1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

thành phố năm 2012

104 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 335,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với một số lý do chính đã nêu trên, Phòng Giám sát, theo dõi và đánh giá, Cục phòng, chống HIV/AIDS phối hợp với nhóm kỹ thuật của Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, Viện Pasteur Nha Trang[r]

Trang 1

Bộ Y Tế Cục phòng, chống hiv/aids

thực trạng triển khai quyết định số 28/2008/QĐ-BYT của bộ trởng bộ y tế về việc ban hành quy chế

và biểu mẫu báo cáo công tác phòng, chống hiv/aids

tại 7 tỉnh, thành phố 2011 - 2012

Chủ nhiệm đề tài: Ths Phan Thị Thu Hơng

Cơ quan thực hiện: Phòng Giám sát, theo dõi và đánh giá

Cơ quan quản lý đề tài : Cục Phòng, chống HIV/AIDS Bộ Y tế

Trang 2

Hà Nội, 2012

Bộ Y Tế Cục phòng, chống hiv/aids

thực trạng triển khai quyết định số 28/2008/QĐ-BYT của bộ trởng bộ y tế về việc ban hành quy chế

và biểu mẫu báo cáo công tác phòng, chống hiv/aids

tại 7 tỉnh, thành phố 2011 - 2012

Chủ nhiệm đề tài: Ths Phan Thị Thu Hơng

Cơ quan thực hiện: Phòng Giám sát, theo dõi và đánh giá

Cơ quan quản lý đề tài : Cục Phòng, chống HIV/AIDS Bộ Y tế

Thời gian thực hiện: từ 8/2011 – 4/2012

Tổng kinh phớ thực hiện đề tài 317,943,000 triệu đồng

Trong đú: kinh phớ SNKH 0 triệu đồng

Nguồn khỏc (nếu cú) 317,943,000 triệu đồng

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM TẮT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI……… 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6

TỔNG QUAN 7

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

1 Thời gian đánh giá 23

2 Địa điểm đánh giá và tiêu chí lựa chọn 23

3 Đối tượng tham gia vào đánh giá 25

4 Thiết kế nghiên cứu: 26

5 Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định chỉ tiêu 26

6 Các công cụ nghiên cứu cụ thể 27

7 Quá trình thử nghiệm bộ công cụ đánh giá 28

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 29

1 Thực trạng triển khai báo cáo QĐ 28 tại tuyến trung ương 29

2 Thực trạng triển khai báo cáo QĐ 28 tại tuyến khu vực 30

3 Thực trạng triển khai báo cáo QĐ 28 tại tuyến tỉnh 31

4 Thực trạng triển khai báo cáo QĐ 28 tại tuyến huyện 34

5 Thực trạng triển khai báo cáo QĐ 28 tại tuyến xã 36

KẾT LUẬN 94

1 Thực trạng triển khai báo cáo QĐ 28/2008/QĐ - BYT 94

2 Chất lượng số liệu 95

3 Thực trạng sử dụng số liệu 95

4 Tính phù hợp của biểu mẫu và hướng dẫn ghi chép 96

KHUYẾN NGHỊ 97

1 Tuyến trung ương 97

2 Tuyến khu vực 97

3 Tuyến tỉnh 98

4 Tuyến huyện 98

5 Tuyến xã 99

Hµ Néi, 2012

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DFID Bộ phát triển quốc tế - Vương quốc Anh

GFATM Quỹ toàn cầu phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét

HMIS Hệ thống thông tin quản lý y tế

PEPFAR Chương trình khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ cho phòng, chống

TTPC AIDS Trung tâm phòng, chống AIDS

UNAIDS Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS

Trang 5

1 Tên đề tài: Thực trạng triển khai Quyết định số 28/2008/QĐ – BYT của

Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chế và biểu mẫu báo cáo công tácphòng, chống HIV/AIDS tại 7 tỉnh/thành phố

2 Chủ nhiệm đề tài: Ths Phan Thị Thu Hương

3 Cơ quan thực hiện đề tài: Phòng Giám sát, theo dõi và đánh giá

4 Cơ quan quản lý đề tài: Cục Phòng, chống HIV/AIDS

5 Thư ký đề tài: CN Hà Thị Minh Nguyệt

6 Danh sách những người thực hiện chính:

- Hoàng Đình Cảnh: Trưởng phòng Giám sát, theo dõi và đánh giá

- Võ Hải Sơn: Phó trưởng phòng Giám sát, theo dõi và đánh giá

- Nguyễn Việt Nga: Phó trưởng phòng Giám sát, theo dõi và đánh giá

- Bùi Hoàng Đức: Phó trưởng phòng Giám sát, theo dõi và đánh giá

- Lê Mai Phương: Phòng Giám sát, theo dõi và đánh giá

- Hà Thị Minh Nguyệt: Phòng Giám sát, theo dõi và đánh giá

- Nguyễn Văn Hùng: Phòng Nghiên cứu khoa học – hợp tác quốc tế

- Quách Văn Lượng: Phòng Giám sát, theo dõi và đánh giá

- Lê Cẩm Tú: Cục Phòng, chống HIV/AIDS

- Doãn Hồ Phước: Cục Phòng, chống HIV/AIDS

7 Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 8 năm 2011 đến tháng 4 năm 2012

Chủ nhiệm đề tài

Ths PHAN THỊ THU HƯƠNG

Cơ quan quản lý đề tài

CỤC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS

KT CỤC TRƯỞNG PHÓ CỤC TRƯỞNG

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

PGS.TS BÙI ĐỨC DƯƠNG

Trang 6

TÓM TẮT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI

1 Kết quả nổi bật của đề tài.

(a) Đóng góp mới của đề tài.

Hiện nay Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn2011-2020 và tầm nhìn 2030 cũng đã được ban hành kèm theo Quyết định số608/QĐ – TTg ngày 25 tháng 5 năm 2012 của Thủ tướng Chính Phủ, chính vìvậy bộ chỉ số quốc gia về giám sát, theo dõi và đánh giá chương trình phòng,chống HIV/AIDS cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế.Quyết định số 28/QĐ – BYT ngày 14 tháng 8 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Y

tế là một trong những hệ thống báo cáo thường quy cung cấp số liệu cho bộchỉ số quốc gia cũng sẽ phải thay đổi cho phù hợp với yêu cầu số liệu của bộchỉ số các cấp quốc gia, khu vực, tỉnh, huyện và xã, cũng như các chỉ sốthống nhất được với xu hướng dịch các nước trong cùng khu vực Do đó kếtquả nghiên cứu của đề tài là căn cứ và cơ sở để chỉnh sửa Quyết định 28 vàxây dựng Thông tư quy định Quy chế và biểu mẫu báo cáo công tác phòng,chống HIV/AIDS sẽ được ban hành trong năm 2013

(b) Kết quả cụ thể (các sản phẩm cụ thể).

- Bản báo cáo kết quả nghiên cứu

- Bản dự thảo Thông tư quy định Quy chế và biểu mẫu báo cáo công tác phòng, chống HIV/AIDS

2 Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt.

Lý do phải kéo dài …

(b)Th c hi n các m c tiêu nghiên c u ự ệ ụ ứ đề ra:

Trang 7

 Thực hiện đầy đủ các mục tiêu đề ra X

 Thực hiện được các mục tiêu đề ra nhưng không hoàn chỉnh

 Chỉ thực hiện được một số mục tiêu đề ra

 Những mục tiêu không thực hiện được (ghi rõ)

(c) Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương.

 Tạo ra đầy đủ các sản phẩm đã dự kiến trong đề cương X

 Chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu như đã ghi trong đề cương X

 Tạo ra đầy đủ các sản phẩm nhưng chất lượng có sản phẩm chưađạt

 Tạo ra đầy đủ các sản phẩm nhưng tất cả các sản phẩm đều chưađạt chất lượng

 Tạo ra được một số sản phẩm đạt chất lượng

 Những sản phẩm chưa thực hiện được (ghi rõ)

(d) Đánh giá việc sử dụng kinh phí.

Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 317,943,000 triệu đồng

Trong đó Kinh phí sự nghiệp khoa học: 0 triệu đồng

Kinh phí từ nguồn khác: 317,943,000 triệu đồng.Toàn bộ kinh phí đã được thanh quyết toán 317,943,000

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 28/2008/ QĐ-BYT, ngày14/8/2008 (QĐ 28/2008/QĐ - BYT) về việc ban hành quy chế và biểu mẫubáo cáo công tác phòng, chống HIV/AIDS cho tuyến tỉnh, huyện và xã Quahơn 3 năm thực hiện báo cáo này tại 63 tỉnh/thành phố, gần 700 huyện/quận

và trên 11000 xã/phường, đến nay đã nảy sinh nhiều bất cập làm cho nhiềuchỉ số báo cáo không phù hợp với mỗi tuyến, nhiều thay đổi trong mỗichương trình, đồng thời quá trình thực hiện cũng cho thấy chất lượng số liệutheo QĐ 28/2008/QĐ - BYT không cao, còn có nhiều sai lệch với thực tếtriển khai chương trình, không phản ánh đúng thực trạng tình hình HIV/AIDStại địa phương cũng như kết quả các chương trình can thiệp về dự phòng vàchăm sóc điều trị Số liệu không được sử dụng cho mục đích theo dõi, giámsát, đánh giá chương trình

Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2011-2020 vàtầm nhìn 2030 đã được ban hành kèm theo Quyết định số 608/QĐ – TTgngày 25 tháng 5 năm 2012 của Thủ tướng Chính Phủ Chính vì vậy bộ chỉ sốquốc gia về giám sát, theo dõi và đánh giá chương trình phòng, chốngHIV/AIDS cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế QĐ28/2008/QĐ - BYT là một trong những hệ thống báo cáo thường quy cungcấp số liệu cho bộ chỉ số quốc gia cũng sẽ phải thay đổi cho phù hợp với yêucầu số liệu của bộ chỉ số các cấp quốc gia, khu vực, tỉnh, huyện và xã, cũngnhư các chỉ số thống nhất được với xu hướng dịch các nước trong cùng khuvực

Chỉ số báo cáo QĐ 28/2008/QĐ - BYT cho mỗi tuyến cần được chuẩnhóa, thống nhất từ cấp cơ sở triển khai đến cấp quản lý chương trình chuyênmôn cũng như theo dõi và đánh giá chương trình, để tránh sảy ra tình trạngmỗi nơi làm một kiểu, không thống nhất được chỉ số quốc gia

Trang 9

Số liệu tổng hợp QĐ 28/2008/QĐ - BYT tại mỗi tuyến cần phù hợpvới đòi hỏi yêu cầu theo dõi, giám sát, đánh giá chương trình tại mỗi tuyến để

từ đó các số liệu này được sử dụng cho việc lập kế hoạch, quản lý chươngtrình tại mỗi tuyến tránh tình trạng làm ra chỉ để báo cáo tuyến trên vì đâycũng là báo cáo duy nhất tổng hợp chung tất cả số liệu 9 chương trình hànhđộng phòng chống HIV/AIDS quốc gia

Với một số lý do chính đã nêu trên, Phòng Giám sát, theo dõi và đánhgiá, Cục phòng, chống HIV/AIDS phối hợp với nhóm kỹ thuật của Viện Vệsinh dịch tễ trung ương, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Vệ sinh dịch tễ TâyNguyên, Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh và các tổ chức FHI360, CDC,WHO, UNAIDS, dự án Phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam do Ngân hàngthế giới tài trợ tiến hành đánh giá thực trạng việc triển khai thực hiện QĐ28/2008/QĐ - BYT tại tuyến tỉnh, huyện, xã để có các khuyến nghị chỉnhsửa, bổ sung, phục vụ công tác sử dụng số liệu cho lập kế hoạch, giám sát,theo dõi, đánh giá, quản lý chương trình, hoạch định chính sách kịp thời vàhợp lý tại từng tuyến, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng báo cáo số liệucác chương trình phòng, chống HIV/AIDS tại địa phương, phù hợp với yêucầu chiến lược quốc gia giai đoạn 2011-2020.

Tính đến 31/12/2011, ở tất cả 63 tỉnh, 98% số huyện và 77% số xã đều

đã phát hiện có người nhiễm HIV Tổng số các ca tích lũy từ đầu dịch là249.660 ca, với 197.335 người nhiễm HIV vẫn còn sống và 52.325 ca tửvong liên quan đến AIDS Số ca nhiễm HIV báo cáo về Bộ Y tế giảm nhanhchóng từ năm 2007 và 2009 và giữ ổn định ở mức khoảng 14.000 ca mỗi nămtrong năm 2010 và 2011 Báo cáo các trường hợp AIDS và tử vong liên quanđến AIDS cũng vẫn ở mức khá ổn định kể từ năm 2009 Những con số báocáo này phù hợp với việc giảm tỷ lệ nhiễm HIV trong các quần thể chính cónguy cơ lây nhiễm cao nhất Người nhiễm HIV trong độ tuổi 20-39 chiếmhơn 80% số ca được báo cáo. 1 Theo Ước tính và Dự báo HIV/AIDS Việt

1 Báo cáo các ca HIV/AIDS và công tác thực hiện Chương trình Phòng chống HIV/AIDS năm 2011.Kế hoạch cho năm 2012.Bộ Y tế, 2/2012

Trang 10

Nam năm 2011, tỷ lệ nhiễm HIV ở người trưởng thành (15-49 tuổi) duy trì ởmức 0,45% vào năm 2011 Ước tính sẽ có tới 263.317 người sống chung vớiHIV vào năm 2015.2

Quyết định 28/QĐ – BYT ngày 14/8/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế vềviệc ban hành Quy chế và biểu mẫu báo cáo hoạt động phòng, chốngHIV/AIDS được ban hành chỉ trong hệ thống phòng, chống HIV/AIDS và sửdụng ở Việt Nam Do đó trên thế giới chưa có nghiên cứu nào thực hiện đểđánh giá Quyết định 28 và tại Việt Nam, nghiên cứu của chúng tôi cũng lànghiên cứu đầu tiên được triển khai nhằm đạt được những mục tiêu quantrọng phục vụ cho công tác phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam

Sau 3 năm triển khai việc báo cáo theo biểu mẫu, cùng với việc thay đổiChiến lược Phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đặt ramột yêu cầu cấp thiết là đánh giá việc triển khai thực hiện biểu mẫu để cónhững sửa đổi phù hợp với hoạt động thực tiễn và phù hợp với Chiến lược đặt

ra trong thời kỳ mới Thêm vào đó, những đợt giám sát các tỉnh do PhòngGiám sát, theo dõi và đánh giá tổ chức trong các đợt giám sát định kỳ chothấy còn một vài điểm bất cập của việc triển khai báo cáo theo biểu mẫu vàtổng hợp số liệu từ tuyến tỉnh Ngoài ra đến thời điểm hiện tại chưa có mộtnghiên cứu nào đánh giá thực trạng triển khai biểu mẫu theo Quyết định số

28 để có những bằng chứng thuyết phục cho việc chỉnh sửa và hoàn thiệnbiểu mẫu mới Do đó nghiên cứu này được triển khai là hoàn toàn cấp thiết

và phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam

Giả thiết nghiên cứu của đề tài: Quyết định 28/QĐ - BYT ngày 14tháng 8 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế cần được chỉnh sửa để phù hợp vớitình hình triển khai thực tế tại địa phương và phù hợp với Chiến lược Quốcgia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đã được phêduyệt

2 Ước tính và dự báo Ban đầu về HIV/AIDS ở Việt Nam, 2011 Bộ Y tế, Nhóm công tác kỹ thuật quốc gia về Ước tính và dự báo HIV, 2011.

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng triển khai báo cáo hoạt động chương

trình phòng, chống HIV/AIDS theo Quyết định số 28/QĐ - BYT ngày 14/08/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế tại 63 tỉnh/thành phố

Trang 12

TỔNG QUAN

Kể từ khi Chiến lược Quốc gia được thông qua vào tháng 3 năm 2004,

Bộ Y tế đã nỗ lực xây dựng hệ thống TD-ĐG tại Việt Nam, thông qua việckết hợp hài hoà giữa các chương trình TD-ĐG hiện thời vào trong một hệthống TD-ĐG Quốc gia duy nhất Hệ thống TD-ĐG Quốc gia được xây dựngbao gồm 4 cấp dựa trên nền tảng hệ thống tổ chức phòng, chống HIV/AIDS 4cấp hiện có tại Việt Nam, bao gồm:

1 Cấp quốc gia: Đơn vị TD-ĐG quốc gia được đặt tại Bộ Y tế (PhòngGiám sát HIV/AIDS/STI - Cục Phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam)

2 Cấp khu vực: Bốn đơn vị TD-ĐG khu vực được đặt tại Ban điềuhành phòng, chống HIV/AIDS khu vực, bao gồm:

a) Đơn vị TD-ĐG khu vực miền Bắc đặt tại Ban điều hành phòng,chống HIV/AIDS khu vực miền Bắc (Viện Vệ sinh dịch tễ Trung Ương) chịutrách nhiệm theo dõi và đánh giá các hoạt động của 29 tỉnh, thành phố khuvực phía Bắc

b) Đơn vị TD-ĐG khu vực miền Trung đặt tại Ban điều hành phòng,chống HIV/AIDS khu vực miền Trung (Viện Pasteur Nha Trang) chịu tráchnhiệm theo dõi và đánh giá các hoạt động của 11 tỉnh, thành phố khu vựcmiền Trung

c) Đơn vị TD-ĐG khu vực miền Nam đặt tại Ban điều hành phòng,chống HIV/AIDS khu vực miền Nam (Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh)chịu trách nhiệm theo dõi và đánh giá các hoạt động của 20 tỉnh, thành phốkhu vực miền Nam

d) Đơn vị TD-ĐG khu vực Tây Nguyên đặt tại Ban điều hành phòng,chống HIV/AIDS khu vực Tây Nguyên (Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên)chịu trách nhiệm theo dõi và đánh giá các hoạt động của 4 tỉnh, thành phốkhu vực Tây Nguyên

Trang 13

3 Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh):Đơn vị TD-ĐG tuyến tỉnh được đặt tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDStỉnh (Phòng giám sát HIV/AIDS/STI) Tính đến tháng 10 năm 2006 đã có 36Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, thành phố được thành lập Đến cuốinăm 2007, tất cả 64 tỉnh, thành phố sẽ thành lập Trung tâm phòng chốngHIV/AIDS, trong đó có đơn vị TD-ĐG Cơ cấu đơn vị TD-ĐG sẽ phụ thuộcvào quy mô dân số từng tỉnh, thành phố, mức độ lây nhiễm HIV cũng nhưtình hình thực tế tại tỉnh.

