các cơ chế hỗ trợ mớichỉ được đề cập sơ bộ, còn khá chung chung với tính chất như là những giải pháp thứyếu, chưa cụ thể, chuẩn xác đối với từng nhóm đại biểu khác nhau HĐGS của ĐBQHchưa được tiếp cận nghiên cứu và đánh giá dưới góc độ chính trị học, theo hướng xácđịnh năng lực chủ thể của HĐGS để từ đó đề ra các giải pháp mang tính khả thi, nângcao năng lực giám sát, hi ệu lực và hiệu quả HĐGS của ĐBQH.

Thứ hai: Các công trình nghiên cứu của các tác gi ả về HĐGS của Quốc hội,

của ĐBQH khẳng định: Quyền lực nhà nước là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng; kiểmsoát quyền lực nhà nước là toàn b ộ những phương thức, quy trình, quy định mà dựavào đó, Nhà nước và xã h ội có th ể ngăn chặn, loại bỏ những hạn chế, tiêu cực tronghoạt động của các thiết chế quyền lực nhà nước, phát hiện và điều chỉnh được việcthực thi quyền lực nhà nước, đảm bảo cho quyền lực nhà nước thực thi đúng mục đíchchung và đạt được hiệu quả cao nhất Kiểm soát quyền lực nhà nước bao gồm kiểmsoát phạm vi hoạt động của quyền lực nhà nước; kiểm soát quá trình thông qua và s ửađổi Hiến pháp, luật; kiểm soát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; kiểm soátnhững người thực thi quyền lực nhà nước và có th ể kiểm soát từ bên ngoài và bêntrong nhà nước

Việc thực hiện HĐGS của ĐBQH là vấn đề hết sức có ý nghĩa, góp phần quantrọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan trong hệ thống bộ máynhà nước từ trung ương đến địa phương Hiệu quả HĐGS của ĐBQH phụ thuộc rấtlớn vào năng lực của của các đại biểu, bao gồm các yếu tố trình độ, uy tín, kỹ năng,động lực trong hoạt động giám sát Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu thì vấn

đề này chưa được phân tích cụ thể, sâu sắc dựa trên những số liệu, bằng chứng xácthực Do đó, các công trình nghiên c ứu cũng chưa đề xuất được những kiến nghị cụthể, chính xác nhất về tiêu chuẩn của ĐBQH; về phương thức,

Trang 30

nội dung bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho ĐBQH, chưa đưa ra được các gi ải pháptoàn di ện về: cơ sở pháp lý - bản lĩnh chính trị - năng lực chủ thể bảo đảm để ĐBQH

có th ể thực hiện HĐGS đạt hiệu quả cao

Thứ ba: Các công trình nghiên cứu đã đánh giá: HĐGS của ĐBQH, các cơ

quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các Ban c ủa Hội đồngnhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân đạt được nhiều kết quả quan trọng Nội dunggiám sát khá phong phú, toàn di ện, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đã tậptrung vào những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đòi hỏi, được dư luận xã hội đồng tìnhủng hộ… Hình thức giám sát, bi ện pháp tổ chức HĐGS được cải tiến theo hướng pháthuy dân ch ủ, nâng cao tính công khai, minh bạch, tăng tính chủ động, tích cực của các

cơ quan thực hiện giám sát và b ảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng chịu sựgiám sát Hoạt động giám sát t ối cao của Quốc hội được tăng cường; hoạt động chấtvấn và trả lời chất vấn trước Quốc hội, Hội đồng nhân dân, được truyền hình trực tiếp,

