1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tuân thủ điều trị và kết quả điều trị ARV ở bệnh nhân đang điều trị ngoại trú tại các phòng khám ngoại trú của tỉnh Ninh Bình, năm 2012

83 17 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 277,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Minzi OM và cộng sự xuất phát từ quan điểm, tác dụng phụ của thuốc ARV là một thách thức trong quá trình điều trị và ảnh hưởng tới việc tuân thủ của bệnh nhân, nhóm tác giả đã[r]

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tên đề tài:

Đánh giá sự tuân thủ điều trị và một số kết quả điều trị ARV

ở bệnh nhân HIV/AIDS tại các phòng khám ngoại trú

tỉnh Ninh Bình năm 2012

Chủ nhiệm đề tài : Bs CKII Hoàng Huy Phương

Cơ quan thực hiện : Trung tâm PC HIV/AIDS tỉnh Ninh Bình

Cơ quan quản lý đề tài : Cục Phòng chống HIV/AIDS

Năm 2012 CỤC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS

Trang 2

Tên đề tài:

Đánh giá sự tuân thủ điều trị và một số kết quả điều trị ARV

ở bệnh nhân HIV/AIDS tại các phòng khám ngoại trú

tỉnh Ninh Bình năm 2012

Chủ nhiệm đề tài : Bs CKII Hoàng Huy Phương

Cơ quan thực hiện : Trung tâm PC HIV/AIDS tỉnh Ninh Bình

Cấp quản lý : Cấp cơ sở

Mã số đề tài :

Thời gian thực hiện: Từ tháng 6/2012 – 12/2012Tổng kinh phí thực hiện đề tài : 59.080.000đTrong đó: kinh phí SNKH : 59.080.000đ

Năm 2012

Trang 3

1 Tên đề tài: Đánh giá sự tuân thủ điều trị và một số kết quả điều trị ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS tại các phòng khám ngoại trú tỉnh Ninh Bình năm 2012.

2 Chủ nhiệm đề tài: Bs CKII Hoàng Huy Phương

3 Cơ quan thực hiện đề tài: Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Ninh Bình

4 Cơ quan quản lý đề tài: Cục Phòng, chống HIV/AIDS.

5 Thư ký đề tài: Ths Tạ Thị Lan Hương

6 Danh sách những người thực hiện chính:

- Bs.CKII Hoàng Huy Phương

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ii

Phần A TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI 1

Phần B NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 3

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1 Tình hình dịch HIV/AIDS và chương trình chăm sóc, hỗ trợ, điều trị HIV/AIDS trên thế giới, khu vực Châu Á và tại Việt Nam 5

2.2 Những nghiên cứu về tuân thủ điều trị, kết quả điều trị và các yếu tố liên quan trên thế giới và ở Việt Nam 9

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22

4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 22

4.2 Mức độ tuân thủ điều trị ARV 32

4.3.Kiến thức về điều trị ARV của ĐTNC 33

4.4.Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị 37

4.5.Một số kết quả sau điều trị ARV 44

5 BÀN LUẬN 47

5.1.Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 47

5.2.Mức độ tuân thủ điều trị ARV 53

5.3.Kiến thức về điều trị ARV của ĐTNC 54

5.4.Các yếu tố liên quan đến TTĐT ARV của ĐTNC 55

5.5.Một số kết quả sau điều trị ARV của ĐTNC 59

5.6.Hạn chế của nghiên cứu 61

6 KẾT LUẬN 63

7 KHUYẾN NGHỊ 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 71

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VÀ KÝ HIỆU VIẾT TẮT

AIDS : Acquired Immune Deficiency Syndrome

(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)ARV : Anti Retrovirus (Thuốc kháng retrovirus)

ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu

HIV : Human Immunodeficiency Virus

(Virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người)NTCH : Nhiễm trùng cơ hội

TTYT : Trung tâm y tế

UNAIDS : Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS

(Jont United Nations programme on HIV/AIDS)

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 23Bảng 2 Tỷ lệ sử dụng rượu, bia và ma túy theo giới của ĐTNC (n = 375) .25Bảng 3 Thông tin về điều trị ARV của ĐTNC 26Bảng 4 Thông tin về sự hỗ trợ trong điều trị ARV của ĐTNC 28

Trang 6

Bảng 5 Thông tin về yếu tố cung cấp dịch vụ tại các PKNT 29

Bảng 6 Tuân thủ uống thuốc trong tuần qua (n=375) 32

Bảng 7 Kiến thức về điều trị ARV của ĐTNC (n = 375) 33

Bảng 8 Kiến thức tuân thủ điều trị ARV (n = 375) 34

Bảng 9 Các yếu tố liên quan đến kiến thức về điều trị ARV 36

Bảng 10 Đặc điểm nhân khẩu học liên quan đến tuân thủ điều trị 37

Bảng 11 Bảng sử dụng rượu, bia, ma túy liên quan đến TTĐT 39

Bảng 12 Yếu tố về thuốc và đặc điểm điều trị ARV liên quan đến TTĐT 40

Bảng 13 Các yếu tố hỗ trợ liên quan đến TTĐT 41

Bảng 14 Các yếu tố dịch vụ, hỗ trợ và sự hài lòng liên quan đến TTĐT 42

Bảng 15 Mối liên quan giữa kiến thức điều trị ARV và TTĐT ARV 43

Bảng 16 So sánh trung vị số lượng CD4 trước và sau khi điều trị 45

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1 Số BN AIDS, tử vong mới và số lũy tích BN được điều trị ARV 7

Biểu đồ 2 Tỷ lệ đi làm xa nhà và tham gia sinh hoạt CLB theo giới 24

Biểu đồ 3 Nguyên nhân lây nhiễm HIV của ĐTNC theo giới 24

Biểu đồ 4 Tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV trong tuần qua của ĐTNC 33

Biểu đồ 5 Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đạt và không đạt về điều trị ARV 35

Biểu đồ 6 Tỷ lệ không mắc NTCH và có CD4 tăng sau điều trị 44

Biểu đồ 7 Trung vị số lượng CD4 trước và sau điều trị 45

Trang 7

Phần A TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI

1 Kết quả nổi bật của đề tài

Nghiên cứu đánh giá được mức độ tuân thủ điều trị ARV, các yếu tốảnh hưởng đến tuân thủ điều trị và một số kết quả sau điều trị ở bệnh nhânđang điều trị ARV tại Ninh Bình - những kết quả này là thực sự cần thiết đểđịa phương có những căn cứ nhằm xây dựng kế hoạch nâng cao hiệu quảchương trình chăm sóc và điều trị trong thời gian tới

Kết quả nghiên cứu cho thấy trong vòng một tuần trước thời điểmphỏng vấn, 7,5% bệnh nhân cho biết đã bỏ ít nhất một liều thuốc ARV, 31,7%bệnh nhân uống thuốc sai giờ trên 1 tiếng ít nhất một lần và 5,1% bệnh nhân

đã uống thuốc ARV không đúng cách ít nhất một lần theo chỉ định của bác sỹ.Kết hợp cả 3 điều kiện trên, tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân trongvòng 1 tuần trước thời điểm phỏng vấn là 65,1%

Những yếu tố cản trở đối với việc tuân thủ điều trị ARV là: đi làm xanhà, có sử dụng rượu và còn đang dùng ma túy

Những yếu tố tăng cường việc tuân thủ điều trị ARV bao gồm: sốngcùng vợ hoặc chồng, phác đồ điều trị đơn giản, có biện pháp nhắc nhở uốngthuốc và có kiến thức tốt về tuân thủ điều trị ARV Nghiên cứu cũng tìm hiểucác yếu tố có liên quan tới kiến thức về điều trị ARV của BN, kết quả chothấy nữ giới,người đang tham gia sinh hoạt tại các câu lạc bộ/nhóm giáo dụcđồng đẳng, người được tập huấn trước điều trị đầy đủ thì có kiến thức tốt hơn

94,9% BN không có NTCH sau 6 tháng điều trị cao hơn nhiều so với tỷ

lệ BN không có NTCH trước điều trị (57,8%) (p<0,05) Tỷ lệ không cóNTCH sau các thời điểm điều trị từ 12 tháng cho đến 48 tháng cũng đạt >94%

Hầu hết BN (>94%) có số lượng tế bào miễn dịch CD4 sau điều trị tăng

so với trước điều trị Trung vị số lượng tế bào CD4 trước và sau điều trị 6tháng tăng lên 105 tế bào/mm3, sau 12 tháng tăng lên 176 tế bào/mm3, sau 24tăng 277 tế bào/mm3, sau 36 tháng tăng 311 tế bào/mm3 và sau 48 tháng tăng

334 tế bào/mm3 so với thời điểm trước điều trị (p<0,001)

Trang 8

2 Áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội

Kết quả nghiên cứu trên sẽ được áp dụng vào việc xây dựng các hoạtđộng phòng chống HIV/AIDS tại địa phương trong thời gian tới như:

- Phát triển mạng lưới các câu lạc bộ/nhóm giáo dục đồng đẳng chongười nhiễm HIV để nâng cao hiểu biết và hỗ trợ tuân thủ điều trị ở bệnhnhân;

- Tăng cường hoạt động giám sát, hỗ trợ chuyên môn và đào tạo về kỹnăng tư vấn, điều trị cho các phòng khám ngoại trú, đặc biệt là tuyến huyện

- Tăng cường hoạt động tập huấn, tư vấn hỗ trợ bệnh nhân trong việcxây dựng kế hoạch điều trị, chú trọng những bệnh nhân đi làm xa, nghiện matúy… Đồng thời đánh giá kết quả điều trị toàn diện, đầy đủ hơn ở bệnh nhân

để thấy được hiệu quả điều trị ARV

3 Đánh giá thực hiện đề tài

Nghiên cứu đảm bảo đúng tiến độ về thời gian theo đề cương nghiêncứu đã được phê duyệt, đạt được ba mục tiêu nghiên cứu đề ra, các kết quảnghiên cứu đầy đủ như trong dự kiến của bản đề cương

Việc sử dụng kinh phí đảm bảo đúng tiến độ, định mức chi tiêu đượcthực hiện theo đúng quy định của Nhà nước và hợp đồng trách nhiệm đã kýkết

4 Ý kiến đề xuất

Tăng cường hỗ trợ về chuyên môn, kỹ thuật của cơ quan quản lý đốivới đơn vị thực hiện đề tài, đặc biệt trong quá trình phân tích số liệu và viếtbáo cáo kết quả của đề tài

Chuyển kinh phí thực hiện đề tài sớm hơn cho đơn vị thực hiện để đảmbảo việc thanh quyết toán đúng tiến độ quy định

