Khẳng định mong muốn cùng các bên liên quan giải quyết vấn đề biển Đông bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên [r]
Trang 1Hưởng ứng cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào– Việt Nam” do Ban Bí thư Trung ương Đảng phát động Trang thông tin điện tửTrường THPT Thị xã Quảng Trị đăng tải các tài liệu liên quan đến cuộc thi để cánhân tham khảo.
I NỘI DUNG, HÌNH THỨC, THỂ LỆ, CƠ CẤU GIẢI THƯỞNG CUỘC THI:
1 Nội dung:
Người dự thi chọn một trong các nội dung sau đây để viết bài thi:
* Những nhân tố hình thành, quyết định mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.
* Tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào trong những năm tháng chiến tranh trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay.
* Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cay xỏn Phômvihản, Chủ tịch Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.
* Những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
* Những kỷ niệm sâu sắc về tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Lào trong sự nghiệp đấu tranh giành dộc lập dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
-* Những biểu hiện sinh động của mối quan hệ đoàn kết, gắn bó thuỷ chung, son sắt của hai dân tộc Việt Nam - Lào dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước trong những năm qua.
* Những kinh nghiệm quý báu về việc gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào.
* Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam trong lịch sử của hai dân tộc và trên những chặng đường phát triển mới.
* Những cảm nghĩ về nền văn hoá, về đất nước và con người Lào.
* Cần làm gì để giữ gìn, phát huy tình cảm hữu nghị đặc biệt Việt Nam Lào.
-* Tại sao hai dân tộc Việt Nam - Lào phải yêu thương gắn bó chặt chẽ với nhau.
2 Hình thức: Bài dự thi theo hình thức: thi viết.
3 Thể lệ cuộc thi:
a Đối tượng dự thi:
Trang 2- Tất cả cán bộ, đảng viên, nhân dân, học sinh, sinh viên đang sinh sống, côngtác, lao động, học tập trên địa bàn huyện
- Riêng cán bộ, chiến sỹ thuộc Công an huyện, BCH Quân sự huyện sẽ dự thitheo hướng dẫn của ngành cấp trên
b Quy định về bài dự thi:
- Bài dự thi phải sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt và phải chưa được công bố ởbất kỳ báo, tạp chí, sách…
- Có thể viết tay hoặc đánh máy trên giấy A4, phong chữ Times new Roman,
- Bài dự thi không hợp lệ nếu: sao chép lại dưới mọi hình thức
c Thời gian, nơi nhận bài thi:
Thời gian bắt đầu từ ngày 20 tháng 6 năm 2012, người dự thi nộp bài về Ban
tổ chức cuộc thi cấp huyện (qua Ban Tuyên giáo Huyện ủy) trước ngày 25 tháng 8 năm 2012 Ban tổ chức cuộc thi cấp Huyện tiến hành chấm và chọn từ 15 đến 20 bài
có chất lượng cao nhất nộp về Ban Tổ chức cuộc thi cấp Tỉnh
Ban Tổ chức cuộc thi cấp Huyện không nhận các bài thi nộp quá thời hạn nêutrên
4 Cơ cấu giải thưởng cuộc thi:
* Trung ương:
- 01 giải nhất: 30.000.000đồng
- 02 giải nhì mỗi giải: 15.000.000 đồng
- 05 giải ba, mỗi giải: 10.000.000 đồng
- 30 giải khuyến khích, mỗi giải: 5.000.000 đồng
- 02 giải nhì, mỗi giải: 3.000.000 đồng
- 05 giả ba, mỗi giải: 2.000.000 đồng
- 15 giải khuyến khích, mỗi giải: 1.000.000 đồng
Trang 3- Một số giải khác.
* Cấp huyện :
+ Tập thể:
- 01 giải nhất: 1.000.000 đồng
- 02 giải nhì, mỗi giải: 500.000 đồng
- 03 giải ba, mỗi giải: 300.000 đồng
+ Cá nhân:
- 01 giải nhất: 1.000.000 đồng
- 02 giải nhì, mỗi giải: 500.000 đồng
- 03 giải ba, mỗi giải: 300.000 đồng
- 05 giải khuyến khích, mỗi giải: 200.000 đồng
Tài liệu tham khảo cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam”:
-tự nhiên, nhân tố dân cư, xã hội, văn hoá và lịch sử, truyền thống chống giặc ngoạixâm của nhân dân hai nước Trong tiến trình đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-ngườisáng lập ra Đảng Cộng sản Đông Dương đã sớm nhận thấy tầm quan trọng của mốiquan hệ này, với các hoạt động cách mạng của mình đã đặt nền móng vững chắcphát triển thành quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc, hai quốc gia
Về các điều kiện tự nhiên: Việt Nam và Lào nằm ở trung tâm bán đảo
Ấn-Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa Trong phạm vi của bán đảo Đông Dương,Việt Nam nằm ở phía đông dãy Trường Sơn, như một bao lơn nhìn ra biển; Lào nằm
ở sườn tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào vùng đất liền của bán đảo Như vậy, dãy
Trang 4Trường Sơn có thể ví như cột sống của hai nước, tạo thành biên giới tự nhiên trênđất liền giữa Việt Nam và Lào Với địa hình tự nhiên này, về đường bộ cả Việt Nam
và Lào đều theo trục Bắc-Nam Còn về đường biển, con đường gần nhất để Lào cóthể thông thương ra biển đó là từ Sầm Nưa thuộc tỉnh Hủa Phăn (Lào) qua ThanhHoá; Xiêng khoảng (Lào) qua Nghệ An; Khăm Muộn (Lào) qua Hà Tĩnh;Savẳnnakhệt (Lào) qua Quảng Trị và Khăm Muộn (Lào) qua Quảng Bình
Do điều kiện tự nhiên nên sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và Lào
có nhiều điểm tương đồng, lại vừa có những nét khác biệt Tuy nhiên, trong hoàncảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, để hợp tác cùng phát triển hai nướchoàn toàn có thể bổ sung cho nhau bằng tiềm năng, thế mạnh của mỗi nước về vị tríđịa lý, tài nguyên, nguồn nhân lực, thị trường cũng như sự phân vùng kinh tế vàphân công lao động hợp lý Ngoài ra, Việt Nam và Lào là những thuộc nước“vừa”
và “tương đối nhỏ” sống cạnh nhau, lại nằm kề con đường giao thông hàng hải hàngđầu thế giới, nối liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và Ấn ĐộDương cho nên chiếm vị trí địa- chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á
Về quốc phòng: bờ biển Việt Nam tương đối dài, nên việc bố trí chiến lượcgặp không ít khó khăn Trong khi đó, dãy Trường Sơn, biên giới tự nhiên giữa ViệtNam và Lào được ví như bức tường thành hiểm yếu, để hai nước tựa lưng vào nhau,phối hợp giúp đỡ lẫn nhau tạo ra thế chiến lược khống chế những địa bàn then chốt
về kinh tế và quốc phòng, trở thành điểm tựa vững chắc cho Việt Nam và Lào trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Về các nhân tố dân cư, xã hội: Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa
dân tộc, đa ngôn ngữ Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc gia củahai nước, hoặc nhiều nước là đặc điểm tự nhiên của sự phân bố tộc người ở khu vựcĐông Nam Á nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng Đặc điểm này, đến nay vẫntiếp tục chi phối mạnh mẽ các mối quan hệ khác trên đường biên giới quốc gia ViệtNam-Lào Chính quá trình cộng cư, hoặc sinh sống xen cài của những cư dân ViệtNam và cư dân Lào trên địa bàn biên giới của hai nước đã dẫn đến việc cùng khaithác và chia sẻ nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là nguồn lợi sinh thuỷ Điều này, thêmmột lần nữa khẳng định các quan hệ cội nguồn và quan hệ tiếp xúc chính là nhữngđiều kiện lịch sử và xã hội đầu tiên, tạo ra những mối dây liên hệ và sự giao thoa vănhoá nhiều tầng nấc giữa cư dân hai nước Một trong những minh chứng cho nhậnđịnh trên đó chính là hai câu chuyện huyền thoại của hai dân tộc đều xoay quanh
Trang 5môtíp quả bầu mẹ, đó là: người Lào, thông qua câu chuyện huyền thoại đã cho rằngcác nhóm dân cư: Lào, Thái, Khơmú, Việt đều có chung nguồn gốc Đặc biệt, trong
câu chuyện này, Khún Bulôm đã dặn dò với các con cháu của Người: “Các con phải luôn luôn giữ tình thân ái với nhau, không bao giờ được chia rẽ nhau Các con phải làm cho mọi người noi gương các con và coi nhau như anh em một nhà, người giàu phải giúp đỡ kẻ nghèo, người mạnh giúp kẻ yếu Các con phải bàn bạc kỹ trước khi hành động và đừng bao giờ gây hấn xâm lăng lẫn nhau” Còn ở
miền tây Quảng Bình và Quảng Trị của Việt Nam, người B’ru cũng giải thích nguồncội của các dân tộc Tà Ôi, Ê đê, Xơ đăng, Bana, Khùa, Sách, Mông, Dao, Tày,Khơme, Lào, Thái, Việt cũng từ quả bầu mẹ Hình tượng quả bầu mẹ đã trở thànhbiểu tượng cao đẹp, lý giải nguồn gốc và tình đoàn kết keo sơn giữa các dân tộc haibên dãy Trường Sơn Chính vì vậy, đến nay, các dân tộc anh em sống ở khu vựcbiên giới hai nước vẫn còn nuôi dưỡng niềm tự hào và truyền mãi cho nhau nhữngcâu chuyện về đạo lý làm người vô cùng sâu sắc mà người xưa để lại
Về nhân tố văn hoá và lịch sử: Về nhân tố văn hoá, điều cần phải khẳng định
là do quan hệ gần gũi và lâu đời nên người Việt và người Lào đặc biệt là người dân
ở vùng biên giới am hiểu về nhau khá tường tận Trong cuốn “Dư địa chí” (1) củaNguyễn Trãi đã mô tả khá ấn tượng về nền văn hoá độc đáo và phong tục thuần pháccủa dân tộc Lào, cũng như hiện tượng giao thoa văn hoá nở rộ giữa Đại Việt với cácnước láng giềng Đông Nam Á, trong đó có Lào Lạn Xạng
Sự giao thương của người dân Lào với người dân Việt nhất là với người dâncác tỉnh biên giới của Việt Nam cũng khá nhộn nhịp Người dân Việt Nam bày tỏmối thiện cảm với một số mặt hàng có chất lượng cao của Lào như: vải dệt,chiêng Chính vì vậy, mà hiện nay, nhiều dân tộc ít người ở Tây Nguyên của nước
ta vẫn còn giữ được những chiếc chiêng Lào nổi tiếng Đúng như nhà bác học Lê
Quý Đôn nhận xét: "Thật là một nước đã giàu lại khéo”.(2) Điều đáng chú ý là trongquan hệ giao thương với Đại Việt, Lào Lạn Xạng đã không ít lần bộc lộ mối quantâm của mình muốn hướng ra biển, trong khi Đại Việt lại tìm cơ hội để mở rộngbuôn bán vào sâu lục địa
Có thể khẳng định rằng, sự hài hoà giữa tình cảm nhân ái và tinh thần cộngđồng là một nét đặc sắc của triết lý nhân sinh ngươì Việt cũng như người Lào Chínhtrong cuộc sống chan hoà này, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào đã ngày cànghiểu nhau hơn và bày tỏ những tình cảm rất đỗi chân thành với nhau Ngạn ngữ Lào
Trang 6có câu: “Nói hợp lòng thì xin ăn cho cũng chả tiếc, nói trái ý thì dẫu xin mua cũng
chẳng bán” (Vầu thực khọ, khỏ kin cò bò thi (bò khỉ thi), vầu bò thực khọ khỏ xừ cò
bò khải) Đó cũng là những tình cảm bình dị nhưng chân thành mà người dân nướcViệt dành cho người bạn láng giềng của mình, còn được lưu lại trong thư tịch cổ:
