1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Ebook Nghiên cứu xã hội học và dân số Việt Nam (Tập 1): Phần 2

20 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đôì với cách phân tích áử dụng mẫu bao gồm cả những người chưa từng kết hôn, ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế-xã hội và các yếu tố khác đến thời điểm kết hôn được tính toán [r]

Trang 1

PHẦN II:

NGHIÊN CỨU VỂ SINH ĐẺ

Trang 3

ƯỚC LƯỢNG TUỔI KẾT HÔN TRUNG BÌNH LẦN ĐẦU QUA SỐ LIỆU TổN G ĐIỂU TRA

DÂN SỐ VÀ NHÀ ở NĂM 1999 <*>

ĐẶNG NGUYÊN ANH

Tình trạng hôn nhân là một trong những chỉ tiêu đặc trưng trong nghiên cứu dân số và xã hội Cho đến nay, hầu hết các cuộc điều tra khảo sát đểu sử dụng thông tin về tình trạng hôn nhân như một biến số cơ bản khi thiết kế, thu thập và phân tích kết quả Ngay từ những năm 60, để đảm bảo tính so sánh

quốc tế, Liên hợp quốc đã có quy ước thốhg nhất tình trạng hôn nhân thành 5 nhóm sau: (a) Độc thân hay chưa vợ/chồng (b) Có vợ/chồng hợp pháp và cùng chung sống (c) Có vợ/chồng nhưng sống ly thân (d) Goá vợ/chồng nhưng chưa tái hôn (e) Ly hôn/ly

dị và chưa tái hôn.1 Do sự nhạy cảm và riêng tư của những thông tin liên quan đến tình trạng hôn nhân mà hiện nay trong nhiều cuộc điều tra, luôn có một tỷ lệ đáng kể nhóm đối tượng khảo sát không muốn khai báo thông tin về tình trạng hôn

n h â n của m ình.

So vối tình trạng hôn nhân, tuổi kết hôn trung bình lần đầu là một tiêu chí không kém phần quan trọng vì nó phản ánh đặc trưng dân sô" và trình độ phát triển của mỗi quốc gia.2 Nhiều chính phủ trên thế giới đã xem việc nâng cao tuổi kết

1 Xem United Nations, Principles and Recommendations for the 1970

Population Censuses, Statistical Paper, Series M, No 44, 1967, pp 52-53.

2 Đe thuận tiện cho ngưòi đọc, trong bài này tuổi kết hôn trung bình

lần đầu được gọi tắt là tuổi kết hôn trung bình.

Trang 4

hôn như một trong những biện pháp thúc đẩy tiến bộ xã hội

Từ lâu, chương trình DS-KHHGĐ ở nưốc ta luôn chú trọng công tác tuyên truyền, vận động thế hệ trẻ không kết hôn sớm Tình trạ n g tảo hôn bị p h áp lu ậ t nghiêm cấm, lu ậ t hôn nhân và gia

đình từ lâu đã có quy định rõ ràng tuổi kết hôn hợp pháp ở Việt Nam (20 đối với nam và 18 đối với nữ).

Mặc dù có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn như vậy, song so với tình trạng hôn nhân, thông tin về tuổi kết hôn thưòng không được thu thập hoặc thu thập không đầy đủ qua các cuộc điều tra khảo sát Do những hạn chê trong khả năng hồi cố sự kiện của người cung cấp thông tin nên nhiều trường hợp số liệu về tuổi hoặc thời điểm kết hôn bị thiếu hụt, đặt ra những trỏ ngại lớn trong công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách Vì những khó khăn phức tạp đó mà các cuộc Tổng điểu tra dân số với quy mô quốc gia thường không thu thập thông tin vể tuổi kết hôn Trong trường hợp này, tuổi kết hôn trung bình của dân sô' không được xác định.