Trang 9

Phần B NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dịch HIV/AIDS vẫn là một thảm hoạ chưa từng có của loài người, gây

ra sự tổn thất to lớn cho các quốc gia, các cộng đồng và các gia đình trên toànthế giới, hơn 30 triệu người đã chết vì AIDS; 34 triệu người đang sống vớiHIV, hơn 7.000 ca nhiễm mới mỗi ngày, 6 triệu người đang điều trị ARV tạicác quốc gia có thu nhập thấp và trung bình [58]

Ở Việt Nam, chưa từng có dịch bệnh nào lây lan rộng khắp và kéo dàinhư dịch HIV/AIDS [2] Tính đến 30/6/2012, cả nước có 204.019 ngườinhiễm HIV đang còn sống được báo cáo, trong đó có 58.569 bệnh nhân AIDScòn sống và đã có 61.856 người chết do AIDS [10] Dịch vẫn đang tiếp tụclây lan trên đất nước ta với trên 10.000 người nhiễm mới mỗi năm; hơn 75%

số xã, phường; 98% quận, huyện; 100% tỉnh, thành phố báo cáo có ngườinhiễm HIV [2], [32]

Với sự gia tăng nhanh chóng của số người nhiễm HIV và số ngườichuyển sang giai đoạn AIDS, công tác chăm sóc, điều trị người nhiễmHIV/AIDS ngày càng trở nên cấp thiết Cho đến nay, phương pháp điều trịbằng thuốc kháng retrovirus (ARV) vẫn là phương pháp hiệu quả nhất giúpngười nhiễm HIV/AIDS nâng cao sức khoẻ, kéo dài tuổi thọ, giảm tử vong,giảm các bệnh NTCH và giảm sự lây truyền HIV cho người khác Nhữngnghiên cứu gần đây đã cho thấy điều trị ARV cho người nhiễm HIV là liệupháp dự phòng tốt, đây là quá trình liên tục kéo dài suốt cuộc đời và đòi hỏi

sự tuân thủ điều trị tuyệt đối [5] Tuân thủ điều trị là uống đúng thuốc, đúnggiờ, đúng liều lượng thuốc, đúng cách được chỉ định và uống đều đặn suốt đời[4] Tuân thủ điều trị giúp duy trì nồng độ thuốc ARV trong máu nhằm ức chếtối đa sự nhân lên của HIV, đủ thời gian cho phép hệ miễn dịch được phụchồi, từ đó phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng cơ hội, cải thiện chất lượng sốngcho người bệnh và tăng tỷ lệ sống sót [5], [12] Nếu không tuân thủ sẽ dẫnđến việc nồng độ thuốc trong máu thấp, làm xuất hiện các đột biến của HIVkháng thuốc và thất bại điều trị [3], [27]

Trang 10

Ninh Bình là tỉnh có số người nhiễm HIV tăng nhanh, số bệnh nhânchuyển sang giai đoạn AIDS và có nhu cầu điều trị ARV cũng gia tăng nhanhtrong các năm trở lại đây [29] Đến ngày 20/11/2012, số người nhiễm HIVcòn sống của tỉnh là 2.304 người, trong đó số bệnh nhân AIDS còn sống là

807 người; hiện đã có 595 người tử vong do AIDS, tổng số bệnh nhân đangđiều trị ARV tại tỉnh là 519 người (tăng gấp 18 lần so với năm 2007) [28],[29]

Với số lượng bệnh nhân điều trị ngày một tăng và ở rải khắp các địabàn trong tỉnh, nhiều bệnh nhân vẫn thường xuyên đi lao động ở tỉnh ngoài,trong khi đó điều trị ARV chỉ tập trung tại 2 phòng khám, điều đó gây không

ít trở ngại cho người bệnh trong việc tiếp cận điều trị và tuân thủ điều trị [26],[29] Kết quả điều tra năm 2010 của Cục PC HIV/AIDS và tiểu ban điều trịcho thấy: tỷ lệ còn sống và tiếp tục duy trì sau điều trị của tỉnh Ninh Bìnhthấp hơn so với tỷ lệ chung của các địa phương khác trong cùng nghiên cứu:

tỷ lệ còn sống và tiếp tục duy trì điều trị sau 24 tháng là: 79,5% (tỷ lệ chunglà: 85%), điều này đặt ra câu hỏi về thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân[13] Tại tỉnh, hiện vẫn chưa có báo cáo đầy đủ về việc theo dõi, giám sát,đánh giá tuân thủ điều trị, kết quả điều trị ARV của bệnh nhân và chưa cónghiên cứu đánh giá thực trạng và nguyên nhân dẫn đến tình trạng không tuânthủ điều trị từ khi chương trình triển khai cho đến nay

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá

sự tuân thủ điều trị và một kết quả điều trị ARV của bệnh nhân HIV/AIDS tại các phòng khám ngoại trú tỉnh Ninh Bình năm 2012” với các mục tiêu

sau:

1 Đánh giá mức độ tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân điều trị tại các

phòng khám ngoại trú của tỉnh Ninh Bình năm 2012

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân

đang điều trị tại các phòng khám ngoại trú của tỉnh Ninh Bình năm 2012

3 Mô tả một số kết quả sau điều trị ARV ở bệnh nhân điều trị tại các

phòng khám ngoại trú của tỉnh Ninh Bình năm 2012

Trang 11

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 Tình hình dịch HIV/AIDS và chương trình chăm sóc, hỗ trợ, điều trị HIV/AIDS trên thế giới, khu vực Châu Á và tại Việt Nam

1.1 Trên thế giới

Kể từ ca nhiễm HIV được phát hiện đầu tiên tại Mỹ từ năm 1981, chođến nay loài người đã trải qua 30 năm đối phó với một đại dịch quy mô lớn,phức tạp; theo UNAIDS tính đến cuối năm 2010, có 34 triệu người đang bịnhiễm HIV, riêng năm 2010 ước tính có 2,7 triệu ca nhiễm HIV mới và 1,8triệu người tử vong do AIDS So sánh với năm 1999, số người nhiễm mớiHIV đã giảm 22% Hiện có hơn 6 triệu người đang điều trị ARV tại các nước

Đến năm 1996, thế giới bắt đầu sử dụng phác đồ điều trị phối hợp ít nhất

ba loại thuốc (HAART) Chương trình điều trị thuốc ARV từ đó đã làm giảmđáng kể các trường hợp tử vong do AIDS, ước tính từ năm 1996 đến hết năm

2009 đã có khoảng 14,4 triệu năm tuổi thọ được cứu sống nhờ điều trị ARV[33]

Khu vực cận Sahara Châu Phi tiếp tục phải gánh chịu những hậu quả

nặng nề hơn của dịch AIDS toàn cầu Gần hai phần ba (63%) tổng số ngườilớn và trẻ em đang sống với HIV trên toàn cầu là những người sống ở cậnSahara Châu Phi Tại khu vực này, 70% số người nhiễm HIV đang còn sống,gần 37% người có đủ tiêu chuẩn điều trị đã được tiếp cận với ARV [33]

Tỷ lệ bao phủ của chương trình tiếp cận điều trị thuốc ARV ngày càngđược mở rộng 8 nước là Botswana, Campuchia, Croatia, Cuba, Guyana,Namibia và Rwanda đã đạt tỷ lệ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được điều trị thuốc

Trang 12

ARV từ 80% trở lên 11 nước trong đó có Việt Nam, Ấn Độ, Indonexia, Bờbiển Ngà, Nam Phi… có tỷ lệ bao phủ dưới 40% [33].

Tháng 7/2011 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Chương trình phối hợpphòng chống HIV/AIDS của Liên hợp quốc (UNAIDS) đã khởi xướng Sángkiến tiếp cận điều trị 2.0 nhằm giảm những bất cập, thách thức hiện nay củachương trình điều trị như: sự tuân thủ điều trị, chi phí điều trị, tiếp cận điềutrị, hệ thống cung cấp dịch vụ… Điều trị 2.0 là một sáng kiến về điều trị mớibao gồm những vấn đề về chuyên môn, tổ chức triển khai và quản lý nhằmđơn giản hóa cách điều trị HIV hiện nay và tăng cường việc tiếp cận tới thuốc

điều trị Chiến lược này là một quá trình gồm 5 lĩnh vực: Tối ưu hóa phác đồ

điều trị; cung cấp dịch vụ chẩn đoán tại cơ sở chăm sóc và điều trị tiện ích; giảm chi phí điều trị; củng cố hệ thống cung cấp dịch vụ bằng lồng ghép chặt chẽ vào hệ thống y tế cơ sở hiện có; tăng cường sự tham gia của cộng đồng, của người nhiễm và người có hành vi nguy cơ cao [14], [33] Ngay khi Sáng

kiến tiếp cận điều trị 2.0 được khởi xướng vào tháng 7/2011, có 5 nước trênthế giới (trong đó có Việt Nam) đã đăng ký triển khai thí điểm Sáng kiến này[14]

1.2 Tại châu Á

Ước tính có khoảng 4,9 triệu người đang bị nhiễm HIV Hầu hết dịchtại các quốc gia đã có dấu hiệu chững lại Thái Lan là nước duy nhất trongkhu vực có tỷ lệ hiện nhiễm gần 1%, tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở người trưởngthành của nước này là 1,3% trong năm 2009 Tại Campuchia, tỷ lệ hiện nhiễm

ở người trưởng thành giảm xuống còn 0,5% trong năm 2009, giảm 1,2% trongnăm 2011 Song tỷ lệ hiện nhiễm HIV lại đang gia tăng ở những quốc gia vốn

có tỷ lệ hiện nhiễm thấp như Bangladesh, Pakistan (nơi tiêm chích ma túy làhình thái lây truyền HIV chính) và Philippin Hình thái lây truyền HIV tạichâu Á vẫn chủ yếu tập trung ở nhóm người tiêm chích ma túy, người bándâm, khách làng chơi và nam quan hệ tình dục đồng giới [8]

Ở Châu Á, số người đang được điều trị bằng thuốc ARV đã tăng gấpchục lần kể từ năm 2003 Thái Lan là nước có cam kết và nhiều hành độngmạnh mẽ trong điều trị bằng thuốc ARV với hiệu quả về chi phí và kết quả

Trang 13

điều trị Một số nước khác thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương (bao gồmCam-pu-chia, Trung Quốc, Pa-pua Niu Ghinê) cũng đã xây dựng chươngtrình chăm sóc, hỗ trợ và điều trị HIV/AIDS làm nền tảng cho việc mở rộngđiều trị thuốc kháng HIV với sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ về chỉ đạo,tài chính và sự tham gia tích cực của các ban, ngành, đoàn thể trong xã hội[33].