“người Lào thuần hậu chất phác” (3) trong giao dịch buôn bán thì “họ vui lòng đổi
chác”(4)
Mặc dầu Việt Nam và Lào có tiếng nói, văn tự không giống nhau, sáng tạo vàlựa chọn các nền văn hóa cũng như các hình thức tổ chức chính trị -xã hội khácnhau, nhưng những nét tương đồng thì vẫn thấy phổ biến trong muôn mặt đời sốnghàng ngày của cư dân Việt Nam và Lào Các nền văn hóa nghệ thuật truyền thốngcủa Việt Nam và Lào dễ dàng tìm thấy: sự đồng cảm lẫn nhau, chia sẻ các giá trịcộng đồng, coi trọng luật tục, tôn kính người già… Sự tương đồng giữa văn hóa làng– nước của người Việt và văn hóa bản - mường của người Lào xuất phát từ cộinguồn cùng nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở Đông Nam Á Đồng thời, lòngnhân ái bao la và đời sống tâm linh phong phú, trong đó có những ảnh hưởng sâuđậm của đạo Phật mà trong cách đối nhân xử thế của mình, nhân dân Việt Nam vànhân dân Lào bao giờ cũng nêu cao những phẩm chất yêu thương và hướng thiện
Về nhân tố lịch sử: Theo các thư tịch cổ nổi tiếng của Việt Nam như: “Việt
điện u linh” “Lịch triều hiến chương loại chí” thì năm 550 dưới thời Vạn Xuân củanhà tiền Lý, khi bị quân Lương ở phương Bắc đàn áp, Lý Nam Đế buộc phải lánhnạn và anh ruột của Vua là Lý Thiên Bảo đã chạy sang đất Lào lập căn cứ chốnggiặc ngoại xâm, mở ra mối quan hệ đầu tiên Việt Nam-Lào, Lào-Việt -Nam Còn hai
bộ chính sử khác là “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sử thông giámcương mục” thì sự kiện quan hệ ngoại giao, thông hiếu đầu tiên giữa các nước ĐạiViệt và Lào là vào năm 1067(5) Tiếp đến vào giữa thế kỷ XIV (năm 1353) nhữngquy ước hoà bình đầu tiên về biên giới quốc gia đã được xác lập giữa Đại Việt vàLạn Xạng khi Chạu Phạ Ngừng lần lượt chinh phục các mường Lào, lập nên vươngquốc Lạn Xạng thống nhất đầu tiên của người Lào Ngoài ra, trong suốt quá trìnhcủa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427), nghĩa quân Lê Lợi cũng luôn nhận được
sự tiếp sức của các tộc trưởng và nhân dân Lào ở vùng biên giới
Điều đáng nói, là trong khoảng thời gian từ thế kỷ XIV đến XV, hai nước ĐạiViệt- Lạn Xạng, Lạn Xạng-Đại Việt mặc dù không phải không có những thời khắcgặp nguy nan nhưng với tinh thần lấy hoà hiếu làm trọng nên đã sáng suốt và công
Trang 7bằng, có ý thức đề cao không thù hận, đồng thời biết chủ động vun đắp tình thân ái
và hữu nghị lâu dài giữa hai dân tộc
Đến thế kỷ XVII là thời kỳ toàn thịnh của Lạn Xạng dưới Vương triềuXulinhavôngsả (1637-1694), nhà vua Lào đích thân cầu hôn công chúa Vua Lê Duy
Kỳ Tuy nhiên, đây cũng là lúc chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạnkhủng hoảng nên quan hệ giữa hai vương triều hậu Lê và Lạn Xạng không phát triểnđược nhiều Cuối thế kỷ XVII, nội bộ hoàng tộc Lào rối ren Tuy nhiên bất chấphoàn cảnh bất lợi của chế độ phong kiến ở Đại Việt và Lạn Xạng, quan hệ nương tựavào nhau giữa nhân dân hai nước vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng Chính vì vậy, nửacuối thế kỷ XVIII, khu vực Mương Phuôn (Xiêng Khoảng) đã trở thành một căn cứ
đề kháng quan trọng của nghĩa quân Tây Sơn chống lại thế lực Nguyễn Ánh Thế kỷXIX, quan hệ Việt Nam-Lào, Lào -Việt Nam đã có bước trưởng thành sâu hơn, nhất
là về phương diện nhận thức chủ quyền quốc gia, quan điểm bạn thù cũng nhưphương cách xây dựng đồng minh giữa nhân dân hai nước Đó là những yếu tố lịchsử
Cùng với các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội, văn hoá và lịch sử và sự
tự nguyện phối hợp của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào trong chống ngoại
xâm nhất là trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
càng khẳng định mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam
Trong tiến trình lịch sử cả hai dân tộc đều phải ngoan cường chống ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc Dân tộc Việt Nam kể từ khi Nhà nước Văn
Lang thành lập đã trải qua mấy ngàn năm lịch sử và liên tục bị chế độ phong kiếnphương Bắc xâm lược, thống trị và do đó đã phải không ngừng chiến đấu giành vàbảo vệ độc lập dân tộc Nước Lào cũng trải qua lịch sử hàng nghìn năm và cũng phảingoan cường chống xâm lược để khẳng định sự tồn tại của mình với tư cách một dântộc, một quốc gia độc lập
Từ đầu thế kỷ 20, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Lào-Việt Nam
đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp Như vậy, trước 1930, hai dân tộc Việt đã đoàn kết cùng chiến đấu chống kẻ thù chung, nhưng lúc đó chỉ dừng lại ởtính chất tự phát do hạn chế về trình độ nhận thức và điều kiện lịch sử Từ khi có chủnghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc biệt là từ khi Đảng Cộngsản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộcđấu tranh giải phóng của hai dân tộc Lào-Việt Nam tình đoàn kết đó đã được phát
Trang 8Lào-triển mạnh mẽ và liên tục Chính truyền thống yêu nước vẻ vang là cơ sở vững chắccho sự đoàn kết giữa hai dân tộc.
Tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào trong những
năm tháng chiến tranh mà biểu hiện của nó là nhân dân Lào cùng Việt kiều đấu
tranh chống chế độ thuộc địa, phối hợp và ủng hộ cách mạng Việt Nam giai đoạn(1930-1939), tiếp đến giúp nhau tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giànhchính quyền thắng lợi (1939 - 1945) và liên minh Việt-Lào, Lào-Việt Nam chiến đấuchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945 – 1975) Sau năm 1975, quan
hệ Việt Nam và Lào bước sang một trang hoàn toàn mới: từ liên minh chiến đấuchung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập chủ quyền.Tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào được biểu hiện sâu nặngtrong sự nghiệp xây dựng đất nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh-Người đặt nền móng vững chắc cho quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào -Việt Nam.
Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, chính Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ ChíMinh), với lòng yêu nước nồng nàn và nghị lực phi thường, vượt lên mọi khó khăn,gian khổ, đã tự mình khám phá thế giới tư bản chủ nghĩa và các dân tộc thuộc địa,nhằm phát hiện chân lý cứu nước Người tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩaMác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Đông Dương để xác định con đường giảiphóng các dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia theo con đường cách mạng vô sản.Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đếntình hình Lào Người không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nói chung mà còn tốcáo cụ thể sự tàn bạo của thực dân Pháp ở Lào (6) Hội Việt Nam Cách mạng Thanhniên - một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn
Ái Quốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), đếntháng 2 năm 1927, Hội này gây dựng được cơ sở tại Lào Thông qua hoạt động củaHội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiệnthuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa sátcánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam –Lào, Lào – Việt Nam Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu, HộiViệt kiều yêu nước, mở các lớp huấn luyện cách mạng trên đất Lào Trên thực tế, từnửa sau những năm 20 thế kỷ XX, Lào là một đầu cầu trực tiếp truyền bá chủ nghĩaMác – Lênin và tư tưởng cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc vào Đông Dương
Trang 9Năm 1928, đích thân Người bí mật tổ chức khảo sát thực địa tại Lào (7) càng cho thấymối quan hệ gắn bó mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào Cũngtrong năm này, chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn,đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam được tổ chức
Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dươngcủa Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị,
tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước ĐôngDương Quá trình Nguyễn Ái quốc đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam –Lào, Lào – Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới của cách mạngViệt Nam cũng như cách mạng Lào
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và chính Người cùng đồng chíKayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, haiNhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam
Thực tiễn đã khẳng định rằng, trong quan hệ quốc tế ít có nơi nào và lúc nàocũng có được mối quan hệ đặc biệt, đoàn kết, hợp tác bền vững lâu dài, trong sángnhư mối quan hệ Việt - Lào
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệtgiữa Việt Nam – Lào, Lào - Việt Nam cùng với những cơ hội vẫn còn không ít tháchthức, nhất là các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, bóp méo lịch sử, chia rẽtình hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào Vì vậy, việc duy trì, củng cố và tăng cườngmối quan hệ đặc biệt trong sáng, thuỷ chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhândân hai nước Việt Nam – Lào là nhiệm vụ hết sức quan trọng của Đảng, chính quyền
và nhân dân hai nước Việt Nam-Lào, lào-Việt Nam
(3) Hồ Chí Minh: Lời phát biểu tại Hội nghị cán bộ Liên minh nhân dân Việt - Miên - Lào
lần thứ nhất tháng 9-1952 Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
(4) Kayxỏn Phômvihản: Bài nói tại Hội nghị cán bộ toàn quốc ngày 13-5-1974 Tài liệu
lưu tại Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 10(5 ) Lịch sử Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào Việt Nam NXB CTQG Hà Nội 2011 Trang 13
(6) Hồ Chí Minh: Lời phát biểu tại Hội nghị cán bộ Liên minh nhân dân Việt – Miên
-Lào, TL đã dẫn
(7) Tổng cục Chính trị, Đảng lãnh đạo quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam
làm nhiệm vụ quốc tế, Nxb Quân đội nhân dân, H 2008, tr 317-318.
(8) Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục - Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr.108.)