4 Cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt làhuyện): Đơn vị TD-ĐG tuyến huyện được đặt tại Trung tâm Y tế dự phònghuyện với ít nhất một đến hai cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm

Bên cạnh đó, Nhóm Hỗ trợ kỹ thuật quốc gia về TD-ĐG sẽ được Bộ Y tếthành lập với sự điều phối của Cục Phòng, chống HIV/AIDS và sự tham giacủa các đơn vị TD-ĐG Quốc gia, đơn vị TD-ĐG khu vực, các trường đại học

và các chuyên gia từ một số tổ chức quốc tế để cung cấp hỗ trợ kỹ thuật chocác hoạt động theo dõi và đánh giá

Trang 14

Sơ đồ 1 dưới đây mô tả hệ thống TD-ĐG tại Việt Nam:

Sơ đồ 1: Cơ cấu hệ thống Theo dõi và Đánh giá tại Việt Nam

CHÍNH PHỦ

Viện VSDT TƯ Đơn vị Theo dõi Đánh giá phía Bắc (Hỗ trợ kỹ thuật cho trung ương)

Viện Pasteur Nha Trang

Đ ơn vị Theo dõi Đánh giá

Đơn vị Theo dõi Đánh giá các tỉnh, thành phố miền Bắc

Quản lý &

điều phối Báo cáo Hỗ trợ kỹ thuật

Nhóm kỹ thuật M&E quốc gia

Các Bộ, ban,

ngành khác

Các tổ chức

quốc tế

Phản hồi và chia sẻ thông tin

Đơn vị Theo dõi Đánh giá tuyến quận/huyện

Đơn vị Theo dõi Đánh giá tuyến quận/huyện

Đơn vị Theo dõi Đánh giá tuyến quận/huyện

Đơn vị Theo dõi

Trang 15

II Nguồn số liệu báo cáo

Nguồn số liệu cung cấp cho hoạt động quản lý chương trình phòng chống HIV/AIDS có thể ở nhiều cấp độ khác nhau như cấp cá thể, dịch vụ y tế, hệ thống chăm sóc sức khỏe, cấp quần thể như các nhóm đối tượng đích hay các vùng sinh

thái Cho dù ở cấp độ nào, các số liệu thường được chia thành 2 nhóm chính: số liệu định kỳ và không định kỳ.

2.1 Các nguồn số liệu định kỳ

Các nguồn số liệu định kỳ cung cấp các số liệu liên tục, ví dụ như các thông tin do cơ sở y tế thu thập từ các bệnh nhân sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe Mặc dù, các số liệu này được tập hợp liên tục, việc xử lý và viết báo cáo thường được tiến hành định kỳ, ví dụ: báo cáo tháng hay báo cáo quý Các số liệu được thu thập từ các nguồn định kỳ rất hữu ích vì nó có thể cung cấp thông tin kịp thời Ví

dụ, các số liệu này có thể được sử dụng hiệu quả trong việc phát hiện và điều chỉnh những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai dịch vụ Tuy nhiên, sẽ khó ước tính mức độ bao phủ đến các quần thể đích thông qua các số liệu này và chất lượng của số liệu định kỳ thường bị ảnh hưởng bởi tính chính xác của hệ thống lưu trữ và việc báo cáo các số liệu không hoàn chỉnh.

2.1.1 Sổ sách ghi chép ban đầu tại cơ sở

Số liệu ghi chép ban đầu đóng vai trò nền tảng cho toàn bộ cơ sở số liệu theo dõi và đánh giá Không có hệ thống ghi chép ban đầu ở cơ sở được xây dựng và tổ chức khoa học thì sẽ không có quản lý hiệu quả chương trình tại tất cả các cấp, không có báo cáo định kỳ gửi lên các cấp cao hơn

Số liệu ghi chép ban đầu tại cơ sở được thực hiện bởi cơ sở cung cấp dịch vụ bằng việc cập nhật thường xuyên thông tin về tình hình dịch và các hoạt động của chương trình thông qua sổ sách, biểu mẫu ghi chép theo quy định Thông tin này sẽ được tổng hợp vào báo cáo định kỳ để báo cáo lên các cấp quản lý hành chính tương ứng.

Số liệu ghi chép ban đầu bao gồm biểu mẫu sổ sách theo dõi các hoạt động tại cơ sở, kể cả nguồn lực (nhân lực, vật lực, và tài lực), thông tin khách hàng và dịch vụ mà họ nhận được, và các thông tin quản lý khác

Trang 16

2.1.2 Số liệu bỏo cỏo định kỳ

Hầu hết cỏc số liệu định kỳ là những chỉ số đầu vào và đầu ra của chương trỡnh và được thu thập đều đặn nhằm cung cấp cỏc thụng tin về tiến độ thực hiện cỏc chương trỡnh đú Mặc dự cú khỏ nhiều thụng tin về hoạt động và quản lý được thu thập cho từng chương trỡnh chỉ cú một số nhúm chỉ số chớnh về dự phũng, chăm súc và hỗ trợ, điều trị, năng lực cỏn bộ, tài chớnh, v.v… được bỏo cỏo thường xuyờn (thường là bỏo cỏo quớ hoặc năm) lờn cỏc cấp quản lý cao hơn

Số liệu định kỳ sẽ được thu thập bằng cỏc biểu mẫu bỏo cỏo chương trỡnh phũng, chống HIV/AIDS quốc gia Số liệu sẽ được thu thập từ tuyến xó/phường, quận/huyện, tỉnh/thành phố Cỏc cơ sở cung cấp dịch vụ sẽ bỏo cỏo trực tiếp về cấp quản lý hành chớnh của mỡnh để tổng hợp bỏo cỏo lờn cấp cao hơn

2.1.2.1 Hoạt động của chương trỡnh phũng chống HIV/AIDS

a) Bỏo cỏo tỡnh hỡnh sử dụng và tồn kho thuốc ARV theo quyết định số 2051/QĐ-BYT

b) Bỏo cỏo số liệu tư vấn xột nghiệm tự nguyện theo Quyết định 647/2007/QĐ-BYT

c) Bỏo cỏo hoạt động theo Quyết định số 28/2008/QĐ-BYT bao gồm số liệu về cỏc hoạt động phũng chống HIV/AIDS tại cỏc tuyến trong chương trỡnh thụng tin - giỏo dục - truyền thụng thay đổi hành vi, can thiệp giảm tỏc hại, chăm súc và điều trị, TVXNTN, phũng lõy truyền HIV từ mẹ sang con, quản

lý và điều trị cỏc nhiễm trựng qua đường tỡnh dục, an toàn truyền mỏu.

 Biểu mẫu số 1: áp dụng cho tuyến xã (báo cáo năm: 8 biểu, báo cáo quý: 6 biểu)

 Biểu mẫu số 2: áp dụng cho tuyến huyện và các đơn vị trực thuộc Sở Y tế (báo cáo năm: 23 biểu, báo cáo quý: 17 biểu)

 Biểu mẫu số 3: áp dụng cho tuyến tỉnh, các viện, bệnh viện TW và các y tế ngành (báo cáo năm: 27 biểu, báo cáo quý: 17 biểu)

Trang 17

Sơ đồ hệ thống áp dụng biểu mẫu Quyết định số 28/2008/QĐ-BYT

21.2.2 Giám sát phát hiện các trường hợp nhiễm HIV

Hoạt động giám sát phát hiện đã bắt đầu được triển khai từ năm 1989 Đến

2001, các mẫu huyết thanh xét nghiệm được gửi về các Viện VSDT TW và khu vực để khẳng định Đến nay, hệ thống giám sát phát hiện đã có 54 phòng xét nghiệm được phép khẳng định HIV.

Báo cáo giám sát phát hiện các trường hợp nhiễm HIV bao gồm các thông tin về số mới phát hiện, số tích lũy nhiễm HIV, số trường hợp AIDS, và số tử vong

do AIDS, theo quyết định 1418/QĐ-BYT.

Đặc điểm của số liệu này là chỉ đưa ra con số nhiễm HIV phát hiện được tích lũy từ thời gian trước đây, cung cấp ít thông tin về tốc độ phát triển của dịch hay số mới mắc theo thời gian.

2.1.2.3 Giám sát trọng điểm HIV/AIDS và STI

Trang 18

Hiện nay, trong toàn quốc có 40 tỉnh, thành phố triển khai giám sát trọng điểm HIV và trong đó có 10 tỉnh, thành phố thực hiện giám sát trọng điểm STI Công tác giám sát trọng điểm này được tiến hành hàng năm và số liệu được gửi về Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, các Viện khu vực, Viện Da liễu Quốc gia và Cục Phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam để tổng hợp và phân tích, đánh giá…

Giám sát trọng điểm HIV trên 6 nhóm đối tượng chính:

 Người nghiện chích ma túy

2.2 Các nguồn số liệu không định kỳ

Các nguồn số liệu không định kỳ cung cấp các số liệu thu thập không liên tục hay theo từng khoảng thời gian dài Sử dụng các nguồn số liệu này cho ta ước tính các chỉ số về mức độ bao phủ của dịch vụ được chính xác hơn Hơn thế nữa, tùy thuộc vào mục đích, chúng ta có thể thu thập số liệu cả ở cơ sở y tế và cả từ phía đối tượng hưởng lợi như các cá nhân, hộ gia đình, … Tuy nhiên, các nguồn số liệu này có nhược điểm là việc thu thập thường tốn kém và không theo định kì nên tính sẵn có và kịp thời bị hạn chế.

