1. Trang chủ
  2. » Mầm non - Tiểu học

Nghiên cứu lượng giá nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm lao động tự do di biến động tại Hà Nội

97 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 432,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, các yếu tố như: vị thế nhập cư yếu kém, rào cản ngôn ngữ và văn hóa, điều kiện sinh sống và việc làm không ổn định, hạn chế về khả năng tiếp cận các nguồn thông tin y tế phù [r]

Trang 1

CỤC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài: Nghiên cứu lượng giá nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm lao động tự do di biến động tại Hà Nội

Chủ nhiệm đề tài: ThS Chu Quốc Ân

ThS Chu Văn Tiến

Cơ quan thực hiện:

- Viện Chiến lược và chính sách y tế

- Dự án LIFE-GAP

Cơ quan quản lý đề tài: Cục Phòng, chống HIV/AIDS

Năm 2012

Trang 2

CỤC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài: Nghiên cứu lượng giá nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm

lao động tự do di biến động tại Hà Nội

Chủ nhiệm đề tài: ThS Chu Quốc Ân

ThS Chu Văn Tiến

Cơ quan thực hiện:

- Viện Chiến lược và chính sách y tế

Trang 3

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

1 Tên đề tài: Nghiên cứu lượng giá nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm lao động tự do di biến động tại Hà Nội

2 Chủ nhiệm đề tài: ThS Chu Quốc Ân

ThS Chu Văn Tiến

3 Cơ quan thực hiện đề tài:

o Viện Chiến lược và chính sách y tế

o Dự án LIFE-GAP

4 Cơ quan quản lý đề tài: Cục Phòng, chống HIV/AIDS

5 Thư ký đề tài: Ths Hoàng Thị Mỹ Hạnh

6 Phó chủ nhiệm đề tài hoặc ban chủ nhiệm đề tài (nếu có):

7 Danh sách những người thực hiện chính:

- Ths.Vũ Thị Minh Hạnh

- Ths Hoàng Thị Mỹ Hạnh

- Ths BS Trần Vũ Hiệp

- Ths Trần Hồng Cẩm

- Ths Đỗ Hữu Thủy

- CN Đỗ Thu Thủy

- CN Tường Duy Trinh

- CN Ngô Phương Thảo

- Ths BS Vũ Thị Mai Anh

- CN Nguyễn Minh Phượng

- CN Hoàng Ly Na

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 9

PHẦN A BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI 10

PHẦN B BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14

I ĐẶT VẤN ĐỀ 14

II MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU 17

III TỔNG QUAN TÀI LIỆU 18

1 Những vấn đề chung 18

2 Khả năng tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm di biến động qua các nghiên cứu và báo cáo trong thời gian gần đây 23

3 Một số yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV của người di biến động qua một số nghiên cứu đã có 30

4 Đặc điểm kinh tế-xã hội và tình hình lây nhiễm HIV/AIDS ở Hà Nội - địa bàn của nghiên cứu 33

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

1 Thiết kế nghiên cứu: 35

2 Địa bàn nghiên cứu 35

3 Đối tượng nghiên cứu: 35

4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 36

5 Phương pháp xử lý thông tin 41

6 Đạo đức nghiên cứu 41

7 Hạn chế của nghiên cứu 42

V KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

1 Một số đặc điểmnhân khẩu, xã hội của lao động tự do di biến động 43

2 Mức độ di biến động 46

3 Kinh nghiệm di chuyển, điều kiện sống, làm việc và tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ xã hội tại Hà Nội 48

4 Kiến thức và nhu cầu truyền thông về HIV/AIDS 54

5 Nguồn cung cấp thông tin về HIV/AIDS và nhu cầu được tiếp nhận thông tin về HIV/AIDS 60

6 Hành vi quan hệ tình dục 65

6. Sử dụng ma tuý 76

Trang 5

7. Tình trạng sức khoẻ và khả năng tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm

HIV/STDs 76

8 Khả năng tiếp cận các chương trình/hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV trong 6 tháng qua 80

9 Đề xuất của các cơ quan chức năng tại các địa bàn về đầu tư nguồn lực nhằm tăng khả năng tiếp cận của lao động tự do di biến động với các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV trên địa bàn thành phố 82

VI BÀN LUẬN 85

VII KẾT LUẬN 87

VIII KHUYẾN NGHỊ 93

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Số lượng lao động tự do di biến động được phỏng vấn tại các

quận/huyệnthuộc địa bàn nghiên cứu (người) 39

Bảng 2 Đặc điểm nhân khẩu, xã hội của LĐTDDBĐtheo giới tính (%) 44 Bảng 3 Phân bố tần suất về quê của LĐTDDBĐ (%) 47

Bảng 4 Mức độ di chuyển trên địa bàn thành phố Hà Nội và tỉnh/khác của LĐTDDBĐ (N=614) 47

Bảng 5 Kinh nghiệm sống và làm việc tại Hà Nội 48

Bảng 6 Mức độ tiếp cận các phương tiện truyền thông (N=614) 49

Bảng 7 Lý do đến Hà Nội của LĐTDDBĐ (%) 51

Bảng 8 Mức thu nhập tháng trước của LĐTDDBĐ (%) 51

Bảng 9 Công việc mang lại thu nhập chính củaLĐTDDBĐ tại Hà Nội (%) 52

Bảng 10 Kiến thức về mức độ nguy cơ lây nhiễm HIV của LĐTDDBĐ (%) 55

Bảng 11 Kiến thức về căn cứ để khẳng một người có nhiễm HIV(%) 57

Bảng 12 Ý kiến của LĐTDDBD về xử trí khi xung quanh có người nhiễm HIV/AIDS (%) 58

Bảng 13 LĐTDDBĐ tự đánh giá về nguy cơ nhiễm HIVcủa bản thân (%) 58

Bảng 14 Các lý do khiến LĐTDDBĐ tự nhận mình cónguy cơ lây nhiễm HIV 59

Bảng 15 Các yếu tố liên quan đến đến nghe/biết về HIV 59

Bảng 16 Ý kiếncủa LĐTDDBĐ nguồn cung cấp thông tin về HIV (%) 61 Bảng 17 Các yếu tố liên quan đến nhu cầu được cung cấp thông tin về HIV/AIDS 64

Bảng 18 Yếu tố liên quan đến nhu cầu được thông tin về cách phòng tránh lây nhiễm HIV 64

Bảng 19 Yếu tố liên quan đến nhu cầu được thông tin về đường lây của bệnh HIV 65

Bảng 20 Kinh nghiệm QHTD của LĐTDDBĐ 65

Bảng 21 Loại hình bạn tình và tần suất QHTD của LĐTDDBĐ trong 6 tháng qua (%) 66

Bảng 22 Hành vi sử dụng BCS khi QHTD trong 6 tháng qua củaLĐTDDBĐ(%) 67

Bảng 23 Các yếu tố liên quan đến hành vi QHTD với GMD trong 6 tháng qua 70

Bảng 24 Các yếu tố liên quan đến việc có QHTD với GMD/BTBC trong 6 tháng qua qua phân tích đơn biến (%) 71

Bảng 25 Các yếu tố liên quan đến hành vi QHTD với GMD/BTBC trong 6 tháng qua qua phân tích đa biến 72

Trang 7

Bảng 26 Các yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng BCS thường xuyên

với từng loại hình bạn tình trong 6 tháng qua qua phân tích đơn

biến 74

Bảng 27 Yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng BCS thường xuyên với mỗi loại hình bạn tình qua phân tích đa biến 75

Bảng 28 Số lần bị ốm tại Hà Nội của LĐTDDBĐtheo giới (%) 76

Bảng 29 Tình hình sử dụng dịch vụ tại các cơ sở khám chữa bệnh 77

Bảng 30 Lý do không đi xét nghiệm 80

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu 1 Mức độ di biến động của LĐTDDBĐtheo giới tính (%) 46

Biểu 2 Phân bố nơi ở hiện tại của LĐTDDBĐ 49

Biểu 3 Sửdụng thời gian rảnh rỗi của LĐTĐBĐ (n=614) 50

Biểu 4 Những khó khăn LĐTDDBĐ gặp phải (%) 53

Biểu 5 Ý kiến của LĐTDDBĐ về các nội dung liên quan đến

HIV/AIDS cần được tiếp nhận(%, n=434) 62

Biểu 6 Ý kiến của LĐTDDBĐ về các hình thức cung cấp thông tin về HIV/AIDS được mong đợi(n=434) 63

Biểu 7 Số lượng bạn tình trong 6 tháng qua theo giới (%) 66

Biểu 8 Ý kiến của LĐTDDBĐ về lý do sử dụng BCS khi QHTD (%) 69

Biểu 9 Ý kiến của LĐTDDBĐ về lý do không sử dụngBCS (%) 69

Biểu 10 Xử trí của LĐTDDBĐ khi bị ốm (N=329) 77

Biểu 11 Các triệu chứng nhiễm khuẩn/bệnh lây truyền qua đường tình dục ở LĐTDDBĐ theo giới (%) 78

Biểu 12 Các loại hình cơ sở xét nghiệm HIV/AIDS mà LĐTDDBĐ đã đến sử dụng dịch vụ (%; n=107) 79

Trang 10

PHẦN A BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI

1 Kết quả nổi bật của đề tài

Các nghiên cứu ở nhiều thời điểm, khu vực khác nhau trên thế giớiđến nay dường như đều cho thấy nhiều người trong nhóm dân di cư và dibiến động phải đối mặt với nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn những ngườisống định cư, và khi đã xảy ra nhiễm HIV thì nhìn chung họ sẽ gặp phảinhiều khó khăn hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế xã hội so vớingười dân sở tại Ở Việt Nam người di biến động cũng là “mắt xích” quantrọng trong việc làm lây lan HIV, đã có nhiều nghiên cứu, dự án, mô hìnhcan thiệp dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm người này cả ở “nơi đi” và