-Chuyên đề 2
TÌNH CẢM GẮN BÓ KEO SƠN GIỮA HAI DÂN TỘC VIỆT NAM - LÀO TRONG NHỮNG NĂM THÁNG CHIẾN TRANH TRƯỚC ĐÂY
CŨNG NHƯ TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG
ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam Lào, Lào – Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn
-kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì
độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Namphát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng vàchính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế
hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp Mộttrong những nhân tố làm nên mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào-Việt Nam,
đó chính là tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào trong nhữngnăm tháng chiến tranh trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiệnnay
Thứ nhất: Hai dân tộc sát cánh bên nhau, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh,
đòan kết gắn bó đánh giặc ngoại xâm
Dân tộc Việt Nam kể từ khi Nhà nước Văn Lang thành lập đã trải qua mấyngàn năm lịch sử và liên tục bị chế độ phong kiến phương Bắc xâm lược, thống trị
và do đó đã phải không ngừng chiến đấu giành và bảo vệ độc lập dân tộc Nước Làocũng trải qua lịch sử hàng nghìn năm và cũng phải ngoan cường chống xâm lược đểkhẳng định sự tồn tại của mình với tư cách một dân tộc, một quốc gia độc lập
Trang 11Từ đầu thế kỷ 20, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Lào-Việt Nam
đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp Trong đó, có phong trào chống Pháp
ở Áttapư do Khi Volảlạt lãnh đạo (1900-1901), phong trào Phùmibun ở Trung Làocủa Phò Càduột (1901-1902) và cuộc khởi nghĩa Hạ Lào do ông Kẹo, ông Cômmađăm lãnh đạo (1901-1937) đã có sự liên kết với các cuộc nổi dậy chống Pháp của
bộ tộc Xơ đăng ở KonTum (Việt Nam) Đặc biệt, năm 1918, phong trào chống Phápcủa người Mông ở Tây Bắc Việt Nam do Chạu Phạpắt chây lãnh đạo lan rộng trênđịa bàn nhiều tỉnh Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam, kéo dài đến tận năm 1922 gây choPháp nhiêù thiệt hại
Như vậy, trước 1930, đã xuất hiện đoàn kết Lào-Việt cùng chiến đấu chống kẻthù chung nhưng lúc đó chỉ dừng lại ở tính chất tự phát do hạn chế về trình độ nhậnthức và điều kiện lịch sử Từ khi được chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh soi đường, đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch
Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của hai dân tộcLào-Việt Nam, tình đoàn kết đó đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục
Nhân dân Lào cùng Việt kiều đấu tranh chống chế độ thuộc địa, phối hợp và ủng hộ cách mạng Việt Nam giai đoạn (1930-1939)
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930) đã mở đầu trang sử vẻ
vang của quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào
Tại Hội nghị lần thứ nhất (tháng 10 -1930) Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tênthành Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng thời xác lập các nguyên tắc, phươnghướng, đường lối chính trị và những nhiệm vụ cơ bản cho phong trào cách mạng của
ba dân tộc ở Đông Dương; đặt phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cáchmạng Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương Chính vì vậy, trongnhững năm 1930 - 1939, các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và Lào đã hỗtrợ lẫn nhau, góp phần thúc đẩy sự phát triển phong trào cách mạng mỗi nước
Trong thời gian trên, Tỉnh uỷ Quảng Trị đã bắt mối xây dựng một số chi bộĐảng trong Việt kiều ở địa bàn Trung Lào Sự ra đời của các chi bộ này, thể hiện sựphát triển của phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động Lào cũngnhư vai trò rất lớn của Việt kiều Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng, sự vận độngcủa các đoàn thể quần chúng, những hoạt động chống Pháp có tính chất lẻ tẻ trongphạm vi bộ tộc, bộ lạc, mang tính chất địa phương và tự phát ở Lào dần chuyển lênmang tính tổ chức, hoà nhịp với phong trào đấu tranh của ba nước Đông Dương
Trang 12Những hoạt động yêu nước và cách mạng ở Việt Nam và Lào có sự phối hợp vàngày càng gắn kết chặt chẽ bổ sung, hỗ trợ nhau.
Nhân dân hai nước Việt Nam-Lào giúp nhau tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền thắng lợi(1939 - 1945).
Trước sự tồn vong của các dân tộc Đông Dương, Trung ương Đảng Cộng sản
Đông Dương liên tiếp tổ chức các cuộc hội nghị quan trọng, đặc biệt, Hội nghị BanChấp hành Trung ương Đảng tháng 5- 1941 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đãquyết định nhiệm vụ giải phóng dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc trong khuônkhổ từng nước và thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãitrong đó nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng trước tiên của cách mạngĐông Dương Hội nghị cho rằng các dân tộc Đông Dương đều chịu chung một áchthống trị của phát xít Pháp-Nhật cho nên phải đoàn kết lại đánh đuổi kẻ thù chung
Cuối năm 1944 đầu năm 1945, tình hình thế giới và Đông Dương có nhiều biến
đổi, đe doạ trực tiếp quyền lực và lợi ích của phát xít Nhật ở Đông Dương Trước tìnhhình đó, hai dân tộc Việt Nam - Lào đã phối hợp đấu tranh chống phát-xít Nhật tiếnhành khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, thành lập chính phủ độc lập ở mỗi nước
Sự ra đời của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (ngày 2-9-1945), Chínhphủ Lào Ítxalạ (Lào tự do) (ngày 12-10-1945) là một trong những cơ sở đưa tìnhđoàn kết, giúp đỡ nhau lên tầm liên minh chiến đấu để hai bên xây dựng mối quan
hệ hữu hảo và vững chãi hơn trước là một bước ngoặt đưa tình đoàn kết, giúp đỡnhau lên tầm liên minh chiến đấu
Liên minh Việt Nam-Lào , Lào-Việt Nam chiến đấu chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược
Sau khi giành lại được chính quyền, Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước tương trợ Lào – Việt (1[1]) và Hiệp định về tổ chức Liên quân Lào - Việt (2[2]), đặt cơ
sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thùchung của hai dân tộc Việt Nam - Lào
Ngày 25-11-1945, trước nguy cơ tồn vong nền độc lập dân tộc của ba nướcViệt Nam - Lào - Campuchia, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông
11 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1998, t.7,
tr.424.
2
Trang 13Dương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc để chỉ đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc của ba nước Đông Dương Chỉ thị chủ trương: “Thống nhất mặt trận Việt – Miên -
Lào chống Pháp xâm lược” Thực hiện chủ trương này, trong 3 năm (1945-1948),liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào từng bước được hình thành, phát triển và thuđược nhiều kết quả, góp phần thúc đẩy quan hệ đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Làogắn bó mật thiết hơn Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu, (tháng 1- 1949) đã
quyết định “mở rộng mặt trận Lào - Miên”, trong đó nhấn mạnh yêu cầu mở rộng
Mặt trận kháng chiến Lào và Campuchia, củng cố các lực lượng Việt Nam làmnhiệm vụ quốc tế ở hai nước, tăng cường thêm cán bộ, xây dựng và mở rộng các căn
cứ ở Lào Thực hiện chủ trương đó, Việt Nam đã cử nhiều cán bộ phối hợp với lựclượng kháng chiến Lào mở lớp huấn luyện quân sự và học tập chính trị Lực lượng
này, sau được tổ chức thành hệ thống riêng và lấy tên là Quân tình nguyện.
Đại hội Quốc dân Lào (Mặt trận Lào kháng chiến) họp từ ngày 13 đến ngày
15 - 8 - 1950, tại Tuyên Quang (Việt Nam) đã đề ra Cương lĩnh chính trị 12 điểm,trong đó nhấn mạnh yêu cầu tăng cường đoàn kết quốc tế, trước hết là với Việt Nam
và Campuchia, cùng nhau đánh đuổi kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược và canthiệp Mỹ, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới
Ngày 11-3-1951, theo sáng kiến của Đảng Lao động Việt Nam, Hội nghị khốiliên minh nhân dân Việt Nam – Lào – Campuchia đã thành lập theo nguyên tắc tựnguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, cùng nhau đánh đuổibọn thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập thực sự cho nhân dân Đông Dương.Hội nghị đề ra chương trình hành động chung và cử Ủy ban liên minh gồm đại diệncủa ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia Việc thành lập khối liên minh nhân dânViệt Nam – Lào – Campuchia đã tạo cơ sở để nâng cao quan hệ đoàn kết và phốihợp chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương và đã giáng đòn mạnh mẽ vàochính sách “chia để trị” của bọn thực dân, đế quốc Tháng 12-1953, một bộ phậnquân chủ lực Việt Nam phối hợp với bộ đội Lào Ítxalạ và quân tình nguyện ViệtNam tại Lào mở chiến dịch Trung, Hạ Lào Chiến thắng của Liên quân Việt – Làogóp phần làm phá sản kế hoạch tập trung quân của Nava, buộc địch phải phân tánlực lượng đối phó trên nhiều chiến trường, tạo điều kiện củng cố, phát triển thế phốihợp chiến lược giữa hai nước Việt Nam và Lào
Trang 14Với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ 1954, cách mạng hai nước Việt Nam, Lào
bước vào thời kỳ mới: thời kỳ tập trung xây dựng lực lượng, đẩy mạnh đấu tranh đểgiữ vững hòa bình và giành độc lập, thống nhất ở mỗi nước Tuy nhiên, đế quốc Mỹvẫn nuôi tham vọng xâm lược, ra sức can thiệp vào miền Nam Việt Nam và Lào, âmmưu biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, để làm bàn đạp tiếncông các nước xã hội chủ nghĩa Trước sự chuyển biến mới của cách mạng Lào, Đạihội thành lập Đảng Nhân dân Lào được tiến hành từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 6tháng 4 năm 1955 tại tỉnh Sầm Nưa Đảng Nhân dân Lào ra đời đã tạo cơ sở vữngchắc để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Lào, đồng thời là nhân
tố trọng yếu, có ý nghĩa quyết định thúc đẩy quan hệ đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữacách mạng hai nước Lào - Việt Nam Đặc biệt, sau Đại hội đại biểu lần thứ II củaNeo Lào Hắc Xạt (Mặt trận Lào yêu nước) đã mở ra triển vọng mới cho sự tăngcường hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng hai nước Việt Nam – Lào
Sau khi Đảng Nhân dân Lào được thành lập, các lực lượng yêu nước Lào với
sự phối hợp, hỗ trợ tích cực của các tổ cố vấn quân sự và dân chính Việt Nam đã liêntiếp đánh bại các cuộc tiến công của các thế lực phái hữu trong chính quyền và quânđội Viêng Chăn vào vùng căn cứ cách mạng, gây cho địch nhiều thiệt hại Đúng như
khẳng định của Ban Chỉ đạo Đảng Nhân dân Lào:“ Sở dĩ cách mạng Lào đạt được
những thắng lợi to lớn đó là do tinh thần đoàn kết đấu tranh anh dũng kiên cường của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào, đồng thời cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hết lòng theo dõi, giúp đỡ chúng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng” 3[3]
Từ cuối năm 1958, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đẩy mạnh các hoạt động lậtlọng, từng bước xoá bỏ các hiệp ước hoà hợp dân tộc đã được ký kết để cuối cùngtrắng trợn xoá bỏ Chính phủ liên hiệp và hoà hợp dân tộc Trước sự can thiệp trắngtrợn của đế quốc Mỹ vào Lào, Hội nghị Trung ương Đảng Nhân dân Lào (3-6-1959)xác định cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Lào đang chuyển sang một giaiđoạn mới, giai đoạn từ đấu tranh công khai hợp pháp là chủ yếu, chuyển sang đấutranh vũ trang là chủ yếu, kết hợp với các hình thức đấu tranh khác Thống nhất vớiquan điểm trên của Đảng Nhân dân Lào, Hội nghị Bộ Chính trị Đảng Lao động ViệtNam (2-7-1959) đề ra chủ trương chi viện cách mạng Lào đáp ứng yêu cầu xây
3