Việc hiểu rõ đặc điểm, nguồn số liệu, chu trình số liệu cũng như việc phối hợp sử dụng hợp lý các loại số liệu đóng vai trò quan trọng đến hiệu quả và sự bền

vững của chương trình phòng chống HIV/AIDS Nếu như các số liệu không định kỳ

có vai trò trong việc xác định các nhu cầu can thiệp, các chiến lược dài hạn hay

đánh giá hiệu quả của can thiệp thì các số liệu định kỳ lại có ưu thế hơn trong việc

Trang 19

đưa ra các bằng chứng, cơ sở cho các quyết định về quản lý, triển khai chương trình, vận hành hệ thống và mở rộng diện bao phủ.

2.1 Số liệu điều tra, nghiên cứu

Điều tra là công cụ hữu hiệu nhằm thu thập các thông tin định lượng cơ bản

về quần thể đích mà những thông tin này không thể thu thập được từ các báo cáo chương trình hay các cuộc điều tra giám sát Điều tra có thể tập trung nghiên cứu quan điểm hay các thông tin cần thiết phụ thuộc vào mục đích của điều tra Các điều tra với cỡ mẫu lớn và đại diện có thể cần đầu tư nguồn lực lớn, ví dụ như điều tra dân số - y tế có thể cần thu thập thông tin trên mẫu hàng ngàn hộ gia đình trong

cả nước Bên cạnh đó có các điều tra nhỏ chuyên biệt cần được tiến hành để làm rõ những câu hỏi cụ thể Bộ Y tế (Cục Phòng, chống HIV/AIDS) là cơ quan điều phối, kết hợp với các cơ quan chuyên môn của chính phủ như Tổng cục Thống kê để thực hiện các cuộc điều tra quốc gia phục vụ công tác TD-ĐG chương trình phòng, chống HIV/AIDS

Một số các điều tra hiện nay đang triển khai bao gồm:

- Điều tra dân cư 15-49 tuổi về kiến thức, thái độ và hành vi liên quan đến HIV,

- Điều tra Dân số và các chỉ số HIV/AIDS (VPAIS),

- Điều tra Thanh niên (SAVY),

- Điều tra tài khoản y tế quốc gia cho HIV/AIDS (NASA) nhằm đánh giá chi tiêu cho HIV/AIDS,

- v.v…

Trong tương lai, một số thông tin về cơ sở cung cấp dịch vụ y tế hoặc các hoạt động của trường học trong công tác phòng, chống HIV/AIDS cũng sẽ được thu thập.

Khi phiên giải số liệu thu thập từ điều tra nghiên cứu cần chú ý rằng chất lượng số liệu phụ thuộc nhiều vào thiết kế mẫu, kết cấu bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn, việc áp dụng quy trình thu thập số liệu, năng lực của cán bộ thu thập số liệu, sự thay đổi vị trí làm việc của các cán bộ có năng lực, sự thống nhất của phương pháp thu thập số liệu qua các năm, tỷ lệ từ chối tham gia nghiên cứu có thể cao Đặc biệt là các thông tin về hành vi nhậy cảm có thể bị sai lệch Các điều tra dân cư lớn thường tốn kém và tốn thời gian.

Trang 20

1.2.1 Tần suất của việc thu thập dữ liệu

Các hệ thống giám sát huyết thanh HIV được thu thập và phổ biến kết quả hàng năm Đối với việc thu thập dữ liệu hành vi, tần suất phụ thuộc vào nhiều yếu

tố Trong khi chi phí và khó khăn phức tạp thường xuyên được nêu lên, một yếu tố quan trọng khác là: lập chương trình dự phòng Nếu không có việc lập chương trình

dự phòng, các hệ thống giám sát huyết thanh HIV vẫn có thể ghi nhận thay đổi về

tỷ lệ nhiễm HIV qua từng giai đoạn, và nhiều khả năng là tỷ lệ nhiễm tăng.Với hành vi thì KHÔNG đúng như thế Nếu không có chương trình dự phòng nào, điều

đó có thể là các hành vi tình dục hoặc sử dụng ma túy sẽ thay đổi theo từng giai đoạn Nếu nó thay đổi theo chiều hướng về mặt xã hội như là đô thị hoá, thì những thay đổi này có xu hướng chậm và tăng dần.

Ở những nơi không có nỗ lực dự phòng HIV, có thể chứng minh rằng vòng điều tra đầu tiên là để cung cấp thông tin hỗ trợ cho việc thiết kế các chương trình sau này Nhưng trừ khi những chương trình như vậy được tiến hành, các thay đổi

về hành vi chỉ hy vọng đạt mức tối thiểu, và việc giám sát thường xuyên là ít phù hợp Mặt khác, nếu nỗ lực dự phòng quốc gia mạnh, lúc đó việc triển khai điều tra thường kỳ về hành vi là phù hợp để theo dõi những thay đổi trong hành vi Mức độ thường xuyên phụ thuộc một phần vào mức độ của nỗ lực dự phòng, một phần vào quần thể đang được theo dõi, và một phần vào năng lực và sự mong muốn của mỗi nước trong việc sử dụng những dữ liệu tổng hợp để tăng cường các nỗ lực dự phòng.

Hành vi trong quần thể có xu hướng thay đổi chậm hơn so với trong một cộng đồng đông đúc gồm những người thường xuyên có quan hệ mật thiết với nhau Nhiều nhóm quần thể có nguy cơ nhiễm HIV cao rơi vào phạm trù thứ hai Ngoài ra, các can thiệp thay đổi hành vi có hiệu quả ở những nhóm quần thể này thường có hiệu quả lớn hơn so với nhóm quần thể quần thể Mức độ nguy cơ khi khởi đầu càng cao thì hiệu quả càng lớn Nhìn chung, người ta khuyên rằng các dữ liệu hành vi nên được thu thập bốn hoặc năm năm một lần trong quần thể quần thể nói chung, và mỗi năm một lần trong các nhóm quần thể nơi được tiến hành các can thiệp dự phòng HIV nhất Việc tập huấn một nhóm người nòng cốt theo các phương pháp chuẩn mực được dùng trong điều tra giám sát hành vi sẽ cho phép việc thu thập dữ liệu thường kỳ này được triển khai theo cách đảm bảo rằng những

Trang 21

dữ liệu đó mô tả một cách tin cậy những thay đổi trong hành vi liên quan tới HIV qua từng giai đoạn.

Nếu các sáng kiến dự phòng thành công góp phần tạo nên chuẩn mực mới cho hành vi an toàn thì việc thu thập dữ liệu hàng năm có thể không còn cần thiết nữa Trong khi việc giảm tần suất thu thập dữ liệu sẽ tiết kiệm được kinh phí nhưng vẫn tốn kém Việc thu thập dữ liệu hàng năm là để hoạch định chương trình, cung cấp thông tin cho việc liên tục đánh giá lại các nhu cầu dự phòng Việc thực hiện thường xuyên sẽ duy trì các kỹ năng và năng lực của các cơ quan địa phương Và việc xuất bản thường kỳ những thông tin này có ưu điểm duy trì nhu cầu dự phòng HIV trong công chúng và trong chương trình nghị sự của các nhà hoạch định chính sách.

2.2 Điều tra giám sát hành vi

Điều tra giám sát hành vi (BSS) đóng vai trò quan trọng và hữu ích trong việc xác định các chiến lược kiếm soát HIV Là một phần trong hệ thống giám sát lồng ghép theo dõi các khía cạnh khác nhau của dịch, các điều tra này sử dụng những phương pháp tin cậy để theo dõi các hành vi nguy cơ nhiễm HIV theo thời gian Điều tra này đặc biệt hữu ích trong việc cung cấp thông tin về hành vi của các nhóm quần thể, những người có thể sẽ khó gặp nếu tiếp cận thông qua điều tra thông thường các hộ gia đình; nhưng họ cũng lại là những người có thể có nguy cơ rất cao trong việc nhiễm hoặc truyền nhiễm HIV; ví dụ - gái mại dâm và khách làng chơi của họ, nam giới có quan hệ tình dục với nam giới và những người tiêm chích

ma túy.

Dựa trên phương pháp giám sát huyết thanh HIV và Nhiễm khuẩn qua đường tình dục kinh điển, điều tra giám sát hành vi bao gồm điều tra ngang nhắc lại các nhóm có hành vi có thể giúp giải thích sự lây lan HIV và xác định các nhu cầu

dự phòng trong một nước.