“nơi đến” của họ Tuy nhiên, các nghiên cứu đã có thường chỉ tập trungvào lượng giá kiến thức, thái độ, hành vi của người di biến động, trong đólại chủ yếu tập trung vào những người di biến động có nghề nghiệp ổnđịnh (như lái xe đường dài, thủy thủ, công nhân xây dựng, công nhântrong các khu công nghiệp…) mà chưa quan tâm đến đối tượng lao động

có tự do đa dạng về loại hình nghề nghiệp, có mức độ di biến động cao.Viện Chiến lược và chính sách Y tế phối hợp với Cục Phòng chốngHIV/AIDS tiến hành nghiên cứu "Lượng giá nguy cơ lây nhiễm HIV trongnhóm lao động tự do di biến động tại Hà Nội” với sự tài trợ của Dự ánLIFE-GAP Nghiên cứu tìm hiểu về tính dễ tổn thương với HIV, nguy cơlây nhiễm HIV và khả năng tiếp cận các dịch vụ dự phòng, chăm sóc vàđiều trị HIV trong nhóm lao động tự do di biến động tại Hà Nội, đề xuấtvới các cơ quan chức năng các biện pháp can thiệp phù hợp với nhu cầu

dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV của nhóm đối tượng này

Nghiên cứu đã đưa ra bức tranh toàn cảnh về nguy cơ lây nhiễmHIV của nhóm đối tượng lao động tự do di biến động tại Hà Nội, đặc biệtđưa ra những bằng chứng cụ thể và các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ lâynhiễm HIV của nhóm đối tượng này Nghiên cứu cũng đã chỉ ra thực trạngviệc tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV và các yếu tố ảnh hưởngđến khả năng tiếp cận dịch vụ của nhóm đối tượng này Các kết quảnghiên cứu cho thấy :

Trang 11

LĐTDDBĐ là đối tượng dễ tổn thương với HIV 13,4% thuộc diện

hộ nghèo; Thiếu liên kết xã hội: 100% những người đã gặp khó khăn trongcông việc và sinh hoạt hàng ngày đã không nhận được bất cứ sự hỗ trợ nào

từ chính quyền sở tại Tiếp cận với các kênh thông tin còn nhiều hạn chế:Chỉ 1/2 số LĐTDDBĐ có tivi; 11% không bao giờ tiếp cận bất cứ kênhtruyền thông đại chúng nào tại Hà Nội

 Các yếu tố về văn hóa là rào cản lớn đối với việc thực hành hành vi antoàn trong quan hệ tình dục: Phần lớn số LĐTDDBĐ trả lời không sửdụng BCS vì cho rằng QHTD với vợ/chồng/người yêu thì không cầnthiết do đã tin tưởng nhau

 Thiếu kiến thức/thái độ về HIV/AIDS: 61,5% hiểu muối đốt có thể làmlây nhiễm HIV Tỷ lệ biết chỉ có kết quả xét nghiệm máu của cơ quan

y tế mới là căn cứ để khẳng định tình trạng nhiễm HIV thấp (38%).Đáng lo ngại là mặc dù hiểu biết chưa đầy đủ, chưa chính xác vềHIV/AIDS song có đến 1/3 LĐTDDBĐ không có nhu cầu muốnnghe/biết thông tin thêm về vấn đề này

 Các hành vi QHTD nguy cơ cao: Với nam giới,13% nam giới đã từngQHTD với GMD Trong 6 tháng qua, 8,3% đã QHTD vớiGMD/BTBC và 5,7% đã QHTD với GMD; 25% nam không sử dụngBCS thường xuyên khi QHTD với GMD 79% LĐTDDBD không sửdụng BCS lần nào khi QHTD với vợ/chồng; 23,7% không sử dụng lầnnào khi quan hệ với người yêu

 Có một tỷ lệ đáng kể LĐTDDBĐ tại Hà Nội đã có triệu chứng về cácbệnh nhiễm khuẩn/lây truyền qua đường tình dục (11,9%) trong nămvừa qua trong đó nhóm nữ có triệu chứng mắc bệnh cao hơn nam 4,9lần; trong số đó, 33,8% đã không điều trị

 17,8% số LĐTDDBĐ được phỏng vấn đã đi xét nghiệm HIV trong đó

có 1 người cho biết đã có kết quả dương tính, chiếm tỷ lệ 0,9%, caohơn khoảng 3 lần so với mặt bằng chung (0,3%)

Khả năng tiếp cận với các dịch vụ KCB, chăm sóc, điều trị, hỗ trợ và dự phòng lây nhiễm HIV của LĐTDDBĐ tại Hà Nội nhìn chung còn rất hạn chế

Trang 12

 Tỷ lệ LĐTĐBĐ bị ốm khá cao (37,9%) song chỉ 29% trong số họ đã

sử dụng dịch vụ KCB, gần 1/4 không tiếp cận dịch vụ KCB do không

có tiền (18%) và thời gian (5%)

 Xét nghiệm HIV: 17,8% trong số họ đã đi xét nghiệm HIV

 Chỉ 3,4% người trả lời cho biết trong 6 tháng qua đã nhận được BCS

và 2% có nhận được tài liệu truyền thông phòng tránh lây nhiễm HIVliên quan đến sử dụng ma túy Nữ có xu hướng ít được tiếp nhận cácvật dụng, tài liệu truyền thông về HIV hơn nam gần 2,6 lần

2 Áp dụng vào thực tiễn và đời sống sã hội

Các kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin hữu ích trong hoạch địnhchính sách trong công tác phòng chống HIV/AIDS Mặt khác việc xác địnhtính dễ tổn thương và nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm lao động tự do

di biến động tại Hà Nội nhằm đưa người lao động tự do di biến động đếnvới các dịch vụ dự phòng, chăm sóc và hỗ trợ hiện có trên địa bàn

3 Đánh giá việc thực hiện của đề tài

a Tiến độ: Đúng tiến độ

b, Thực hiện mục tiêu nghiên cứu:

- Thực hiện đầy đủ các mục tiêu đã đề ra

c, Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương:

- Tạo ra đầy đủ các sản phẩm đã dự kiến trong đề cương

- Chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu so với đề cương đã đặt ra trong đề cương

d, Đánh giá việc sử dụng kinh phí:

- Tổng số kinh phí thực hiện đề tài 523.861.000 đồng

Trong đó : Kinh phí sự nghiệp khoa học : Không

Kinh phí từ nguồn khác : 523.861.000 đồng

4 Các ý kiến đề xuất

a, Đề xuất về quản lý khoa học công nghệ: Không

b, Đề xuất liên quan đến đề tài: Nghiên cứu đã đưa ra bức tranh toàn

cảnh về nguy cơ lây nhiễm HIV của nhóm đối tượng lao động tự do di biếnđộng tại Hà Nội, đặc biệt đưa ra những bằng chứng cụ thể và các yếu tố

Trang 13

ảnh hưởng đến nguy cơ lây nhiễm HIV của nhóm đối tượng này Nghiêncứu cũng đã chỉ ra thực trạng việc tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễmHIV và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ của nhóm đốitượng này Các kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp các thông tin hữu ích trongviệc hoạch định chính sách cho chương trình dự phòng lây nhiễm HIV chođối tượng di biến động nói chung và lao động tự do di biến động nói riêng.

Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian và nguồn lực nên nghiên cứu mớithực hiện tại 5 quận huyện của TP Hà Nội về nguy cơ lây nhiễm HIV củalao động tự do di biến động Do đó để mang tính tổng thể hơn về nguy cơlây nhiễm HIV cho nhóm người này tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu đềxuất tiếp tục triển khai đề tài nghiên cứu ở một số thành phố khác trongnhững năm tiếp theo

PHẦN B BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trang 14

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những thập kỷ qua, tình trạng di dân trong nước và quốc tếđang gia tăng ngày càng nhanh tại các quốc gia và châu lục Bằng chứngthực tế tại nhiều quốc gia cho thấy,di cư/di biến động là một trong số cáctác nhân chính liên quan đến sự lây truyền HIV/AIDS Các nghiên cứukhoa học đã ghi nhận tính dễ tổn thương với HIV/AIDS trong các nhómdân cư di biến động/nhập cư do các yếu tố về thể chế, môi trường xã hội vàcác hành vi nguy cơ Người di cư thường đối mặt với tình trạng đói nghèo

và các rào cản trong tiếp cận các dịch vụ xã hội hội cơ bản trong đó códịch vụ chăm sóc sức khỏe Đồng thời các yếu tố khác như: cảm giác côđơn khi phải sống xa gia đình, được hoàn toàn tự chủ về tiền bạc do mìnhlàm ra, áp lực nhóm và thiếu các dịch vụ xã hội thân thiện càng làm tăngthêm tính dễ tổn thương với HIV/AIDS đối với nhóm dân cư này, và cũngkhiến họ dễ tham gia vào quan hệ tình dục không an toàn với nhiều bạntình (bạn tình bất chợt/gái mại dâm) (Đặng Nguyên Anh và cộng sự 2008;Lee, 2008)

Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy nguy cơ lây nhiễmHIV/AIDS trong nhóm người di cư cao hơn so với người không di cư Mặc

dù vậy, tỷ lệ hiện nhiễm HIV/AIDS ở nhóm di biến động thấp hơn nhiều

so với nhóm nguy cơ cao (gồm người hành nghề mại dâm và tiêm chích

ma túy) (Martinez-Donate và cộng sự, 2005; Nepal, 2007; Poudel và cộngsự., 2003; Hesketh và cộng sự, 2006), đa số người di biến động chưa cóhiểu biết đúng về HIV/AIDS và các bệnh nhiễm khuẩn qua đường tình dục

và nhận thức của họ về các hành vi nguy cơ nhiễm HIV còn hạn chế(Hesketh và cộng sự, 2008; Poudel và cộng sự, 2003; Dang và cộng sự,2008; FHI, 2006) Người di chuyển thường có nhiều bạn tình hoặc quan hệtình dục với gái mại dâm (Magis-Rodriquez và cộng sự, 2009; Saggurti etal., 2009; Poudel et al., 2003; Li và cộng sự, 2007; FHI Vietnam, 2006), sửdụng đồ uống có cồn và ma túy (Đặng Nguyên Anh và cộng sự, 2008) vàquan hệ tình dục với người bán dâm (Tran và cộng sự, 2005; Tuan và cộng

sự, 2007; Vietnam IBBS, 2005-06)

Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á là nơi hiện tượng di cư và di

biến động trong dân cư đã và đang diễn ra rất sôi động Bêncạnhcác nhóm

Trang 15

đối tượng khác như mại dâm, tiêm chích ma túy, hiện nay lao động di cưcũng được xem là một trong những nhóm có nguy cơ cao trong lây nhiễmHIV/AIDS.