đã và đang phát huy hiệu quả tốt; việc Quốc hội, Hội đồng nhân dân thông qua ngh ịquyết về chương trình hoạt động giám sát h ằng năm, trong đó lựa chọn được nhữngvấn đề trọng tâm, bức xúc, phù h ợp với yêu cầu của thực tế đã làm cho HĐGS đápứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của cuộc sống Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa cónhững phân tích, đánh giá các kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong HĐGScủa từng đối tượng đại biểu khác nhau để có th ể rút ra k ết luận về những điều kiệncần thiết giúp đại biểu nâng cao được vị thế, bản lĩnh chính trị của mình để HĐGS đạtđược hiệu lực, hiệu quả cao hơn Hiệu quả HĐGS của ĐBQH trong tương quan sosánh giữa HĐGS của đại biểu chuyên trách và đại biểu kiêm nhiệm; giữa đại biểutrung ương và đại biểu địa phương; giữa đại biểu hoạt động độc lập và đại biểu thuộccác cơ quan, tổ chức khác nhau chưa được quan tâm nghiên c ứu, đánh giá

Thứ tư: Các công trình nghiên cứu khẳng định, HĐGS của ĐBQH thời gian qua

đã phát hiện và khắc phục kịp thời những thiếu sót, h ạn chế cả về chính sách pháp luật

và tổ chức quản lý điều hành Qua giám sát đã đưa ra nhiều kiến nghị đóng góp vào ho

ạt động lập pháp và quy ết định các vấn đề quan trọng của đất nước và của

Trang 31

địa phương Những kết quả đạt được của HĐGS của Quốc hội, Hội đồng nhân dân,của ĐBQH đã có tác động tích cực trong thực tế, góp ph ần nâng cao hiệu lực, hiệuquả quản lý nhà nước Những kết quả đạt được chứng minh Luật hoạt động giám sátcủa Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đã thể chế hóa kịpthời đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, phát huy dân ch ủ xã hội chủ nghĩa, bảođảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Qu ốc hội, Hội đồng nhân dân cũng nhưcác ĐBQH đã phát huy nội lực, tìm tòi, sáng tạo và áp d ụng nhiều biện pháp trongthực hiện hoạt động giám sát Các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các đạibiểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đã không ngừng nỗ lực, cố gắng trong việcthực hiện giám sát Đồng thời có s ự tham gia cộng tác, phối hợp chặt chẽ của Chủ tịchnước, Chính phủ, các cơ quan tư pháp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan, tổchức hữu quan và nhân dân.

Có thể nói, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm thực hiệnngày càng có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội đã góp phần tạo ranguồn sinh lực mới cho cả hệ thống chính trị và mở rộng không khí dân chủ ở nước ta.Các kỳ họp hằng năm của Quốc hội đã thực sự trở thành những đợt sinh hoạt chính trịrộng khắp trong cả nước Những phiên thảo luận công khai về xây dựng các dự án luậtcũng như về tình hình kinh tế, xã hội, những buổi chất vấn tại hội trường diễn ra sôinổi, tập trung vào đúng những vấn đề quan trọng, bức xúc được nhân dân rất quan tâm.Chính không khí dân chủ trong hoạt động của Quốc hội đã có tác dụng không nhỏ đếnhoạt động của các cơ quan nhà nước khác như Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan tưpháp và cả hoạt động của các cơ quan dân cử ở các địa phương; làm tăng thêm tráchnhiệm của người đứng đầu các cơ quan nhà nước; đồng thời nâng cao tinh thần làmchủ và ý thức trách nhiệm của người dân Nói cách khác, thông qua các hoạt động củaQuốc hội, các yếu tố của nền dân chủ đại diện đang được phát huy, sự gắn bó giữanhân dân với Nhà nước được tăng cường, lôi cuốn nhân dân tham gia các hoạt độngquản lý nhà nước, góp phần tạo hình ảnh về sự đổi mới, năng động, dân chủ của hệthống chính trị Việt Nam