Đặc điểm cơ bản của giám sát hành vi là tính nhất quán qua từng giai đoạn Điều tra giám sát hành vi sử dụng một phương pháp chọn mẫu nhất quán, các phương pháp nhất quán về thu thập dữ liệu và những chỉ số nhất quán nhằm theo dõi những xu hướng về hành vi qua từng giai đoạn Để đảm bảo việc các xu hướng qua từng giai đoạn có thể được diễn giải với tính tin cậy, điều tra giám sát hành vi tập trung chú ý vào các chiến lược chọn mẫu Cách tiếp cận này được thiết kế để thu được tối đa những thông tin tin cậy, hữu ích cho đầu tư đã bỏ ra

Trang 22

Điều tra giám sát hành vi nhằm mục đích tập trung chú ý vào những hành vi

và các nhóm quần thể có nhiều nguy cơ tiềm tàng nhất trong việc lây lan HIV Vì

sử dụng các phương pháp chọn mẫu chứ không dùng chọn mẫu dựa vào các hộ gia đình, điều tra giám sát hành vi đặc biệt phù hợp với việc điều tra các hành vi hiếm

có hoặc có không đồng đều trong một nhóm quần thể, nhưng có thể làm lây truyền HIV không như nhau Những hành vi này bao gồm tiêm chích ma túy, quan hệ tình dục nam giới với nam giới và quan hệ mua bán dâm Điều này làm cho giám sát hành vi trở thành một công cụ đặc biệt hữu ích trong việc giám sát dịch HIV ở những nơi mà HIV và nguy cơ có liên quan tập trung chủ yếu ở những nhóm quần thể đặc biệt.

Vì các hệ thống giám sát huyết thanh HIV ghi nhận tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong số bệnh nhân hoa liễu phản ánh những người có nguy cơ cao và ở phụ nữ có thai phản ánh những người có nguy cơ thấp, nên điều tra giám sát hành vi có thể chọn lựa các nhóm đại diện các mức độ hành vi nguy cơ khác nhau Mỗi nước có thể chọn một nhóm theo nghề nghiệp – như nhóm công nhân mỏ di cư hoặc nhóm quân sự – những người nhiều khả năng là đối tượng khách mua dâm, và nhóm khác như công nhân nông trường – được coi là đại diện thuộc mức có nguy cơ trung bình

Cơ sở hợp lý chủ yếu để tập trung vào các quần thể có những hành vi nguy

cơ cao hơn mức trung bình là những quần thể này góp phần không như nhau vào sự lây lan HIV Những nỗ lực can thiệp sớm thường được tập trung vào những nhóm này Điều tra giám sát hành vi trong các nhóm quần thể này có thể giúp xác định chắc chắn liệu mức độ hành vi nguy cơ đó có thay đổi sau khi có nỗ lực dự phòng không Bằng việc điều tra các mối liên kết tình dục với những người khác bên ngoài nhóm quần thể có nguy cơ cao, điều tra giám sát hành vi có thể giúp đánh giá khả năng là vi-rút HIV sẽ lan truyền rộng rãi vào một quần thể lớn hơn Nhưng việc tập trung vào các quần thể có nguy cơ cao hơn mức trung bình cũng có những thuận lợi khác Nhìn chung nó có thể tạo điều kiện thu được những kết quả có ý nghĩa thống kê với những mẫu tương đối nhỏ Điều này giúp giảm chi phí, và có nghĩa là có thể lặp lại điều tra với tần suất lớn hơn là những điều tra hộ gia đình trên qui mô rộng, chi phí tốn kém

2.3.Điều tra hộ gia đình

Một cách tiếp cận rất phổ biến là sử dụng điều tra hộ gia đình theo diện rộng

để tìm hiểu về kiến thức HIV của mọi người và thái độ của họ đối với dịch như thế nào Các câu hỏi về hành vi tình dục cũng khá phổ biến Thường thì những câu hỏi

Trang 23

về HIV và hành vi thực hành có liên quan tới HIV được bao gồm trong một cuộc điều tra hộ gia đình theo diện rộng như Điều tra về Nhân khẩu và Y tế Đôi khi, những cuộc điều tra đại diện các hộ gia đình trên toàn quốc tập trung đặc biệt vào vấn đề HIV và những hành vi có liên quan.

Điều tra hộ gia đình có thể cho thấy một bức tranh rõ ràng về hành vi nguy

cơ trong quần thể nói chung Những cuộc điều tra này tiêu tốn nhiều thời gian và chi phí, đặc biệt khi chúng sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên các hộ gia đình đại diện của một nước hoặc của một vùng rộng lớn Thường thì mối quan tâm lớn được đầu tư vào phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, và việc phân tích dữ liệu thường phải rất cẩn thận Điều này có nghĩa là những kết quả thu được từ những cuộc điều tra này nói chung là đáng tin cậy, và các dữ liệu có thể được dùng để so sánh qua từng giai đoạn với độ tin cậy nhất định Vì những cuộc điều tra loại này chi phí rất cao nên nó thường được sử dụng trong thời gian từ 4 dến 5 năm một lần

Điều tra hộ gia đình đặc biệt hữu ích cho những hành vi hoàn toàn phổ biến Trong bối cảnh HIV, những cuộc điều tra này là mối quan tâm đặc biệt của những nước có dịch lan tràn rộng được duy trì bởi mức độ quan hệ tình dục giữa nam và

nữ trong quần thể Tuy nhiên, những cuộc điều tra này ít hữu ích đối với việc xem xét các hành vi ở một số nhóm quần thể đặc biệt Việc chọn mẫu ngẫu nhiên các hộ gia đình khó có thể lấy đủ cỡ mẫu cần thiết với đối tượng gái mại dâm, những người tiêm chích ma túy, hoặc nam giới quan hệ với nam giới để thu được thông tin

có ý nghĩa thống kê về mặt số liệu về những hành vi có liên quan tới HIV ở những nhóm quần thể này Các nhóm quần thể lưu động như lái xe hoặc những người tập trung trong các cơ quan hoặc trại lính quân đội cũng có thể bị bỏ sót hoặc không hiện diện trong điều tra hộ gia đình và những nhóm này có thể là mối quan tâm đặc biệt của các quan chức ngành y tế công cộng hoặc những người muốn thiết kế và đánh giá các hoạt động dự phòng HIV cho những đối tượng dễ bị nhiễm HIV nhất.

Trang 24

2.4 Điều tra và nghiên cứu định tính liên quan tới các can thiệp

Có nhiều thông tin được thu thập về những hành vi liên quan tới HIV bắt

nguồn từ những nghiên cứu về các sáng kiến dự phòng Những nghiên cứu này bao gồm các nghiên cứu về dân tộc học và nghiên cứu định tính, cũng như các điều tra

về hành vi “ trước và sau”can thiệp.

Dữ liệu định tính đặc biệt quan trọng đối với việc hoạch định tốt một chương trình dự phòng HIV Điều tra định lượng được thiết kế tốt có thể mang lại ý tưởng rất hay về việc những hành vi nào đang tồn tại, những hành vi đó phổ biến ở mức

độ nào, và liệu qua từng giai đoạn những hành vi đó có thay đổi không Tuy nhiên những cuộc điều tra định lượng không thể xác định được tại sao những hành vi này lại tồn tại, hoặc tại sao chúng lại như vậy và không thay đổi Cần phải có những nghiên cứu sâu sử dụng các phương pháp nhân học khác nhau là cần thiết để trả lời cho câu hỏi “ tại sao” Và các can thiệp có hiệu quả chỉ được lập ra nếu như những người làm công tác dự phòng hiểu được những yếu tố về cơ cấu, văn hoá xã hội ảnh hưởng đến việc chấp nhận những hành vi an toàn Tuy nhiên, nghiên cứu định tính không thích hợp với việc đo lường xu hướng hành vi qua từng giai đoạn.

Các nghiên cứu đánh giá dự án thường nhằm mục đích đo lường thay đổi hành vi qua từng giai đoạn Những nghiên cứu này thường tiến hành các điều tra ở quần thể dự kiến được hưởng lợi từ hoạt động can thiệp trước khi điều tra bắt đầu,

và sau đó lại điều tra nữa khi chương trình dự phòng đang được tiến hành hoặc khi chương trình kết thúc Những cuộc điều tra này có thể thu được dữ liệu hữu ích Nhưng chúng có xu hướng là kết quả tất yếu đối với một can thiệp chứ không phải

là “ sự kiện chính” Thời gian và nỗ lực tập trung cho các cuộc điều tra này (và đặc biệt là tập trung đảm bảo việc chọn mẫu đại diện) xác định được tính hữu ích của

nó đối với nhiều người Thậm chí cả khi các cuộc điều tra này được triển khai một cách cẩn thận thì chúng vẫn thuộc phạm vi nhỏ, gắn kết với một can thiệp đặc thù,

và hiếm khi lặp lại thường xuyên qua một thời gian dài Vì những lý do này, việc

sử dụng nó cho mục đích giám sát tính hiệu quả của đáp ứng quốc gia và lập các chương trình tuyến trung ương và khu vực bị hạn chế.

Trang 25

với nhóm mục đích về chương trình, kết quả ước tính giúp xây dựng chương trình can thiệp, đo lường mức độ bao phủ và theo dõi, đánh giá chương trình.