Bởi vậy, Luật Phòng chống HIV/AIDS (có hiệu lực từ 1/1/2007) vàcác văn bản có liên quan đã xác định nhóm dân cư di biến động là mộttrong 7 nhóm đối tương ưu tiên của chương trình phòng chống HIV/AIDS

ở nước ta hiện nay Trong nhiều năm qua, các chương trình HIV/AIDS doChính phủ Việt nam, các tổ chức song phương và đa phương và các tổchức phi chính phủ hỗ trợ mới chỉ tập trung nhiều vào các nhóm nguy cơcao (bán dâm và tiêm chích ma túy ) Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đãbước đầu được ghi nhận về một số nỗ lực nhằm cung cấp dịch vụ dự phòng

và chăm sóc HIV cho một vài nhóm di biến động như: lái xe đường dài,công nhân xây dựng, thủy thủ cho dù hiện mới chỉ có rất ít những bằngchứng về nguy cơ lây truyền HIV/AIDS ở những nhóm này Có thể thấy,các chương trình phòng chống HIV/AIDS trong thực tếchưa đáp ứng đượcnhu cầu dự phòng lây nhiễm HIV liên quan đến các nhóm dân cư di biếnđộng ở nước ta Thực tế cho thấy, hiện mới chỉ có một bộ phận nhỏ laođộng di chuyển được hưởng lợi từ các chính sách trên, đó là lao độngthuộc các chương trình xuất khẩu lao động ra nước ngoài song ngay cả vớinhóm đối tượng này, người lao động cũng chưa được chuẩn bị tốt vềHIV/AIDS; các khóa tập huấn định hướng trước khi xuất cảnh chưa manglại hiệu quả như mong muốn (Đặng Nguyên Anh 2008)

Các nghiên cứu về tính dễ tổn thương với HIV trong nhóm lao động

di cư ở Viêt Nam được tiến hành trên 3 dòng di biến động chính gồm: Laođộng di cư từ nông thôn ra thành thị ở các khu công nghiệp và khu chếxuất; di biến động ở khu vực biên giới và lao động Việt Nam xuất khẩu ranước ngoài Các nghiên cứu tập trung vào các nhóm di biến động đặc trưngnhư: gái mại dâm, công nhân xây dựng, lái xe đường dài, khách du lịch,thủy thủ sông biển, lao động di biến động ở khu vực đường biên Một số lý

do có thể khiến lao động tự do di biến động (LĐTDDBĐ) dễ tổn thươngvới HIV như thiếu kiến thức về HIV/AIDS và các bệnh lây truyền quađường tình dục, thiếu tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và dịch

vụ dự phòng HIV, có hành vi nguy cơ (quan hệ tình dục không an toàn,

Trang 16

tiêm chích ma túy) trong quá trình di cư.

Đến nay, rất ít nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến nguy cơ lâynhiễm HIV trong nhóm lao động tự do di biến động đến các đô thị, thànhphố lớn kiếm sống bằng các việc làm mang tính mùa vụ Việc cung cấpthêm các bằng chứng về mức độ dễ tổn thương của LĐTDDBĐ tại cácthành phố lớn sẽ là rất hữu ích nhằm giúp các cơ quan chức năng xây dựng

và triển khai các biện pháp can thiệp phù hợp với nhu cầu dự phòng, chămsóc và điều trị HIV của nhóm đối tượng này

Nghiên cứu này tìm hiểu về tính dễ tổn thương với HIV, nguy cơ vàcác yếu tố bảo vệ trong nhóm lao động tự do di biến động, đặc biệt là laođộng mùa vụ, đến Hà Nội kiếm sống

Nghiên cứu này trả lời một số câu hỏi sau đây:

(i) LĐTDDBĐ có phải là đối tượng dễ tổn thương với HIV

không?

(ii) Những yếu tố nào góp phần dẫn đến tính dễ tổn thương với

HIV và nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm LĐTDDBĐ tại 5quận Hoàn Kiếm, Long Biên, Thanh Xuân, Hoàng Mai và TừLiêm

(iii) Trong chừng mực nào thì LĐTDDBĐ phơi nhiễm với/hoặc

tiếp cận các can thiệp dự phòng và dịch vụ chăm sóc và hỗ trợhiện có (như những dịch vụ dành cho nhóm tiêm chích ma túy

và người bán dâm)

(iv) Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ nêu trên

của LĐTDDBĐ

Giả thiết nghiên cứu:

Vị thế kinh tế xã hội thấp kém, mức độ di biến động cao, xa gia đình,thiếu kết nối với dịch vụ xã hội, thiếu hiểu biết về HIV/AIDS và thiếu tiếpcận với các dịch vụ CSSK là các yếu tố làm tăng nguy cơ quan hệ tìnhdục/sử dụng ma túy không an toàn

Trang 17

II MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU

1 Mục tiêu chung:

Xác định tính dễ tổn thương và nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhómlao động tự do di biến động tại Hà Nội, và chiến lược nhằm đưa người laođộng tự do di biến động đến với các dịch vụ dự phòng, chăm sóc và hỗ trợhiện có trên địa bàn

2 Mục tiêu cụ thể:

1 Đánh giá tính dễ tổn thương với HIV/AIDS và nhận diện nguy cơlây nhiễm HIV trong nhóm lao động tự do di biến động tại Hà Nội

2 Đánh giá khả năng tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc, điều trị, hỗ trợ

và dự phòng lây nhiễm HIV cho lao động tự do di biến động tại HàNội

3 Đề xuất các giải pháp can thiệp phù hợp với nhu cầu của các nhómlao động tự do di biến động và xây dựng các chiến lược nhằm đưangười lao động tự do di biến động đến với các dịch vụ dự phòng,chăm sóc và hỗ trợ hiện có trên địa bàn

Trang 18

III TỔNG QUAN TÀI LIỆU

- Lao động tự do:

+ Hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy một định nghĩa khoa học hay thực tiễnchính thức nào về “lao động tự do” Tuy nhiên, qua các tài liệu hướng dẫn,các báo cáo chuyên môn, một số tác giả đã đề cập đến khái niệm này Ví

dụ như: Lao động tự do được coi là “ lao động phi kết cấu, tức là khôngnằm trong cơ cấu nền kinh tế”[21] Hay: “Lao động tự do là những đốitượng lao động nằm ngoài hệ thống chính thức, không được kiểm soát bởithuế hay những quy định về lao động” [19]

+ Khái niệm “Lao động tự do” sử dụng trong đề tài này được hiểu lànhững đối tượng lao động nằm ngoài hệ thống chính thức, không đượckiểm soát bởi các quy định về lao động, về thuế và không có người sửdụng lao động ổn định

Ngày nay, nhiều lao động có tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ caonhưng vẫn làm các công việc tự do Bên cạnh đó cũng có khá nhiều laođộng khác làm công việc tự do giản đơn, không ổn định như lái xe ôm, đạpxích lô, bán hàng rong, cửu vạn, thu mua đồ cũ

Trong phạm vị đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu trên nhóm “laođộng tự do” nhưng không có nghề nghiệp ổn định

- Lao động tự do di biến động:

Khái niệm “Lao động tự do di biến động” (LĐTDDBĐ) được đề cập trong

đề tài này là những lao động không có nghề nghiệp ổn định, làm nhữngcông việc giản đơn; di cư sống xa gia đình với mục đích lao động; thường

Trang 19

xuyên hoặc tạm thời thay đổi nơi cư trú và nơi làm việc; không có hộ khẩuthường trú tại nơi làm việc, diện KT4 thuộc “nhóm lao động tự do khác”người di cư sống tạm trú ở các nhà trọ không có hộ khẩu thường trú tại HàNội, đăng ký tạm trú từ 1 đến 3 tháng hoặc không đăng ký).

- Dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV: Bao gồm cung cấp thông tin, giáo dục

truyền thông thay đổi hành vi; can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễmHIV (cung cấp và hướng dẫn sử dụng BCS; cung cấp và hướng dẫn sửdụng bơm kim tiêm sạch; điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằngthuốc thay thế Methadone, tiếp cận cộng đồng); tư vấn, xét nghiệm HIV tựnguyện…

Trong khuôn khổ đề tài này, các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIVđược đề cập đến bao gồm:

- Dịch vụ về thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành viphòng, chống HIV/AIDS;

- Dịch vụ về can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV (baogồm cung cấp và hướng dẫn sử dụng BCS; cung cấp và hướngdẫn sử dụng BKT sạch)

- Dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện;

1.2 Tình hình dịch HIV/AIDS

1.2.1 Tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới

Đã hơn 30 năm, nhưng dịch HIV/AIDS vẫn tiếp tục lây lan trên toàn thếgiới Theo Báo cáo Cập nhật dịch HIV/AIDS toàn cầu (do UNAIDS vàWHO tổng hợp từ hơn 180 quốc gia, vùng lãnh thổ và công bố ngày23/11/2011) thì trong năm 2010 toàn thế giới có khoảng 2,7 triệu mớinhiễm HIV (dao động từ 2,4 đến 2,9 triệu), đưa số người nhiễm HIV/AIDSđang sống trên trên hành tinh này đến cuối năm 2010 là 34 triệu (dao động

từ 31,6 triệu đến 35,2 triệu) Cũng trong năm 2010, thế giới ghi nhậnkhoảng 1,8 triệu người bị chết do các bệnh liên quan đến AIDS (dao động

từ 1,6 triệu đến 1,9 triệu) 60% số người nhiễm HIV/AIDS đang còn sốngtrên thế giới hiện nay là dân các nước khu vực cận Sahara của châu Phi[49]

Trước đó, trong Tuyên bố Chính trị về Phòng, chống HIV/AIDS với tiêu

đề “Tăng cường mạnh mẽ nỗ lực của chúng ta để xóa bỏ HIV/AIDS”(được thông qua tại Hội nghị Cấp cao của Liên hợp quốc về phòng, chống

Trang 20

HIV/AIDS, từ ngày 08-10/6/2011 tại New York, Mỹ) Liên hợp quốc nhậnđịnh, dịch HIV/AIDS vẫn đang tiếp tục lây lan, tiếp tục tạo ra tình trạngkhẩn cấp trên phạm vi toàn cầu và vẫn là một trong những thách thức ghêgớm nhất đối với sự tiến bộ, phát triển và ổn định xã hội trên toàn thế giới.Với hơn 7.000 người nhiễm mới HIV mỗi ngày (xảy ra chủ yếu ở các nước

có thu nhập thấp và trung bình), với hơn 30 triệu người đã chết do AIDS,với hơn 34 triệu người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống; với hơn 16 triệutrẻ em dưới 15 tuổi mồ côi do AIDS và mới chỉ có khoảng gần ½ số người