1.3 Ở Việt Nam

Số bệnh nhân AIDS và số ca tử vong có xu hướng giảm từ năm 2006,

do giai đoạn này số người được điều trị ARV tăng lên nhanh chóng

Hệ thống chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng đãđược khởi động từ năm 1996, khi đó phạm vi chương trình điều trị ARV mớichỉ tập trung tại tuyến Trung ương Năm 2003 tại Viện Y học lâm sàng cácbệnh nhiệt đới điều trị ARV cho 60 bệnh nhân, tại Bệnh viện Nhiệt đới thànhphố Hồ Chí Minh là 100 bệnh nhân, trong khi đó nhu cầu điều trị là rất lớn,

Bộ Y tế ước tính số lượng người nhiễm HIV cần được điều trị ARV sẽ giatăng từ 42.480 người năm 2006 lên 72.970 người vào năm 2010 [32]

Năm Người

Biểu đồ 1 Số BN AIDS, tử vong mới và số lũy tích BN được điều trị ARV

tại Việt Nam từ năm 2004-2010 [13], [32]

Trang 14

Trước tính cấp thiết của công tác điều trị, năm 2000 và 2005, Bộ Y tế

đã ban hành “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS”, quy định về

chuyên môn trong hoạt động điều trị người nhiễm Ngày 19/01/2007, Bộ Y tếban hành quyết định về việc phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vềchăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV đến năm 2010 Ngày19/8/2009, Bộ Y tế ban hành quyết định 3003/QĐ-BYT về việc ban hành

“Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS” lần thứ 3 có sửa đổi, bổ sung.

Ngày 2/11/2011, quyết định số 4139/QĐ-BYT được Bộ Y tế ban hành tiếptục sửa đổi, bổ sung một số điều trong hướng dẫn kèm theo của quyết định3003/QĐ-BYT cho phù hợp với tình hình mới Ngày 03/4/2012, Bộ Y tế có

Quyết định số 1039/QĐ-BYT về việc ban hành “Mô hình thí điểm tiếp cận

điều trị 2.0” nhằm thí điểm thực hiện Sáng kiến 2.0 của WHO và UNAIDS

trước khi nhân rộng mô hình ra toàn quốc

Ở Việt Nam, hệ thống điều trị bệnh nhân HIV/AIDS ngày càng tiếp tụcđược mở rộng Tính đến tháng 12/2011, trên toàn quốc có 318 cơ sở điều trịHIV/AIDS, trong đó có 4 cơ sở thuộc tuyến Trung ương, 155 cơ sở tuyếntỉnh, 159 cơ sở tuyến huyện, chưa có cơ sở nào được triển khai tại tuyến xã;63/63 tỉnh, thành phố đều có cơ sở điều trị bằng thuốc ARV Tổng số ngườinhiễm HIV đang điều trị bằng thuốc ARV là trên 60.000 người, tăng 25 lần sovới cuối năm 2005 [14], [32]

1.4 Tại Ninh Bình

Đến ngày 20/11/2012, số người nhiễm HIV còn sống của tỉnh là 2.304người, trong đó số bệnh nhân AIDS còn sống là 807 người, phân bố trên cả8/8 huyện, thị xã, thành phố; 140/146 xã, phường (chiếm 95,9% số xãphường) phát hiện có người nhiễm Huyện có lũy tích số người nhiễm HIVcao nhất là huyện Kim Sơn (879 người), tiếp đến là huyện Hoa Lư (549 ngườinhiễm) và TP Ninh Bình (495 người nhiễm) [28], [29]

Kết quả giám sát cho thấy, dịch HIV/AIDS ở Ninh Bình vẫn đang tronggiai đoạn dịch tập trung, tuy nhiên HIV bắt đầu lây lan ra cộng đồng, dịch có

xu hướng chững lại không tăng nhanh như những năm trước nhưng về cơ bảnchưa khống chế được dịch Nhận thức của cộng đồng về HIV/AIDS được cải

Trang 15

thiện, số người tự nguyện đến tư vấn, xét nghiệm và đăng ký điều trị nhiễmtrùng cơ hội, ARV ngày một tăng, đến tháng 10/2012 số bệnh nhân AIDSđược điều trị ARV tại các phòng khám ngoại trú là 519 người (tăng gấp 18lần so với năm 2007) [26], [29].

Từ năm 2005, Ninh Bình bắt đầu triển khai chương trình chăm sóc, hỗtrợ và điều trị cho người nhiễm HIV Số bệnh nhân được tiếp cận điều trị vớithuốc ARV ngày càng tăng, năm 2006 có 30 người, năm 2008 là 100 người,năm 2010 là 310 người, năm 2012 là 519 người Hiện chương trình điều trịARV được triển khai chủ yếu ở 2 phòng khám ngoại trú tại Trung tâm PCHIV/AIDS tỉnh và Trung tâm Y tế huyện Kim Sơn [26]

Chương trình điều trị tuy mới được triển khai ở Ninh Bình, nhưng đãnhận được sự đồng thuận cao của cộng đồng và gia đình người nhiễm do hiệuquả điều trị mang lại Tuy nhiên, công tác điều trị còn gặp nhiều khó khăn do

cơ sở vật chất và nguồn nhân lực cho phòng chống AIDS nói chung và chochương trình điều trị HIV/AIDS nói riêng còn hạn chế [26]

2.2 Những nghiên cứu về tuân thủ điều trị, kết quả điều trị và các yếu tố liên quan trên thế giới và ở Việt Nam

2.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Nhiều tác giả trên thế giới đã tiến hành các nghiên cứu đánh giá về sựtuân thủ điều trị, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến TTĐT, các rào cảnTTĐT và đề xuất các biện pháp giúp tăng cường TTĐT

Nghiên cứu về mức độ tuân thủ điều trị ARV:

Tỷ lệ bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ điều trị ARV qua một số nghiêncứu trên thế giới có sự dao động khoảng từ 25% đến 75%

Nghiên cứu của Chesney (2000) tại Mỹ cho thấy ước lượng có khoảng50-70% bệnh nhân không tuân thủ điều trị [41]

Cũng tại Mỹ năm 2009, Mellins CA và cộng sự nghiên cứu trên 1138người nhiễm HIV/AIDS ở New York có rối loạn tâm thần và rối loạn dothuốc gây nghiện cho kết quả: 45% BN đã không uống đủ thuốc ARV trongvòng 3 ngày tính đến thời điểm trả lời phỏng vấn [51]

Trang 16

Một nghiên cứu tại Thái Lan do Mannheimer và cộng sự tiến hành trên

149 bệnh nhân điều trị ARV qua báo cáo tuân thủ của bệnh nhân trong vòng

30 ngày qua, cho thấy tỷ lệ tuân thủ thay đổi từ 25% đến 100% Phần lớnbệnh nhân (114 người, chiếm 77%) tuân thủ tốt (>95%) với kết quả tải lượngHIV ≤ 50 phiên bản/ml máu [50]

Nghiên cứu trên 181 bệnh nhân ở vùng nông thôn Trung Quốc cho kếtquả có 81,8% bệnh nhân báo cáo có tuân thủ điều trị thuốc ARV trong 3 ngàyqua [35]

Nghiên cứu khác thực hiện trên 1306 bệnh nhân ở 10 nước Châu Á(bao gồm Căm-pu-chia, Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Thái Lan, Việt Nam,Malaysia, Nepal, Singapore, Myanmar) cho kết quả: 18% BN đã bỏ thuốcARV trong tháng, riêng những người tiêm chích ma túy đã quên trung bìnhkhoảng 1,24 liều thuốc ARV trong tháng qua [40]

Nghiên cứu về kết quả điều trị ARV:

Tsertsvadze và cộng sự (2009) ở Geogia tiến hành nghiên cứu kết quảđiều trị ARV trên 594 BN cho kết quả: 55/594 trường hợp thất bại điều trị,trong đó 47 trường hợp thất bại về vi rút học, 7 trường hợp thất bại về miễndịch, 1 trường hợp thất bại về lâm sàng; trong những trường hợp thất bại về virút học thì có 72% là do kháng thuốc tự nhiên và 28% là do không tuân thủđiều trị [57]

Tác giả Paterson và cộng sự nghiên cứu trên 81 bệnh nhân cho thấyviệc tuân thủ liên quan có ý nghĩa với kết quả về vi rút học (p<0,001) Thấtbại về vi rút học ghi nhận được trên 22% bệnh nhân có mức tuân thủ ≥ 95%,61% ở BN tuân thủ mức 80% đến 94,9%, và 80% BN tuân thủ dưới 80% Sựthay đổi số lượng CD4 có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm BN tuân thủ từ 95%trở lên (trung bình tăng 83 TB/mm3) và nhóm BN tuân thủ dưới 95% (trungbình chỉ tăng 6 TB/mm3) (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,006) [54]

Nghiên cứu tại Botswana do Bussmann và cộng sự tiến hành trên 650bệnh nhân được điều trị thuốc kháng vi rút ARV: sau 1 năm điều trị, số lượng

tế bào CD4 tăng trung bình 137 TB/mm3 và sau 2 năm con số này là 199TB/mm3; tỷ lệ bệnh nhân còn sống sau điều trị 1 năm là 96,6% và sau 2 năm

là 95,4% 120/650 (18,2%) bệnh nhân phải đổi phác đồ do tác dụng phụ của

Trang 17

thuốc Các tác dụng phụ hay gặp của các thuốc ARV là: rối loạn phân bố mỡ,thiếu máu, giảm bạch cầu … [37].

Nghiên cứu về các yếu tố liên quan tuân thủ điều trị ARV:

a, Các yếu tố cá nhân liên quan đến tuân thủ điều trị:

 Yếu tố nhân khẩu học: giới, tuổi, học vấn, nghề nghiệp

Nghiên cứu của Chesney tại Mỹ ở trên cũng đưa ra kết luận: các yếu tố

cá nhân ảnh hưởng đến TTĐT ARV kém là giới tính nam, trẻ tuổi, học vấnthấp, không thay đổi về tình trạng sức khỏe, người da màu [41]

Talam và cộng sự nghiên cứu trên 384 BN tại Kenya năm 2008 thì chokết quả: các yếu tố về nghề nghiệp là yếu tố chính ảnh hưởng tới tuân thủ điềutrị, đó là: tính chất công việc hay phải đi xa nhà hay do công việc quá bận rộn[56]

Một nghiên cứu khác tại Ấn Độ do Cauldbeck MB và cộng sự thựchiện năm 2009 về các yếu tố ảnh hưởng tới TTĐT đã đi tới kết luận: các yếu

tố làm tăng tuân thủ bao gồm: bệnh nhân cao tuổi, nữ giới, đã được điều trịNTCH từ trước; còn các yếu tố: học vấn, thu nhập, khoảng cách tới phòngkhám … không ảnh hưởng tới việc TTĐT [38]

Kiến thức về thuốc và điều trị ARV:

Với giả thiết sự thiếu hiểu biết về thuốc ARV có thể dẫn tới việc dùngthuốc không đúng, nghiên cứu tại Brazil của Almeida và cộng sự (2009) chokết quả: chỉ có 43,1% BN biết phải uống thuốc suốt đời, có 55,4% BN khôngbiết cơ chế tác dụng của thuốc Về xử trí quên thuốc, chỉ có 14,4% trả lờiđúng là phải uống ngay khi nhớ ra nếu chưa quá gần với thời gian uống liều

kế tiếp, 30,3% cho rằng uống liều đó ngay khi nhớ ra bất kể lúc nào, và35,9% cho rằng phải đợi đến liều tiếp theo Về hậu quả của việc điều trị bịgián đoạn, 18,5% cho rằng thúc đẩy các bệnh khác, 20% cho rằng tăng sốlượng vi rút, 22,1% cho rằng họ sẽ chết và bệnh trầm trọng hơn BN biết tácdụng của thuốc không nhiều: hoa mắt, chóng mặt 29,2%, buồn nôn 24,6%, ácmộng 22,6%, thiếu máu 21,5%, tiêu chảy 19%, nôn 17,9% [36]

Nghiên cứu của Golin và cộng sự trên 140 BN đang điều trị ARV chokết quả: có 80% cho rằng ARV giúp người bệnh kéo dài cuộc sống, 73%đồng ý thuốc ARV giúp nâng cao chất lượng sống của họ, 77% không đồng

Trang 18

tình với quan điểm “có thể chống lại HIV mà không dùng thuốc”, 80% đồng ýrằng nếu không uống ARV đúng liều lượng và đủ >95% thì HIV có thể khánglại thuốc [42].

