Chính vì vậy, để có được nét riêng, thể hiện những cảm xúc chân thật, những nhận xét, phân tích tinh khôi, sáng tạo của các em với một tác phẩm, một nhân vật (một vấn đề hay một khía cạn[r]
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH YÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TÔ HIỆU
HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP THÀNH PHỐ Tên sáng kiến:
Tác giả sáng kiến: ĐỖ THỊ HẰNG Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên Trường THCS Tô Hiệu
Hồ sơ gồm:
1 Đơn đề nghị công nhận sáng kiến cấp thành phố
2 Báo cáo kết quả nghiên cứu, ứng dụng sáng kiến
Đống Đa, năm 2018
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP THÀNH PHỐ
Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến thành phố Vĩnh Yên
(Cơ quan thường trực: Phòng Kinh tế thành phố Vĩnh Yên)
Tên tôi là: Đỗ Thị Hằng
Chức vụ (nếu có): Giáo viên –Tổ trưởng Chuyên môn tổ KHXH
Trường: THCS Tô Hiệu – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
Điện thoại: 0977108863 Email: info@123doc.org
Tôi làm đơn này trân trọng đề nghị Hội đồng sáng kiến thành phố VĩnhYên xem xét và công nhận sáng kiến cấp thành phố cho tôi như sau:
4 Nội dung cơ bản của sáng kiến:
Sáng kiến “Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực hướng dẫn Họcsinh lớp 9 Trường THCS Tô Hiệu làm văn nghị luận phần Truyện Việt Namhiện đại” tập trung vào một số vấn đề sau:
* Những nội dung lý luận có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu
a Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
b Cơ sở thực tiễn và thực trạng của vấn đề nghiên cứu 7.1.2 Đặc trưng nghệ thuật của tác phẩm tự sự
2a.Các yếu tố cơ bản của Tác phẩm tự sự
2b Các phương diện cơ bản xây dựng nhân vật trong tác phẩm tự sự *Nội dung chính của sáng kiến:
Trang 37.1.3 Vận dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực khi dạy truyện hiện đại ViệtNam trong chương trình Ngữ văn 9 7.1.4 Một số kỹ năng cần rèn luyện cho học sinh để các em làm tốt bài văn nghịluận về tác phẩm truyện
5 Điều kiện áp dụng:
- Đối với giáo viên:
+ Phải là người có kiến thức chuyên môn chắc chắn
+ Có lòng say mê, nhiệt tình và tận tụy trong công tác giảng dạy
+ Thẳng thắn nhưng vẫn cởi mở trong việc chia sẻ với học sinh về nhữngkhó khăn trong học tập
+ Sự ủng hộ, giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường về các tư liệu , phươngtiện phục vụ học tập, sự phối hợp của các đồng nghiệp trong tổ Chuyên môn
- Đối với học sinh:
7 Hiệu quả đạt được:
- Đối với học sinh: Học sinh có kiến thức và kỹ năng cơ bản về văn nghịluận Chất lượng làm văn Nghị luận trước và sau khi thực hiện Sáng kiến có sựkhác biệt rõ ràng Sau khi áp dụng sáng kiến này, chất lượng học sinh khá, giỏităng lên, số lượng học sinh yếu kém giảm đi rõ rệt
- Đối với gia đình: Có thể vận dụng kiểm tra, hướng dẫn con em trong họcphần văn nghị luận
- Đối với nhà trường: Học sinh không còn ngại, sợ khó khi học môn NgữVăn , đặc biệt phần văn nghị luận đối với Tác phẩm truyện
8 Các thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật,không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác và hoàn toàn chịu tráchnhiệm về thông tin đã nêu trong đơn
Trang 4Đống Đa, ngày 22 tháng 04 năm 2018
Xác nhận của Lãnh đạo nhà trường
Lê Anh Tuấn
Đống Đa, ngày 28 tháng 02 năm 2019