đã nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm vi rút này của mình dịchHIV/AIDS vẫn đang là một thảm họa chưa từng có của loài người, gây ranỗi thống khổ to lớn cho các quốc gia, các cộng đồng và các gia đình trênkhắp hành tinh này Do vậy, phòng, chống HIV/AIDS đã, đang và tiếp tục

là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, đồng thời là lương tâm và tráchnhiệm của mỗi chúng tôi đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại[15 ]

1.2.2 Tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam

Kể từ khi trường hợp nhiễm HIV được phát hiện đầu tiên vào tháng12/1990 đến nay dịch HIV ở Việt Nam cũng vẫn tiếp tục lây lan cả về sốlượng người mắc và địa dư Theo số liệu của Bộ Y tế, đến ngày31/12/2011 cả nước có 197.335 người nhiễm HIV còn sống, trong đó có48.720 bệnh nhân AIDS và từ đầu vụ dịch (năm 1990) đến nay đã có52.325 người tử vong do HIV/AIDS Cũng tính đến thời điểm cuối năm

2011, đã có hơn 77% số xã/phường, hơn 98% số huyện/quận và 100% sốtỉnh/thành phố ở nước ta đã có người nhiễm HIV/AIDS được báo cáo.Điều đáng lưu ý trong tình hình dịch HIV/AIDS ở hiện nay ở Việt Nam đó

là nhiễm HIV qua đường quan hệ tình dục có xu hướng tăng và điều này

có thể dẫn đến sự gia tăng nhiễm HIV trong các nhóm người di biếnđộng Phân tích số người nhiễm HIV được báo cáo năm 2011 của CụcPhòng, chống HIV/AIDS cho thấy: so sánh với cùng kỳ năm 2010 thì tỷ lệnhiễm HIV lây truyền qua đường đường tình dục tăng khoảng 9,5%, đặcbiệt ở khu vực phía nam sự lây truyền HIV qua quan hệ tình dục chiếm tỷ

lệ khá cao (24%), tập trung ở một số tỉnh như Kiên Giang, An Giang, HồChí Minh, Đồng Tháp[ 5]

Một điều đáng lưu ý nữa là, số người nhiễm HIV được báo cáo trong năm

2011 vẫn tập trung trong nhóm 20-39 tuổi, trong đó nhóm 20-29 tuổi

Trang 21

chiếm 38% (giảm khoảng 3% so với cùng kỳ năm 2010), nhóm 30-39 tuổichiếm 43% (tăng gần 2% so với năm 2010) Còn lại các nhóm tuổi khácchiếm một tỷ lệ nhỏ (khoảng 16%) và có sự chênh lệch rất nhỏ so với cùng

1.2.3 Tình hình HIV/AIDS trong nhóm di biến động

Trên thế giới: Nhóm di biến động từ lâu đã được coi là mắt xíchquan trọng trong việc làm lây lan HIV về mặt địa lý Theo nghiên cứu của

Vũ Quốc Bảo (2003), các nhóm có sự di chuyển thường xuyên như: lái xeđường dài, thợ xây dựng, thương nhân… đã trở thành tiêu điểm của những

nỗ lực dự phòng HIV trên thế giới Lý do chính là bối cảnh xã hội liênquan tới tính chất công việc đã làm tăng khả năng lôi cuốn họ vào nhữnghành vi có nguy cơ cao và đặt họ vào tình trạng dễ bị nhiễm HIV Đồngthời, họ sẽ trở thành “nguồn lây di động” vô tình hoặc cố ý cho người khác

ở những nơi họ đến trong quá trình làm việc cũng như khi trở về nơi bản

Bên cạnh các nhóm đối tượng khác như người bán dâm, người tiêmchích ma túy, hiện nay lao động di cư cũng được xem là một trong nhữngnhóm có nguy cơ cao trong lây nhiễm HIV/AIDS Phần lớn người di cư, đặcbiệt là phụ nữ, thường đang ở độ tuổi sinh sản và rất dễ bị tổn thương trước

Trang 22

các nguy cơ đối với sức khoẻ sinh sản, bao gồm cả nguy cơ lây nhiễm HIV[1]

Hiện nay Việt Nam chưa có thống kê và báo cáo riêng về tình hìnhHIV/AIDS trong nhóm di biến động trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, báocáo của một số tỉnh hay của một số nghiên cứu có liên quan cho thấy tìnhhình này khá báo động:

Theo báo cáo năm 2010 của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDStỉnh Thái Bình, hàng năm Thái Bình có hàng trăm nghìn người lao động đi ratỉnh ngoài để kiếm việc làm, trong tổng số 3.608 ca nhiễm HIV/AIDS củaThái Bình thì có đến trên 70% là người có tiền sử lao động xa nhà Đây làmột trong những đặc thù riêng về hình thái lây nhiễm HIV/AIDS của TháiBình [30]

Xã Chính Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam có dân số là 11.090 người và

2780 hộ dân Nghề chính là nông nghiệp Khi hết thời vụ người dân di làmthuê khắp nơi, đặc biệt là ở các thành phố lớn (khoảng 2000-2500 người)

Sự tác động của nhóm dân di biến động và ảnh hưởng của các tệ nạn xãhội làm cho tình hình dịch HIV/AIDS ngày một gia tăng Theo số liệugiám sát của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Hà Nam, tính đếnnày 15/10 /2008 tích lũy các trường hợp nhiễm HIV của xã Chính Lý là

84, lũy tích bệnh nhân AIDS là 47, lũy tích tử vong do AIDS là 23 Riêngtrong 2 năm (2006-2007) đã phát hiện mới 47 người nhiễm HIV trên địabàn xã Đây là con số hết sức báo động tại 1 xã thuần nông [27]

Xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình vào thời điểm giữanăm 2009 có khoảng 60% thanh niên đi làm ăn xa, còn lại làm nghề tự dotrên thành phố Tính đến cuối tháng 6/2009, toàn Xã có 238 người nhiễmHIV/AIDS, trên tổng số hơn một vạn dân Trong số này đã 71 người tửvong do AIDS [22]

2 Khả năng tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm di biến động qua các nghiên cứu và báo cáo trong thời gian gần đây

2.1 Trên thế giới

Ở tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay, khi vẫn chưa có thuốc đặc hiệu

và vắc xin phòng ngừa HIV/AIDS, thì dự phòng lây nhiễm HIV vẫn được coi

là vấn đề then chốt được đặt lên hàng đầu Tùy theo đặc điểm, tình hìnhdịch HIV/AIDS, quan điểm và điều kiện thực tế của mỗi nước mà việc

Trang 23

triển khai các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV tại mỗi nước khác nhau.Tuy nhiên dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV nhìn chung thường tập trungvào một số chương trình: Truyền thông thay đổi hành vi (TTTĐHV); tiếpcận cộng đồng; chương trình bơm kim tiêm, bao cao su; điều trị nghiện cácchất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Dù ở bất kỳ quốc gia nào, di biến động dân cư là một yếu tố có tiềm năngđáng kể trong mối liên hệ với mức độ lây nhiễm của HIV, đặc biệt là quacác quan hệ tình dục không an toàn là một thực tế phổ biến Sự tổn thươngđối với HIV gia tăng khi có những rào cản trong việc thực hiện các hành vi

an toàn Mối liên hệ giữa di biến động dân cư và lây nhiễm các bệnh dịch,trong đó có HIV đã được nhiều nghiên cứu trên thế giới xem xét Người dibiến động thường có những hành vi nguy cơ cao Do xa nhà thường xuyên

và trong thời gian dài nên đời sống tình dục với vợ hay bạn gái bị giánđoạn Sự gián đoạn này, gắn với môi trường sống cách biệt với xã hội bênngoài, sẽ có thể dẫn đến hành vi quan hệ tình dục với người bán dâm nhằmgiảm đi sự cô đơn và căng thẳng trong công việc khi xa nhà cũng như đểđáp ứng được nhu cầu tình dục Cuộc sống xa nhà không chịu sự ràng buộccủa các quan niệm xã hội liên quan đến hành vi tình dục và sự trung thực

có thể khiến người di biến động có lối sống ẩn danh và dễ dàng tìm đếnvới người bán dâm tại nơi đến…[8] Từ đó, nhu cầu được tiếp cận các dịch

vụ dự phòng lây nhiễm HIV để chủ động phòng tránh nhiễm vi rút này củangười di biến động được các nghiên cứu đánh giá là rất lớn, trong khi khảnăng tiếp cận của họ với các dịch vụ này lại không cao, thậm chí không íttrường hợp còn không tiếp cận được Nhu cầu này được thể hiện qua cácđặc điểm xã hội, kinh tế, đời sống cũng như kiến thức, thái độ, hành vi củangười lao động (tại các doanh nghiệp và di biến động) liên quan đếnHIV/AIDS

Mỗi năm Trung Quốc có 100-120 triệu người lao động di cư [11] Một nửatrong số này có đăng ký, nửa còn lại tạm trú ở những vùng kinh tế pháttriển nhất Trong số này, nhóm dân cư trôi nổi – hay còn gọi là di cư khôngđăng ký tại Trung Quốc - là đối tượng khó tiếp cận tới hoạt động y tế dựphòng nhất Quả thật, dân cư “trôi nổi” thường nằm ngoài khả năng thụhưởng các dịch vụ khám chữa bệnh Theo Thomas (1998), 61% ngườiTrung Quốc di chuyển trong nước là nam giới, trong số này 40% trong ở

Trang 24

độ tuổi trẻ 20-24[34] Một nghiên cứu khác về lao động di cư đến BắcKinh và Thượng Hải cho thấy 47% những người đi tìm việc có quan hệtình dục ngoài hôn nhân khi xa nhà Tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ củanhóm làm dịch vụ ở các nhà hàng (16%) và nhóm buôn bán rong (14%).Nhóm đang tìm việc có tỷ lệ bán máu và sử dụng ma túy cao hơn (tươngứng với 12% và 9%) Dân di cư ở Trung Quốc cũng có hành vi tình dụcnguy cơ cao và sử dụng đồ uống có cồn Một khảo sát cắt ngang trong2.153 người di cư trẻ từ nông thôn ra thành thị ở Bắc Kinh và Nam Khênăm 2002 cho thấy một phần ba số người được phỏng vấn trả lời có sayrượu ít nhất một lần trong tháng trước đó Những người say rượu có tỷ lệcao hơn về quan hệ tình dục trước hôn nhân, có nhiều bạn tình, mua dâm,

và thậm chí còn bán dâm so với những người không say rượu [16] Mộtnghiên cứu tương tự ở Hồng Kông năm 2001 trong 2.010 lao động nữ di

cư cho thấy kiến thức chung về HIV/AIDS và các con đường lây nhiễmcòn chưa đầy đủ Khoảng 54% những người được hỏi cho rằng phụ nữ cónguy cơ tổn thương với HIV lớn hơn, 9% số phụ nữ đã bị cưỡng bức tìnhdục hiểu rằng họ có nguy cơ lây nhiễm HIV, 70% số người được hỏi chobiết đã từng bị phân biệt đối xử (70%) [4]