Nhằm khắc phục được tình trạng trên, khoa học dân sô đã tìm ra phương pháp ước tính gián tiếp tuổi kết hôn trung bình thông qua tình trạng hôn nhân của dân số hoặc nhóm dân cư Phương pháp này được áp dụng với giả định không xảy ra tử

vong trong độ tuổi khảo sát Sô' liệu-đầu vào khá đơn giản, đó là

tỷ trọng độc thân (chưa vợ/chồng) chia theo nhóm tuổi Sự giảm dần của tỷ trọng này qua từng nhóm tuổi phản ánh thực tê hôn nhân gia tăng theo thời gian, thường được tính đến nhóm tuổi

50-54 Có thể tóm tắt các bưóc tính toán như sau:

Bước 1: Tính tổng tỷ trọng chưa kết hôn của dân số theo các nhóm tuổi, tính từ nhóm 15-19, 20-24, 25-29, v.v cho đến nhóm 45-49 Sau đó nhân tổng này với 5 (do sử dụng nhóm tuổi

Trang 5

5 năm) Kết quả thu được là số năm sống độc thân của nhóm dân cư khảo sát.

Bước 2: Cộng thêm 1500 (15 xlOO) vào kết quả của bước 1

ở đây, 1500 là số năm sống độc thân của nhóm dân cư trước khi sang tuổi 15.

Bước 3: Điều chỉnh tỷ trọng chưa kết hôn của hai nhóm 45-49 và 50-54 tuổi bằng phép nội suy.

Bước 4: Nhân kết quả bước (3) với 50 sau đó trừ vào kết quả bước (2) nhằm loại trừ sô" năm sống độc thân đối với những người vẫn không kết hôn trước khi sang tuổi 50.

Bước 5: Lấy 100 trừ đi kết quả bước (3) rồi lấy bước (4) chia cho số thu được, ta sẽ có tuổi kết hôn trung bình của nhóm dân cư khảo sát.

Bài viết đã vận dụng phương pháp ước lượng gián tiếp nói trên để tính toán tuổi kết hôn trung bình của Việt Nam qua sô' liệu do cuộc TĐTDS thu thập tại thời điểm 1-4-1999 trên phạm

vi cả nước Cũng giống như những cuộc Tổng điều tra trước đây, cuộc TĐTDS lần này không có thông tin về thời điểm hay tuổi kết hôn Thông tin duy nhất có liên quan là tình trạng hôn nhân Vào thồi điểm điều tra, tất cả những người từ 13 tuổi trở lên đều được hỏi về tình trạng hôn nhân Câu trả lời được chia thành 5 nhóm: (a) chưa vợ/chồng; (b) có vợ/chồng; (c) goá; (d) ly hôn; (e) ly thân.1 Theo quy ưốc, cuộc Tổng điều tra chỉ ghi nhận những cuộc hôn nhân hay ly hôn hợp pháp đã được pháp luật thừa nhận.

1 Thông tin chi tiết đề nghị tham khảo nội dung bảng câu hỏi của cuộc

Tổng điều tra.

Trang 6

Bảng 1 Dân số 13 tuổi ỉrỏ lên chia theo giói tình

»

và tình trạng hôn nhãn, Việt Nam 1999

C ó vợ/chồng 15965773 61,1 16299563 57,7

Nguồn: TCTK, số liệu gốc mẫu 3%

Nhằm giúp bạn đọc nắm được tình hình kết hôn ở nước ta hiện nay, số liệu trong Bảng 1 trình bày kết quả Tổng ĐTDS năm 1999 (tổng hợp từ mẫu 3%) chia theo giới tính và tình trạng hôn nhân Kết quả cho thấy, giống với các quốc gia khác ở châu Á, tỷ trọng người dân có vợ/chồng ỏ Việt Nam là khá cao Trong tổng số dân từ 13 tuổi trỏ lên, xấp xỉ 60% hiện có vợ hoặc

có chồng Do nam có xu hướng kết hôn muộn hơn nữ nên tỷ trọng nam giới chưa vợ cao hơn tỷ trọng nữ giới chưa chồng (36% nam so với 30% nữ) Mặc dù số người goá, ly thân, hay ly hôn chiếm tỷ trọng thấp hơn, song đáng chú ý là tỷ trọng nữ goá chồng cao gần gấp sáu lần so với nam goá vợ Thực tế này phản ánh hậu quả của chiến tranh cũng như mức độ tái hôn (sau khi goá hoặc ly hôn) của nam cao hơn nhiều so với nữ trong xã hội