Để nâng cao hiểu biết cho bệnh nhân, Wong IY và cộng sự đã xâydựng một chương trình giáo dục cho bệnh nhân bằng cách sử dụng băngvideo nhằm tăng sự hiểu biết của bệnh nhân về nguy cơ kháng thuốc ARV vàuống thuốc đúng cách, từ đó BN có ý thức tuân thủ uống thuốc tốt hơn Kếtquả đánh giá sau khi xem băng video, hầu hết bệnh nhân đã nắm được cách sửdụng thuốc và tác dụng phụ của thuốc Tác giả cũng khẳng định đây là nềntảng để giúp tăng cường sự tuân thủ của người bệnh [59]

 Sử dụng rượu bia, ma túy:

Nghiên cứu về các rào cản tuân thủ, tác giả Kalichman SC và cộng sự

đã nghiên cứu về sự liên quan giữa tuân thủ điều trị và việc sử dụng rượu biatrên 145 BN điều trị ARV cho kết quả: 40% có sử dụng rượu bia trong quátrình điều trị, trong đó 25% đã ngừng sử dụng thuốc kháng vi rút ARV khi họ

sử dụng rượu bia Kết quả phỏng vấn cho thấy, mặc dù người bệnh biết việc

sử dụng rượu bia với ARV có thể dẫn tới bị ngộ độc, nhưng họ không thể caiđược rượu bia nên đã ngừng thuốc khi dùng rượu bia Qua đây các tác giảkhuyến cáo rằng, thầy thuốc cần phải thường xuyên giáo dục cho BN hiểurằng, họ cần phải tiếp tục uống thuốc ARV ngay cả khi họ vẫn đang sử dụngrượu [45]

Lopez E và cộng sự tiến hành nghiên cứu năm 2007 so sánh sự tuân thủARV giữa 2 nhóm: đang sử dụng thuốc gây nghiện và không sử dụng chấtgây nghiện cho kết quả: sự tuân thủ ở nhóm không sử dụng chất gây nghiệntốt hơn so với nhóm kia [48]

Nghiên cứu của nhiều tác giả khác trên thế giới cũng đưa ra kết luận: sửdụng rượu bia, ma túy có liên quan với sự tuân thủ điều trị ARV kém ở ngườinhiễm HIV [39], [42], [43] Theo các tác giả, những người uống rượu, ma túy

có khả năng hay quên thuốc ARV hơn, điều này dẫn tới việc giảm nồng độthuốc và giảm sự tuân thủ điều trị

b, Các yếu tố về thuốc liên quan đến tuân thủ điều trị:

Trang 19

Nghiên cứu tại Ấn Độ của Cauldbeck MB và cộng sự ở trên đưa ra mốiliên quan giữa tuân thủ điều trị và không có tác dụng phụ của thuốc ARV[38].

Chesney MA đưa ra kết luận tương tự: các yếu tố về thuốc ARV nhưhơn 2 liều mỗi ngày, gánh nặng về thuốc, loại thuốc, không sẵn có thuốc khi

đi xa, nhu cầu thực phẩm không đủ khi uống thuốc, tác dụng phụ của thuốc liên quan có ý nghĩa tới sự tuân thủ điều trị ARV kém ở người bệnh [41]

Tác giả Minzi OM và cộng sự xuất phát từ quan điểm, tác dụng phụcủa thuốc ARV là một thách thức trong quá trình điều trị và ảnh hưởng tớiviệc tuân thủ của bệnh nhân, nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu đánh giáyếu tố này và cho kết quả là: thiếu máu, nhiễm độc gan, phát ban trên da vàbệnh lý thần kinh ngoại biên… là các tác dụng phụ thường gặp của các thuốcARV ở BN không tuân thủ tại Tanzania [52]

Nghiên cứu của Addy Chen và cộng sự tại 10 nước Châu Á cũng chokết quả: 66% những bệnh nhân nữ ngừng thuốc ARV là do bị tác dụng phụcủa thuốc [40]

c, Yếu tố về dịch vụ y tế và sự hỗ trợ liên quan đến tuân thủ điều trị:

Hai tác giả Krain và Fitzgerald tiến hành nghiên cứu tại Haiti (2005) đãtìm ra một số rào cản của tuân thủ điều trị ARV có liên quan đến các dịch vụ

y tế, đó là: hệ thống cung ứng thuốc chưa tốt, nhiều nhân viên y tế chưa đượcđào tạo [47]

Cũng với giả thiết rằng nhân viên y tế đóng vai trò chính trong tuân thủđiều trị của bệnh nhân, năm 2005 Malta và cộng sự tiến hành phỏng vấn sâu

40 nhân viên y tế làm việc tại 6 trung tâm y tế ở Rio de Janeiro (Brazil) đãthấy rằng: nhân viên y tế có nhiều kinh nghiệm điều trị bệnh nhân HIV/AIDS,

có mối quan hệ tốt và kỹ năng nói chuyện với bệnh nhân, phát hiện các ràocản của bệnh nhân, có kỹ năng tư vấn tuân thủ tốt và hiệu quả của các dịch vụsẵn có - là những yếu tố tích cực làm tăng cường khả năng tuân thủ của bệnhnhân [49]

Chesney MA cũng đưa ra kết luận tương tự: mối quan hệ không tốt vớingười cung cấp dịch vụ; hệ thống y tế không đáp ứng được nhu cầu hiện tại

Trang 20

của bệnh nhân là những yếu tố liên quan có ý nghĩa tới sự tuân thủ điều trịARV kém ở bệnh nhân HIV/AIDS [41].

2.2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ BN tuân thủ điều trị ARVtrung bình khoảng 60%, dao động tùy từng nghiên cứu và đối tượng nghiêncứu Nhiều yếu tố có mối liên quan đến TTĐT đã được các nghiên cứu kếtluận như các yếu tố về nhân khẩu học, yếu tố về kiến thức và hành vi cá nhân,gia đình, người hỗ trợ, cộng đồng

Nghiên cứu về mức độ tuân thủ điều trị:

Kết quả nghiên cứu trên 163 bệnh nhân tại 8 quận của Hà Nội năm

2007 tìm hiểu sự tuân thủ uống thuốc ARV bằng phương pháp phỏng vấn trựctiếp bệnh nhân nhớ lại hành vi uống thuốc trong vòng 1 tháng, 3 tháng và 6tháng vừa qua cho kết quả: trong vòng 6 tháng tỷ lệ quên hoặc uống muộn là58,3%, tỷ lệ này trong vòng 3 tháng là 54%, trong vòng 1 tháng là 46% [18]

Nghiên cứu tương tự tại quận 10 TP Hồ Chí Minh năm 2009, phỏngvấn trực tiếp 400 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên hệ thống từ danh sáchbệnh nhân đang điều trị tại PKNT quận 10 cho kết quả tỷ lệ tuân thủ điều trịtrong vòng 1 tháng qua là 67% [15]

Nghiên cứu của Võ Thị Năm và cộng sự năm 2009 trên 267 bệnh nhânđang điều trị ARV được từ 6 tháng trở lên tại 5 PKNT tại TP Cần Thơ cho kếtquả 77% bệnh nhân đã tuân thủ điều trị trong vòng một tháng vừa qua [25]

Cũng đo lường sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân trong vòng 1 thángqua, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Trang tại tỉnh Thanh Hóa năm 2010phỏng vấn trực tiếp 220 bệnh nhân mới vào điều trị ARV được từ 6 tháng đến

1 năm cho kết quả có 40,5% bệnh nhân báo cáo đã quên uống thuốc trongvòng 1 tháng qua, trong đó 76,7% quên từ 1-3 lần/tháng, 23,3% quên trên 3lần/tháng và có 13,3% bệnh nhân quên uống thuốc ngày hôm qua [27]

Nghiên cứu tại tỉnh Sơn La năm 2011 trên 110 bệnh nhân mới bắt đầuđiều trị được từ 6 tháng đến 12 tháng cho kết quả có 23,6% bệnh nhân quên

Trang 21

uống thuốc trong vòng 1 tháng vừa qua, số bệnh nhân quên uống thuốc trên 3lần trong tháng chiếm tỷ lệ là 13,6% [30]

Nghiên cứu của Đỗ Mai Hoa và cộng sự (2011) về tuân thủ điều trị trên

615 bệnh nhân HIV/AIDS tại một số PKNT ở Hà Nội và Hải Dương bằngphương pháp phỏng vấn có trợ giúp của máy tính gắn với thiết bị nghe nhìn(ACASI) cho kết quả: có tới 24,9% BN không tuân thủ đúng liều trong thángqua và 29,1% BN không tuân thủ đúng giờ trong 4 ngày qua [44]

Nghiên cứu về kết quả điều trị ARV:

Nghiên cứu về thực trạng điều trị ARV tại tỉnh Đắc Lắc (2009) cho kếtquả: hầu hết BN tiếp cận với ARV khi đã ở giai đoạn lâm sàng 3, 4; bệnhnhân có tiến triển về cân nặng rất rõ rệt, sau 24 tháng đạt được cân nặng trungbình của một người Việt Nam khỏe mạnh; nữ giới duy trì điều trị tốt hơn nam1,99 lần; bệnh nhân vào điều trị ở giai đoạn lâm sàng 1-2 kết quả điều trị tốthơn 2,35 lần Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị cần tăng cường tư vấn và hỗ trợtại nhà để bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt hơn [34]