Trang 15dựng, phát triển lực lượng trong tình hình mới và coi đây là một nhiệm vụ quốc tếhết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam Về phía ViệtNam, được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân các bộ tộc Lào, các đoàn công tác quân
sự của ta đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng, phục vụ cho việc mở tuyếnđường mới dọc Tây Trường Sơn trên đất Lào
Ngày 5-9-1962, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Vương quốc Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Đầu năm 1963 vua Lào
Xỉxávàng Vắthana dẫn đầu đoàn đại biểu Hoàng gia Lào thăm Việt Nam Trong
buổi chiêu đãi vua Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hai dân tộc Việt và
Lào sống bên nhau trên cùng một dải đất, cùng có chung một dãy núi Trường Sơn Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau như anh em… Ngày nay chúng ta lại đang giúp đỡ nhau để xây dựng một cuộc sống mới Tình nghĩa láng giềng anh em Việt - Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được” (4[4])
Mặc dù Hiệp định Giơnevơ năm 1962 về Lào được ký kết, đế quốc Mỹ vẫnchưa từ bỏ âm mưu xâm lược Lào, tăng cường viện trợ, giúp chính quyền tay saithân Mỹ tiến công lấn chiếm vùng giải phóng, đồng thời ra sức phá hoại Chính phủliên hiệp, cô lập và vu cáo Neo Lào Hắc Xạt Từ cuối năm 1963, Việt Nam cửchuyên gia quân sự sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và đến giữa năm 1964, thànhlập hệ thống chuyên gia quân sự Việt Nam từ trên cơ quan Tổng tư lệnh Lào xuốngđến Bộ tư lệnh các quân khu, tỉnh đội và cấp tiểu đoàn, có nhiệm vụ phối hợp vớibạn để nghiên cứu kế hoạch tác chiến, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng vàcủng cố các vùng căn cứ ở Lào Đồng thời, các đơn vị quân tình nguyện Việt Namphối hợp với bộ đội Pathết Lào mở nhiều chiến dịch, chủ yếu ở khu vực đường 9 –Trung Lào, Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, đập tan các cuộc tấn công lấn chiếmcủa địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Lào, tạo điều kiện thuận lợi cho quân vàdân Việt Nam vận chuyển trên đường Tây Trường Sơn để chi viện cho chiến trườngmiền Nam Việt Nam và cách mạng hai nước Lào, Campuchia
Ngày 22-6-1965, Đảng Lao động Việt Nam đã thống nhất với Đảng Nhân dânLào về việc phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau, trong đó tập trung giúp Lào xây dựng
vùng giải phóng về mọi mặt Tiếp đó, ngày 3/ 7/ 1965, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết khẳng định: “Việt Nam cần
4
Trang 16phải nỗ lực đáp ứng đến mức cao nhất mọi yêu cầu đối với công cuộc phát triển cách mạng của Lào” 5[5] Đầu năm 1968, bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp với
Quân giải phóng Lào mở chiến dịch tiến công Nặm Bạc thắng lợi, giải phóng hoàntoàn khu vực Nặm Bạc – Khăm Đeng với trên một vạn dân, nối liền vùng giải phóngThượng Lào thành khu vực liên hoàn, tạo thế vững chắc cho hậu phương cách mạngLào và hỗ trợ thiết thực cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam vàCampuchia
Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cáchmạng Lào, đồng thời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấugiữa quân và dân hai nước Việt Nam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chân thànhnhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Lào, như đồng chí Cayxỏn Phômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao
động Việt Nam (12-1968) đã nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của Việt Nam cho cách mạng
Lào hết sức tận tình và vô tư Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất và xương máu Xương máu của nhân dân Việt Nam đã nhuộm đỏ khắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập của Lào…Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối quan
hệ đặc biệt, thực tế đó cũng là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản” 6 [6]
Trước âm mưu và thủ đoạn chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, Trung ươngĐảng Lao động Việt Nam và Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã ra chỉ thị khẳngđịnh tăng cường đoàn kết giữa nhân dân hai nước, quyết tâm đánh bại đế quốc Mỹ
và bè lũ tay sai trong bất cứ tình huống nào Với tinh thần đó, đến cuối năm 1972,cách mạng Lào đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng và cùng với những chiếnthắng to lớn về nhiều mặt của quân tình nguyện Việt Nam và quân giải phóng nhândân Lào cuối năm 1972, đầu năm 1973 đã trực tiếp góp phần quan trọng buộc chính
phủ Viêng Chăn phải ký kết Hiệp định Viêng Chăn “lập lại hoà bình và thực hiện
hòa hợp dân tộc ở Lào” (21-2-1973)
Bước vào thời kỳ mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai Đảng Nhân dânLào đã quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Nhân dân cách mạng Lào; Đại hội đã
suy tôn đồng chí Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng; thông qua Nghị quyết: “Tăng
cường đoàn kết Lào – Việt” Đặc biệt, đại hội khẳng định tình đoàn kết Lào – Việt
5
6
Trang 17trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh thần quốc tế vô sản là mối quan hệ đặcbiệt Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào cũng đã thống
nhất phương hướng hợp tác cần tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất, những
khâu then chốt nhất, tạo điều kiện cho Lào nhanh chóng đảm đương được công việc
ra (12-1974), đồng thời góp phần hỗ trợ tích cực cho nhân dân Việt Nam và nhândân Campuchia anh em giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống đếquốc Mỹ xâm lược
Trước thắng lợi dồn dập, to lớn của nhân dân Việt Nam, Campuchia trongtháng 4-1975, nhất là chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam (30-4-1975) củanhân dân Việt Nam, ngày 5-5-1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhân dân cáchmạng Lào tổ chức Hội nghị mở rộng, quyết định phát động toàn Đảng, toàn dân,toàn quân trong cả nước nổi dậy đoạt lấy chính quyền và giành thắng lợi hoàn toàn
Tháng 12 năm 1975, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời Đây làthắng lợi to lớn, triệt để của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời cũng là thắng lợiquan trọng của mối quan hệ đặc biệt, liên minh đoàn kết chiến đấu, thủy chung, sonsắt giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào
Thứ hai: Hợp tác và giúp đỡ nhau, vượt qua khó khăn cùng xây dựng chủ
nghĩa xã hội, hội nhập và phát triển.
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang một trang mới Đây làthời kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào trở thành Đảngcầm quyền ở mỗi nước; cả hai nước càng có điều kiện phát huy truyền thống tốt đẹp
đã từng gắn bó keo sơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, xây dựng vàtăng cường quan hệ liên minh, liên kết và hợp tác toàn diện về chính trị, quốc phòng
Trang 18an ninh, kinh tế, văn hoá, giáo dục… Tuy nhiên, vào thời điểm này hai nước đềuphải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, đặc biệt là hậu quả thống trịcủa chủ nghĩa thực dân mới Trong khi đó, các thế lực thù địch trong nước và bênngoài câu kết, tìm cách chia rẽ Lào với Việt Nam, Việt Nam với Lào gây khó khăn,trở ngại không nhỏ cho mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào
Ngày 30-4-1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị
quyết Về tăng cường giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn mới,
xác định: việc tăng cường đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đối với Lào là một trong nhữngnhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dân Việt Nam Từ ngày 15 đến ngày18-7-1977, Đoàn đại biểu cao cấp Đảng và Chính phủ Việt Nam do Tổng Bí thư LêDuẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị chính thức Lào.Hai bên đã trao đổi ý kiến về các vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quantâm, cũng như các vấn đề nhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng,Chính phủ và nhân dân hai nước, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi íchsống còn của hai dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủnghĩa xã hội
Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước:
Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; và
ra Tuyên bố chung tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước Hiệp ước
hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lược lâu dài, tạo cơ sở
chính trị và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tình đoàn kết, mốiquan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mớitrong quan hệ giữa hai nước
Ngày 3-7-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ thị:
“Trên cơ sở quán triệt đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, cácNghị quyết 10 và 11 của Bộ Chính trị về tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện vớiLào và Campuchia và nội dung thỏa thuận trong các cuộc hội đàm lần này7[7], các bộban ngành và các tỉnh trực tiếp làm nhiệm vụ hợp tác với bạn cần kiểm điểm, rút kinh
7
Trang 19nghiệm, kiên quyết xử lý và có biện pháp chấm dứt các hiện tượng tiêu cực, các quanđiểm, nhận thức và hành động sai trái gây phương hại cho quan hệ đặc biệt giữa ta vớiLào”8[8] Về phía Lào, Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào cũngkhẳng định: “Xuất phát từ truyền thống lịch sử và tình hình, nhiệm vụ chiến lược củacách mạng ba nước, sự tăng cường liên minh hợp tác toàn diện giữa ba Đảng, banước Lào – Việt Nam – Campuchia mới trở thành nhiệm vụ chiến lược số một, lànguyên tắc cách mạng bất di bất dịch của mỗi nước, là vấn đề sống còn của mỗinước”9[9] Đặc biệt, Chỉ thị của Ban Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào ghi rõ:
“hai bên nhất trí phải tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõquan hệ đoàn kết sống còn và lâu dài, quán triệt quan điểm, phương châm nguyêntắc của mối quan hệ trong giai đoạn cách mạng mới, uốn nắn tư tưởng và tác phonglàm việc mới, tránh những bảo thủ, chủ quan, chống mọi hiện tượng lơ là mất cảnhgiác, thiếu trách nhiệm, chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi”10[10]
Theo tinh thần đó, từ năm 1988, cuộc gặp hàng năm giữa hai Bộ Chính trị đãtrở thành một cơ chế hoạt động chính thức giữa hai Đảng và hai Nhà nước Trong đó
có sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp táctoàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa Dân chủNhân dân Lào của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư NguyễnVăn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4 -7-1989 Đây là chuyến thăm Lào chínhthức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau Đại hội IV ĐảngNhân dân Cách mạng Lào Hai bên thống nhất với nhau nhiều vấn đề quan trọngtrong việc đổi mới phương thức hợp tác giữa hai nước và giải quyết các vấn đề quốc
tế và khu vực Thành tựu nổi bật nhất của quan hệ hợp tác chính trị Việt Nam – Lào
trong giai đoạn này là hai nước vẫn kiên định giữ vững định hướng chính trị theo
con đường xã hội chủ nghĩa.
Tháng 10 năm 1991, đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhândân Cách mạng Lào và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thămchính thức Việt Nam Hai bên khẳng định quyết tâm trước sau như một là tăngcường, củng cố và nâng cao quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào – Việt Nam, Việt Nam –
8
9
10
Trang 20Lào, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, định kỳ trao đổi cấp Thứ trưởng Ngoại giao giữa hainước nhằm phối hợp chặt chẽ các hoạt động ngoại giao trên các diễn đàn quốc tế.
Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng cử trên 30 đoàn từ cấp Trungương đến cấp tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững địnhhướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận Quan hệgiữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩađều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu với nộidung thiết thực và có hiệu quả Đặc biệt, hai bên phối hợp nghiên cứu, biên soạn
công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam (1930 – 2007)
nhằm tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào,Lào – Việt Nam, đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc tiếp tục xâydựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam lên một tầmcao mới
Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào -Việt Nam quý báu và thiêng liêng
đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đúc kết trong 4 câu thơ bất hủ:
Cùng với cả nước, mối quan hệ giữa tỉnh Quảng Trị với hai tỉnh Savẳn nakhệt,Salavăn của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào cũng không ngoài truyền thốngquý báu đó
Phát huy truyền thống trong chiến đấu, ngày nay trong sự nghiệp xây dựng đấtnước, với lợi thế Quảng Trị có chung 206 km đường biên giới, chính quyền 3 tỉnhQuảng Trị, Savẳnnakhệt và Salavăn thường xuyên phối hợp tổ chức các cuộc hộithảo quảng bá đầu tư, cải cách thủ tục hành chính tại cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo,Đensavẳn và cửa khẩu Quốc gia La Lay nhằm khuyến khích giao lưu phát triển kinh
tế, thương mại, du lịch và tạo điều kiện bà con 2 bên biên giới qua lại thăm thân, trao
Trang 21đổi hàng hoá, tham quan, du lịch Quan hệ buôn bán giữa các doanh nghiệp và các
tổ chức kinh tế của Quảng Trị và các tỉnh biên giới của Lào từng bước được xác lập
và bước đầu đạt kết quả tốt Các Công ty du lịch của 3 tỉnh Quảng Trị - Việt Nam,Savẳnnakhệt - Lào và Mụcđahản - Thái Lan đã có các chương trình hợp tác đưa đónkhách tham quan du lịch theo tour " Một ngày ăn cơm 3 nước" ngày càng thu hútnhiều khác trong và ngoài nước Các Sở, Ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, cáclực lượng Công an, Quân sự, Bộ đội biên phòng, Hải quan tỉnh Quảng Trị và tỉnhSavẳnnakhệt, tỉnh Salavăn định kỳ có các cuộc gặp gỡ giao lưu, học hỏi kinh nghiệmlẫn nhau Công an, Biên phòng các huyện biên giới cũng thường xuyên phối hợp vớinhau trong công tác nắm tình hình, điều tra cơ bản bổ sung các tuyến điểm, địa bàntrọng điểm để hoàn chỉnh kế hoạch đấu tranh phòng chống tội phạm Nhờ vậy,đường biên, cột mốc giữa các tỉnh luôn được bảo vệ nguyên trạng; tình hình an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới của hai bên luôn được giữvững
Hiện nay, các thế lực thù địch đang thực hiện các âm mưu “diễn biến hòabình” với nhiều thủ đoạn nhằm phá hoại, chia rẽ tình đoàn kết hữu nghị đặc biệtViệt- Lào và công cuộc xây dựng CNXH ở mỗi nước Hai Đảng, hai Nhà nước ViệtNam- Lào tiếp tục khẳng định ý chí, quyết tâm tăng cường quan hệ hữu nghị hợp táctoàn diện nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng ở mỗi nước, giữgìn và phát triển tình hữu nghị láng giềng gắn bó keo sơn này
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vẻ vang đó, Đảng bộ, chính quyền và nhândân tỉnh Quảng Trị cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Quảng Trị,Savẳnnakhệt, Salavăn sẽ làm hết sức mình, tiếp tục đổi mới phương thức, nội dung,
cơ chế phù hợp trên tất cả các lĩnh vực hoạt động thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp táctoàn diện lên tầm cao mới và càng phát triển bền vững
Trang 22(6)Dẫn theo Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam 1930-2007, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.439
(7) Đây là cuộc hội đàm hàng năm giữa Bộ Chính trị hai nước diễn ra trong hai ngày 9 và
10 tháng 5 năm 1987.
(8) Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam số 09 CT/ TW ngày 3 tháng
7 năm 1987 về việc quan hệ Đảng ta với Đảng Lào và Đảng Campuchia, Tài liệu lưu tại Kho lưu trữ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
(9) Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào số 24/BBT, ngày 20 tháng 5 năm 1987 về việc triển khai kết quả của cuộc Hội đàm giữa Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào với Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, Tài liệu lưu tại Kho lưu trữ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
(10) Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào số 24/BBT, ngày 20 tháng 5 năm 1987…Tài liệu đã dẫn.
-Chuyên đề 3
VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, CHỦ TỊCH CAY XỎN PHÔMVIHẢN, CHỦ TỊCH XUPHANUVÔNG VÀ CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CẤP CAO CỦA HAI ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO - VIỆT NAM.
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào –Việt Nam là quan hệ đặc biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có
về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấutranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào -Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựngnền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chíXuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nướcdày công vun đắp; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ĐảngNhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam:
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam.
Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, chính Nguyễn Ái Quốc, với lòng yêunước nồng nàn và nghị lực phi thường, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đã tự mình
Trang 23khám phá thế giới tư bản chủ nghĩa và các dân tộc thuộc địa, nhằm phát hiện chân lýcứu nước Người tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điềukiện cụ thể của Đông Dương để xác định con đường giải phóng các dân tộc ViệtNam, Lào, Campuchia theo con đường cách mạng vô sản
Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâmđến tình hình Lào Người không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nói chung mà còn
tố cáo cụ thể sự tàn bạo của thực dân Pháp ở Lào (1) Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên- tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốctrực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), đến tháng 2năm 1927, Hội này gây dựng được cơ sở tại Lào Thông qua hoạt động của Hội ViệtNam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi
để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa sát cánh cùngnhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam – Lào, Lào– Việt Nam Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu, Hội Việt kiềuyêu nước, mở các lớp huấn luyện cách mạng trên đất Lào Trên thực tế, từ nửa saunhững năm 20 thế kỷ XX, Lào là một đầu cầu trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc vào Đông Dương Năm 1928,đích thân Người bí mật tổ chức khảo sát thực địa tại Lào (2) càng cho thấy mối quan
hệ gắn bó mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào Cũng trong nămnày, chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn, đồng thờiđường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam được tổ chức
Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dươngcủa Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị,
tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước ĐôngDương Quá trình Nguyễn Ái quốc đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam –Lào, Lào – Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới của cách mạngViệt Nam cũng như cách mạng Lào
Ngày 3 -2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lapạ
đã ra đời - tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương cũng là sự mở đầu nhữngtrang sử vẻ vang của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Trên cơ sở sự phát triển của tổ chức Đảng ở Lào, tháng 9 năm 1934, Ban Chấp
hành Đảng bộ lâm thời Ai Lao (tức Xứ uỷ lâm thời Ai Lao) được thành lập Sự ra
đời của Xứ uỷ Ai Lao là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử đấu tranh yêu nước
Trang 24của nhân dân các bộ tộc Lào, khẳng định trên thực tế vai trò lãnh đạo của Đảng bộLào đối với cách mạng Lào cũng như đánh dấu một bước phát triển mới trong quan
hệ giữa phong trào cách mạng hai nước Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản ĐôngDương còn đề ra những chủ trương và giải pháp cụ thể chỉ đạo các cấp bộ Đảng vàphong trào cách mạng Đông Dương cũng như tăng cường sự quan hệ mật thiết,nương dựa lẫn nhau của hai dân tộc Việt Nam và Lào trên hành trình đấu tranh giành
tự do, độc lập cho mỗi dân tộc Điều này thêm một lần nữa khẳng định: quá trìnhchuẩn bị công phu về mọi mặt chính trị, tư tưởng, và tổ chức cho cách mạng ViệtNam, đồng thời với việc quan tâm xây dựng nhân tố bên trong cho cách mạng Lào,
cả về phương diện tổ chức lẫn chỉ đạo thực tiễn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thật
sự tạo ra nền tảng hoàn toàn mới về chất cho lớp người cộng sản Đông Dương đầutiên, bất luận họ là người Việt Nam, người Lào, hay là người Campuchia Đây chính
là nền móng vững chắc của quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam màNguyễn Ái Quốc là kiến trúc sư vĩ đại của tình đoàn kết đặc biệt đó
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minhmời Hoàng thân Xuphanuvông đang ở Vinh ra Hà Nội và tiếp Hoàng thân Cuộc gặp
gỡ đã có tác động mạnh mẽ, quyết định đối với Hoàng thân trong việc chọn lựa conđường làm cách mạng Ngày 3-10-1945, tại cuộc mít tinh của hàng vạn nhân dântỉnh Savẳnnakhệt đón chào Hoàng thân Xuphanuvông trở về tham gia chính phủ
Lào, Hoàng thân tuyên bố: “Quan hệ Lào - Việt từ nay sẽ mở ra một kỷ nguyên
mới ” Hình ảnh, uy tín, quyết tâm làm cách mạng, cứu nước và những lời nóitốt đẹp của Hoàng thân về quan hệ Lào - Việt đã tác động lớn lao đến sự hưởng ứng,tham gia cách mạng của các tầng lớp nhân dân Lào, càng tạo thêm chất keo gắn kếttình cảm của nhân dân Lào với Việt kiều cũng như với Việt Nam Chính phủ Lào
Ítxalạ (Lào tự do) vừa được thành lập cũng đã chủ trương: “Nhân dân Lào thân
thiện với nhân dân Việt Nam và quyết tâm cùng nhân dân Việt Nam đánh đuổi bọn thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương” (3) Thủ tướng Khăm Mạo tuyên bố với Việt
kiều: “mong rằng ba nước Việt, Miên, Lào bắt tay nhau để kiến thiết quốc gia” (4)
Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước tương trợ Lào – Việt (4) và Hiệp định về tổ chức
Trang 25Liên quân Lào - Việt (5), đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp tác giúp đỡ và liênminh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc Việt - Lào.
Sau khi giành được chính quyền, nhân dân hai nước Việt Nam, Lào hơn lúcnào hết, chỉ mong muốn được sống trong hòa bình, tiếp tục hợp tác, cùng nhau bảo
vệ nền độc lập và xây dựng lại đất nước nhưng ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dânPháp được sự đồng lõa của quân Anh, nổ súng đánh chiếm thành phố Sài Gòn Tiếp
đó, chúng mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ, Nam Trung Bộ của Việt Nam, sangCampuchia, Hạ Lào, rồi toàn cõi Đông Dương
Trước nguy cơ tồn vong nền độc lập dân tộc của ba nước Việt Nam – Lào Campuchia, ngày 25-11-1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông
-Dương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc để chỉ đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc của ba nước Đông Dương Chỉ thị chủ trương: “Thống nhất mặt trận Việt- Miên-
Lào chống Pháp xâm lược” và nêu rõ nhiệm vụ: “Tăng cường công tác vũ trangtuyên truyền vận động quần chúng nhân dân ở thôn quê, làm cho mặt trận khángPháp của Lào – Việt lan rộng và chiến tranh du kích nảy nở ở thôn quê, đặng baovây lại quân Pháp ở nơi sào huyệt của chúng và quét sạch chúng khỏi đất Lào” (6)
Đảng và Chính phủ Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coinhiệm vụ giúp cách mạng Lào như mình tự giúp mình để cùng phối hợp chiến đấu,đánh đuổi kẻ thù chung, giành độc lập tự do cho mỗi nước trên bán đảo ĐôngDương Thấm nhuần quan điểm quốc tế cao cả của Đảng Lao động Việt Nam và củaChủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam từ tiền tuyến đến hậu phương sẵn sàngchia sẻ những thuận lợi, cùng khắc phục khó khăn, cử nhiều người con yêu dấu củamình sang phối hợp cùng bạn Lào đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát triển lựclượng kháng chiến
Nhân dịp giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện hoà hợp dântộc, thống nhất quốc gia, thành lập Chính phủ Liên hiệp, ngày 10 tháng 1 năm 1958,Ban Chỉ đạo Đảng Nhân dân Lào gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: “Sở dĩ cách mạng Lào đạt
được những thắng lợi to lớn đó là do tinh thần đoàn kết đấu tranh anh dũng kiên cường của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào, đồng thời cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hết lòng theo dõi, giúp đỡ chúng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng”.(7)
Trang 26Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cáchmạng Lào, đồng thời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấugiữa quân và dân hai nước Việt Nam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chân thànhnhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Lào, như đồng chí Cayxỏn Phômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao
động Việt Nam (12-1968) đã nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của Việt Nam cho cách mạng
Lào hết sức tận tình và vô tư Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất và xương máu Xương máu của nhân dân Việt Nam đã nhuộm đỏ khắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập của Lào… Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối quan
hệ đặc biệt, thực tế đó cũng là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản”(8)
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là mình tự giúp
mình”, coi nhân dân bạn như nhân dân mình, coi sự nghiệp cách mạng của bạn là
trách nhiệm của mình, trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng, các thế hệ cán bộ,chiến sĩ quân tình nguyện và đội ngũ chuyên gia Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ởLào luôn kề vai sát cánh và cùng với bạn, vừa chiến đấu chống địch càn quét lấnchiếm, vừa tiến hành xây dựng và củng cố các đoàn thể, chính quyền kháng chiến,xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, tăng cường lực lượng vũ trang, phát triển chiếntranh du kích trên khắp các khu vực Thượng, Trung và Hạ Lào Đồng thời, thực tiễnchiến đấu, công tác trên các chiến trường Lào cũng là cơ hội bồi dưỡng, rèn luyệnrất bổ ích về các mặt quân sự, chính trị, nhất là nâng cao thêm tinh thần đoàn kếtquốc tế cho cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và đội ngũ chuyên gia Việt Nam
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang trang mới: từ liên minhchiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lậpchủ quyền Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra như vũ bão, đẩynhanh xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Do đó, các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam và Lào đều có cơ hội và điềukiện thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý, sử dụng các thành tựu khoa học côngnghệ của thế giới để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, xây dựng đất nước…
Năm 1976, ngay sau thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Lào vàViệt Nam đã đạt được thỏa thuận quan trọng trong vòng hai tháng rút toàn bộ quânđội và chuyên gia Việt Nam về nước và bắt đầu xúc tiến việc hoạch định biên giớiquốc gia giữa hai nước Tuy nhiên, lợi dụng cơ hội này, bọn phản động trong nước
Trang 27Lào, với sự hỗ trợ của các thế lực thù địch quốc tế, đã hoạt động nổi dậy ở nhiều nơi.