Trang 32

Thứ năm: Các công trình nghiên c ứu đã bước đầu đề cập đến những vấn đề lý

luận và thực tiễn trong hoạt động giám sát c ủa ĐBQH Việt Nam, nêu những kháiniệm và các y ếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động giám sát c ủa ĐBQH Các côngtrình nghiên cứu đã xác định được vai trò quan trọng của hoạt động giám sát c ủaQuốc hội và ĐBQH là nhằm thực thi quyền lực của nhân dân, làm cho cán b ộ, công

ch ức, đảng viên thực hiện đúng pháp luật, bộ máy nhà nước, tổ chức của Đảng trongsạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả hơn Đa số các nghiên cứu đều nhất trí ở luậnđiểm khoa học là: hoạt động giám sát là yêu c ầu tất yếu của quá trình thực thi dân chủhiện đại và ĐBQH Việt Nam giữ vai trò quan tr ọng then chốt trong giám sát quy ềnlực nhà nước của Quốc hội Bên cạnh đó các công trình nghiên cứu nhất là ở trongnước đã đưa ra nhiều đề xuất về quan điểm, giải pháp để nâng cao chất lượng hoạtđộng giám sát c ủa ĐBQH Việt Nam mà giá tr ị của những quan điểm, lý lu ận này đốivới quá trình thực hiện luận án là h ết sức ý nghĩa, gợi mở cho tác giả có thêm nhữngđịnh hướng quan trọng trong việc đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạtđộng giám sát c ủa ĐBQH Việt Nam

Tuy nhiên, yêu c ầu đổi mới HĐGS của ĐBQH trong giai đoạn phát triển kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước của dân, dodân và vì dân đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế hiện nay vẫn chưa được nghiên cứumột cách toàn di ện để có th ể thấy rõ tính tất yếu của việc tăng cường hiệu lực, hiệuquả HĐGS của ĐBQH trong thời gian tới Các công trình nghiên c ứu mới chỉ dừnglại ở những cách tiếp cận khác nhau về tổ chức của Quốc hội, HĐGS của Quốc hội vàĐBQH Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có h ệ thống, toàn diện và đầy

đủ về HĐGS của ĐBQH Việt Nam hiện nay dưới góc độ chính trị học

1.2.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Qua nghiên cứu các công trình trong nước và nước ngoài, tác gi ả nhận thấy cácnhà khoa h ọc rất quan tâm đến vấn đề HĐGS của Quốc hội và đại biểu Quốc hội Từnhững kết quả đạt được cũng như những hạn chế, “khoảng trống” trong các nghiên cứu

đã công bố, luận án “Hoạt động giám sát c ủa đại biểu Quốc hội Việt Nam hiện nay” tiếp tục giải quyết những vấn đề sau:

Trang 33

Thứ nhất, luận án cần phân tích, làm rõ cơ sở lý lu ận, cơ sở thực tiễn và cơ sở

pháp lý v ề HĐGS của ĐBQH Việt Nam; làm rõ vai trò , ý nghĩa của HĐGS củaĐBQH; xác định đối tượng, nội dung, quy trình HĐGS của ĐBQH; phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn của ĐBQH trong quá trình thực hiện chức năng giám sát; các điều kiện bảođảm HĐGS của ĐBQH Luận án cần nghiên cứu HĐGS của nghị sĩ một số nước trênthế giới, từ đó rút ra nh ững kinh nghiệm cần thiết cho HĐGS của ĐBQH Việt Nam

Thứ hai, luận án có nhi ệm vụ nghiên cứu các HĐGS của ĐBQH Việt Nam từ khi Luật hoạt động giám sát c ủa Quốc hội năm 2003 được thực hiện, trong đó tập trung vào giai đoạn từ khi Luật hoạt động giám sát c ủa Quốc hội và H ội đồng nhân dân năm 2015 (Luật số 87/2015/QH13) có hi ệu lực Qua điều tra, khảo sát thực trạng

HĐGS của ĐBQH Việt Nam thời gian qua, luận án phân tích, đánh giá những kết quảđạt được và hạn chế, bất cập trong HĐGS của ĐBQH, đồng thời phân tích, chỉ ranguyên nhân của những hạn chế, bất cập

Thứ ba, trên cơ sở lý lu ận và từ thực trạng HĐGS của ĐBQH Việt Nam hiện

nay với những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế, bất cập, những vấn đề đặt

ra, luận án đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường HĐGS, nâng cao hiệu lực, hiệuquả của HĐGS của ĐBQH Việt Nam trong thời gian tới