Có nhiều phương pháp ước tính quần thể, tuy nhiên phương pháp đang được

áp dụng chủ yếu là vẽ bản đồ

Một số phương pháp ước tính quần thể

2.6 Các nghiên cứu, điều tra chuyên biệt khác

Bên cạnh những nguồn thu thập thông tin chính cho hệ thống giám sát và đánh giá quốc gia, các nghiên cứu đặc biệt tiến hành 1 lần có thể cung cấp các thông tin chi tiết về các vấn đề ưu tiên như bản chất và chiều hướng dịch HIV, hoặc hiệu quả thay đổi hành vi nguy cơ của các chương trình phòng, chống HIV/AIDS

Nhiều tổ chức quốc tế, nhiều dự án hoạt động độc lập cũng có nguồn số liệu giám sát, đánh giá và nghiên cứu lớn được thu thập trong quá trình điều phối, quản

lý các chương trình và dự án HIV/AIDS đang triển khai tại Các tổ chức và dự án này có nhiệm vụ báo cáo hoạt động của mình cho Cục phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam theo biểu mẫu báo cáo quốc gia

Các phương pháp dựa vào điều tra (survey – based method)

Vẽ bản đồ địa dư (1) (Census mapping)

Vẽ bản đồ địa dư (2) (Enumeration)

Bội số (Multiplier method)

“Bắt - thả”

(Capture - recapture)

Theo chương trình

(Programmati

c multiplier)

Theo “ Vật mẫu” (Unique object

multiplier)

Trang 26

III Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan tới đề tài.

Trên thế giới: HIV/AIDS là một đại dịch xảy ra trên toàn thế giới với mức độ

ngày càng gia tăng và nghiêm trọng của bệnh kéo theo đó là những ảnhhưởng mang tính chất chính trị và kinh tế Hoạt động phòng, chốngHIV/AIDS được coi là một trong những hoạt động ưu tiên trong chiến lượccải thiện các vấn đề sức khỏe của tất cả các Quốc gia trên thế giới Chính vìvậy, các chương trình phòng, chống HIV/AIDS ngày càng được ưu tiên Để

có được các chính sách, các kế hoạch hoạt động nhằm đẩy lùi đại dịch, mỗiQuốc gia đều cần đến những số liệu báo cáo chương trình phòng, chốngHIV/AIDS để lập kế hoạch dựa trên bằng chứng Nhiều hoạt động dự phòng,phòng, chống HIV/AIDS sử dụng các nguồn báo cáo số liệu chương trìnhnhư một bằng chứng thiết thực cho việc lập kế hoạch triển khai các hoạt độngphù hợp Mạng lưới các chỉ số về dự phòng HIV/AIDS của Quốc tế được mô

tả thông qua các báo cáo của Đại hội đồng Liên hợp Quốc Việt Nam là mộtQuốc gia đã thực hiện tuyên bố cam kết tại phiên họp đặc biệt của Đại hộiđồng Liên hợp Quốc về HIV/AIDS (UNGASS) vào tháng 6 năm 2001 Ngoài

ra, Việt Nam là một trong những Quốc gia tham gia hệ thống báo cáo hoạtđộng phòng, chống HIV/AIDS thông qua“Báo cáo về những đáp ứng củangành y tế đối với HIV/AIDS theo hướng tiếp cận phổ cập” Như vậy, trênthế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, việc báo cáo hoạt động phòng,chống HIV/AIDS hàng năm được ưu tiên hàng đầu Mỗi quốc gia trong đó cóViệt Nam cần có một hệ thống báo cáo số liệu đầy đủ, đáng tin cậy và có độtin cậy để phản ánh trung thực hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của Quốcgia cũng như làm bằng chứng cho lập kế hoạch hoạt động phòng, chốngHIV/AIDS

1 Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan tới đề tài.

Tại Việt Nam: Cũng như các Quốc gia trên thế giới, Việt Nam thiết lập hệ

thống báo cáo số liệu về chương trình phòng, chống HIV/AIDS từ trung ương

Trang 27

tới địa phương Số liệu được báo cáo từ tuyến xã lên huyện, huyện lên tỉnh vàtỉnh lên trung ương để từ đó có những số liệu Quốc gia phục vụ công tácphòng, chống HIV/AIDS Ngày 14/8/2008, Quy chế báo cáo hoạt độngphòng, chống HIV/AIDS được Bộ trưởng Bộ Y tế ký ban hành và trở thànhvăn bản Pháp quy hướng dẫn các tỉnh/thành phố triển khai hoạt động báo cáophòng, chống HIV/AIDS theo biểu mẫu và các chỉ số thống nhất trên toànquốc.

Trang 28

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Thời gian đánh giá

Đánh giá được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2011 đến hếttháng 4 năm 2012

2 Địa điểm đánh giá và tiêu chí lựa chọn

*Các địa điểm được lựa chọn để tiến hành đánh giá sẽ mang tính đại diện chotất cả các tuyến và đáp ứng các tiêu chí lựa chọn:

- Tuyến trung ương: Cục Phòng, chống HIV/AIDS

- Tuyến khu vực: Viện vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên, Viện Pasteur Nha

Trang và Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh

- Tuyến tỉnh: Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS và các điểm cung cấp

dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS của 7 tỉnh bao gồm Lào Cai, Thanh Hóa,Nghệ An, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Sóc Trăng, Bình Phước,

- Tuyến huyện: Trung tâm y tế huyện và các điểm cung cấp dịch vụ của 16

huyện đại diện cho các tỉnh được lựa chọn ở trên

- Tuyến xã: Trạm y tế xã, các điểm cung cấp dịch vụ tuyến xã.

*Tiêu chí chọn địa bàn đánh giá:

Tiêu chí chọn tỉnh:

- Mỗi vùng/miền chọn đại diện 1 hoặc 2 tỉnh có tỷ lệ người nhiễm HIV

tương đối cao

- Chọn cân đối giữa tỉnh có nhiều dự án và tỉnh có ít dự án

- Chọn cân đối tỉnh triển khai báo cáo theo QĐ 28/2008/QĐ - BYT đầy đủ

Trang 29

- Với huyện có dự án chọn huyện có triển khai các dịch vụ PMTCT, VCT,

OPC, can thiệp giảm hại

- Chọn 1 huyện gần trung tâm tỉnh và 1 huyện xa trung tâm tỉnh

Tiêu chí chọn xã: Tại mỗi huyện chọn 2 xã, dựa vào tiêu chí sau:

- Với huyện có dự án: chọn 2 xã có dự án, 1 xã gần trung tâm huyện và 1 xã

xa trung tâm huyện

- Với huyện không có dự án: chọn 2 xã, 1 xã gần trung tâm huyện và 1 xã

xa trung tâm huyện

- Quá trình đánh giá tại tuyến tỉnh

Tỉnh/Tp

khảo

sát

Số quận huyện/TP

Số xã

trình mục tiêu quốc gia

Trăng

(LG,GF)

Trang 30

Hóa

WB, LG, GF TP Thanh Hóa Điểm Methadone tại PAC

WB, LG, GF TP Sóc Trăng Bệnh viện đa khoa tỉnh

OPC sites tại bệnh viện huyệnThị trấn CHơn Thành

3 Đối tượng tham gia vào đánh giá

- Tuyến Trung ương: Lãnh đạo Phòng giám sát, theo dõi và đánh giá, cán

bộ tổng hợp số liệu QĐ 28/2008/QĐ - BYT

- Tuyến Khu vực: Lãnh đạo khoa HIV/AIDS và cán bộ tổng hợp số liệu

QĐ 28/2008/QĐ - BYT

- Tuyến tỉnh: Lãnh đạo các TTPC HIV/AIDS các tỉnh, trưởng các khoa

phòng và cán bộ tổng hợp số liệu QĐ 28/2008/QĐ - BYT tuyến tỉnh

- Tuyến huyện: Lãnh đạo TTYT huyện, cán bộ tổng hợp số liệu tuyến

huyện

- Tuyến xã: Cán bộ tổng hợp số liệu tuyến xã

Trang 31

4 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu cắt ngang sử dụng phương pháp định tính

 Phương pháp thu thập số liệu bao gồm:

- Hồi cứu số liệu

- Xem xét sổ sách, báo cáo

- Thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi

5 Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định chỉ tiêu

3.5.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu sẽ thể hiện các nội dung liên quan để đạt được 3 mục tiêu cụ thể

đặt ra, các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm:

- Bố trí nhân lực

- Tập huấn đào tạo QĐ 28/2008/QĐ - BYT

- Biểu mẫu, công cụ, lưu trữ số liệu báo cáo

- Nguồn số liệu QĐ 28/2008/QĐ - BYT

- Chất lượng số liệu báo cáo

- Giám sát và phản hồi thông tin

vụ cho quản lý chương trình, các số liệu nào không thu thập được…

Trang 32

Kỳ báo cáo để xem xét số liệu được nhóm đánh giá lựa chọn là số liệucủa 4 quý năm 2010 và 2 quý đầu năm 2011– đây là mốc thời gian để sànglọc số liệu Các bảng biểu số liệu trong QĐ 28/2008/QĐ - BYT được xem xét

và thảo luận kỹ với từng tỉnh

Các chỉ số chính tập trung rà soát số liệu đến tận gốc tập chung chủyếu là hoạt động điều trị ARV, phòng lây truyền mẹ con và chương trình canthiệp giảm tác hại

6 Các công cụ nghiên cứu cụ thể.

Công cụ đánh giá hệ thống và sàng lọc số liệu được chỉnh sửa từ “Công

cụ đánh giá chất lượng số liệu” tuyến tỉnh mà nhóm chuyên gia của các tổchức MEASURE Evaluation/GFATM/WHO đã thử nghiệm và thực hiện tạiViệt Nam năm 2007 và bộ công cụ DQA do Tổ chức FHI 360 phát triển,cũng như các góp ý của cán bộ các phòng chuyên môn thuộc các chươngtrình khác nhau trong Cục Phòng, chống HIV/AIDS tham gia góp ý và hoànthiện Bộ công cụ này đã được đơn giản hóa, chỉnh sửa lại cho phù hợp vớiyêu cầu đánh giá và nội dung QĐ 28/2008/QĐ - BYT