Do vận mệnh của hai nước liên đới lẫn nhau nên mối quan tâm hàng đầu về an ninhchính trị của Lào cũng là mối quan tâm thường trực của Việt Nam Ngày 30 tháng 4
năm 1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết Về
tăng cường giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn mới, xác định:
việc tăng cường đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đối với Lào là một trong những nhiệm vụquốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dân Việt Nam, cũng là vì lợi ích thiết thân củacách mạng Việt Nam
Đặc biệt, từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 7 năm 1977, Đoàn đại biểu cao cấpĐảng và Chính phủ Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm VănĐồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị chính thức Lào Hai bên đã trao đổi ý kiến về cácvấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quan tâm, cũng như các vấn đề nhằmphát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân hainước, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còn của hai dân tộctrong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Ngày 18 tháng
7 năm 1977, hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước: Hiệp ước hữu nghị và hợp tác
giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; và ra Tuyên bố chung tăng cường
sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước
Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lược lâu
dài, tạo cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tìnhđoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Hiệp ước có giá trịtrong 25 năm và sẽ được mặc nhiên gia hạn thêm từng 10 năm nếu một trong hai bênkhông thông báo cho bên kia muốn hủy bỏ Hiệp ước ít nhất là một năm trước khi hếthạn Hiệp ước nêu rõ: Hai bên cam kết ra sức bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặcbiệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, không ngừng tăng cường tình đoàn kết và tincậy lẫn nhau, sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt trên tinh thần của
chủ nghĩa quốc tế vô sản và theo nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng độc lập,
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước Việc ký kết hiệp ước đó còn có ý
Trang 28nghĩa quốc tế quan trọng, nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng giữa hai nước đangcùng hướng tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội và phát huy ảnh hưởng tích cực trong khuvực.
Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia là một biểu hiện tốt đẹp của việc giải
quyết vấn đề lợi ích dân tộc trên tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nướcchân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, là mẫu mực về chính sách lánggiềng hữu nghị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòaDân chủ Nhân dân Lào
Từ khi hai nước tiến hành đổi mới vào năm 1986,lãnh đạo cấp cao hai Đảng hai Nhà nước càng tăng cường cũng cố quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Ngày 3-7-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ thị:
“Trên cơ sở quán triệt đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, cácNghị quyết 10 và 11 của Bộ Chính trị về tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện vớiLào và Campuchia và nội dung thỏa thuận trong các cuộc hội đàm lần này11[11], các
bộ ban ngành và các tỉnh trực tiếp làm nhiệm vụ hợp tác với bạn cần kiểm điểm, rútkinh nghiệm, kiên quyết xử lý và có biện pháp chấm dứt các hiện tượng tiêu cực, cácquan điểm, nhận thức và hành động sai trái gây phương hại cho quan hệ đặc biệt giữa
ta với Lào”12[12] Về phía Lào, Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân cách mạngLào cũng khẳng định: “Xuất phát từ truyền thống lịch sử và tình hình, nhiệm vụchiến lược của cách mạng ba nước, sự tăng cường liên minh hợp tác toàn diện giữa
ba Đảng, ba nước Lào – Việt Nam – Campuchia mới trở thành nhiệm vụ chiến lược
số một, là nguyên tắc cách mạng bất di bất dịch của mỗi nước, là vấn đề sống còncủa mỗi nước”13[13] Đặc biệt, Chỉ thị của Ban Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Làoghi rõ: “hai bên nhất trí phải tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dânhiểu rõ quan hệ đoàn kết sống còn và lâu dài, quán triệt quan điểm, phương châmnguyên tắc của mối quan hệ trong giai đoạn cách mạng mới, uốn nắn tư tưởng và tácphong làm việc mới, tránh những bảo thủ, chủ quan, chống mọi hiện tượng lơ là mấtcảnh giác, thiếu trách nhiệm, chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi”14[14]
Theo tinh thần đó, từ năm 1988, cuộc gặp hàng năm giữa hai Bộ Chính trị đãtrở thành một cơ chế hoạt động chính thức giữa hai Đảng và hai Nhà nước Trong đó
11
12
13
14
Trang 29có sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp táctoàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa Dân chủNhân dân Lào của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư NguyễnVăn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4 -7-1989 Đây là chuyến thăm Lào chínhthức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau Đại hội IV ĐảngNhân dân Cách mạng Lào Hai bên thống nhất với nhau nhiều vấn đề quan trọngtrong việc đổi mới phương thức hợp tác giữa hai nước và giải quyết các vấn đề quốc
tế và khu vực Thành tựu nổi bật nhất của quan hệ hợp tác chính trị Việt Nam – Lào
trong giai đoạn này là hai nước vẫn kiên định giữ vững định hướng chính trị theo
con đường xã hội chủ nghĩa.
Tháng 10 năm 1991, đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhândân Cách mạng Lào và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thămchính thức Việt Nam Hai bên khẳng định quyết tâm trước sau như một tăng cường,củng cố và nâng cao quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào – Việt Nam, Việt Nam – Lào,đẩy mạnh hợp tác kinh tế, định kỳ trao đổi cấp Thứ trưởng Ngoại giao giữa hai nướcnhằm phối hợp chặt chẽ các hoạt động ngoại giao trên các diễn đàn quốc tế
Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng cử trên 30 đoàn từ cấp Trungương đến cấp tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững địnhhướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận Quan hệgiữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩađều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu với nộidung thiết thực và có hiệu quả Đặc biệt, hai bên phối hợp nghiên cứu, biên soạn
công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam từ 1930 – 2007
nhằm tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào,Lào – Việt Nam, đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc tiếp tục xâydựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam lên một tầmcao mới
Tháng 6 năm 2011, Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đãthăm hữu nghị chính thức CHDCND Lào, tiếp tục khẳng định mong muốn và quyếttâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong việc gìn giữ, phát huy quan hệđặc biệt Việt Nam - Lào như một tài sản chung vô giá của hai dân tộc Cũng trongnăm 2011, hai bên đã trao đổi nhiều đoàn lãnh đạo Quốc hội và đại biểu Quốc hộicủa hai nước, phối hợp tổ chức thành công nhiều hoạt động giao lưu giữa các cơquan của hai Quốc hội như: Hội thảo giao lưu giữa Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt
Trang 30Nam - Lào tại Hội An (Việt Nam) vào tháng 6/2011; Hội thảo giữa ba Ủy ban Đốingoại Quốc hội Việt Nam - Lào - Campuchia tại Chămpaxắc (Lào) vào tháng7/2011; Hội thảo giao lưu giữa Văn phòng Quốc hội Việt Nam - Lào tạiSavẳnnakhệt (Lào) vào tháng 7/2011; Hội thảo giữa hai Ủy ban Văn hóa, Giáo dục,Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của hai Quốc hội tháng 2/2011 tại Lào, qua đótăng cường hiểu biết, tin cậy và quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai Quốc hội nóiriêng, hai Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào nói chung.
Tháng 8/2011,Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Chummaly xaynhasỏn dẫn đầuÐoàn đại biểu cấp cao Lào sang thăm Việt Nam tiếp tục góp phần thắt chặt hơn nữamối quan hệ truyền thống, hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàndiện giữa hai Ðảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam phát triểnlên tầm cao mới, vì lợi ích của nhân dân hai nước Lào - Việt Nam, vì hòa bình, ổnđịnh, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào -Việt Nam quý báu và thiêng liêng
đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đúc kết trong 4 câu thơ bất hủ:
Cùng với cả nước, mối quan hệ giữa tỉnh Quảng Trị với hai tỉnh Savẳnakhệt,Xalavăn của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào cũng không ngoài truyền thốngquý báu đó
Phát huy truyền thống trong chiến đấu, ngày nay trong sự nghiệp xây dựng đấtnước với lợi thế Quảng Trị có chung 206 km đường biên giới, chính quyền 3 tỉnhQuảng Trị, Savẳnnakhệt và Xalavăn thường xuyên phối hợp tổ chức các cuộc hộithảo quảng bá đầu tư, cải cách thủ tục hành chính tại Cửa Khẩu Quốc tế Lao Bảo,Đensavẳn và Cửa khẩu Quốc gia La Lay nhằm khuyến khích giao lưu phát triển kinh
tế, thương mại, du lịch và tạo điều kiện bà con 2 bên biên giới qua lại thăm thân, trao
Trang 31đổi hàng hoá, tham quan, du lịch Quan hệ buôn bán giữa các doanh nghiệp và các
tổ chức kinh tế của Quảng Trị và các tỉnh biên giới của Lào từng bước được xác lập
và bước đầu đạt kết quả tốt Các Công ty du lịch của 3 tỉnh Quảng Trị - Việt Nam,Savannakhẹt - Lào và Mụcđahản - Thái Lan đã có các chương trình hợp tác đưa đónkhách tham quan du lịch theo tour " Một ngày ăn cơm 3 nước" ngày càng thu hútnhiều khác trong và ngoài nước
Các Sở, Ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, các lực lượng Công an, Quân
sự, Bộ đội biên phòng, Hải quan tỉnh Quảng Trị và tỉnh Savẳnnakhệt, tỉnh Xalavănđịnh kỳ có các cuộc gặp gỡ giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau Công an, Biênphòng các huyện biên giới cũng thường xuyên phối hợp với nhau trong công tác nắmtình hình, điều tra cơ bản bổ sung các tuyến điểm, địa bàn trọng điểm để hoàn chỉnh
kế hoạch đấu tranh phòng chống tội phạm Nhờ vậy, đường biên, cột mốc giữa cáctỉnh luôn được bảo vệ nguyên trạng; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hộitrong khu vực biên giới của hai bên luôn được giữ vững Vừa qua, tại Cửa khẩuQuốc tế Lao Bảo - Đensavẳn, tỉnh Quảng Trị là tỉnh đầu tiên trong 13 tỉnh, thànhphố có chung đường biên giới với nước bạn Lào được triển khai xây dựng thí điểm
và tỉnh Savănnakhệt (Lào) khởi công xây dựng cột mốc Quốc giới Việt Nam - Làođoạn qua tỉnh Quảng Trị và Savănnakhet (mốc 605-1 và 605-2) Đây là cặp mốc đầutiên được khởi công xây dựng nằm trong dự án tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc Quốcgiới Việt – Lào
Hiện nay, các thế lực thù địch đang thực hiện các âm mưu “diễn biến hòabình” với nhiều thủ đoạn nhằm phá hoại, chia rẽ tình đòan kết hữu nghị đặc biệtViệt- Lào và công cuộc xây dựng CNXH ở mỗi nước Hai Đảng, hai Nhà nước ViệtNam- Lào tiếp tục khẳng định ý chí, quyết tâm tăng cường quan hệ hữu nghị hợp táctoàn diện nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng ở mỗi nước, giữgìn và phát triển tình hữu nghị láng giềng gắn bó keo sơn này
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vẻ vang đó, Đảng bộ, chính quyền và nhândân tỉnh Quảng Trị cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Quảng Trị,Savănnakhệt,Xalavăn sẽ làm hết sức mình, tiếp tục đổi mới phương thức, nội dung,
cơ chế phù hợp trên tất cả các lĩnh vực hoạt động thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp táctoàn diện lên tầm cao mới, trở thành mối quan hệ quốc tế mẫu mực, thuỷ chungtrong sáng này ngày càng phát triển bền vững, trước mắt, thực hiện các nội dungchương trình hợp tác mà lãnh đạo cao cấp 3 tỉnh đã ký kết hàng năm, góp phần cùng
Trang 32với hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân Việt Nam- Lào bảo vệ và nâng quan hệđặc biệt lên tầm cao mới.