Trang 7

ta Mặc dù chỉ chiếm một tỷ trọng không đáng kể song trong cuộc tổng điều tra, vẫn có trên 12 nghìn nữ và trên 10 nghìn nam không có thông tin khai báo về tình trạng hôn nhân.

Các số liệu cơ bản giúp cho việc tính toán tuổi kết hôn trung bình của dân sô" Việt Nam được trình bày trong Bảng 2 Các con sô cho biết tình trạng chưa lập gia đình theo nhóm tuổi cho nam và nữ (từ 15 tuổi trở lên) Nhằm mục đích minh họa và làm phong phú thêm kết quả phân tích, báo cáo này còn xác định tuổi kết hôn trung bình riêng cho: (a) Nhóm không di cư (b) Nhóm di cư, và (c) Chung cho tổng thể dân cư khảo sát.1 Kết quả chung cho thấy sau tuổi 35, tỷ lệ nữ chưa có điều kiện xây dựng gia đình cao hơn nhiều so với tỷ lệ này ở nam giới.

Bỏng 2 Tỷ trọng độc thân của dân số 15 tuổi trỏ lẻn chia theo nhóm tuổi,

giói tính và tình trạng di chuyển, Việt Nam 1999 (%)

Nguồn: TCTK, s ố liệu gốc m ẫu 3%

1 Theo quy định của TĐTDS năm 1999, đôi tượng chuyển cư là những người có thay đổi quận/huyện thường trú giữa 2 thời điểm 1/4/1999 và 31/3/1994 (5 năm trước thòi điểm tổng điều tra) Đối tượng không di

cư là những người không thay đổi địa bàn quận/huyện thường trú trong thòi kỳ 5 năm nói trên.

Trang 8

Dựa trên sô" liệu Bảng 2 và phương pháp tính toán 5 bưốc trên đây, chúng tôi đưa ra một ví dụ cụ thể cách tính tuổi kết hôn trung bình đốì vối nhóm nữ không chuyển cư như sau:

Bưéc 1: (91,8 + 45,7 + 17,2 + 9,6 + 7,4 + 6,5 + 5,7) X

X 5 = 919,50

Bước 2: Cộng thêm giá trị 1500: 919,50 + 1.500 = 2419,50 Bước 3: Nội suy cho 2 nhóm tuổi cuối: (5,7 + 4,6)/2 = 5,15 Bưóc 4: Điều chỉnh sô" năm sống độc thân: 2419,50 - (5,15

X 50) = 2162,00

Bước 5: Tuổi kết hôn trung bình của nhóm nữ không chuyển CƯ:

2162,00 / (100 - 5,15) = 22,79 Như vậy theo sô” liệu do cuộc TĐTDS năm 1999 thu thập, dân số nữ không chuyển cư trung bình sống độc thân 22,8 năm trước khi kết hôn Áp dụng phương pháp ước lượng gián tiếp tương tự như trên cho 5 nhóm còn lại, tuổi kết hôn trung bình của dân số Việt Nam theo giới và tình trạng di cư qua số liệu tổng điều tra được trình bày trong Bảng 3:

Bàng 3 Tuổi kất hỏn trung bỉnh lổn đổu của dân sồ 15 tuổi trỏ lén

thoo giói tính và tỉnh trạng di chuyển, Việt Nam 1999

Kết quả thu được cho thấy, đối vối tất cả các nhóm dân cư,

Trang 9

nữ kết hôn sớm hơn nam (khoảng 2,5 năm) Do tính chọn lọc của quá trình di cư nên so với nhóm không di cư, nam giới, trẻ tuổi, chưa xây dựng gia đình tập trung trong đối tượng di cư dẫn đến tuổi kết hôn trung bình của nhóm nam di cư là cao nhất Hơn nữa, đối với nam, tuổi kết hôn trung bình của nhóm

di cư là cao hơn nhóm không di cư Trong khi đó, đối với nữ, tuổi kết hôn trung bình của nhóm di cư lại thấp hơn nhóm không di

cư Điều này phản ánh thực tế và phong tục xã hội Việt Nam, trong đó có rất nhiều trường hợp nữ di cư là do hệ quả trực tiếp của hôn nhân, tức là chuyển cư về nhà chồng hoặc nơi mới sau khi cưới.

Thay cho lời kết, có thể nói rằng phương pháp ước lượng gián tiếp trình bày trong bài viết này có ý nghĩa thực tiễn cao

Nó cho phép chúng ta ưốc lượng được tuổi kết hôn trung bình trong trư-ờng hợp số liệu điều tra chỉ có thông tin duy nhất về tình trạng hôn nhân của tổng thể dân số hoặc nhóm dân cư được khảo sát.

(*) Đã đăng tạp chí Thông tin Dân số, s ố 3 năm 2003.

Trang 10

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG

NGUYỄN HỮU MINH

1 Tổng quan các nghiên cứu

Vai trò của các nhân tô" kinh tê - xã hội trong việc quyết định khuôn mẫu tuổi kết hôn là một chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Từ các nghiên cứu liên quan đến khuôn mẫu tuổi kết hôn trên thế giới, đặc biệt của các nước trong khu vực, có thể nêu vắn tắt một số kết quả chính sau.

Dựa vào ý tưỏng của Goode (1963) vể ảnh hưởng của các yếu tô" hiện đại hóa đối với khuôn mẫu hôn nhân, một số nhà nghiên cứu đã phát triển các giả thuyết thực nghiệm cho rằng những cá nhân mang nhiều đặc trưng hiện đại hơn (có học vấn cao hơn, có nghề nghiệp hiện đại hơn, và những người sống trong môi trường đô thị hóa) có xu hướng kết hôn muộn hơn những người khác mang đặc trưng kém hiện đại hơn Đã có nhiều bằng chứng thực nghiệm, cả ở cấp độ vĩ mô và vi mô, xốc nhận cho luận điểm của Goode Tuy nhiên cũng có những ngoại

lệ Chẳng hạn một nghiên cứu ỏ Trung Quốc (Pasternak 1986: 23-24) cho thấy tác động của yếu tố học vấn đến tuổi kết hôn, khi đã tính đến vai trò của các nhân tố khác, là không đáng kể Một số nghiên cứu phát hiện rằng tác động của yếu tô' nghề nghiệp không giống nhau giữa nam và nữ Trong khi mối quan

hệ giữa nghề nghiệp phụ nữ và tuổi kết hôn thể hiện rất rõ ràng

Trang 11

thì dường như nghề nghiệp người chồng không có ý nghĩa quan trọng đối với tuổi kết hôn của vợ (Mohammad 1983) Tương tự như vậy, sự khác biệt đô thị-nông thôn về khuôn mẫu tuổi kết hôn không chỉ do tính chất đô thị hóa tạo nên mà còn do ảnh hưởng tổng hợp của yếu tô" học vấn và nghề nghiệp (Von Elm và Hirschman 1979; Pasternak 1986).