Người nộp đơn
Đỗ Thị Hằng
Trang 5BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Lứa tuổi học sinh THCS ở khối lớp 9 là lứa tuổi 14-15, lứa tuổi hồn nhiên,trong sáng, năng động và nhạy cảm biết tìm tòi, khám phá ra thế giới văn chương,nghệ thuật, khoa học Cùng với các môn học khác trong nhà trường, bộ môn Ngữvăn cũng đóng một vai trong quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho họcsinh Học Ngữ văn, học sinh được đến với những tác phẩm văn chương giá trị,được sự chắt lọc và thử ngiệm nghiệt ngã của thời gian Tác phẩm văn chươngnghệ thuật là thành quả sáng tạo của nhà văn, nhà thơ Mỗi tác phẩm văn thơ đềuthuộc một thời kỳ văn học nhất định (có thể cách xa thời đại mà các em sống hiệnnay cả hàng thế kỷ, hàng thập niên) Tác phẩm văn chương dù nhỏ nhất: một câutục ngữ, một bài ca dao hay một bài văn, một bài thơ, một truyện ngắn hay bộ tiểuthuyết đều có giá trị về nội dung và nghệ thuật của nó Làm thế nào để học sinhđồng cảm với những giá trị tư tưởng nhân văn cần đạt tới trong mỗi tác phẩm vàgiúp các em biết cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện là nhiệm vụ giảng dạycủa giáo viên ngữ văn Phần Truyện Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 9chiếm dung lượng không lớn nhưng cũng là nội dung cơ bản cung cấp kiến thứctrong các đề thi vào THPT Chính vì vậy, để có được nét riêng, thể hiện những cảmxúc chân thật, những nhận xét, phân tích tinh khôi, sáng tạo của các em với một tácphẩm, một nhân vật (một vấn đề hay một khía cạnh của vấn đề thể hiện trong tác
phẩm) tôi chọn đề tài: Vận dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực vào việc hướng dẫn học sinh lớp 9 trường THCS Tô Hiệu làm văn nghị luận phần Truyện Việt Nam hiện đại.
2 Tên sáng kiến: Vận dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực vào việc hướng dẫn học sinh lớp 9 trường THCS Tô Hiệu làm văn nghị luận phần Truyện Việt Nam hiện đại.
Trang 64 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Trường THCS Tô Hiệu-Thành phố Vĩnh Yên
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
- Sáng kiến được áp dụng trong lĩnh vực dạy học Ngữ văn THCS, đặc biệtphần văn bản Truyện Việt Nam hiện đại
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 15/9/2017
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1 Về nội dung của sáng kiến:
Trong sáng kiến này, tôi tập trung vào các biện pháp chính là:
- Nêu những kiến thức bản về tác phẩm truyện có ví dụ và phân tích minhhoạ (qua thực tế giảng dạy)
- Trình bày một số dạng bài sử dụng hiệu quả
- Ứng dụng dạy trong giảng bài, giao bài tập về nhà, bài tập rèn kỹ năng
7.1.1 NHỮNG NỘI DUNG LÝ LUẬN LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN VẤN
ĐỀ NGHIÊN CỨU
a Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu:
Khoa học hiện đại chứng minh rằng con người có ba phương thức tư duy cơbản đó là: Tư duy logic, tư duy hình tượng và tư duy linh cảm Văn Nghị luậnchính là kết tinh và là ví dụ điển hình cho việc vận dụng hình thức tư duy logic.Một trong những nguyên tắc nổi bật nhất trong chương trình Ngữ văn đổi mới