Tại Campuchia, nghiên cứu của Nshgaya K (2002) dựa trên phỏng vấn sâu 20lao động nữ ở một doanh nghiệp may chưa lập gia đình cho thấy số này cóquan hệ tình dục với nhiều bạn tình qua môi giới hoặc làm quen trực tiếp.Nghiên cứu chỉ ra rằng địa vị kinh tế-xã hội thấp (học vấn thấp, tiền công laođộng thấp) cũng như trách nhiệm hỗ trợ cho gia đình là những nhân tố quyếtđịnh dẫn đến hành vi bán dâm Nghiên cứu này còn cho thấy phụ nữ bán dâmtại các tụ điểm mại dâm còn bị bạo hành, phải uống rượu và sử dụng ma tuý(cả do tự nguyện hoặc không tự nguyện), và tất cả đều chịu mức trả công rẻmạt Trong xã hội Campuchia, người phụ nữ thường phải phục tùng cha mẹ vàngười chồng nên bạn tình của họ trở thành ‘người yêu’ chứ không còn là

‘khách hàng’ (người mua dâm) Điều này dẫn đến việc không dùng BCS [ 20].Tại Thái Lan, một nghiên cứu kiến thức, thái độ, hành vi và thực hành (KABP)thực hiện năm 2000 trong nhóm 725 lao động nhà máy từ Miến Điện sang làmviệc tại tỉnh Tak cho thấy họ không hiểu biết nhiều về HIV 41% đối tượng trảlời phỏng vấn là nữ biết BCS chỉ dùng để tránh thai, cứ không có tác dụngphòng, chống lây nhiễm HIV Chỉ khoảng 15% nữ giới thuộc nhóm đối tượng

Trang 25

này đã từng nhìn thấy BCS Quả thật, tỷ lệ sử dụng BCS trong nhóm này đặcbiệt thấp với chỉ 12% nam giới và 1,4% nữ giới cho biết đã từng dùng phươngtiện này [17].

Dọc theo biên giới Thái Lan và Lào, kết quả thu được từ một nghiên cứu

về tính dễ tổn thương và di biến động đã cho thấy mối quan hệ giữa di biếnđộng với tính dễ tổn thương với HIV không chỉ giới hạn trong các hành vicưỡng bức hay bóc lột thông thường [43] Trong một số năm gần đây, mặc

dù nhóm cư dân di cư qua biên giới đã nhận được sự quan tâm của chươngtrình phòng, chống HIV nhưng mức độ di biến động lớn và lạm dụng xãhội không nên là tiêu chí duy nhất để tìm hiểu về tính dễ tổn thương vớiHIV tại khu vực đường biên Nguy cơ lây nhiễm HIV ở những “điểmnóng” còn là hậu quả của những nhân tố thúc đẩy di cư, của việc đi lại làm

ăn và các hoạt động tình dục ở khu vực này

2.2 Ở Việt Nam

Cũng giống như các nước trên thế giới, trong Chiến lược quốc giaphòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030cũng xác định “Kết hợp các biện pháp xã hội và biện pháp chuyên môn kỹthuật y tế trong phòng, chống HIV/AIDS trên nguyên tắc phối hợp dựphòng với chăm sóc, điều trị toàn diện HIV/AIDS, trong đó dự phòng làchủ đạo” Đồng thời Dự phòng lây nhiễm HIV cũng được xác định là mộttrong 04 Đề án thực hiên Chiến lược, với hai thành tố cơ bản gồm thôngtin giáo dục truyền thông thay đổi hành vi và can thiệp giảm tác hại dựphòng lây nhiễm HIV Việc phê duyệt và ban hành Chiến lược quốc gia đãphản ánh rõ nét sự vào cuộc mãnh mẽ của cả hệ thống chính trị, được thểhiện toàn diện trên mọi phương diện với sự đầu tư ngày càng lớn của Nhànước cho công cuộc phòng, chống đại dịch HIV/AIDS Dự phòng lây nhiễmHIV sẽ được triển khai mạnh mẽ hơn theo hướng đa dạng hóa các biện pháp

dự phòng sớm cho các đối tượng khác nhau trong cộng đồng dân cư, mởrộng độ bao phủ, nâng cao chất lượng các hoạt động can thiệp giảm tác hạibằng việc cung cấp các gói dịch vụ dự phòng toàn diện cho các nhóm đốitượng có nguy cơ cao, cũng như việc hoạch định một cách cụ thể và khoahọc các giải pháp triển khai tổng thể và dài hạn Các dịch vụ dự phòng lâynhiễm HIV hiện đang triển khai tại Việt Nam bao gồm TTTĐHV; tiếp cậncộng đồng, chương trình bơm kim tiêm, bao cao su, điều trị nghiện các

Trang 26

chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; tư vấn, xét nghiệm HIV tựnguyện Trong khuôn khổ đề tài này vấn đề về điều trị nghiện các chấtdạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế sẽ không được chúng tôi đề cập đến.Nhận định chung về việc tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV tại ViệtNam trong thời gian qua, theo Báo cáo của Ủy ban quốc gia phòng, chốngAIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy mại dâm (2010) về Đánh giá việcthực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đếnnăm 2010 và tầm nhìn 2020, mặc dù có nhiều tiến bộ trong việc mở rộngcác dịch vụ dự phòng, song vẫn cần duy trì các nỗ lực này để đảm bảo độbao phủ đầy đủ các dịch vụ cho các nhóm đối tượng có nguy cơ cao Việc

dự phòng lây truyền HIV qua đường tình dục trong nhóm nam tình dụcđồng giới, dự phòng lây lan sang những bạn tình chính của những ngườinhiễm HIV, những người tiêm chích ma túy và những phụ nữ tiêm chích

ma túy vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về độ bao phủ của chương trình đểđảm bảo hiệu quả dự phòng lây nhiễm HIV Ngoài ra, việc tiếp cận đượccác dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV trong cộng đồng xã hội vẫn còn hạnchế [ 35 ]

Báo cáo của Nguyễn Trương Nam (2010) về kết quả nghiên cứukhảo sát ban đầu Dự án phòng, chống HIV sau xây dựng đường cao tốcPhnomPenh – Thành phố Hồ Chí Minh - Hành lang kinh tế phía Nam vớitổng số 1.105 người Việt đã được phỏng vấn, trong đó bao gồm 381 ngườiđang sống trong cộng đồng dân cư tại 5 xã can thiệp, 361 công nhân nhàmáy tại khu công nghiệp Trảng Bàng, 189 tài xế xe ôm tại thị trấn Bavet(Campuchia) và Mộc Bài (Tây Ninh, Việt Nam), và với 174 casino rollingstaff (những người phục vụ trong các sòng bạc) tại thị trấn Bavet Bàn luận

về nguy cơ lây nhiễm HIV, các phát hiện chỉ ra hầu hết đối tượng trả lờiphỏng vấn không thấy bản thân mình có nguy cơ Chỉ có một phần tài xế

xe ôm, 18% công nhân nhà máy và 10% rolling staff tự nhận thấy rằngmình có nguy cơ lây nhiễm HIV, tuy nhiên hơn một nửa trong số họ vẫntừng đến các địa điểm giải trí và 17% cho biết họ có các triệu chứng bệnhlây truyền qua đường tình dục Điều này cho thấy nhu cầu tiếp cận các dịch

vụ dự phòng lây nhiễm HIV của họ là rất lớn, đặc biệt là các dịch vụ thôngtin, giáo dục truyền thông thay đổi hành vi, cung cấp và hướng dẫn sửdụng BCS[18]

Trang 27

Trong khi đó khả năng tiếp cận các dịch vụ truyền thông thay đổihành vi của họ là rất thấp Nghiên cứu trên cho thấy: chỉ có 45% số ngườitham gia nghiên cứu được tiếp cận các thông tin/giáo dục về HIV/AIDStrong 3 tháng qua và 55% số còn lại không được nghe hay nhìn thấy cácthông tin về dự phòng lây nhiễm HIV Nhóm tài xế xe ôm là nhóm đượctiếp cận thông tin giáo dục về HIV nhiều nhất (nhưng cũng chỉ ở mức54.5%), tiếp theo là nhóm cộng đồng dân cư (51.4%), và công nhân nhàmáy (41.3%) Nhóm Casino rolling staff là nhóm có tỷ lệ tiếp cận với cácthông tin và giáo dục HIV thấp nhất (27%)[18]

Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận với dịch vụ can thiệp dự phòng lâynhiễm HIV của các nhóm đối tượng nghiên cứu cũng còn ở mức độ thấp.Nghiên cứu này cũng cho thấy, có tới 75% không nhận được BCS từ bất

kỳ nguồn nào Chỉ có khoảng 14% mua BCS tại các hiệu thuốc, có 5,6%nhận BCS từ trạm y tế xã, 2,5% nhận được từ bệnh viện huyện và trungtâm y tế dự phòng,và 3% nhận được từ bạn bè Và về xét nghiệm HIV thìchỉ có 15% nam giới và 11% nữ giới đã từng làm xét nghiệm HIV Trong

đó tỷ lệ nhóm tài xế xe ôm là 16% và nhóm rolling staff là 16% cao hơn sovới nhóm cộng đồng dân cư (11%) và công nhân nhà máy (13%) Chỉ 21%(8 trong số 37 nam giới và 1 trong 3 nữ giới) có quan hệ tình dục với nhiềubạn tình trong 6 tháng qua đã từng đi làm xét nghiệm HIV [18]