Ngoài các yếu tố được coi là đặc trưng cho quá trình hiện đại hóa, một số nhân tố khác được đánh giá có ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành khuôn mẫu tuổi kết hôn Chẳng hạn như chuẩn mực coi hôn nhân là không thể thiếu được trong cuộc đời mỗi ngưòi, sự can thiệp của cha mẹ trong việc hôn nhân của con cái, tôn giáo, chính sách nhà nước, yà nhân tố chiến tranh Tác động của các yếu tô" này biên đổi tùy thuộc vào các nước khác nhau Chẳng hạn, trong khi tại phần lốn các nưóc châu Á

sự kiểm soát chặt chẽ của cha mẹ thưòng dẫn tói việc kết hôn sớm hơn của con gái (UN 1988: 28) thì ở nông thôn Thái Lan nó lại có xu hướng làm chậm lại hôn nhân vì lao động nữ được coi

là rất quan trọng đối với kinh tế hộ gia đình (Chamratrithirong

và cộng sự 1986: 38) Vai trò quan trọng của con trai cả trong gia đình và dòng họ tại nhiều xã hội Á châu cũng gợi ý xu hướng kết hôn sớm hơn của những người là con trai cả so với những

•người khác.

Yếu tố tôn giáo thường được coi là một kênh quatì trọng duy trì chuẩn mực hôn nhân Bên cạnh những giáo lý tôn giáo,

vị thế của mỗi tôn giáo ở trong vùng có nhiều tôn giáo khác nhau cũng có thể tác động đến sự hình thành khuôn mẫu hôn nhân Trong trường hợp một nhóm tôn giáo nào đó được quan niệm có vị thế tương đối kém ưu thế hơn những nhóm tôn giáo khác (đặc trưng dễ phân biệt nhất là so sánh số lượng tín đồ) thì

Trang 12

thường xảy ra tình trạng kiểm soát chặt chẽ hơn của cha mẹ và các thiết chế tôn giáo đối với hôn nhân của cá nhân nhằm duy trì quan hệ nội hôn trong tôn giáo đó (Godscheider 1971; Kennedy 1973) Điều này có thể làm cho các thành viên trong tôn giáo đó kết hôn sớm hơn.

Chiến tranh ảnh hưởng đến khuôn mẫu tuổi kết hôn thông qua việc làm giảm khả năng kết hôn của những phụ nữ thuộc nhóm tuổi mà nam giới ở nhóm* hôn nhân thích hợp với họ hy sinh nhiều trong thời gian chiến tranh Ánh hưởng này thậm chí có thể tiếp tục kéo dài sau khi chiến tranh kết thúc Chiến tranh cũng làm chậm lại hôn nhân của một số lớn những người phải phục vụ trong quân đội (Lin và cộng sự 1994; Lapierre-Àdamcyk và Burch 1974) Yếu tố nhà nước, thông qua luật pháp cũng như qua các chính sách kinh tế-xã hội cụ thể có thể tác động đến tuổi kết hôn bằng việc thay đổi sự mong muốn hôn nhân, tính khả thi của hôn nhân, và khả năng có thể của hôn nhân (mượn thuật ngữ của Dixon 1971) đối với mọi người, đặc biệt là những người làm việc trong các tổ chức nhà nước Một số nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy các công chức nhà nước thường chịu nhiều áp lực của chính sách nhà nưốc về công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình hơn những người khác vì họ phụ thuộc nhiều vậo các tổ chức nhà nước trong việc cấp nhà, cho con cái đi học, đề bạt, v.v (Whyte và Parish 1984; Liao 1989) Tuy nhiên, ảnh hưởng của vị thế công chức nhà nước đến tuổi kết hôn cũng không hoàn toàn đơn giản như vậy Làm việc trong khu vực nhà nước cỏ thể có khả năng tạo

ra các nguồn lực nhiều hơn để đáp ứng yêu cầu của hôn nhân Trong trường hợp đó nếu cha mẹ làm việc cho nhà nước thì con cái

có nhiều khả năng kết hôn sớm hơn vì họ có thể dựa nhiều hơn vào gia đình.

Ngày đăng: 29/03/2021, 13:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w