_
(1) Xem: Nguyễn Ái Quốc: “Bản án chế độ thực dân Pháp” trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 2.
(2) Ban Chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào: Lịch
sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào (Tóm lược), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 18 Địa
điểm mà Nguyễn Ái Quốc đặt chân đến Lào được xác định là bản Xiêng Vảng, huyện Noỏng Bốc, tỉnh Khăm Muộn Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19 tháng 5 năm 1890 – 19 tháng 5 năm 2010), đồng chí Bun Nhăng Vôlachít, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban bí thư, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và đồng chí Hồ Đức Việt, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã dự lễ động thổ xây dựng Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại bản Xiêng Vảng, huyện Noỏng Bốc, tỉnh Khăm Muộn.
(3) Báo Cờ Giải phóng - Cơ quan của Đảng Cộng sản Đông Dương, số 27 ngày 21-10-1945 (4) Ký ngày 16 tháng 10 năm 1945
NHỮNG THÀNH TỰU CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG TRONG LỊCH SỬ
QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM
-Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào đã ghi vào lịch sử dân tộc của hai nướcnhững trang chói ngời nhất về tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, thủy chung, lâudài và toàn diện, trở thành một trong những nhân tố bảo đảm phát triển của cáchmạng mỗi nước trên con đường phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Kể từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành Đảng cộng sản Việt Nam vào tháng2-1930 và sau đó đổi tên thành Đảng cộng sản Đông Dương (tháng 10-1930), mốiquan hệ truyền thống, lâu đời của hai dân tộc được nâng lên thành quan hệ đặc biệt,
Trang 33không ngừng được hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước vun đắp và đạt đượcnhững thành tựu có ý nghĩa quan trọng.
1 Hai dân tộc Việt Nam, Lào sát cánh bên nhau cùng tiến hành khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, giành độc lập dân tộc
Hai tháng sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đảng cộng sản ĐôngDương đã đưa ra những luận điểm và chủ trương quan trọng chuẩn bị cho công cuộckhởi nghĩa giành độc lập, tự do cho các dân tộc Việt Nam, Lào, Miên Do điều kiện
cụ thể khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ có hai nước Việt Nam, Lào tiếnhành khởi nghĩa giành được độc lập
Từ cuối năm 1939 đến tháng 8-1945, tuy cách mạng Việt Nam và cách mạngLào bị chính quyền thực dân Pháp, Nhật đàn áp, khủng bố rất khốc liệt, nhiều cán bộcao cấp của Đảng và đảng viên bị cầm tù và hy sinh, nhưng dưới sự lãnh đạo củalãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Đông Dương, công tác chuẩn bị về mọi mặtcho công cuộc khởi nghĩa giành chính quyền vẫn được cán bộ, đảng viên, nhân dânhai nước tham gia tích cực và xúc tiến mạnh mẽ
Tại Việt Nam, căn cứ địa Việt Bắc, Mặt trận Việt Minh và nhiều tổ chức quầnchúng do Đảng lãnh đạo được thành lập; nhiều đơn vị vũ trang như Cứu quốc quân,Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân lần lượt ra đời Sau ngày Nhật đảo chínhPháp (9-3-1945), Ban Thường vụ Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương ra Chỉthị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, nhiều tỉnh thành lập chiếnkhu, khởi nghĩa từng phần ở nhiều địa phương miền Bắc và miền Trung nổ ra thắnglợi
Ở Lào, đầu năm 1945, Xứ ủy Lào được lập lại lần thứ tư và xác định các đôthị và địa phương lớn như Viêng Chăn, Thà Khẹc, Savẳnnakhệt là địa bàn hoạt độngchính Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, phong trào cứu nước càng phát triển mạnh
mẽ Tổ chức Lào Itxalạ (Lào tự do) bao gồm công chức, học sinh có tinh thần yêunước, chịu ảnh hưởng đường lối cứu nước Đảng cộng sản Đông Dương ra đời, nhiềucăn cứ địa cách mạng xuất hiện Tháng 6-1945, đơn vị Việt Nam Độc lập quân đượcthành lập ở chiến khu trên đất Thái Lan
Trung tuần tháng 8-1945, thời cơ giành độc lập cho Đông Dương xuất hiện,lãnh tụ Hồ Chí Minh và Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Đông Dươngquyết định Tổng khởi nghĩa và tiến hành Hội nghị toàn Đảng tại Tân Trào (TuyênQuang vào ngày 14 và 15-8-1945) Nghị quyết hội nghị nêu rõ: “Những điều kiện
Trang 34khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi, cơ hội cho ta giành quyền độc lập đãtới”1 Vào thời điểm này, Bác Hồ gặp các đồng chí đại biểu Xứ ủy Lào, Người dặn:thời cơ rất thuận lợi cho nhân dân Đông Dương, ở đâu có điều kiện, phải giành đượcchính quyền khi Đồng minh vào Pháp và Đồng minh Anh, Mỹ gắn bó với nhau.Pháp sẽ núp sau lưng Đồng minh để trở lại xâm lược Việt Nam, Lào, Miên, chúng taphải đoàn kết để đánh kẻ thù chung.
Nhân dân hai nước Việt, Lào chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa thành côngtháng 8-1945
Đó là kỳ tích đầu tiên của hai nước Việt Nam - Lào, của quan hệ đặc biệt ViệtNam - Lào, Lào - Việt Nam, đặt nền tảng vững chắc cho mối quan hệ phát triển rực
rỡ trong giai đoạn sau
2 Việt Nam, Lào đoàn kết, liên minh chiến đấu chống đế quốc xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai:
Hai dân tộc Việt Nam, Lào vừa giành được quyền độc lập, đã phải đối phóngay với thực dân Pháp quay trở lại xâm lược
Sau cách mạng tháng Tám, Việt Nam đứng trước những thử thách hết sứcnghiêm trọng Song Chủ tịch tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Đông Dương đãphát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thực thi chính sách đối nội, đối ngoại đúngđắn, đưa cách mạng vượt qua thác ghềnh, bảo vệ thành quả cách mạng tháng Tám,bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với cáchmạng Lào
Một là, ngay từ khi mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến
trường Việt Nam, Lào đã bị các thế lực đế quốc vây hãm trên trên biển Đông và lụcđịa, Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương xác định nhiệm vụ “phải liên minh vớicác dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới, đặc biệt với các nước lân cận để củng cốcông cuộc cách mạng của mình” Trên tinh thần đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chínhphủ Việt Nam chỉ đạo các cơ quan ngoại giao mở một con đường ngoại giao ởhướng tây nam từ Việt Nam qua Lào tới Thái Lan từ giữa năm 1946 đến năm 1951.Đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của quốc gia Miến Điện (sau khi Miến Điện tuyên bốđộc lập từ năm 1948) Chiến khu cách mạng của Lào được mở tại Thái Lan, cán bộ
1
Trang 35và Việt kiều yêu nước trú chân tại Miến Điện để chuẩn bị lực lượng, gây dựng khukháng chiến tại Lào.
Các hoạt động ngoại giao trong những năm đầu kháng chiến chống thực dânPháp đã hỗ trợ nhiều mặt cho cuộc kháng chiến của hai dân tộc Việt Nam, Lào vàươm mầm cho sự phát triển của phong trào ủng hộ cách mạng giải phóng dân tộccủa Việt Nam, Lào ở những chặng đường tiếp theo
Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt đầu tiên của quan hệ Việt Nam
Ba là, gây dựng cơ sở chính trị, phát triển chiến tranh du kích và thắt chặt
quan hệ đoàn kết Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào
Đây là một nhiệm vụ cơ bản, rất quan trọng của cuộc chiến tranh cách mạnggiải phóng dân tộc Lào và cũng là một nhiệm vụ trọng yếu của quan hệ đặc biệt ViệtNam - Lào mà phía Việt Nam tự nguyện góp phần thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cảđó
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, Việt Nam tận tình giúpLào đào tạo cán bộ, truyền bá kinh nghiệm vận động quần chúng, giúp đỡ bạn xâydựng cơ sở chính trị, lực lượng vũ trang tuyên truyền, tạo điều kiện thuận lợi để hìnhthành các khu kháng chiến, từng bước đưa phong trào cách mạng Lào phát triển
Bốn là, xây dựng tại mỗi nước Việt Nam, Lào, Miên một đảng Mácxít
-Lêninnít và thành lập Mặt trận liên minh Việt - Miên - Lào để nâng cao sức mạnhquan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong quan hệ đoàn kết Việt - Miên - Lào
Trang 36Đến năm 1951, Đảng cộng sản Đông Dương đã trải qua 21 năm xây dựng vàphát triển, lãnh đạo nhân dân Đông Dương đấu tranh chống chế độ thuộc địa của đếquốc Pháp, phát xít Nhật, tiến hành khởi nghĩa giành độc lập cho hai dân tộc ViệtNam, Lào và tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đánh chiếm ĐôngDương lần thứ hai, làm thất bại nhiều kế hoạch xâm lược của chúng Đến thời điểmnày, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban chấp hành Trung ương Đảng thấy rằng việc xâydựng ở mỗi nước Việt Nam, Lào và Cămpuchia một đảng Mácxít - Lêninnít trên cơ
sở kế thừa bản chất và năng lực lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương đã có đủđiều kiện thực hiện
Tại Đại hội II của Đảng cộng sản Đông Dương tháng 2-1951, Chủ tịch Hồ ChíMinh đề nghị thành lập tại mỗi nước Đông Dương một Đảng cộng sản Ý kiến này
đã được đại biểu Đảng bộ Lào và đại biểu Đảng bộ Cămpuchia hết sức tán thành
Theo tinh thần đó, sau quá trình chuẩn bị với sự giúp đỡ của Việt Nam, tháng4-1955, diễn ra Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào Đây là Đảng Mácxít-Lêninnít kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng cộng sản Đông Dương, phấn đấu vìnền độc lập và phồn vinh của nước Lào, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân Lào, làthành quả chính trị của quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào, một nhân
tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy sự phát triển của mối quan hệ đó Từ đây, trên bánđảo Đông Dương, mỗi dân tộc có một Đảng Mácxít - Lêninnít đảm đương vai tròlãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc mình và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đốivới phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và phong trào cộng sản, công nhânquốc tế
Sau Đại hội II Đảng cộng sản Đông Dương, hội nghị thành lập Mặt trận liênminh Việt - Miên - Lào cũng diễn ra tại Việt Bắc vào tháng 3-1951, càng củng cốthêm mối quan hệ Việt Nam - Lào, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp cáchmạng của ba nước
Năm là, Việt Nam, Lào đồng tâm, hiệp lực giúp nhau trong chiến đấu, lập
nhiều chiến công