Trang 34

Kết luận chương 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài đi từ cái chung đến cáiriêng, từ ngoài nước đến trong nước, từ hoạt động thực tiễn đến các công trình nghiêncứu trong chuyên ngành, trong đó, có cập nhật các công trình khoa học được công bốgần đây, chúng tôi nhận thấy, nhiều công trình, đề tài của các tác giả đã nghiên cứukhá toàn diện về hoạt động giám sát của Quốc hội và ĐBQH nói riêng từ các góc độtiếp cận khác nhau Những công trình đó đã đưa ra một số phương hướng, giải phápnâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử

Với các góc độ tiếp cận khác nhau, m ột số công trình bước đầu đã trình bàyđược lý lu ận chung về cơ sở lý lu ận và cơ sở pháp lý v ề vai trò ho ạt động giám sát c

ủa ĐBQH Việt Nam; xác định đối tượng, nội dung, quy trình thực hiện hoạt độnggiám sát c ủa ĐBQH, cũng như phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH trong quátrình thực hiện chức năng giám sát

Một số tác giả đã nghiên cứu đánh giá so sánh về thực trạng hoạt động giám sátcủa nghị sỹ một số nước trên thế giới và ĐBQH Việt Nam, đề xuất các giải pháp nângcao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của ĐBQH Đây là những tư liệu quý giá,đáng trân trọng để tác giả kế thừa, bổ sung và phát triển trong quá trình thực hiện đề tàiluận án của mình Tuy vậy, hoạt động giám sát của ĐBQH - trung tâm, hạt nhân trong

cơ cấu tổ chức của Quốc hội chưa được các tác giả nghiên cứu sâu cả về lý luận, thựctiễn và đề xuất các giải pháp đổi mới Việc nghiên cứu, đánh giá khái quát những kếtquả đạt được, những vấn đề lý luận và thực tiễn các công trình nghiên cứu đã làm rõ vànghiên cứu sinh có thể tiếp tục kế thừa là những căn cứ cần thiết để đưa ra những nhậnđịnh về một số nội dung các công trình nghiên cứu trước đây còn bỏ ngỏ, cần đượctiếp tục nghiên cứu và hệ thống những vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây, nghiên cứu sinh đã xác định đượcđịnh hướng nghiên cứu cho luận án, bảo đảm tính mới, không trùng lắp với các côngtrình trước đây dưới góc độ chính trị học cả về lý luận và thực tiễn

Trang 35

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ HOẠT

ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VIỆT NAM

2.1 Khái ni ệm và vai trò hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội

2.1.1 Khái ni ệm giám sát và ho ạt động giám sát của đại biểu Quốc hội

2.1.1.1 Khái ni ệm giám sát

Thuật ngữ “giám sát ” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy thu ộc vào góc

độ tiếp cận Giám sát là thu ật ngữ dùng để chỉ một hoạt động xem xét có tính bao quátcủa chủ thể bên ngoài h ệ thống đối với khách thể thuộc hệ thống khác (trong nhữngtrường hợp cụ thể có th ể là không tr ực thuộc)

Có quan niệm cho rằng giám sát là nhi ệm vụ của một nhóm ho ặc một tổ chứcchuyên theo dõi m ột hoạt động nào đó Quan niệm khác lại cho rằng giám sát là xem xét,kiểm tra và nhận định về một việc làm nào đó đúng hay sai với những điều đã quy định

Theo Từ điển Tiếng Việt, giám sát là “theo dõi và kiểm tra xem có th ực hiện

đúng những quy định không” [101, tr.389]

Theo Từ điển Luật Học, giám sát “là sự theo dõi, quan sát ho ạt động mang tính

chủ động thường xuyên, liên t ục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực đểbuộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chếnhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luậtđược tuân thủ nghiêm chỉnh” [99, tr.292]

Mặc dù cách diễn đạt có khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều đề cập đến nộidung cơ bản của “giám sát ”: đó là việc theo dõi, xem xét và ki ểm tra của một chủ thể nào