Kết quả phân tích hồ sơ bệnh án của 1072 bệnh nhân tại một số tỉnh ởViệt Nam do Nguyễn Văn Kính và cộng sự thực hiện năm 2008-2009 cho kếtquả: cân nặng trung bình của bệnh nhân so với thời điểm bắt đầu điều trị tăng

2 kg; tỷ lệ bệnh nhân duy trì phác đồ bậc 1 sau 12 tháng là 89,8%, sau 24tháng là 87,1%; số lượng tế bào CD4 tăng nhanh theo khoảng thời gian được

sử dụng thuốc: số lượng tế bào CD4 trung bình khi bắt đầu điều trị là 131,7TB/mm3 máu, sau 6 tháng điều trị tăng lên là 245 TB/mm3 máu, sau 12 tháng

là 274 TB/mm3 máu, sau 18 tháng là 371 TB/mm3 máu, sau 24 tháng là 395TB/mm3 máu [22]

Trong một nghiên cứu khác tại 30 phòng khám ngoại trú được lựa chọnngẫu nhiên tại một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam do Cục PC HIV/AIDS thựchiện năm 2010 đưa ra kết luận: tỷ lệ duy trì điều trị ARV tương đối tốt sau 12tháng nhưng thấp hơn ở nhóm nghiện chích ma túy, sau 6 tháng trung vị CD4tăng thêm 91 tế bào/mm3 máu, sau 12 tháng tăng thêm 137 tế bào, sau 24tháng tăng 206 tế bào; phần lớn BN ít có biểu hiện tác dụng phụ, tuy nhiên cóthể do việc ghi chép theo dõi tác dụng phụ chưa được thường quy [13]

Trang 22

Nghiên cứu tại Thanh Hóa năm 2010 ở trên cũng đưa ra kết quả: sau 6tháng điều trị, 85,2% bệnh nhân đã hết nhiễm trùng cơ hội, trung bình cânnặng tăng 3,1kg; trung vị số lượng TCD4 tăng 153 TB/mm3 67,2% bệnhnhân đã cho kết quả điều trị tốt: tăng cân, không có nhiễm trùng cơ hội, tăng

số lượng TCD4 [27]

Nghiên cứu đánh giá kết quả chương trình điều trị ARV tại huyện MaiSơn, tỉnh Sơn La giai đoạn 2009-2010 cho kết quả: 73% BN có cân nặng tăngsau 6 tháng điều trị và duy trì ở tỷ lệ 73% tại thời điểm sau 12 tháng điều trị;87,3% BN không còn biểu hiện NTCH sau 6 tháng điều trị và duy trì tỷ lệ87,3% tại thời điểm sau 12 tháng điều trị; tỷ lệ BN có số lượng tế bào CD4tăng sau 6 tháng điều trị là 93,7%, sau đó giảm nhẹ tại thời điểm sau 12 thángđiều trị 88,9% [30]

Một nghiên cứu khác được thực hiện tại quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ năm

2011 cho kết quả: Hiệu quả điều trị đạt thấp ở 6 tháng đầu điều trị (44,7%) vàtăng dần sau 12 tháng (72,7%) và 24 tháng là 77,3%; chỉ số tăng cân đạt thấpnhất ở cả 3 thời điểm: 6, 12 và 24 tháng (tương ứng 70,2%, 77,3%, 81,8%)[16]

Nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV:

a, Các yếu tố cá nhân

Trình độ học vấn: Nghiên cứu tại Cần Thơ tìm thấy mối liên quan giữa

trình độ học vấn với tuân thủ điều trị ARV ở BN, những BN có trình độ họcvấn thấp (≤cấp 2) thì tuân thủ kém hơn những người có trình độ học vấn caohơn (từ cấp 3 trở lên) [25] Một số nghiên cứu khác cũng đưa ra kết luậntương tự về mối tương quan này [16], [30], [34]

Tình trạng hôn nhân: Nghiên cứu của Võ Thị Năm tại TP Cần Thơ ở

trên cũng đưa ra kết luận những người có gia đình thì tuân thủ điều trị thấphơn những người độc thân [25] Tuy nhiên nghiên cứu khác tại Đắc Lắc lạicho kết quả ngược lại, những người chưa lập gia đình tuân thủ điều trị tốt hơnnhững người đã có gia đình [34]

Nghề nghiệp và thu nhập: Nghiên cứu định tính trên nhóm BN điều trị

ARV là người NCMT tại Từ Liêm – Hà Nội (2010) cho thấy khó khăn đối với

Trang 23

việc điều trị ARV của họ chủ yếu là do thất nghiệp, công việc và thu nhậpkhông ổn định [23] Đánh giá của Nguyễn Văn Kính và cộng sự tiến hànhnăm 2008 – 2009 tại 8 tỉnh nước ta cũng cho thấy khó khăn mà BN gặp phảitrong quá trình điều trị là không ổn định về địa chỉ cư trú và việc làm, khókhăn về tài chính [22].

Kiến thức về điều trị và tuân thủ điều trị:

Kết quả nghiên cứu trên 163 BN tại 8 quận của TP Hà Nội năm 2007cho thấy: phần lớn BN nắm được các nguyên tắc phối hợp thuốc và tác dụngphụ của thuốc Hầu hết BN biết nguyên tắc uống thuốc đúng giờ Tác hại dokhông TTĐT là: “gây chủng kháng thuốc”: 62,6%, “không ức chế sự tăngsinh vi rút”: 57,1% Gần 98% BN biết cần phải uống thuốc 2 lần/ngày vàkhoảng cách giữa 2 lần uống là 12 tiếng Nghiên cứu cũng đưa ra bằng chứng

có ý nghĩa về mối liên quan giữa tuân thủ điều trị với kiến thức tốt về điều trị

và tuân thủ điều trị ARV (p<0,01) [18]

Nghiên cứu tại quận 10 TP Hồ Chí Minh (2009) cho kết quả: tỉ lệ bệnhnhân có kiến thức đúng về tuân thủ điều trị ARV là 69% và tỉ lệ bệnh nhân cóthực hành chung đúng về tuân thủ điều trị là 94% Bệnh nhân có kiến thứcđúng về tác dụng phụ thì tuân thủ điều trị ARV cao hơn bệnh nhân có kiếnthức chưa đúng (p=0,02) [15] Nhiều nghiên cứu khác ở nước ta cũng tìm ramối tương quan thuận giữa kiến thức tốt về điều trị với tuân thủ điều trị ARV

ở bệnh nhân HIV/AIDS [18], [24], [27]

 Sử dụng rượu, bia, ma túy:

Nghiên cứu tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cho thấy sử dụng

ma túy và uống rượu, bia là một trong các nguyên nhân chính khiến bệnhnhân quên uống thuốc trong thời gian vừa qua [21]

Nghiên cứu của Đỗ Mai Hoa tại Hà Nội và Hải Dương cũng tìm thấymối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc sử dụng rượu và ma túy vớikhông tuân thủ điều trị: những người có sử dụng rượu và ma túy thì khôngtuân thủ đúng liều gấp 5,04 lần những người khác, qua đó nghiên cứu đưa rakhuyến nghị cần thực hiện các biện pháp giảm tình trạng uống nhiều rượu, bia

để tăng cường việc tuân thủ uống thuốc đúng giờ, đúng liều ở bệnh nhân [44]

Trang 24

Nghiên cứu khác tại Thanh Hóa đưa ra kết luận: không còn tiêm chích

ma túy là yếu tố tăng cường thực hành TTĐT ARV ở bệnh nhân [27]

Nghiên cứu của Cục PC HIV/AIDS năm 2009 cũng đưa ra khuyến nghịcần có các giải pháp hỗ trợ tuân thủ điều trị đặc biệt ở nhóm BN sử dụng matúy vì đây là nhóm tuân thủ điều trị kém hơn và kết quả điều trị cũng khôngtốt bằng nhóm bệnh nhân không sử dụng ma túy [13]

b, Các yếu tố về thuốc

Phác đồ điều trị: Một nghiên cứu tìm hiểu tỷ lệ tuân thủ điều trị và các

yếu tố liên quan ở nhóm bệnh nhân là trẻ em được thực hiện ở Bệnh viện NhiTrung ương năm 2011 cho kết quả: phác đồ điều trị có mối liên quan tới tuânthủ điều trị, những bệnh nhân điều trị theo phác đồ bậc 2 tuân thủ tốt hơnnhững bệnh nhân điều trị theo phác đồ bậc 1 (p<0,05) [24]

Phản ứng phụ của thuốc: Nghiên cứu tại 8 quận Hà Nội năm 2007 ở

trên cũng đưa ra kết luận: việc gặp tác dụng phụ của thuốc có liên quan tớihành vi tạm nghỉ thuốc của bệnh nhân trong tháng vừa qua [18] Một sốnghiên cứu khác cũng cho kết quả một trong các lý do khiến BN bỏ khônguống thuốc hoặc uống thuốc muộn là do lo sợ sẽ gặp phải các tác dụng phụcủa thuốc ARV [25], [27], [31]

c, Các yếu tố về dịch vụ y tế và sự hỗ trợ

Tư vấn và hỗ trợ của cán bộ y tế:

Nghiên cứu tại quận Tây Hồ, TP Hà Nội (2009) đưa ra kết luận việcphối hợp tốt với cán bộ y tế sẽ làm tăng mức độ tuân thủ điều trị ARV ởnhững bệnh nhân HIV/AIDS [31]

Nghiên cứu tại huyện Từ Liêm, TP Hà Nội (2010) cũng cho thấy côngtác tư vấn hỗ trợ điều trị còn nhiều hạn chế là một trong các rào cản đối vớiviệc tiếp cận điều trị và tuân thủ điều trị ở bệnh nhân [23]

Nghiên cứu tại tỉnh Thanh Hóa thì cho kết quả những bệnh nhân đượccán bộ y tế tư vấn đầy đủ trước điều trị sẽ có kiến thức và thực hành tuân thủđiều trị tốt hơn những người không được tập huấn và tư vấn đầy đủ [27]

 Sự hỗ trợ tích cực từ người nhà:

Trang 25

Nghiên cứu tại Thanh Hóa cho kết quả những bệnh nhân có sự hỗ trợ

tích cực từ phía người nhà trong quá trình điều trị sẽ tuân thủ tốt hơn 2,9 lầnnhững người không được hỗ trợ tích cực (p<0,001) [27]

Nghiên cứu tại Cần Thơ đưa ra kết luận những người có vợ hoặc chồng

là người hỗ trợ điều trị tại nhà thì thực hành tuân thủ điều trị tốt hơn nhữngngười không có người hỗ trợ hoặc người hỗ trợ điều trị là những người khác(anh, chị, em, họ hàng, con ) [25]