Lãnh đạo nhân dân ba nước Đông Dương chống Pháp, Trung ương Đảng cộngsản Đông Dương đã quyết định: “Về quân sự, Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao là mộtchiến trường, phải đánh theo một chiến lược chung” Chủ trương đó tạo cơ sở chokhối đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc càng thêm củng cố và tăng cườngtrên cùng một trận tuyến chống kẻ thù chung, thực hiện những mục tiêu chiến lược
Trang 37và kế hoạch tác chiến trên các chiến trường Đông Dương Theo đó, liên minh chiếnđấu Việt - Lào xuất hiện giữa các đơn vị vũ trang hai nước; các mặt trận phối hợpgiữa các địa phương Việt Nam, Lào như Liên khu 10 với Thượng Lào, Liên khu 4với Trung Lào, Liên khu 5 với Hạ Lào, tiến tới quy mô phối hợp lớn hơn về mặtchiến lược, về tổ chức chiến trường, bố trí lực lượng tác chiến và sử dụng cácphương pháp đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận buộc địch phải bị động đối phó.Còn ta thì giành quyền chủ động chiến lược
Cuối tháng 4 đến giữa tháng 5-1953, liên quân chiến đấu Việt Nam - Lào mởchiến dịch Thượng Lào giành thắng lợi lớn: giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, mộtphần tỉnh Xiêng Khoảng và Phôngxalỳ, mở rộng căn cứ địa cách mạng Lào Đối vớiViệt Nam, chiến dịch Thượng Lào đã góp phần phân tán lực lượng địch, phá tan âmmưu củng cố vùng Tây Bắc và bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ của Pháp
Tiếp đó, từ tháng 121953 đến tháng 51954, liên quân chiến đấu Việt Nam Lào mở chiến dịch Trung - Hạ Lào Thắng lợi của chiến dịch buộc Nava phải tiếptục phân tán khối cơ động chiến lược của chúng, góp phần làm giảm khối chủ lựccủa địch trên chiến trường chính Bắc Bộ, nhất là đối với hướng chính Điện BiênPhủ
-Khi quân và dân ta tiến hành trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, quân
và dân Lào đã anh dũng chiến đấu, chặt đứt con đường chi viện chiến lược của địchcho Điện Biên Phủ, góp phần cô lập địch ở đây, tạo điều kiện thuận lợi cho quân vàdân Việt Nam giành thế chủ động tiến công địch, giành thắng lợi hoàn toàn
Trong các chiến dịch này, có sự tham gia chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh quânđội hai nước và nhiều tướng lĩnh cấp cao, tập hợp nhiều đơn vị quân đội Việt Nam,Lào cùng tham gia chiến đấu; được hậu phương hai nước cung cấp khối lượng lớnlương thực, thực phẩm Đó là thắng lợi của tinh thần đoàn kết, ý chí quyết chiến,quyết thắng của quân và dân hai nước, đánh bại hoàn toàn thực dân Pháp, buộc Phápphải ký Hiệp định Giơnevơ công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹnlãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược:
21 năm chống Mỹ cứu nước là một chặng đường kế tục, phát triển quan hệđặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đã trở thành giá trị thiêng liêng của hai dântộc Hoạt động phối hợp đấu tranh của các cơ quan lãnh đạo cùng quân và dân ViệtNam, Lào đều xuất phát từ tình cảm sâu đậm, trách nhiệm cao cả của hai phía Việt
Trang 38Nam, Lào dành cho nhau, tạo nên những nguồn lực mới, những nấc thang phát triểnmới của nội lực từng dân tộc, của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Namtrong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung và mở đường đi tới toàn thắng Thành quảcủa mối quan hệ đặc biệt này được thể hiện:
Một là, sự phối hợp giữa lãnh đạo, quân và dân hai nước Việt Nam, Lào phá
vỡ mưu đồ tiêu diệt lực lượng vũ trang nòng cốt Pathết Lào và hãm hại bộ phận đầunão cơ quan lãnh đạo cách mạng Lào do đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai tiến hành
Việt Nam đã phối hợp với Lào giải thoát cho Hoàng thân Xuvanuvông vànhiều nhà lãnh đạo cao cấp chủ chốt của cách mạng Lào khỏi trại giam của Mỹ vàchính quyền tay sai, đồng thời lực lượng vũ trang cách mạng Lào cũng thoát khỏivòng vây địch trở về căn cứ an toàn đã tạo điều kiện thuận lợi để Lào xây dựng thựclực, lãnh đạo kháng chiến thắng lợi
Hai là, sự hợp lực giữa lãnh đạo Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt
Nam trong quá trình xác định phương pháp đấu tranh vũ trang là chủ yếu kết hợpđấu tranh chính trị chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở Lào
Ba là, tuyến đường chiến lược Trường Sơn, một công trình vĩ đại của quan hệ
đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Tuyến đường Trường Sơn xuyên qua triền phía đông và phía tây dãy TrườngSơn Công trình này được tiến hành từ cuối năm 1959, đến đầu năm 1964 thì chuyểnhẳn sang phía tây Trường Sơn Nơi đây cũng là khu căn cứ hậu cần của chiến trườngNam Việt Nam, Lào và Campuchia Quá trình khai thông và phát triển con đườngchiến lược chi viện cho cách mạng miền Nam, Lào và Campuchia là quá trình đấutranh gian khổ, quyết liệt của cán bộ, chiến sĩ hai nước Việt Nam, Lào đứng chânhoạt động trên chiến trường này, có sự đóng góp to lớn của nhân dân Việt Nam vàLào tại các địa phương mà tuyến vận tải đi qua Trong mọi hoàn cảnh, quân đội nhândân Việt Nam và Lào đã sát cánh bên nhau chiến đấu kiên cường chống trả sự đánhphá vô cùng ác liệt của đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai để bảo vệ tuyến đường,kho tàng, vũ khí, lương thực, thực phẩm và nhiều loại hàng hóa khác, trong đó cónhiều chiến dịch lớn như chiến dịch Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng; đặc biệt làthắng lợi của chiến dịch đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân lớn nhất của
Mỹ - ngụy với âm mưu cắt đứt hoàn toàn tuyến vận tải chiến lược quan trọng bậcnhất của ta từ miền Bắc vào miền Nam, Lào và Cam puchia
Trang 39Nhân dân Lào đã phải chịu đựng biết bao hy sinh, mất mát do kẻ thù xâm lượcgây ra Nhưng từ trong gian khổ, ác liệt, đã ngời sáng lên tình cảm thân thương, quýmến của nhân dân Lào dành cho cán bộ, chiến sĩ Việt Nam, tô thắm thêm truyềnthống đoàn kết, thủy chung son sắt của hai dân tộc.
Tuyến đường chiến lược Trường Sơn được xây dựng, bảo vệ và khai thác, sửdụng kéo dài trong 16 năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược là sản phẩm của
sự đồng thuận sâu sắc, sự hy sinh lớn lao vì nghĩa tình quốc tế cao cả của hai dân tộcLào, Việt Nam; là minh chứng hùng hồn của văn minh, nhân nghĩa thắng xâm lược,bạo tàn
Suốt 21 năm chống Mỹ, Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Lào luôn hếtlòng giúp đỡ, ủng hộ nhân dân Việt Nam Đáp lại, Đảng, Nhà nước, quân đội vànhân dân Việt Nam cũng dốc hết sức vì sự nghiệp cách mạng Lào Trên tinh thần
“giúp bạn là tự giúp mình”, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã cómặt ở hầu hết mọi nơi trên chiến trường Lào, chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh, cùngnhân dân và quân đội Lào đấu tranh, đánh địch đến thắng lợi hoàn toàn
3 Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam tiếp tục phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của hai dân tộc Việt Nam, Lào (từ 1976 đến nay)
Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao:
Sau khi hai dân tộc kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, vàongày 18-7-1977, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam và Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào đã được ký kết, là sự kiện mở đầu choquan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn cách mạng mới Đây là văn kiệnmang tính chính trị, pháp lý cơ bản, bền vững lâu dài trên nguyên tắc hoàn toàn bìnhđẳng Điển hình của tinh thần hợp tác, hữu nghị của hai Đảng, hai Nhà nước, hai dântộc là cùng thống nhất quan điểm trong việc giải quyết vấn đề Campuchia, cùng đấutranh bảo vệ sự trong sáng của Việt Nam trên diễn đàn quốc tế và khu vực
Hai Nhà nước sớm thoả thuận và ký kết Hiệp ước hoạch định biên giới quốcgia Việt Nam - Lào và hoàn thành hoạch định, cắm mốc trên toàn tuyến biên giớicùng với hoạt động của các tỉnh hai bên đường biên giới trên lĩnh vực an ninh, quốcphòng, kinh tế, giao lưu văn hóa đã xây dựng nên một biên giới hoà bình, hợp tác vàphát triển Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Trang 40Hai Đảng, hai Nhà nước thường xuyên trao đổi ý kiến về vấn đề lý luận và chỉđạo thực tiễn sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Lào, khơi dậy nộilực và mở rộng quan hệ quốc tế, đem lại sự đổi mới toàn diện cho mỗi nước
Về quốc phòng an ninh:
Từ năm 1976 đến nay, Việt Nam và Lào bị nhiều thế lực thù địch từ bên ngoàitấn công, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, vừa sử dụng những phần tử phản động lưuvong quay trở lại phá hoại an ninh quốc gia Một lần nữa, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốcđặt ra cho ngành quốc phòng an ninh và nhân dân hai nước Việt Nam và Lào nhiềunhiệm vụ mới, đòi hỏi phải nâng cao bản lĩnh và năng lực trong thế trận đấu tranhmới
Theo tinh thần các văn bản đã ký kết giữa hai Chính phủ, lực lượng vũ trang
và lực lượng an ninh Lào, Việt Nam phối hợp chặt chẽ thực hiện các nhiệm vụ đượcgiao trên mặt trận chống ngoại xâm, chống phỉ, dẹp bạo loạn, trừ diệt bọn phản độngvượt qua lãnh thổ Lào xâm nhập lãnh thổ Việt Nam, tiêu biểu là chiến dịch truyquét, phá tan trung tâm phỉ tại Phu Bia (1977-1978), tiêu diệt nhóm phản động VõĐại Tôn và Hoàng Cơ Minh (1987) khi chúng đang xuyên qua đất Lào để vào ViệtNam
Cùng với những hoạt động trên, hai bên còn phối hợp chặt chẽ trong đào tạo,bồi dưỡng cán bộ; giúp đỡ nhau về hậu cần kỹ thuật; đặc biệt là việc tìm kiếm hàicốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trên đất Lào
Trong thời kỳ mới, hai Đảng, hai Nhà nước luôn xác định hợp tác trên lĩnhvực quốc phòng, an ninh là một trong những điểm mấu chốt của mối quan hệ đặcbịêt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, đào tạo cán bộ:
Lãnh đạo hai nước Việt Nam và Lào đều nhất trí coi trọng sự hợp tác kinh tế,văn hóa và đào tạo cán bộ
Trên lĩnh vực kinh tế, hai bên chấp hành nguyên tắc hợp tác là bình đẳng, tôntrọng chủ quyền quốc gia, cùng có lợi và hết lòng giúp đỡ nhau; đồng thời, căn cứvào tình hình cụ thể của mỗi nước mà dành ưu tiên, ưu đãi cho nhau
Phương thức hợp tác ngày càng được mở rộng và nâng cao về quy mô, chấtlượng và hiệu quả Trên thực tế, sự hợp tác giữa hai nước diễn ra từ Trung ương đếntỉnh, thành phố và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên lĩnh vựckinh tế, tài chính, ngân hàng, công thương, nông nghiệp