Nghiên cứu của Cao Đình Thắng (2008) về can thiệp phòng, chốngHIV/AIDS trong nhóm di biến động tại xã Chính Lý, huyện Lý Nhân HàNam, với 440 đối tượng là người thường xuyên đi làm ăn xa cho thấy kiếnthức về phòng, chống HIV/AIDS không cao 86,5% biết đúng về nguyênnhân gây bệnh do mẹ truyền sang con 64,4%, qua đường quan hệ tình dụckhông sử dụng BCS 64,4% Hơn 90% không tiếp cận thông tin vềHIV/AIDS ở “nơi đến” là do công việc Do đi làm xa nhà thường đẩyngười dân di biến động vào tình cảnh dễ phát sinh hành vi nguy cơ cao lâynhiễm HIV/AIDS Mức độ di chuyển cao của người dân di biến động cũng

là nhân tố khiến họ không tiếp nhận được các nguồn thông tin vềHIV/AIDS ở cả nơi đi và nơi đến [27] Như vậy, những người dân di biếnđộng ở đây có nhu cầu được tiếp cận thông tin, hướng dẫn và cung cấp các

Trang 28

phương tiện giúp họ có quan hệ tình dục và tiêm chích an toàn (BCS,BKT)

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thiềng và Cộng sự (2007) kiến thức vềHIV/AIDS của người di cư sử dụng kết quả điều tra di cư Việt Nam (2004)

do Tổng cục Thống kê tiến hành tại 11 tỉnh thành phố, đại diện cho 5 khuvực cho thấy: Biết tên bệnh và nguyên nhân lây nhiễm HIV/AIDS củangười di cư tương đối cao, nhưng những kiến thức về cách phòng tránhHIV/AIDS chỉ đạt loại trung bình khá, chỉ có khoảng 50% người di cư đạtđiểm từ khá trở lên Ở mọi độ tuổi, mọi vùng, người di cư đều thường cóhiểu biết thấp hơn người không di cư Tây Nguyên là vùng có hiểu biết vềvấn đề này kém nhất Còn ở thành phố Hồ Chí Minh; khu công nghiệpĐông Nam Bộ và Hà Nội hiểu biết của người di cư về vấn đề này có kháhơn nhưng vẫn ở mức “chưa cao” Điều này cho thấy nhu cầu lớn về tiếpcận thông tin, giáo dục, truyền thông về HIV/AIDS không chỉ ở các vùngsâu,vùng xa mà ngay cả ở các thành phố lớn Hiểu biết về HIV/AIDS trongcộng đồng người di cư cũng có sự phân biệt khá rõ rệt Những đối tượngthuộc diện chưa đăng kí hộ khẩu, KT3 và KT4 thường có hiểu biết thấphơn đối tượng khác Người di cư mới đến có hiểu biết kém hơn người di

cư trên 5 năm Hiểu biết kém nhất về vấn đề này là người di cư từ 1- 4năm Có lẽ là họ đã ít quan hệ và chưa thực sự hoà đồng với nơi đến Vìvậy, việc tiếp cận các dịch vụ truyền thông của họ gặp khó khăn Nguồnthông tin để người di cư có kiến thức về bệnh nhiễm trùng lây truyền quađường tình dục (STIs) và HIV/AIDS chủ yếu là phương tiện truyền thôngđại chúng (Truyền hình, đài và báo, tạp chí, trong đó, chủ yếu là Truyềnhình) Truyền thông trực tiếp, cao nhất là qua bạn bè, người thân: 50%,qua cán bộ y tế chưa đến 20% [28]

Các nghiên cứu cũng cho thấy, tuy có nhu cầu tiếp cận các dịch vụ

dự phòng lây nhiễm HIV(nêu trên) nhưng những người di biến động lạithường khó tiếp cận được các dịch vụ này Ví dụ như khả năng tiếp cậnDVTTTĐHV của người di biến động chỉ ở mức trung bình, trong đóNhóm tài xế xe ôm là nhóm được tiếp cận thông tin giáo dục về HIV nhiềunhất (cũng chỉ 54.5%), Nhóm Casino rolling staff là nhóm có tỷ lệ tiếp cậnvới các thông tin và giáo dục HIV thấp nhất (27%) [18] Khả năng tiếp cậnDVBCS thấp (có tới 75% không nhận được BCS từ bất kỳ nguồn nào

Trang 29

[12]) Khả năng tiếp cận DVBKT rất thấp (Tất cả những người TCMT đều

đã từng dùng chung hoặc dùng lại bơm kim tiêm bẩn mà không qua bất kỳcông đoạn làm sạch nào[10] Khả năng tiếp cận rất thấp đối vớiDVTVXNTN (21%) [18]

Như vậy, qua các nghiên cứu hiện có, những người di cư thường có nhucầu tiếp cận các dịch vụ về HIV/AIDS và nhu cầu này của họ có thể đượctóm tắt như sau:

- Dịch vụ truyền thông thay đổi hành vi:

+ Mục đích tiếp cận: nhận được kiến thức đủ và đúng; thay đổi hành vi cóhại, thực hiện hành vi an toàn;

+ Bằng chứng về nhu cầu: thiếu kiến thức hoặc kiến thức thiếu chính xác;

có hành vi nguy cơ cao (mua dâm hoặc bán dâm, tiêm chích ma túy, quan

hệ tình dục bất chợt…)

- Dịch vụ cung cấp và khuyến khích sử dụng bao cao su:

+ Mục đích tiếp cận: thực hiên tình dục an toàn

+ Bằng chứng về nhu cầu: có quan hệ tình dục không an toàn; tỷ lệ dùngBCS thấp, không có sẵn BCS;

- Dịch vụ cung cấp và khuyến khích sử dụng bơm kim tiêm sạch:

+ Mục đích tiếp cận: thực hiện hành vi tiêm chích ma túy an toàn

+ Bằng chứng về nhu cầu: có tiêm chích ma túy; còn dùng chung BKT;không biết hoặc không mua được BKT

- Dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện (DVTVXNTN):

+ Mục đích tiếp cận: nhận biết hành vi nguy cơ; biết và thực hiện các biệnpháp giảm nguy cơ lây nhiễm HIV

+ Bằng chứng về nhu cầu: rất ít tiếp cận dịch vụ này; thiếu thông tin

về DVTVXNTN HIV và STIs miễn phí

3 Một số yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV của người di biến động qua một số nghiên cứu đã có

Trang 30

sống trong tình trạng bị o ép về nhiều mặt, phải đương đầu với nỗi cô đơn,nhưng lại hoàn toàn tự chủ về thời gian và tiền bạc kiếm được, do vậy họcũng dễ bị sa vào các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV, cho nên họ rất cầnđược tiếp cận các dịch vụ liên quan đến HIV/AIDS Tuy nhiên, nhìnchung, như đã trình bày ở trên, họ lại thường khó tiếp cận với các dịch vụnày, bởi có nhiều yếu tố tác động khác nhau.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc thiếu các dịch vụ xã hội thân thiện,đặc biệt là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe dành cho người di cư là mộttrong những yếu tố làm tăng tính dễ tổn thương của nhóm dân cư này vớiHIV/AIDS Bên cạnh đó, những khó khăn và rào cản trong giao tiếp (vănhóa, ngôn ngữ ) cũng đã cản trở họ tiếp cận các thông tin về sức khoẻ,dịch vụ và phương tiện dự phòng lây nhiễm HIV (chẳng hạn như BCS,bơm kim tiêm), cả trong quá trình di chuyển cũng như tại điểm đến

3.2 Ở Việt Nam

Hiện có rất ít nghiên cứu về mối liên quan giữa di biến động dân cư vàdịch HIV/AIDS đề cập rõ ràng đến các yếu tố ảnh hưởng tới mối liên quannày

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Huy (2011) “Mối liên quan giữa thông tin,

động cơ và khả năng hành vi dự phòng HIV và trầm cảm với hành vi tình dục nguy cơ trong nam lao động tự do” trên 450 nam lao động tự do

tại Hà Nội trong đó 87% là LĐTDDBĐ ngoại tỉnh và gần 70% là lái xe ômcho thấy 33% đối tượng có quan hệ tình dục với người bán dâm, 25% cóbạn tình bất chợt, 9% có quan hệ tình dục đồng giới Trung bình họ có 3bạn tình trong 12 tháng qua và không sử dụng BCS thường xuyên Không

có mối liên quan giữa di biến động với hành vi tình dục nguy cơ ở nam laođộng tự do nhưng trầm cảm và chùm 3 yếu tố của mô hình IMB gồm thôngtin về dự phòng HIV- động cơ dự phòng HIV-và khả năng thực hiện hành

vi dự phòng HIV là yếu tố dự báo thô của hành vi tình dục Nam LĐ đượctiếp nhận thông tin hơn, có động cơ dự phòng hơn, có khả năng thực hiệnhành vi dự phòng hơn và ít trầm cảm hơn thì có khả năng thay đổi hành vinguy cơ dễ dàng hơn

Nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Thủy (2008) bằng phương pháp địnhtính (quan sát, thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu) trên hai nhóm nam laođộng di biến động làm nghề xây dựng tại Hà Nội, trong đó một nhóm là

Trang 31

người cùng làng và nhóm còn lại người di biến động đến từ các làng khácnhau cho thấy những người ở khác làng thường cùng nhau tìm đến gái bándâm Nhóm những người di biến động cùng làng e ngai việc quan hệ vớigái mại dâm vì họ sợ rằng thông tin về quan hệ ngoài hôn nhân của bảnthân sẽ nhanh chóng được chuyển tải đến người thân ở quê từ những ngườibạn cùng làng Các mối quan hệ xã hội gần gũi như trên đã là rào cản đốivới hành vi QHTD nguy cơ trong nhóm này

Theo Đặng Nguyên Anh (2007) chia các yếu tố khiến người di cư,đặc biệt là lao động tự do dễ bị tổn thương với HIV và do đó có nhu cầucao về tiếp cận các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS thành các nhóm sau:

- Tính dễ bị tổn thương do di cư không an toàn: nạn nhân của bóc lộttình dục và phân biệt đối xử, cô đơn, xa gia đình và người thân, có thunhập tiền mặt cao hơn trong khi sức ép bạn bè và có môi trường tạo hành

vi nguy cơ… khiến người di cư gặp nhiều rủi ro hơn các nhóm dân cư khác

- Cơ hội phòng bệnh hạn chế: vị thế nhập cư yếu kém, rào cản ngônngữ và văn hóa, điều kiện sinh sống và việc làm không ổn định, hạn chế vềkhả năng tiếp cận các nguồn thông tin y tế phù hợp với nhận thức cũngnhư khả năng chi trả hạn chế