Nghiên cứu tại quận 10 TP Hồ Chí Minh cũng đưa ra kết luận tương tự:bệnh nhân có người trợ giúp thì tuân thủ điều trị cao hơn bệnh nhân không cóngười trợ giúp (p=0,03) [15]

Biện pháp nhắc nhở uống thuốc:

Nghiên cứu tại 8 quận của Hà Nội năm 2007 cho thấy có khoảng 95%bệnh nhân dùng biện pháp thích hợp để nhắc uống thuốc [18]; tỷ lệ này trongnghiên cứu tại Thanh Hóa là 90,5% [27], nghiên cứu tại TP Hồ Chí Minh là94% [15] Các nghiên cứu cũng đưa ra bằng chứng khẳng định mối liên quan

có ý nghĩa thống kê giữa việc có sử dụng các biện pháp nhắc nhở uống thuốcvới việc không quên thuốc trong tháng vừa qua [15], [18], [27]

Hỗ trợ của các câu lạc bộ/nhóm đồng đẳng:

Năm 2008, tác giả Nguyễn Văn Kính đã tiến hành nghiên cứu hiệu quả

mô hình quản lý, chăm sóc và tư vấn cho người nhiễm HIV dựa vào cộngđồng tại 3 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh cho thấy:hoạt động của câu lạc bộ người nhiễm gắn với hoạt động của các phòng khámngoại trú đã mang lại những hiệu quả đáng kể trong việc hỗ trợ, tuân thủ điềutrị ARV ở bệnh nhân [20]

Trong một số nghiên cứu khác có tìm hiểu các nhu cầu của ngườinhiễm HIV giúp tăng cường tuân thủ điều trị và hiệu quả điều trị ARV cũngcho thấy: được tham gia sinh hoạt các câu lạc bộ và được các thành viên trongnhóm hỗ trợ, tư vấn thường xuyên tại nhà là một trong những mong muốnchính của bệnh nhân đang điều trị ARV [23], [27]

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 26

- Bệnh nhân đang điều trị ARV tại ….?

- Bệnh nhân đã bỏ trị ARV tại đâu?

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2012

- Địa điểm nghiên cứu: Tại các phòng khám ngoại trú Trung tâm PC HIV/AIDS tỉnh Ninh Bình, Trung tâm Y tế huyện Kim Sơn

3.3 Thiết kế nghiên cứu

- Thiết kết nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

3.4 Chọn mẫu, cỡ mẫu

3.4.1 Cỡ mẫu

- Toàn bộ bệnh nhân điều trị ARV tại các phòng OPC của Trung tâm PCHIV/AIDS tỉnh Ninh Bình, Trung tâm y tế huyện Kim Sơn đáp ứng được cáctiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu đã tiếp cận và vận

động được 393 bệnh nhân tham gia nghiên cứu (trong đó: 375 bệnh nhân đang điều trị ARV và 18 bệnh nhân bỏ trị).

- Toàn bộ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân đã đồng ý trả lời phỏng vấn trongnghiên cứu này

3.4.1 Chọn mẫu

- Dựa vào hồ sơ quản lý bệnh nhân tại các phòng khám, chọn toàn bộ cácđối tượng đang điều trị ARV được từ 6 tháng trở lên tính đến thời điểm thuthập số liệu

- Dựa vào danh sách quản lý và theo dõi bệnh nhân của các phòng khám,lập danh sách những bệnh nhân HIV/AIDS đã bỏ điều trị ARV từ trước tớinay, liên hệ mạng lưới y tế cơ sở xác định những bệnh nhân bỏ trị còn sống vàhiện đang ở tại địa phương

- Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án của tất cả những bệnh nhân đủ tiêuchuẩn và đã đồng ý tham gia phỏng vấn

3.5 Nội dung nghiên cứu

3.5.1.1 Đánh giá mức độ tuân thủ điều trị ARV :

Trang 27

- Hỏi bệnh nhân về các hành vi: Bỏ liều, uống thuốc muộn và uống

thuốc không đúng cách trong 1 tuần qua, các xử lý quên thuốc, lý do bỏ thuốc/uống muộn/uống không đúng cách trong 1 tuần qua, lý do bỏ trị

3.5.1.2 Xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị: bao gồm 3 nhóm

yếu tố:

- Nhóm yếu tố cá nhân: tuổi, giới, trình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, tiền sử lây nhiễm HIV, giai đoạn điều trị, kiến thức về điều trị ARV, người sống cùng, người hỗ trợ điều trị, tham gia nhóm đồng đẳng …

- Yếu tố về thuốc: phản ứng phụ của thuốc, phác đồ điều trị

- Yếu tố dịch vụ: Khoảng cách nhà tới cơ sở điều trị, sự hỗ trợ của cán

bộ y tế, sự hài lòng của BN với CBYT…

3.5.1.3 Đánh giá kết quả điều trị:

- Sự thay đổi về các chỉ số: nhiễm trùng cơ hội, số lượng tế bào CD4/mm3máu tại thời điểm bắt đầu vào điều trị và sau điều trị 6 tháng, 12 tháng, 24

tháng, 36 tháng và 48 tháng.6 Phương pháp thu thập thông tin

- Các chỉ tiêu trên được thu thập qua phỏng vấn bệnh nhân và số liệu

trong bệnh án ngoại trú

Các công cụ nghiên cứu cụ thể

- Bộ câu hỏi phỏng vấn cho bệnh nhân (phụ lục 1)

- Phiếu thu thập thông tin từ bệnh án ngoại trú (phụ lục 2)

- Một BN được đánh giá là tuân thủ điều trị trong 1 tuần vừa qua khi đảm bảo cả 3 tiêu chí: không bỏ liều lần nào trong tuần qua, không uống thuốc muộn quá 1 giờ lần nào trong tuần qua và không uống sai cách chỉ dẫn lần nào trong tuần qua

- Tỷ lệ tuân thủ điều trị được tính bằng công thức:

Trang 28

Số BN tuân thủ điều trị trong tuần qua/tổng số BN trả lời phỏng vấn x 100%.

- Một BN được đánh giá là có kiến thức đạt về điều trị ARV khi trả lời các câu hỏi phần kiến thức đạt từ 9/13 điểm trở lên (tương ứng với mỗi ý trả lời đúng trong các câu hỏi phần kiến thức đạt 1 điểm)

3.6 Phương pháp xử lý số liệu

Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và làm sạch, phân tích số liệubằng phần mềm SPSS 18.0 Số liệu được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồkết hợp với phiên giải, bàn luận về tỷ lệ tuân thủ điều trị trong 7 ngày qua, mô

tả kiến thức về tuân thủ điều trị ARV, mô tả các kết quả điều trị, xác định vàphân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở bệnh nhân

7 Sai số và cách khống chế sai số

8 Đạo đức trong nghiên cứu

Trang 29

3 CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Theo anh, phần này nên viết theo 3 mục tiêu: Nên bố cục như sau

1 Mức độ tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân điều trị tại các phòng khám

ngoại trú của tỉnh Ninh Bình năm 2012

1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

1.2

2 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân đang

điều trị tại các phòng khám ngoại trú của tỉnh Ninh Bình năm 2012

3 Một số kết quả chính sau điều trị ARV ở bệnh nhân điều trị tại các

phòng khám ngoại trú của tỉnh Ninh Bình năm 2012

4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC:

Trong tổng số 375 bệnh nhân đang điều trị ARV tham gia nghiên cứu,

có 256 người (chiếm 68,3%) đang điều trị tại PKNT của TTPC HIV/AIDStỉnh Ninh Bình, còn lại 119 người (chiếm 31,7%) đang điều trị tại PKNT củaTTYT huyện Kim Sơn

Số liệu trong bảng 1 sau đây mô tả một số thông tin chung về ĐTNC.Trong nghiên cứu này, nam giới chiếm nhiều hơn với 62,9%, nữ chiếm ít hơnvới 37,1% ĐTNC có tuổi từ 23 đến 52 tuổi, phần lớn ở độ tuổi từ 30 đến 40tuổi (67,7%), dưới 30 tuổi chiếm 15,8% và trên 40 tuổi chiếm 16,5%

Hơn một nửa số ĐTNC (52,3%) có trình độ trung học cơ sở, 17,3%ĐTNC có trình độ trung học phổ thông, 18,7% trình độ tiểu học, 6,4% mùchữ, 5,4% có trình độ trung cấp/cao đẳng/đại học

Về tình trạng hôn nhân, đa số ĐTNC đang sống cùng vợ hoặc chồng(chiếm 64,9%), tiếp đến là góa vợ/ chồng (chiếm 21,1%), chưa lập gia đình(chiếm 11,5%), còn lại là ly thân hoặc ly dị (4,5%)

Nghề nghiệp chính của ĐTNC đa số là nông dân (59,7%), tiếp đến làcác nghề tự do (16,5%), thất nghiệp (9,6%), công nhân (6,7%), buôn bán/kinhdoanh (4,0%), lái xe (2,9%), thấp nhất là cán bộ/viên chức nhà nước (0,5%)

Trang 30

Khi trả lời câu hỏi về ước lượng thu nhập bình quân đầu người của giađình mình, nhóm ĐTNC cho biết gia đình họ có thu nhập ≤650.000đ/người/tháng chiếm nhiều nhất (69,3%).

Bảng 1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Tần số (n = 375) Tỷ lệ (%) Giới tính

Trang 31

650.000 – 1.000.000đ 57 15.2

Biểu đồ 2 Tỷ lệ đi làm xa nhà và tham gia sinh hoạt CLB theo giới

Biểu đồ trên cho thấy tình trạng đi làm xa nhà và tham gia sinh hoạtcâu lạc bộ theo giới của ĐTNC Có 40,7% nam giới hiện đang đi làm xa ở cáctỉnh khác, tỷ lệ này ở nữ chỉ là 6,5% Ngược lại, tỷ lệ nam tham gia sinh hoạtcác câu lạc bộ chỉ là 23,7%, trong khi đó tỷ lệ nữ tham gia sinh hoạt câu lạc

Trang 32

Biểu đồ 3 cho thấy, nguyên nhân lây nhiễm HIV ở nam giới chủ yếu làqua tiêm chích ma túy (61,9%), 13,6% lây qua quan hệ tình dục không antoàn, 24,5% không biết bị lây nhiễm qua đường nào Còn ở nữ giới, hầu hết làlây nhiễm qua quan hệ tình dục (89,9%); còn lại 6,5% lây qua tiêm chích matúy; 3,6% không rõ nguyên nhân.