Công cụ 1- Đánh giá hệ thống báo cáo và quản lý số liệu:

Mục đích của phần này là xem xét những vấn đề về chất lượng số liệu vànăng lực của hệ thống liên quan đến hệ thống báo cáo và quản lý số liệu, nhưnhân lực, đào tạo, cơ chế báo cáo, biểu mẫu sẵn có, định nghĩa các chỉ số vàcông cụ thu thập số liệu, …thông qua việc:

 Xem xét số liệu, báo cáo VAAC thu thập được từ các tỉnh và đơn vịliên quan;

 Phỏng vấn và đánh giá tại tuyến tỉnh, huyện và xã

Công cụ 2- Sàng lọc và xem xét số liệu đã được báo cáo lên tuyến trên của một số chỉ số trong QĐ 28/2008/QĐ - BYT với nguồn gốc số liệu theo tuyến

và tại điểm cung cấp dịch vụ được lựa chọn:

Công cụ này nhằm đánh giá tính hợp lý của hệ thống báo cáo và chấtlượng số liệu báo cáo Để làm được việc này, nhóm đánh giá xem xét lại sốliệu từ các sổ sách ghi chép gốc theo tuyến tổng hợp cũng như xem xét trựctiếp hồ sơ khách hàng, bệnh án, sổ đăng ký điều trị, sổ điều trị, …, tính toán

Trang 33

và so sánh với các báo cáo tổng hợp mà các tuyến và điểm cung cấp dịch vụ

đã nộp lên tuyến trên để xem xét các chỉ số và các bảng biểu có được tổnghợp, báo cáo chính xác theo QĐ 28/2008/QĐ - BYT không

Quá trình sàng lọc số liệu gồm 2 giai đoạn:

 Sàng lọc kỹ số liệu theo tuyến và tại các điểm cung cấp dịch vụ: cónhững chỉ số tuyến huyện tổng hợp từ báo cáo các xã, tuyến tỉnh tổnghợp từ báo cáo các huyện và có những chỉ số tổng hợp trực tiếp từ cácđiểm dịch vụ như OPC, VCT, PMTCT

 Xem xét số liệu được tổng hợp tại các tuyến tổng hợp số liệu (tuyếnhuyện, tỉnh) và cuối cùng nộp lên cho tuyến trung ương

Công cụ 3 – Sử dụng số liệu và đáp ứng yêu cầu số liệu của QĐ 28/2008/QĐ

- BYT cho việc theo dõi, giám sát, đánh giá tại mỗi tuyến

Hệ thống số liệu QĐ 28/2008/QĐ - BYT đươc thu thập hàng quý vànăm, với rất nhiều chỉ số báo cáo theo từng chương trình, hoạt động, việctổng hợp phân tích số liệu được tiến hành tại mỗi tuyến, do vậy việc xem xétcác đáp ứng/sử dụng số liệu QĐ 28/2008/QĐ - BYT phục vụ cho công táctheo dõi, giám sát, lập kế hoạch chương trình là rất cần thiết Bảng kiểm vàcông cụ thảo luận nhóm sẽ được sử dụng trong phần này để đánh giá tạituyến tỉnh ngoài việc hoàn thành báo cáo quý, các số liệu của quyết định nàyđược dùng để làm gì, thông tin trong quyết định này đã đáp ứng được nhucầu số liệu phục vụ cho theo dõi, giám sát chương trình của tuyến tuyển tỉnhhay chưa

7 Quá trình thử nghiệm bộ công cụ đánh giá

Trước khi triển khai đánh giá, nhóm kỹ thuật đã tiến hành thử nghiệm

bộ công cụ tại 2 điểm VCT, 1 điểm PMTCT, trung tâm y tế thành phố và 1 xãcủa tỉnh Hòa Bình Căn cứ kết quả thử nghiệm nhóm kỹ thuật đã chỉnh sửalại bộ công cụ cho phù hợp về nội dung, ngôn ngữ sử dụng trong đánh giá…

Trang 34

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

1 Tuyến trung ương

a Bố trí nhân lực

Hiện nay, báo cáo hoạt động phòng, chống HIV/AIDS theo Quyết định

số 28/2008/QĐ-BYT của Bộ Y tế do Phòng Giám sát, theo dõi và đánhgiá, Cục Phòng, chống HIV/AIDS phụ trách Để đáp ứng yêu cầu quản lý

và sử dụng số liệu, 01 cán bộ được giao nhiệm vụ phụ trách số liệu QĐ28/2008/QĐ - BYT Cán bộ này chịu trách nhiệm thu thập, kiểm tra sốliệu, phản hồi cho các tỉnh/thành phố về chất lượng số liệu đồng thời thựchiện nhiệm vụ viết báo cáo công tác phòng, chống HIV/AIDS dựa trên sốliệu QĐ 28/2008/QĐ - BYT

Tuy nhiên, trong 3 năm trở lại đây cán bộ phụ trách số liệu có sự thayđổi 2 lần vào năm 2009 và năm 2010 do cán bộ phụ trách số liệu nghỉ đihọc hoặc chuyển công tác Ngoài công việc phụ trách số liệu báo cáo QĐ28/2008/QĐ - BYT, cán bộ này phải đảm nhiệm thêm nhiều công việckhác của Phòng do đó việc phụ trách số liệu QĐ 28/2008/QĐ - BYT mớichỉ dừng lại ở nhiệm vụ thu thập báo cáo, kiểm tra, phản hồi, tổng hợp sốliệu viết báo cáo chứ chưa xây dựng được kế hoạch đi kiểm tra, giám sát

hỗ trợ địa phương

b Tập huấn đào tạo QĐ 28/2008/QĐ - BYT

Để triển khai báo cáo theo QĐ 28/2008/QĐ - BYT, năm 2009, CụcPhòng, chống HIV/AIDS đã phối hợp với các Viện Khu vực tổ chức 4khóa tập huấn cho cán bộ phụ trách báo cáo theo QĐ 28/2008/QĐ - BYTcủa 63 tỉnh/thành phố về Hướng dẫn ghi chép biểu mẫu báo cáo hoạt độngphòng, chống HIV/AIDS Trong các khóa tập huấn này, cán bộ phụ tráchbáo cáo QĐ 28/2008/QĐ - BYT của Cục cũng được tham gia Các cán bộmới thay thế không được tham gia các lớp tập huấn chính thức, chỉ đượchướng dẫn lại trong quá trình bàn giao và thực hiện công việc Vì vậy,

Trang 35

phải mất thời gian dài cán bộ thay thế mới có thể hiểu hết cách tính toáncác chỉ số và biết cách tổng hợp cũng như phát hiện các vấn đề liên quanđến số liệu báo cáo (thiếu số liệu, tính toán sai, số liệu không hợp lý…)

2 Tuyến khu vực

a Bố trí nhân lực

Viện Pasteur Nha Trang, Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên và ViệnPasteur TP Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm về chuyên môn, kỹ thuật, giámsát và đánh giá các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn cáctỉnh/thành phố phụ trách theo Quyết định số 2926/2008/QĐ-BYT của Bộ

Y tế về việc thành lập ban điều hành dự án khu vực thuộc ban điều hànhtrung ương Dự án phòng, chống HIV/AIDS thuộc chương trình mục tiêuquốc gia

Hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Viện Vệ sinh Dịch tễ TâyNguyên do Khoa HIV/AIDS phụ trách, Viện Pasteur Nha Trang do Khoadịch tễ phụ trách và Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh do Khoa Y tếcông cộng phụ trách

Các Viện đều bố trí 01 cán bộ làm công tác tổng hợp số liệu báo cáo

QĐ 28/2008/QĐ - BYT Tuy nhiên, từ năm 2009 đến nay, sự thay đổi cán

bộ phụ trách báo cáo QĐ 28/2008/QĐ - BYT diễn ra ở 3/3 Viện Ngoài ra,các cán bộ phụ trách báo cáo QĐ 28/2008/QĐ - BYT phải đảm nhiệmnhiều công việc khác của Khoa do đó việc kiểm tra chất lượng số liệu vàphản hồi cho các tỉnh rất hạn chế

b Tập huấn đào tạo QĐ 28/2008/QĐ - BYT

Trong các khóa đào tạo Hướng dẫn ghi chép biểu mẫu báo cáo hoạtđộng phòng, chống HIV/AIDS do Cục Phòng, chống HIV/AIDS, ngoàiviệc phối hợp và hỗ trợ Cục Phòng, chống HIV/AIDS trong việc hướngdẫn các tỉnh/thành phố Các cán bộ phụ trách số liệu báo cáo QĐ28/2008/QĐ - BYT của các Viện cũng được tham gia tập huấn Ở cácViện có sự thay đổi cán bộ tổng hợp số liệu, các cán bộ mới đều được bàn

Trang 36

giao và hướng dẫn lại, tuy nhiên thời gian bàn giao và hướng dẫn chưanhiều và chưa cụ thể do đó việc hiểu các chỉ số và cách tính toán còn gặpkhó khăn ở ngay cả cán bộ phụ trách số liệu tuyến Khu vực.