- Khó tiếp cận dịch vụ xã hội và y tế vốn chỉ được cung cấp cho dânđịa phương

- Thiếu hệ thống hỗ trợ xã hội

- HIV/AIDS cũng có thể là động lực di cư: người nhiễm HIV/AIDS

có thể phải rời cộng đồng vì bị kỳ thị và phân biệt đối xử, vì thiếu dịch vụđiều trị hoặc không được điều trị, không tin tưởng vào tính bảo mật kết quảxét nghiệm HIV[1]

Như vậy, các yếu tố như: vị thế nhập cư yếu kém, rào cản ngôn ngữ vàvăn hóa, điều kiện sinh sống và việc làm không ổn định, hạn chế về khảnăng tiếp cận các nguồn thông tin y tế phù hợp cùng với nhận thức cũngnhư khả năng chi trả hạn chế; hay dịch vụ y tế vốn chỉ được cung cấp chodân địa phương…được coi là những yếu tố tác động đến khả năng tiếp cậndịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm người di biến động ở nước ta.Thời gian gần đây, công tác giáo dục dự phòng lây nhiễm HIV cho ngườilao động di biến động tại các khu đô thị, thành phố lớn đã bắt đầu đượcquan tâm nhiều hơn, thông qua hoạt động của các tuyên truyền viên sức

Trang 32

khỏe tại nơi làm việc Tuy nhiên, những nỗ lực này chỉ tiếp cận được mộtlượng thiểu số người lao động và chủ yếu là những lao động làm việc trongcác doanh nghiệp Mặt khác, các hoạt động truyền thông như vậy cũng mớichỉ dừng lại ở mức phổ biến thông tin chứ chưa thật sự làm thay đổi đượchành vi của nhóm đối tượng này

Các chuyên gia cũng nhận thấy rằng những cố gắng dự phòng lây nhiễmHIV tập trung vào nhóm dân nhập cư là một thách thức đáng kể vì khó cóthể xác định được nơi cư trú của họ Trong khi, những thông điệp dựphòng được tuyên truyền một cách chung chung thường không được họquan tâm, hưởng ứng Cách tiếp cận cung cấp thông tin trực tiếp tại nơilàm việc mà các cơ quan chức năng vẫn thực hiện hiện nay chỉ hướng tớinhững lao động sản xuất ổn định, làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp.Còn đối với lao động di cư tự do thì khi họ chuyển đi một nơi khác,chương trình giáo dục tại nơi làm việc không còn tác động đối với họ nữa[2]

Việc thiếu các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV hoặc độ bao phủ của cácdịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV cũng là yếu tố ảnh hưởng đến khả năngtiếp cận các dịch vụ này của người di biến động Báo cáo công tác phòng,chống HIV/AIDS năm 2011 của Bộ Y tế cho thấy độ bao phủ của các dịch

vụ dự phòng lây nhiễm HIV còn thấp, ví dụ tính đến 31/12/2011 cho dù đãtăng so với năm 2010, nhưng dịch vụ BCS mới được triển khai ở 51,37%

số xã, còn dịch vụ BKT mới có ở 38,82% số xã

Bảng 1: Địa bàn triển khai DV BKT, BCS của Việt Nam

năm 2011 so với năm 2010

2010

Năm2011

Năm2010

Năm2011

Tổng quan lại, qua một số nghiên cứu và tài liệu hiện có chúng tôi nhậnthấy có một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ dự

Trang 33

phòng lây nhiễm HIV của người di biến động và được chúng tôi phân loạitheo 03 nhóm chủ yếu như sau:

a) Nhóm yếu tố thuộc về bản thân người di biến động:

- Thiếu kiến thức về HIV nên không chủ động tìm kiếm thông tin và dịch

vụ dự phòng lây nhiễm HIV;

- Chủ quan, coi mình không có nguy cơ lây nhiễm HIV;

- Coi kiếm tiền là quan trọng, ít quan tâm đến vấn đề sức khỏe, bao gồm cảlây nhiễm HIV, đặc biệt là với những người đi làm ăn theo thời vụ (laođộng tự do di biến động);

- Di chuyển nhiều, không đăng ký chỗ ở…nên người cung cấp dịch vụ dựphòng lây nhiễm HIV không biết họ ở đâu;

- Thiếu phương tiện truyền thông (đài, báo, TV…);

- Không biết các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV ở đâu…

b) Nhóm yếu tố thuộc về nhà cung cấp dịch vụ (các cơ quan, tổ chức, đơnvị phòng, chống HIV/AIDS):

- Không chú ý đến các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV cho người di biếnđộng;

- Không biết người di biến động ở đâu để tiếp cận họ;

- Ít quan tâm đến quảng bá các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV;

- Không có dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV hoặc độ bao phủ của dịch vụnày còn thấp

c) Nhóm yếu tố thuộc môi trường xã hội và chính sách:

- Nhà nước có chính sách, quy định về cung cấp dịch vụ phòng, chốngHIV nói chung và dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV nói riêng cho người dibiến động nhưng thực thi còn nhiều hạn chế;

- Thiếu nguồn lực để thiết lập dịch vụ, mở rộng dịch vụ hoặc chủ động đưadịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV đến với người di biến động;

- Kỳ thị, phân biệt đối xử với dân “ngụ cư”, với người làm thuê, ở trọ…

4 Đặc điểm kinh tế-xã hội và tình hình lây nhiễm HIV/AIDS ở Hà Nội

- địa bàn của nghiên cứu

4.1 Đặc điểm kinh tế xã hội:

Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước với 3vùng sinh thái: đồng bằng, trung du, miền núi; tiếp giáp với 5 tỉnh: TháiNguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Vĩnh Phúc Với diện tích hơn

Trang 34

3.300 km2, dân số 6.679.505 người Hà Nội được chia làm 10 quận nộithành, 18 huyện ngoại thành và 1 thị xã bao gồm 577 xã/phường/thị trấn

Là một thành phố đông dân cư, địa bàn rộng với nhiều sắc tộc khácnhau, nên thành phố Hà Nội đang là điểm thu hút khách du lịch và đầu tưnước ngoài Bên cạnh đó, số lao động di dân tự do từ các tỉnh về Hà Nộichiếm một số lượng lớn, nên mối quan hệ xã hội, an ninh trật tự, tệ nạn xãhội ngày càng phức tạp Đó là một trong những nguyên nhân làm cho nguy

cơ lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng ở Hà Nội ngày càng giatăng[25]

4.2 Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS tại Hà Nội

Tính đến ngày 31/12/2011, trên địa bàn Hà Nội có 19.521 người nhiễmHIV đang còn sống được báo cáo, đứng ở vị trí thứ 2 trong toàn quốc, chỉsau Thành phố Hồ Chí Minh Nhưng trên thực tế, theo kết quả dự báo dịchcủa các chuyên gia Việt Nam và quốc tế, ước tính đến cuối năm 2012 HàNội có khoảng hơn 34 nghìn người nhiễm HIV/AIDS Điều này đặt rathách thức lớn cho Thành phố trong việc cung cấp các dịch vụ dự phòng;

hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe, điều trị cho người nhiễm HIV và làm giảm táchại của HIV đến sự phát triển kinh tế-xã hội của Thành phố [25]

Các quận, huyện trong phạm vi của nghiên cứu này đều được coi là các

“điểm nóng” của Thành phố Hà Nội về số lượng người nhiễm HIV, dẫnđầu là quận Đống Đa đứng thứ 1/29; quận Hoàng Mai đứng thứ 3/29,huyện Từ Liêm 4/29; và quận Thanh Xuân đứng thứ 5/29 quận, huyện củaThành phố về tỷ lệ nhiễm HIV[25]

4.3 Tình hình di biến động dân cư tại Hà Nội

Trong khu vực tiểu vùng sông MêKông, Hà Nội được xem là mộttrong 3 thành phố tiếp nhận lượng lao động di cư/di biến động lớn [33].Theo số liệu do Sở Công an thành phố Hà Nội cung cấp, tính đến tháng10/2011 trên địa bàn thành phố Hà Nội có khoảng 224.853 nhân khẩutrong độ tuổi lao động là người có đăng ký thường trú ở tỉnh/thành phốkhác đến tạm trú tại Hà Nội (mã quản lý là KT4) Nơi cư trú tại Hà Nộicủa các đối tượng này không ổn định (nhà thuê, mượn, ở nhờ) và làm ăntheo thời vụ Trong đó 35,25% (79.252 người) là “lao động tự do”,mang tính “mùa vụ” và 4,2% (9.549 người) là người không có việc làm

Trang 35

[18] Trong nhóm lao động tự do, số liệu quản lý chỉ phân tách được 2nhóm nghề nghiệp chính gồm nhóm tiếp viên nhà hàng và xe ôm Sốlượng lao động thuộc nhóm nghề khác chiếm tỷ lệ rất cao.

4.4 Tình hình phòng, chống HIV/AIDS liên quan đến người di biến động ở Hà Nội

Cũng như ở nhiều địa phương khác trong cả nước, Hà Nội chưa triểnkhai được nhiều hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm lao độngnhập cư, đặc biệt là lao động tự do Các hoạt động (dịch vụ) dự phòng lâynhiễm HIV ở Hà Nội hiện nay vẫn chủ yếu tập trung vào những nhóm có

tỷ lệ mắc HIV cao như: người tiêm chích ma túy, nữ bán dâm và ngườiquan hệ tình dục đồng giới nam-nam… chứ chưa quan tâm nhiều đến cácđối tượng là dân lao động tự do di biến động [12]

Trang 36

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu cắt ngang có phân tích kết hợp phương pháp thu thậpthông tin định tính và định lượng

Định lượng: Điều tra cắt ngang đối với LĐTDDBĐ.