là việc học tuân theo nguyên tắc tích hợp và tích cực Ba phân môn Văn, TiếngViệt, Tập làm văn được học song song, đồng bộ, chung một bài học Tuy nhiênphân môn Tập làm văn thường học sinh rất lúng túng, ngại học Tâm lí học sinhchỉ thích nghe giảng văn hoặc Tiếng việt mà ngại học và làm bài tập làm văn .Văn Nghị luận là một kiểu văn bản tương đối khó với học sinh THCS nói chung,học sinh lớp 9 nói riêng, đặc biệt đây là đối tượng HS chuẩn bị thi vào THPT Dạyvăn Nghị luận cho học sinh là cung cấp những kiến thức cơ bản và rèn luyện kỹnăng lý luận và tinh thần tự chủ trước cuộc sống Văn Nghị luận ở cấp THCS,chương trình là SGK chia làm 2 cấp độ: Với học sinh lớp 7, 8 thuộc yêu cầu cấp độ
1 tức là cho các em nắm được kiến thức sơ đẳng nhất về văn nghị luận: Luận đề,luận điêm, lí lẽ, dẫn chứng, cách lập luận, để các em có thể nhận biết và nghị luậnđược những vấn đề đơn giản, làm tiền đề cho cấp độ 2,ở lớp 9 là vận dụng thànhthạo các thao tác với những vấn đề nghị luận phức tạp hơn, trong đó có phần nghịluận về Tác phẩm truyện
Truyện hiện đại Việt Nam (sau 1945) là bộ phận cấu thành và hoàn thiện diện mạonền văn học Việt Nam Thông qua việc đọc và học tác phẩm văn học, học sinhchẳng những đã có một vốn khá phong phú về kiến thức văn học (tác giả, tácphẩm, thể loại…) mà cũng được nâng cao dần về năng lực cảm thụ, phân tích,
Trang 7bình giảng tác phẩm đó là một thuận lợi Nhưng mặt khác cũng cần nắm vững yêucầu và mức độ cần đạt để việc tiếp nhận tác phẩm Truyện được đầy đủ và sâu sắchơn Chính vì vậy cần phải đổi mới trong giảng dạy.
b Cơ sở thực tiễn và thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
Môn Ngữ văn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhâncách con người Tuy nhiên hiện nay, niềm yêu thích môn học nói chung và tìmhiểu tác phẩm truyện còn hạn chế:
- Về phía học sinh: Các em chưa hiểu rõ vị trí, tầm quan trọng của môn họctrong nhà trường, thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, ngại đọc tác phẩm, kỹnăng làm bài nghị luận về tác phẩm truyện yếu, nghèo nàn cảm xúc, chưa thậtđồng cảm với những trang truyện hay, những số phận của các nhân vật…
- Về phía giáo viên: Giáo viên Lê Trí Viễn từng nhắn nhủ: “Dạy văn lấy cảmlàm đầu” - Nếu ai đó tự cho rằng mình đã gợi đầy đủ các ý tưởng của tác phẩm quatừng trang truyện thì có lẽ hơi chủ quan Hướng gợi ý để học sinh trình bày nhữngcảm nhận, đánh giá về nhân vật, sự kiện, chủ đề… trong tác phẩm truyện phải xuấtphát từ những rung cảm chân thật, thẩm mĩ Đòi hỏi người GV phải có sự tìm tòi,khám phá Trước tiên nắm vững chuẩn kiến thức kỹ năng tối thiểu, các phươngpháp kiến thức dạy học tích cực dạy học để dạy học không vượt chuẩn, dướichuẩn
- Trong quá trình giảng dạy thực tiễn của bản thân gần 20 năm qua, và thực tếhọc tập của học sinh trường THCS Tô Hiệu, tôi thấy kĩ năng nói, viết của học sinh
- đặc biệt là học sinh lớp 9 vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là kỹ năng trình bàynhững suy nghĩ, cảm nhân, đánh giá của mình về một ấn đề nào đó trong Tác phẩmTruyện còn lúng túng Trong thực tế, kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinhđược đánh giá bằng điểm bài viết Tập làm văn thường không cao: ở lớp 9 - 4 bàikiểm tra có 2 bài Tập làm văn hay khi thi vào THPT phần viết Tập làm văn cũngchiếm 50-60% số lượng bài viết
Sáng kiến xây dựng trong phạm vi chương trình Ngữ văn 9 - Phần TruyệnViệt Nam (trung đại, hiện đại) ở chuyên đề này đề cập đến các văn bản Truyệnhiện đại Việt Nam