4.1.2 Thông tin về sử dụng rượu/bia và ma túy của ĐTNC

Bảng 2 Tỷ lệ sử dụng rượu, bia và ma túy theo giới của ĐTNC (n = 375)

(n = 236)

Nữ (n=139)

Tổng (n = 375) Uống rượu trong tuần qua 133 (56,4%) 21 (15,1%) 154 (41,1%)Uống rượu hàng ngày

trong tuần qua (>4 lần) 45 (31,9%) 0 (0%) 45 (29%)Uống bia trong tuần qua 91 (38,6%) 9 (6,5%) 100 (26,7%)Uống bia hàng ngày trong

tuần qua (>4 lần) 23 (25,3%) 0 (0%) 23 (23%)

Đã từng sử dụng ma túy 179 (75,8%) 10 (7,2%) 189 (50,4%)

Sử dụng ma túy tuần qua 32 (13,6%) 2 (1,4%) 34 (9,1%)

Trong tổng số 375 người tham gia nghiên cứu, có 154 người (chiếm41,1%) có uống rượu trong vòng một tuần trước thời điểm phát vấn, trong đóchủ yếu là nam giới (133 người, chiếm 56,4% tổng số nam), nữ giới có 21người (chiếm 15,1% tổng số nữ) Trong đó có 45 người (chiếm 29,0% tổngĐTNC) có uống rượu hàng ngày (tức là uống trên 4 lần trong tuần qua),những người này hầu hết là nam giới

Tỷ lệ ĐTNC có uống bia tuần qua ít hơn tỷ lệ có uống rượu, 26,7%ĐTNC có uống bia và 23% có uống bia hàng ngày trong tuần qua

Về tình trạng sử dụng ma túy, hơn một nửa ĐTNC (189 người, chiếm50,4%) cho biết đã từng sử dụng ma túy và có 34 trường hợp (chiếm 9,1%)báo cáo có sử dụng ma túy trong vòng một tuần qua, trong đó chủ yếu vẫn lànam giới

Trang 33

4.1.3 Thông tin về điều trị ARV của ĐTNC

Bảng 3 Thông tin về điều trị ARV của ĐTNC

Thời gian điều trị ARV

(Mới nhất: 6 tháng; Lâu nhất: 69 tháng ; Trung bình: 27,5 tháng)

Trang 34

Quan sát bảng số liệu trên thấy rằng, tỷ lệ bệnh nhân đang điều trị theophác đồ 1a (d4T + 3TC + NVP) chiếm nhiều nhất (38,7%), tiếp đến là phác

đồ 1c (AZT + 3TC + NVP) (28,0%), phác đồ 1g (TDF + 3TC + EFV)(14,9%) Còn số ít là bệnh nhân điều trị theo phác đồ 1b (d4T + 3TC + EFV)(9,9%) và 1e (TDF + 3TC + NVP) (8,5%)

Thời gian điều trị ARV trung bình của ĐTNC là 27,5 tháng, người điềutrị ARV lâu nhất được 69 tháng, mới nhất được 6 tháng và hơn một nửa(51,2%) số bệnh nhân đã điều trị được trên 24 tháng

Về giai đoạn lâm sàng khi vào điều trị ARV, có 46,1% bệnh nhân vàođiều trị ARV khi đã ở giai đoạn lâm sàng 3 hoặc 4, có 53,9% vào điều trị khi

ở giai đoạn lâm sàng 1, 2

Có tới 48,8% bệnh nhân vào điều trị ARV khi số lượng tế bào CD4 chỉcòn từ dưới 100 TB/mm3 máu, người có số lượng tế bào miễn dịch thấp nhấttrước khi vào điều trị là 1 TB/mm3 máu, người có CD4 khi vào điều trị caonhất là 575 TB/mm3 máu, trung vị số lượng tế bào CD4 khi vào điều trị ởĐTNC là 113,8 tế bào/mm3 máu

23,2% bệnh nhân cho biết họ đã từng gặp ít nhất một tác dụng phụ củathuốc ARV

Trong nghiên cứu này, có 15,5% ĐTNC cho biết đã từng điều trị thuốcARV ở các tỉnh khác trước khi đăng ký điều trị ARV ở Ninh Bình

4.1.4 Thông tin về sự hỗ trợ và cung cấp dịch vụ

Bảng 4 sau đây cho thấy, phần lớn bệnh nhân hiện nay đều có ngườinhà hỗ trợ điều trị tại gia đình, tuy nhiên vẫn còn có 17,1% không có người

hỗ trợ, 49,3% có người hỗ trợ là vợ hoặc chồng, 21,1% có người hỗ trợ là bốhoặc mẹ, còn lại 12,5% có người hỗ trợ là những người khác như con, cháu,anh, chị, em

Trong số những ĐTNC có người hỗ trợ tại nhà, 68,5% ĐTNC đượcnhững người này thường xuyên nhắc nhở uống thuốc, 56,5% được chăm sóc

về ăn uống, 58,7% được an ủi, động viên về tinh thần, chỉ 21,9% được hỗ trợ

về tiền

Trang 35

Bảng 4 Thông tin về sự hỗ trợ trong điều trị ARV của ĐTNC

Biện pháp nhắc uống thuốc

Đánh giá của ĐTNC về thời gian chờ đợi để khám và lĩnh thuốc tạiPKNT Kim Sơn, 38,7% bệnh nhân điều trị tại đây đánh giá thời gian chờ lànhanh chóng, 61,3% đánh giá là bình thường, có 1 trường hợp cho là quá lâu.Còn tại PKNT TTPC HIV/AIDS, 47,7% cho là nhanh chóng, 52,0% cho làbình thường, có 1 trường hợp cho là quá lâu (0,5%)

Bảng 5 Thông tin về yếu tố cung cấp dịch vụ tại các PKNT

Trang 36

Đặc điểm PK Kim Sơn PK TT AIDS

N = 119 (%) N = 256 (%) Khoảng cách tới phòng khám

(PK Kim Sơn: Gần nhất: 1km, xa nhất: 45 km, trung bình: 8,5 km

Hiếm khi/hoàn toàn không có 11 (9,2) 1 (0,4)

Hài lòng với thái độ của CBYT

Rất hài lòng 49 (41,2) 144 (56,3)

Không/ Rất không hài lòng 3 (2,5) 2 (0,8)

Hài lòng với thông tin tư vấn của CBYT

Rất hài lòng 60 (50,4) 152 (59,4)

Không/Rất không hài lòng 0 1 (0,4)

Về mức độ thường xuyên nhận được thông tin tư vấn từ cán bộ y tế,72,3% bệnh nhân tại PKNT Kim Sơn trả lời là nhận được thông tin tư vấnthường xuyên hàng tháng, 18,5% nói rằng thỉnh thoảng nhận được, 9,2% trảlời là hiếm khi hoặc hoàn toàn không được tư vấn gì Còn tại PKNT TTPCHIV/AIDS, 85,1% ĐTNC tại đây trả lời thường xuyên hàng tháng đều nhậnđược thông tin tư vấn, 14,5% là thỉnh thoảng, có 1 trường hợp (0,4%) cho biếthiếm khi được tư vấn

Về mức độ hài lòng với thái độ phục vụ của cán bộ y tế, tại PKNThuyện Kim Sơn: 41,2% rất hài lòng, 40,3% hài lòng, 16,0% bình thường,2,5% không hài lòng/rất không hài lòng Tỷ lệ này ở phòng khám TTPC

Trang 37

HIV/AIDS là: 56,3% rất hài lòng, 32% hài lòng, 10,9% bình thường, 0,8%không hài lòng.

Bày tỏ sự hài lòng về thông tin tư vấn nhận được từ cán bộ y tế, 50,4%bệnh nhân tại Kim Sơn rất hài lòng, 25,2% hài lòng, 24,4% bình thường,không có trường hợp không hài lòng Tỷ lệ này ở PKNT TTPC HIV/AIDSlần lượt là: 59,4%; 28,1%; 12,1% và 0,4%

4.1.5 Thông tin về nhóm bệnh nhân bỏ trị

Trong tổng số 18 bệnh nhân bỏ trị hiện đang sinh sống tại địa phương

mà nghiên cứu tiếp cận phỏng vấn được, chủ yếu là nam giới (13 người,chiếm 72,2%) còn lại 5 người là nữ

Tuổi của nhóm bệnh nhân bỏ trị tương đối trẻ, từ 25 đến 36 tuổi Trình

độ học vấn chủ yếu là cấp 2 (11 người chiếm 61,2%), tiếp đến là tiểu học (4người chiếm 22,2%)

Về tình trạng hôn nhân của nhóm bệnh nhân bỏ trị này, phần đông là đã

li dị hoặc li thân hoặc góa (8 người, chiếm 44,4%), tiếp đến là nhóm đangsống cùng vợ hoặc chồng (7 người chiếm 38,9%), thấp nhất là chưa lập giađình 16,7%

Nghề nghiệp của họ chủ yếu là nông dân (7 người, chiếm 38,9%), tiếpđến là nghề tự do (5 người, chiếm 27,8%), thất nghiệp (4 người, chiếm22,3%)

Khi được hỏi về việc thường xuyên đi làm ăn xa nhà, 8/18 người đượcphỏng vấn cho biết hiện nay họ thường xuyên đi làm ở tỉnh ngoài Chưa có aitrong số họ từng điều trị ở nơi khác trước khi vào điều trị ở các phòng khámngoại trú ở tỉnh Ninh Bình

Về lý do nhiễm HIV, 8/18 người (44,4%) cho biết họ bị nhiễm HIV dodùng chung bơm kim tiêm, 7/18 người (38,9%) cho rằng mình bị nhiễm HIV

do quan hệ tình dục, 3 trường hợp không rõ lây qua đường nào

Không có người nào trong số họ hiện đang tham gia bất kỳ một câu lạc

bộ hay nhóm giáo dục đồng đẳng nào tại địa phương

Về tình trạng sử dụng ma túy và rượu bia: 6/18 người (33,3%) cho biếthiện họ vẫn còn đang cùng ma túy, 5 người nói rằng họ đã cai, còn lại 7 người

Trang 38

chưa bao giờ dùng ma túy Việc có uống rượu trong tuần qua của nhóm bệnhnhân này cũng khá phổ biến, 10/18 người (55,6%) trả lời họ có uống rượutrong tuần qua.

Khi được hỏi về lý do bỏ trị, có đến 8/18 bệnh nhân (44,4%) nói lý do

là bận việc, 6/18 bệnh nhân (33,3%) nói lý do là đi làm xa, 4/18 bệnh nhân(22,2%) do sức khỏe yếu không thể tiếp tục điều trị, còn lại là các lý do khácnhư do sợ bị kỳ thị, do phản ứng phụ, do khó khăn về tài chính, do thấy khôngcần thiết phải điều trị…

“Gia đình em lúc đó khó khăn, con vẫn còn nhỏ dại đứa nhỏ lại cũng bị

nhiễm bệnh, em thấy sức mình vẫn còn nên vẫn tiếp tục đi làm xa kiếm tiền về nuôi con vì mải việc lại không có thời gian về lấy thuốc thường xuyên nên em

bỏ luôn, vài nữa khi nào yếu rồi mới xin đi uống thuốc lại… ” (Bệnh nhân

nam, 35 tuổi, Nho Quan)

“Đợt đó tôi yếu quá rồi mọi người trong gia đình bảo thôi ở nhà nghỉ ngơi bồi dưỡng không phải uống thuốc nữa, thế là không uống thuốc đó cho đến nay…” (Bệnh nhân nữ, 31 tuổi, TP Ninh Bình).