đó đối với một đối tượng về một việc làm đã thực hiện đúng hoặc chưa đúng những quyđịnh đã đề ra, trên cơ sở đó có bi ện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với việc làm sai, nhằmđạt được những mục tiêu đã đề ra một cách có hi ệu quả nhất, bảo đảm cho các quy địnhđược thực thi đúng đắn và đầy đủ Như vậy giám sát là ho ạt động có mục đích, luôn gắnvới một chủ thể và một đối tượng nhất định, được tiến hành theo các quy định đặt ra Do

đó, để có m ột khái niệm cụ thể thì HĐGS hoạt động giám sát

Trang 36

bao giờ cũng gắn với một chủ thể xác định như: giám sát c ủa Quốc hội, giám sát c ủaHĐND, giám sát của nhân dân…

Joel D Aberbach trong Changes in Congressional Oversight (Những thay đổi

trong giám sát Qu ốc hội) đã đưa ra quan niệm giám sát, đó “là sự kiểm soát sự thật vàbao gồm các cuộc điều tra về chính sách đang và sẽ được triển khai; điều tra về hoạtđộng hành chính và việc kêu gọi cơ quan hành pháp ph ải chịu trách nhiệm với hoạt

động của họ” [110, tr.133].

Theo Walter Oleszek trong “Congressional Oversight: An overview” (Giám sátquốc hội: Tổng quan): giám sát là m ột hoạt động phổ biến dưới nhiều hình thức khácnhau, được thực hiện trong các phiên điều trần, các cuộc họp, hoặc thậm chí trong cảcác hoạt động khác [119]

Điểm lưu ý là cần phân biệt giám sát v ới kiểm tra, kiểm sát Giám sát khác v ớikiểm tra ở chỗ: giám sát là hành vi độc lập, từ bên ngoài, còn ki ểm tra là hoạt độngthường xuyên từ bên trong tổ chức Giám sát khác v ới kiểm sát, vì kiểm sát mặc dùcũng là hành vi giám sát từ bên ngoài c ủa một cơ quan độc lập nhưng kiểm sát gắn vớithẩm quyền tố tụng

Tại Điều 2 Luật hoạt động giám sát c ủa Quốc hội năm 2003, khái niệm “giámsát” được giải thích: “Giám sát là vi ệc Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hộiđồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và Đại biểu Quốc hộitheo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân ch ịu sự giám sáttrong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyếtcủa Ủy ban Thường vụ Quốc hội” [52]

Tại khoản 1, Điều 2 Luật hoạt động giám sát c ủa Quốc hội và Hội đồng nhân

dân năm 2015 đã ghi: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá

hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân ch ịu sự giám sát trong vi ệc tuân theo Hiếnpháp và pháp lu ật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo th ẩmquyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có th ẩm quyền xử lý ” [58]

Trang 37

Tại khoản 2, Điều 2 Luật hoạt động giám sát c ủa Quốc hội và Hội đồng nhân

dân năm 2015 khẳng định: “Chủ thể giám sát bao gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ

Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đạibiểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban c ủaHội đồng nhân dân, T ổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân” [58]

Như vậy, cả Luật hoạt động giám sát c ủa Quốc hội năm 2003 và Luật hoạtđộng giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đều khẳng định rõĐBQH là một trong những chủ thể của HĐGS của Quốc hội So với Luật hoạt độnggiám sát c ủa Quốc hội năm 2003, khái niệm “giám sát” theo Luật hoạt động giám sátcủa Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đã được bổ sung theo hướng không chỉ

là hoạt động “theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu

sự giám sát” mà còn bao gồm cả việc “xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị

cơ quan có thẩm quyền xử lý”

2.1.1.2 Hoạt động giám sát và quy ền giám sát của đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội là những công dân tiêu biểu trong các lĩnh vực hoạt động

của nhà nước và xã hội được nhân dân tín nhiệm trực tiếp bầu ra thông qua tổng tuyển

cử tự do ĐBQH là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thay mặtcho nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội Cùng với việc tham giathảo luận và quyết định các vấn đề về lập hiến, lập pháp, quyết định các chính sáchquan trọng phát triển kinh tế, xã hội, ĐBQH thay mặt nhân dân thực hiện giám sát hoạtđộng của các cơ quan nhà nước

* Hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội

Tại khoản 5, Điều 2, Luật hoạt động giám sát c ủa Quốc hội và Hội đồng nhân

dân năm 2015 quy định: “Giám sát c ủa Quốc hội bao gồm giám sát t ối cao của Quốc

hội, giám sát c ủa Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban củaQuốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội” [58]

Điều 47 Luật hoạt động giám sát c ủa Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm

2015 xác định:

Trang 38

“1 Đại biểu Quốc hội giám sát thông qua các hoạt động sau đây:

a) Chất vấn những người bị chất vấn quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 4 củaLuật này;

b) Giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi hành pháp luật;c) Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân

2 Đại biểu Quốc hội tự mình tiến hành hoạt động giám sát hoặc tham gia hoạtđộng giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội; tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, Ủyban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi cóyêu cầu” [58]

Trong HĐGS, ĐBQH là một chủ thể giám sát độc lập, đối tượng giám sát làcác cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước và khách th ể giám sát là các hành vi th

ực thi nhiệm vụ và việc thi hành pháp lu ật của đối tượng giám sát Mục tiêu củaHĐGS của ĐBQH là theo dõi, xem xét, đánh giá việc thực thi nhiệm vụ của các cơquan nhà nước ở trung ương và các cá nhân do Quốc hội bầu, phê chuẩn, nhằm bảođảm hoạt động của các cơ quan nhà nước tuân thủ những nguyên tắc, quy định doQuốc hội đề ra từ đó lợi ích công, lợi ích của nhân dân được thực hiện

Theo Điều 47, Luật hoạt động giám sát c ủa Quốc hội và Hội đồng nhân dânnăm 2015, ĐBQH thực hiện HĐGS thông qua các hình thức: tiến hành chất vấn, giámsát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát vi ệc thi hành pháp lu ật tại địa phương vàgiám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân HĐGS của ĐBQHnhằm góp ph ần đảm bảo cho những quy định của Hiến pháp và pháp lu ật được thựcthi nghiêm minh và thống nhất, bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hi ệu lực

và hiệu quả, từ đó hạn chế, loại bỏ những biểu hiện tham nhũng, quan liêu

ĐBQH là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất cấu thành Quốc hội Tất cả cácnhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội đều do ĐBQH thực hiện HĐGS của ĐBQH tuykhông ph ải là hoạt động giám sát t ối cao nhưng thông qua những HĐGS do các đạibiểu tiến hành đã cung cấp nguồn thông tin quan tr ọng, là cơ sở cho HĐGS tối caocủa Quốc hội

Trang 39

* Quyền giám sát của đại biểu Quốc hội

Có nhi ều nhà nghiên c ứu đã luận giải về quyền giám sát c ủa ĐBQH Các tác

gi ả cho rằng, ĐBQH thực hiện giám sát là nhằm đảm bảo cho các chính sách, phápluật do Quốc hội ban hành được thực thi nghiêm minh trên thực tế và bảo vệ lợi íchcủa cử tri [12, tr.9-16] Quan niệm đó cho thấy giữa hoạt động lập pháp và HĐGS củaQuốc hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu quyền lập pháp được thực hiện tốt sẽ

là điều kiện để thực hiện tốt hơn quyền giám sát Ngược lại, thông qua HĐGS sẽ đánhgiá được kết quả của hoạt động lập pháp có phù h ợp với thực tiễn hay không , từ đó để

bổ sung, hoàn thiện và phát huy vai trò c ủa quyền lập pháp

Có ý ki ến cho rằng: giám sát là m ột hoạt động phổ biến được thực hiện bằngnhiều hình thức khác nhau trong các phiên điều trần, các cuộc họp của nghị viện Ngay

cả những thảo luận của nghị sĩ tại các phiên điều trần, các cuộc họp ủy ban về xâydựng pháp luật, trong các cuộc làm việc của các đại biểu, chuyên gia và nhân viên củaQuốc hội với các quan chức hành pháp, các nhà lãnh đạo hành chính… mặc dù khôngđược gọi tên là HĐGS nhưng cũng chính là giám sát [119]