3 Tuyến tỉnh

a Bố trí nhân lực

Tại phần lớn Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, nhiệm vụ thu thập

và tổng hợp báo cáo QĐ 28/2008/QĐ - BYT do Khoa Giám sát chịu tráchnhiệm Tuy nhiên, ở một số tỉnh (2/7 tỉnh) trách nhiệm tổng hợp báo cáo QĐ28/2008/QĐ - BYT do Phòng hành chính tổng hợp chịu trách nhiệm, do đóchưa có sự gắn kết giữa hoạt động kiểm tra chất lượng số liệu báo cáo vớiviệc giám sát hỗ trợ tại thực địa (vai trò giám sát thực địa là của Khoa giámsát)

Tỷ lệ % bố trí nhân lực cho các khoa/phòng Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh trên toàn quốc

Các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS đều đã bố trí 01 cán bộ chuyêntrách chịu trách nhiệm tổng hợp số liệu báo cáo QĐ 28/2008/QĐ - BYT.Ngoài ra, 7/7 tỉnh có bố trí thêm cán bộ của các phòng và các dự án tham gia

hỗ trợ việc tổng hợp số liệu theo chương trình, ví dụ Các số liệu liên quanđến điều trị do cán bộ Khoa điều trị chịu trách nhiệm thu thập số liệu từ các

Trang 37

phòng OPC, PMTCT, tai nạn rủi ro nghề nghiệp sau đó tổng hợp vào biểumẫu QĐ 28/2008/QĐ - BYT và gửi cho Khoa giám sát

Sự thay đổi cán bộ phụ trách số liệu báo cáo QĐ 28/2008/QĐ - BYT diễn

ra phổ biến (4/7 tỉnh có sự thay đổi cán bộ từ năm 2009 trở lại đây)

b Tập huấn đào tạo QĐ 28/2008/QĐ - BYT tuyến tỉnh

Tất cả 7/7 tỉnh đã cử cán bộ tham gia vào các khóa tập huấn 3 ngày vềHướng dẫn ghi chép biểu mẫu báo cáo hoạt động phòng, chống HIV/AIDS

do Cục Phòng, chống HIV/AIDS phối hợp với các Viện Khu vực tổ chức.Theo yêu cầu lựa chọn cán bộ tham gia tập huấn của Cục Phòng, chốngHIV/AIDS, mỗi tỉnh cử 4 thành viên tham dự bao gồm 1 cán bộ phụ tráchkhoa giám sát, 1 cán bộ chịu trách nhiệm tổng hợp số liệu QĐ 28/2008/QĐ -BYT, 1 cán bộ khoa điều trị, 1 cán bộ khoa truyền thông huy động cộngđồng Sự thay đổi cán bộ chịu trách nhiệm tổng hợp số liệu báo cáo QĐ28/2008/QĐ - BYT làm ảnh hưởng đến chất lượng số liệu báo cáo, các cán

bộ mới đều không được tham gia các khóa tập huấn chính thức chỉ đượchướng dẫn và hỗ trợ trong quá trình bàn giao và thực hiện báo cáo dẫn đếncán bộ hiểu sai chỉ số, số liệu tính toán không chính xác - số liệu 4 quý khôngkhớp với số liệu báo cáo năm

Sau khi tham dự tập huấn về Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS các tỉnhphối hợp với các Viện Khu vực lập kế hoạch và triển khai tập huấn cho cáccán bộ chuyên trách HIV/AIDS tuyến huyện (100% số huyện được tập huấn).Các khóa tập huấn hướng dẫn chi chép biểu mẫu báo cáo thường được lồngghép vào trong các khóa tập huấn chung của Trung tâm phòng, chốngHIV/AIDS, thời gian dành cho tập huấn ghi chép biểu mẫu báo cáo khoảng1/2 ngày

Trang 38

Trình độ chuyên môn cán bộ tại trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh phân bố không đồng đều tại các khoa phòng, qua điều tra năm 2010 cho thấy

số cán bộ công tác tại đơn vị phòng, chống HIVAIDS tuyến tỉnh được đào tạo tập

trung chủ yếu trong 3 nhóm là đại học chiếm 31,3%, Trung cấp và dưới trung cấp

chiếm 39,26% và cao đẳng chiếm 19,91% Nhóm cán bộ có trình độ trên đại học

Trung cấp và dưới trung cấp 39,26%

Trang 39

4 Tuyến huyện

a Bố trí nhân lực

Tại tất cả các huyện được giám sát đều có 01 cán bộ chuyên trách chươngtrình HIV/AIDS thuộc biên chế khoa Kiểm soát dịch bệnh và HIV (KSDB &HIV) của Trung tâm Y tế (TTYT) huyện Mặc dù các cán bộ này có nhiềunăm công tác ở cơ quan y tế tuyến huyện, chỉ một số ít trong số họ có nhiềunăm kinh nghiệm về HIV/AIDS (ví dụ cán bộ chuyên trách ở TTYT TP Nhatrang: 19 năm), còn phần lớn mới tiếp nhận hoặc có dưới 5 năm tham giachương trình HIV Do sự phát triển của hệ thống HIV/AIDS tới tuyến huyện

và sự thay đổi tổ chức y tế tuyến huyện mới diễn ra trong khoảng thời gian từnăm 2005 đến năm 2008 (Quyết định số 25/2005/QĐ-BYT ngày 5/9/2005của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu

tổ chức của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương, Quyết định số 26/2005/QĐ-BYT ngày 9/9/ 2005 của Bộ trưởng

Bộ Y tế quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức củaTrung tâm Y tế dự phòng huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) dẫn đếnviệc hình thành TTYT huyện, khoa Kiểm soát dịch bệnh và HIV và sự điềuchuyển cán bộ trong hệ thống y tế tuyến huyện những năm gần đây

Cán bộ chuyên trách HIV/AIDS tuyến huyện là người chịu trách nhiệmchính trong việc lập kế hoạch, triển khai thực hiện và giám sát các hoạt độngphòng chống HIV/AIDS thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia triển khai trênđịa bàn huyện, bao gồm cả công tác báo cáo QĐ 28/2008/QĐ - BYT Ở cáchuyện có tiếp nhận các dự án phòng, chống HIV/AIDS do các tổ chức quốc tếtài trợ như dự án Lifegap (PEPFAR), Quĩ toàn cầu, Ngân Hàng thế giới,DFID, FHI v.v , cán bộ chuyên trách có thể tham gia phụ trách thêm các hoạtđộng dự án này Tùy theo sắp xếp của TTYT huyện, có thể có thêm các cán

bộ khác trong TTYT huyện tham gia vào hoạt động phòng, chốngHIV/AIDS

Trang 40

Ví dụ: Ở TP Vinh, Nghệ an, ngoài chương trình mục tiêu quốc gia, TTYT TPVinh còn tiếp nhận Dự án Quỹ toàn cầu (DAQTC), Dự án phòng, chốngHIV/AIDS ở Việt Nam do Ngân hành thế giới tài trợ (DANHTG) để triểnkhai hoạt động tư vấn xét nghiệm tự nguyện và phòng khám ngoại trú Ngoài

01 cán bộ chuyên trách HIV/AIDS, TTYT TP Vinh đã cử 1 giám đốc,1 phógiám đốc cùng 5 cán bộ từ khoa KSDB & HIV và khoa phòng khác tham giađiều phối và trực tiếp thực hiện các hoạt động HIV/AIDS

Do TTYT huyện chịu trách nhiệm thực hiện rất nhiều chương trình, dự

án y tế dự phòng, cán bộ chuyên trách HIV/AIDS ở tất cả 16/16 huyện đánhgiá đều được giao phụ trách nhiều chương trình y tế khác ngoài HIV/AIDS

Ví dụ: Ở TTYT huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, khoa KSDB & HIV là mộttrong bốn khoa, được biên chế 4 trong tổng số 23 cán bộ của TTYT huyện.Khoa chịu trách nhiệm thực hiện 8 chương trình mục tiêu quốc gia bao gồmHIV/AIDS, Lao, Sốt xuất huyết, Sốt rét, Tiêm chủng mở rộng, Bướu cổ, Tâmthần, Phòng chống bênh dịch Cán bộ chuyên trách HIV/AIDS là y sỹ, phụtrách 4 chương trình gồm HIV/AIDS, Sốt xuất huyết, Tâm thần và Phòngchống bệnh dịch

Trong công tác báo cáo QĐ 28/2008/QĐ - BYT, cán bộ chuyên tráchHIV/AIDS có trách nhiệm đôn đốc cán bộ tuyến xã và các dự án trên địa bànnộp báo cáo đúng hạn, kiểm tra, tổng hợp số liệu và làm báo cáo quý và báocáo năm gửi tuyến tỉnh Chất lượng báo cáo QĐ 28/2008/QĐ - BYT vì vậytùy thuộc nhiều vào năng lực của cán bộ chuyên trách, số lượng chương trình

y tế họ phải chịu trách nhiệm và mức độ quan tâm của họ tới công tác báocáo

b Tập huấn đào tạo QĐ 28/2008/QĐ - BYT.

100% huyện đều đã từng được tập huấn về báo cáo QĐ 28/2008/QĐ BYT và cách thu thập số liệu cho các bảng biểu theo từng chương trình hoạtđộng, các chỉ số trong từng bảng biểu, bao gồm định nghĩa, cách ghi chép,cách tổng hợp số liệu và làm báo Tập huấn cho tuyến huyện được tỉnh tổ

Ngày đăng: 29/03/2021, 15:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w