Có 15/18 người (83,3%) cho biết sau khi họ bỏ trị thì đều được cán bộ

y tế điện thoại liên lạc vận động quay lại điều trị, 3 trường hợp nói rằng họkhông được liên lạc lại hoặc không nhớ có được CBYT phòng khám liên lạclại hay không

Về một số đặc điểm liên quan đến điều trị thu thập được trong bệnh ánngoại trú của nhóm bệnh nhân bỏ trị Trung bình thời gian điều trị của nhómbệnh nhân bỏ trị là 6,7 tháng, người lâu nhất được 27 tháng, người bỏ trị sớmnhất khi mới điều trị ARV được 2 tháng 10/18 người có giai đoạn lâm sàng

1, 2 khi vào điều trị, 12/18 (66,7%) người có số tế bào CD4 khi vào điều trị là

>100TB/mm3 máu 13/18 người không có các biểu hiện NTCH trước khi vàođiều trị

4.2 Mức độ tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân đang điều trị ARV

Bảng 6 Tuân thủ uống thuốc trong tuần qua (n=375)

Bỏ liều trong tuần qua

Trang 39

Về việc uống thuốc đúng giờ, có 68,3% bệnh nhân trả lời không uốngmuộn quá 1 giờ lần nào trong tuần qua, còn lại là có ít nhất một lần uốngmuộn quá 1 giờ (19,2% uống muộn 1 lần, 9,3% uống muộn 2 lần và 3,2%uống muộn từ 3 lần trở lên).

Về việc uống thuốc đúng cách (bao gồm đúng liều lượng thuốc và cáchuống thuốc), đa số BN cho biết họ không uống sai cách lần nào trong tuần qua(94,9%), còn lại 4,3% uống sai cách 1 lần, 0,8% uống sai cách 2 lần, không

có trường hợp nào uống sai cách quá 3 lần trở lên trong tuần qua (Bảng 6)

Trong nghiên cứu này, một bệnh nhân được coi là tuân thủ điều trị khiđảm bảo đủ 3 tiêu chí: không bỏ liều thuốc nào, không uống sai giờ >1 tiếnglần nào và không uống sai cách lần nào trong vòng 1 tuần vừa qua

Kết quả tổng hợp đánh giá theo các tiêu chí trên cho thấy, tỷ lệ bệnhnhân tuân thủ điều trị trong vòng 7 ngày trước thời điểm phỏng vấn là 65,1%,

tỷ lệ không tuân thủ là 34,9% (Biểu đồ 4)

Trang 40

3.5 Kiến thức về điều trị ARV của ĐTNC

Bảng 7 Kiến thức về điều trị ARV của ĐTNC (n = 375)

Biết cách xử lý khi quên thuốc 308 82,1

Bảng trên cho thấy tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đúng về điều trị ARV khácao, 91,5% nêu được thuốc ARV là thuốc kháng vi rút HIV, 77,3% biết thuốcARV được dùng kết hợp từ ít nhất 3 loại thuốc, 89,3% biết điều trị ARV làsuốt đời, 85,3% biết phải tuân thủ trên 95% để đạt hiệu quả điều trị

Bảng sau đây mô tả kết quả trả lời các câu hỏi về khái niệm TTĐTARV và tác hại của không TTĐT

Bảng 8 Kiến thức tuân thủ điều trị ARV (n = 375)

Biểu đồ 4 Tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV trong tuần qua của ĐTNC

Ngày đăng: 29/03/2021, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban quản lý Dự án Quỹ toàn cầu tỉnh Ninh Bình (2012), Báo cáo kết quả hoạt động Dự án Quỹ toàn cầu tỉnh Ninh Bình tháng 10 năm 2012, Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả"hoạt động Dự án Quỹ toàn cầu tỉnh Ninh Bình tháng 10 năm 2012
Tác giả: Ban quản lý Dự án Quỹ toàn cầu tỉnh Ninh Bình
Năm: 2012
2. Báo sức khỏe và đời sống (2011), Phòng chống HIV/AIDS: Cuộc chiến còn tiếp diễn, Hà Nội, truy cập ngày 27/3/2012, tại trang:http://suckhoedoisong.vn/2011112609423142p61c67/phong-chong-hivaids-cuoc-chien-con-tiep-dien.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống HIV/AIDS: Cuộc chiến còn"tiếp diễn", Hà Nội, truy cập ngày 27/3/2012, tại trang:"http://suckhoedoisong.vn/2011112609423142p61c67/phong-chong-hivaids-
Tác giả: Báo sức khỏe và đời sống
Năm: 2011
3. Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương và HAIVN (Chương trình AIDS trường Y khoa Harvard tại VN) (2011), Tài liệu tập huấn tư vấn tuân thủ điều trị ARV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn tư vấn tuân thủ điều"trị ARV
Tác giả: Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương và HAIVN (Chương trình AIDS trường Y khoa Harvard tại VN)
Năm: 2011
4. Bộ y tế (2005), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị nhiễm HIV/AIDS (Ban hành kèm theo quyết định số 06/2005/QĐ-BYT ngày 07/3/2005 của Bộ trưởng Bộ y tế), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị nhiễm HIV/AIDS (Ban hành"kèm theo quyết định số 06/2005/QĐ-BYT ngày 07/3/2005 của Bộ trưởng Bộ y"tế)
Tác giả: Bộ y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2005
5. Bộ y tế (2009), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS (Ban hành kèm theo Quyết định số 3003/QĐ-BYT ngày 19/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS (Ban hành kèm"theo Quyết định số 3003/QĐ-BYT ngày 19/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
Tác giả: Bộ y tế
Nhà XB: Nhàxuất bản Y học
Năm: 2009
6. Bộ y tế (2010), Quyết định số 4746/QĐ-BYT ngày 8/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu Điều trị và chăm sóc cơ bản cho trẻ em nhiễm HIV/AIDS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 4746/QĐ-BYT ngày 8/12/2010 của Bộ trưởng Bộ"Y tế về việc ban hành tài liệu Điều trị và chăm sóc cơ bản cho trẻ em nhiễm"HIV/AIDS
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2010
8. Bộ y tế (2011), Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và"tầm nhìn 2030
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2011
9. Bộ y tế (2011), Quyết định về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong"Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS" Ban hành kèm theo QĐ số 3003 ngày 19/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế., Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2011
10. Bộ Y tế (2012), Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS và hoạt động phòng, chống HIV/AIDS năm 2011; Phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu năm 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS và hoạt động phòng, chống"HIV/AIDS năm 2011; Phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu năm 2012
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
11. Chính phủ (2011), Quyết định về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo"áp dụng cho giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
12. Cục phòng chống HIV/AIDS, chủ biên (2008), Tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.172-173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn xét nghiệm HIV tự"nguyện
Tác giả: Cục phòng chống HIV/AIDS, chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
13. Cục phòng chống HIV/AIDS (2010), Kết quả đánh giá ban đầu đánh giá đáp ứng lâm sàng và miễn dịch ở bệnh nhân người lớn điều trị ARV tại Việt Nam, Hội nghị khoa học quốc gia HIV/AIDS lần thứ IV, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị khoa học quốc gia HIV/AIDS lần thứ IV
Tác giả: Cục phòng chống HIV/AIDS
Năm: 2010
14. Cục phòng chống HIV/AIDS (2012), Mô hình thí điểm Tiếp cận điều trị 2.0 tại Việt Nam (Ban hành kèm theo Quyết định số 1039/QĐ-BYT ngày 03/4/2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình thí điểm Tiếp cận điều trị 2.0"tại Việt Nam (Ban hành kèm theo Quyết định số 1039/QĐ-BYT ngày"03/4/2012)
Tác giả: Cục phòng chống HIV/AIDS
Năm: 2012
15. Hà Thị Minh Đức và Lê Vinh (2010), "Kiến thức thực hành về tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009" , Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 14(1-2010), tr.163-167 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thực hành về tuân thủ điềutrị ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú quận 10 Thành phốHồ Chí Minh năm 2009
Tác giả: Hà Thị Minh Đức và Lê Vinh
Năm: 2010
16. Phạm Thị Cầm Giang (2010), Đánh giá kết quả chương trình chăm sóc, hỗ trợ và điều trị thuốc kháng virus (ARV) tại quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ giai đoạn 2006-2009 Luận văn Thạc sĩ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả chương trình chăm sóc, hỗ"trợ và điều trị thuốc kháng virus (ARV) tại quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ"giai đoạn 2006-2009
Tác giả: Phạm Thị Cầm Giang
Năm: 2010
18. Nguyễn Minh Hạnh (2007), Sự tuân thủ điều trị ARV và các yếu tố liên quan tại các phòng khám và điều trị ngoại trú 8 quận/huyện Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tuân thủ điều trị ARV và các yếu tố liên quan"tại các phòng khám và điều trị ngoại trú 8 quận/huyện Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Minh Hạnh
Năm: 2007
19. Đỗ Mai Hoa, Phạm Thị Đào và Lê Bảo Châu (2003), "Mô hình chăm sóc và hỗ trợ cho những người nhiễm HIV tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng" , Tạp chí Y tế công cộng. 13(13), tr. 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình chăm sóc vàhỗ trợ cho những người nhiễm HIV tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Đỗ Mai Hoa, Phạm Thị Đào và Lê Bảo Châu
Năm: 2003
20. Nguyễn Văn Kính (2008), Nghiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc và tư vấn cho người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng, Tóm tắt luận án Tiến sỹ y học, Học viện quân y, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mô hình quản lý, chăm sóc và tư vấn"cho người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Văn Kính
Năm: 2008
21. Nguyễn Văn Kính (2009), Đánh giá tuân thủ và hiệu quả điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tuân thủ và hiệu quả điều trị bằng thuốc"kháng virus (ARV)
Tác giả: Nguyễn Văn Kính
Năm: 2009
22. Nguyễn Văn Kính và các cộng sự (2010), Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc kháng virus HIV (ARV) tại một số địa phương, Hội nghị Khoa học quốc gia về HIV/AIDS lần thứ IV, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Khoa học quốc gia về"HIV/AIDS lần thứ IV
Tác giả: Nguyễn Văn Kính và các cộng sự
Năm: 2010

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w