Định tính: phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với các đối tượng cung

cấp thông tin chủ chốt thông qua các công cụ hướng dẫn phỏng vấn sâu vàthảo luận nhóm

2 Địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai tại 5 quận/ huyện của thành phố Hà Nội,gồm: 4 quận (Hoàng Mai, Long Biên, Hoàn Kiếm, Thanh Xuân) và 1 huyện(Từ Liêm) Đây là các quận/huyện tập trung nhiều lao động tự do di biếnđộng cư trú với sự đa dạng về loại hình việc làm (xe ôm, đồng nát, cửu vạn,bán hàng rong, đánh giày, bưng bê, rửa bát tại các cửa hàng ăn uống )

Theo số liệu do Sở Công an thành phố Hà Nội cung cấp, tính đếntháng 10/2011 trên địa bàn thành phố Hà Nội có khoảng 224.853 nhân khẩutrong độ tuổi lao động là người có đăng ký thường trú ở tỉnh/thành phố khácđến tạm trú tại Hà Nội (mã quản lý là KT4) Nơi cư trú tại Hà Nội của cácđối tượng này không ổn định (nhà thuê, mượn, ở nhờ) và làm ăn theo thời

vụ Trong đó 35,25% (79.252 người) là ”lao động tự do”, mang tính mùa vụ

và 4,2% (9.549 người) là người không có việc làm

3 Đối tượng nghiên cứu:

3.1 Đối với điều tra định lượng

Người lao động tự do di biến động thỏa m ãn các tiêu chí sau:

 Là đối tượng KT4 thuộc “nhóm lao động tự do khác” theo phânloại của hệ thống quản lý hộ khẩu Việt Nam

 Hiện đang tạm trú tại 5 quận/huyện: Thanh Xuân, Từ Liêm, LongBiên, Hoàn Kiếm và Hoàng Mai

 Đang chờ việc, đang làm một hoặc nhiều việc theo ngày, mùa vụ

 Đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Trang 37

Tiêu chí loại trừ:

 Dưới 18 tuổi

 Đang là lái xe đường dài, công nhân xây dựng, thủy thủ, nhữngngười tự nhận là người bán dâm hoặc tiếp viên nhà hàng/khách sạn vì đã cómột số nghiên cứu tiến hành trên các nhóm này

 Là nguời giúp việc ăn ở, sinh hoạt cùng hộ gia đình

 Làm việc theo hợp đồng “dài hạn” (từ 6 tháng trở lên)

3.2 Đối với nghiên cứu định tính

Lãnh đạo/Đại diện lãnh đạo chính quyền (UBND) và các cơ quan chức năng (Công an, Lao động Thương binh Xã hội) của TP Hà Nội,

các quận huyện và xã phường thuộc địa bàn nghiên cứu

 Nhóm cung cấp dịch vụ dự phòng và chăm sóc HIV cho lao động di

biến động:

 Đại diện lãnh đạo TTPC HIV/AIDS Hà Nội

 Cán bộ một số Dự án can thiệp phòng chống HIV/AIDS trên địabàn Hà Nội

 Cán bộ y tế tại các cơ sở y tế công - tư trên địa bàn nghiên cứu

 Chủ các nhà trọ

 Người lao động tự do di biến động làm các công việc khác nhau

4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

4.1 Cỡ mẫu điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc với lao động tự do di biến động

Cỡ mẫu đối với điều tra cụm được tính toán theo công thức sau:

2 d

q p z

- z: Hệ số tin cậy Với độ tin cậy 95% thì giá trị của z = 1,96

- p: Tỷ lệ người lao động di cư biết các biện pháp tình dục an toàn

để phòng tránh nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS (theo kết quả Điều tra di cưViệt Nam năm 2004: Di cư và sức khỏe) là 64,8%

- q = 1 – p = 0,352

Trang 38

- d: sai số tuyệt đối, d = 0.05

-DEFF: hệ số thiết kế, DEFF=1.7

-NR: tỷ lệ từ chối trả lời, NR=0.30

Cỡ mẫu bao gồm hệ số thiết kế để hiệu chỉnh cho tương quan nội tạicủa các cụm Chúng tôi áp dụng hệ số thiết kế là 1,7, hệ số này đã được sửdụng trong Điều tra giám sát hành vi năm 2011 ở Việt Nam cho điều tracụm đối với đối tượng là lái xe tải đường dài và nhóm dân di cư, các đốitượng này cũng giống với đối tượng đích của nghiên cứu này Ước tính tỷ lệ

từ chối trả lời của LĐTDDBĐ là 30% và 25% đối tượng được mời tham giaphỏng vấn sẽ không phải là LĐTDDBĐ Với giả định rằng hệ số thiết kế là1,7, khoảng tin cậy hai phía 95%, tỷ lệ từ chối trả lời 30% và 25%, cần tiếpcận 1325 người và có 596 (45%) đối tượng được phỏng vấn Cỡ mẫu làmtròn là 600

Phương pháp chọn mẫu:

Khảo sát nhanh ban đầu cho thấy tại 5 quận/huyện thuộc địa bànnghiên cứu,tình trạng lao động tập trung chờ việc tại các tụ điểm (chợngười) đã không còn phổ biến Mỗi quận/huyện chỉ còn một vài điểm và sốlượng lao động di biến động tại mỗi điểm cũng rất ít Bên cạnh đó, do laođộng tự do tham gia vào rất nhiều loại hình công việc, phân bố tại nhiềuxã/phường, di chuyển trên diện rộng trong địa bàn thành phố và có mặt ởkhắp các khu vực nên việc tiếp cận tại nơi làm việc sẽ là không khả thi vàkhông hiệu quả Phương án tiếp cận lao động tại nơi trọ là phương án tối

ưu đối với đối tượng này Hệ thống quản lý nhân khẩu tạm trú hiện hànhcũng đã được thực hiện ở tất cả các khu trọ mà lao động ngoại tỉnh trong

đó có lao động tự do di biến động tạm trú Vì vậy, việc tiếp cận lao động tự

do tại nơi trọ là cách thức tối ưu hơn cả bởi có thể biết trước được địa chỉtạm trú của họ, có thể tiếp xúc trao đổi với họ vào thời điểm phù hợp (thờigian mà họ rảnh rỗi trong ngày) Không chỉ thế các địa điểm tạm trú củanhóm lao động tự do di biến động tại các quận/huyện tương đối cố định và

có thể dễ dàng triển khai các hoạt động can thiệp hỗ trợ trong giai đoạntiếp theo

Xác định khung mẫu

Khung mẫu gồm bất kỳ địa điểm (là khu trọ) nào có đông LĐTDDBĐ theo tiêu chí chọn mẫu đang tạm trú

Trang 39

Nguồn lực của khảo sát cho phép có thể triển khai nghiên cứu tại 2xã/phường của mỗi quận/huyện Tại mỗi quận/huyện, nghiên cứu viên lựachọn ngẫu nhiên 2 xã/phường, liên hệ với các cơ quan chức năng quản lýcác khu trọ của từng xã/phường để xác định danh sách các địa điểm này

Để xác định được số tụ điểm tập trung nhiều lao động di biến động làđối tượng nghiên cứu đang tạm trú cũng như ước tính số lượng LĐTDDBĐcủa từng điểm, tại mỗi xã/phường, nghiên cứu viên đã liên lạc với các cộngtác viên địa phương (cảnh sát khu vực/tổ trưởng dân phố) để thu thập thôngtin liên quan.Sau đó, các cộng tác viên giới thiệu nghiên cứu viên đến cáckhu trọ, gặp gỡ các chủ nhà trọ và LĐTDDBĐ để thực hiện các cuộc thảoluận nhóm với họ để nắm bắt các thông tin như:

 Ước tính số lao động tự do di biến động thuộc đối tượng nghiêncứu tại mỗi địa điểm

 Thời điểm thuận lợi có thể tiếp cận các đối tượng tại khu trọtrong ngày

 Cách thức tiếp cận thích hợp với họ

 Bổ sung thêm các địa điểm khác trên địa bàn (nếu có)

 Loại bỏ những điểm trọ không phù hợp (tập trung những nhómkhông thuộc đối tượng nghiên cứu, thuộc khu vực không an toàn.Trên cơ sở các thông tin bước đầu đã thu thập được tại các địa bàn,nghiên cứu viên lập danh sách tất cả các địa điểm cùng số lượng lao động

tự do di biến động để tạo thành khung mẫu

Tại huyện Từ Liêm, trong quá trình vẽ bản đồ thực địa tại 2 xã,nghiên cứu viên nhận thấy số lượng lao động tự do di biến động thuộc đốitượng nghiên cứu tại các khu trọ của một xã rất thấp nên đã loại bỏ khỏidanh sách địa bàn nghiên cứu và chỉ còn khảo sát tại 1 xã

Chọn cụm

Từ danh sách tổng các địa điểm tập trung nhiều LĐTĐBĐ tạm trú đãlựa chọn ngẫu nhiên hệ thống 30 điểm Số LĐTĐBĐ được chọn phỏng vấntại mỗi tụ điểm tỷ lệ thuận với quy mô lao động tự do di biến động đangtạm trú của tụ điểm đó

Lựa chọn đối tượng tham gia/phỏng vấn

Nhóm nghiên cứu bao gồm một trưởng nhóm và từ 2-3 nghiên cứuviên đến các tụ điểm để tuyển chọn và tiến hành phỏng vấn các

Trang 40

LĐTDDBĐ Công đoạn này diễn ra hầu hết vào cuối giờ chiều đến khoảng10h đêm Tại mỗi tụ điểm, trưởng nhóm tiếp cận các đối tượng tiềm năng,kiểm tra lại thông tin theo tiêu chí chọn mẫu và mời họ tham gia Nếu đếuđối tượng tiềm năng đồng ý tham gia vào nghiên cứu, nghiên cứu viêncùng họ đến các địa điểm tương đối riêng tư (phòng trọ riêng, quán nướcvỉa hè, hiên nhà ) để thực hiện phỏng vấn Phiếu hẹn được cung cấp chocác đối tượng đạt tiêu chí lựa chọn nhưng chưa sắp xếp được thời gianthích hợp để phỏng vấn Quá trình này diễn ra liên tục cho đến khi tiếp cận

và phỏng vấn đủ số mẫu nghiên cứu của mỗi tụ điểm Tổng cộng, cácnghiên cứu viên đã hoàn thành 614 cuộc phỏng vấn đối với các đối tượngtheo đúng các tiêu chí đã được xác định Chỉ có 1 trường hợp từ chối trảlời

Mỗi cuộc phỏng vấn được tiến hành trong khoảng thời gian từ 30-45phút

Bảng 1.Số lượng lao động tự do di biến động được phỏng vấn tại các

quận/huyệnthuộc địa bàn nghiên cứu (người)

Phỏng vấn sâu: Có 59 cuộc phỏng vấn sâu được nghiên cứu viên của

Viện CLCSYT trực tiếp thực hiện, cụ thể như sau:

- Tại tuyến thành phố : 4 cuộc

o Thực hiện 3 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện lãnhđạo của Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS thành phố Hà Nội,

Sở Lao động -Thương binh – Xã hội, Sở Công an

o 1cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ dự án có triển khaican thiệp trên đối tượng LĐTDDBĐ trên địa bàn Hà nội

- Tại tuyến Quận/Huyện : 10 cuộc

Ngày đăng: 29/03/2021, 13:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w