Lúc sinh thời, Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng đến vấn đề kiểm soát quyền lựcnhà nước nhằm đảm bảo cho tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân Chính vì vậy,ngay trong phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đềnghị tiến hành Tổng tuyển cử Người khẳng định: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toànthể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công vi ệc nướcnhà Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều cóquyền ra ứng cử, hễ là công dân thì có quy ền đi bầu cử… Do Tổng tuyển cử mà toàndân bầu ra Quốc hội Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ Chính phủ đó thật là Chính phủ củatoàn dân” [41, tr.153] Quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân, do nhân dân ủythác cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước Vì vậy, nhân dân có quy ền kiểm soátquyền lực nhà nước thông qua đại biểu mà mình đã bầu ra Đó là sự kiểm soát của cơquan đại diện (cơ quan dân cử như Quốc hội, Hội đồng nhân dân) đối với cơ quan chấphành Chính phủ, Ủy ban nhân dân Trong Báo cáo v ề dự thảo Hiến pháp sửa đổi (năm1959), Người viết: “Tất cả các cơ quan Nhà nước phải dựa vào nhân dân, liên h ệ

Trang 40

chặt chẽ với nhân dân, l ắng nghe ý ki ến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”; “Hộiđồng Chính phủ là cơ quan chấp hành pháp lu ật và nghị quyết của Quốc hội, là cơquan hành chính cao nhất của Nhà nước, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trướcQuốc hội Trong thời gian Quốc hội không h ọp thì Hội đồng Chính phủ chịu tráchnhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội”; “Hội đông nhân dânbầu ra Ủy ban hành chính các cấp Ủy ban hành chính các cấp là cơ quan chấp hànhcủa Hội đồng nhân dân, ch ịu trách nhiệm và báo cáo trước Hội đồng nhân dân , đồngthời chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Ủy ban hành chính cấp trên và s ự lãnh đạo thốngnhất của Hội đồng chính phủ” [44, tr.375-376] Như vậy, ngay trong dự thảo Hiếnpháp sửa đổi (năm 1959), Hồ Chí Minh đã bàn về kiểm soát quyền lực của cơ quan cấptrên với cơ quan cấp thấp hơn.

ĐBQH là những người do nhân dân tín nhiệm trực tiếp bầu ra thông qua tổngtuyển cử tự do, là những người đại diện cho cử tri, thay mặt cử tri thực hiện quyền lựcnhà nước trong Quốc hội Sau khi được cử tri tín nhiệm bầu chọn, ĐBQH phải chịutrách nhiệm trước cử tri về việc xây dựng, ban hành và giám sát vi ệc thực hiện cácchính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa nhân dân Vì vậy, cùng với việc tham gia thảo luận và quyết định các vấn đề về lậphiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, ĐBQH phải thaymặt nhân dân thực hiện giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước

Hiến pháp 1946 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy định quyền giámsát của ĐBQH ở Việt Nam Đến Hiến pháp 1959, quyền giám sát của ĐBQH được cụthể hóa bằng quy định: “Các đại biểu Quốc hội có quy ền chất vấn Hội đồng Chínhphủ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ” (Điều 59, Hiến pháp 1959) và “Đạibiểu Quốc hội có quy ền chất vấn Hội đồng Chính phủ và các cơ quan thuộc Hội đồngChính phủ” (Điều 42 Luật tổ chức Quốc hội năm 1960) Quy định này tiếp tục được kếthừa trong các văn bản pháp luật liên quan được ban hành sau đó như Luật Tổ chứcQuốc hội, Luật HĐGS của Quốc hội Tại khoản 1, Điều 2 của Luật hoạt động giámsát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định: “Giám sát là việc chủ thểgiám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự

Ngày đăng: 29/03/2021, 15:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w