- Vận dụng các phương pháp: Phân tích, so sánh, nghiên cứu, tổng hợp…
Trang 87.1.2 Đặc trưng nghệ thuật của tác phẩm tự sự:
Tự sự là phương thức tái hiện đời sống qua các sự kiện, biến cố và hành vicon người trong toàn bộ tính khách quan của nó Ở đây, tư tưởng và tình cảm củanhà văn thâm nhập sâu sắc vào sự kiện và hoạt động của con người, nhà văn kể lại,
tả lại những gì xảy ra bên ngoài mình, khiến cho người đọc có cảm giác rằng đượcphản ánh trong tác phẩm là một thế giới tạo hình xác định đang tự tồn tại, pháttriển không phụ thuộc vào tình cảm, ý muốn của nhà văn
- Để hiểu được nội dung phản ánh, để phân tích được các giá trị về mặt tưtưởng lân nghệ thuật của một tác phẩm tự sự cần chú ý:
2a Các yếu tố cơ bản của tác phẩm tự sự:
2a1 Cốt truyện: Hiểu một cách ngắn gọn, cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ
thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định của nhà văn Nhờcốt truyện, nhà văn thể hiện song hình thành, đặc điểm của mỗi tính cách cũng nhưsáng tác động qua lại giữa các tính cách Mỗi cốt truyện bao gồm các thành phầnsau:
- Trình bày: Giới thiệu thời kỳ lịch sử, khung cảnh cụ thể của sự việ
- Khai đoạn (hoặc thắt nút): Nêu tình huống, vấn đề nảy sinh để người đọcchú ý theo dõi
- Phát triển: Diễn tả sự tiến triển của hoạt động, của tính cách, của mâu thuẫn,xung đột
- Đỉnh điểm (hoặc cao trào): Hành động, tích cách, mâu thuẫn được phát triểnđến độ cao nhất, căng thẳng nhất
- Kết cục (hoặc mở nút): Giải quyết, kết thúc một quá trình phát triển của mâuthuẫn
* Tuy nhiên, không phải bất cứ cốt truyện nào cũng bao hàm đầy đủ các thànhphần như vậy Trình tự các thành phần ấy cũng biến hoá sinh động như cuộc sốngmuôn màu và tuỳ theo ý đồ nghệ thuật của nhà văn
Ví dụ: Truyện ngắn Làng (Kim Lân) Truyện ngắn đặc sắc cảm động về hìnhảnh người nông dân Việt Nam trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp Diễnbiến cơ bản của cốt truyện:
Trang 9* Trình bày: Ông Hai Thu, người làng chợ Dầu - gắn bó cả cuộc đời với làngquê từ trước cách mạng tháng 8.
- Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ - gia đình ông theo lời kêu gọi cụ
Hồ đi tản cư ở nơi tản cư, ông say mệ, khoe về làng mình với niềm tự hào, hãnhdiện…
* Khai đoạn: - Tình huống bất ngờ: Ông nghê được tin dữ từ câu chuyện củanhững người đàn bà tản cư ở dưới xuôi lên
* Phát triển: Từ đó, ông bất ngờ đến sững sờ, ông vô cùng đau khổ, cúi gầmmặt đi thẳng về nhà nơm nớp lo sợ, chẳng dám nói chuyện với ai, sợ mụ chủ nhàđuổi đi buồn khổ quá, ông tâm sự với con út cho khuây khoả…
* Đỉnh điểm (cao trào):
- Dồn nén, bế tắc, tuyệt vọng Ông đấu tranh dằn vật nội tâm:
- Ở lại? - Mụ chủ nhà đuổi
- Đi - ai người ta chứa người làng Việt gian?
- Tuyệt vọng hay là quay về làng
Đấu tranh quyết liệt: - Về làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ
- Về làng là chịu đầu hàng thằng Tây
là lại cam chịu kiếp nô lệ, tôi đòi…
- Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù
* Kết cục (hoặc mở nút):
- Ông dứt khoát lựa chọn: Làng yêu đất nước và tình thần kháng chiến lớn hơn
- Tin làng ông Việt gian được cải chính Ông lão vui sướng múa tay đi khoekhắp làng rằng nhà ông đã bị đốt nhẵn Tối hôm ấy, ông lại hồ hởi sang nhà bácThứ kể về làng mình
2a2 Đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm:
* Đề tài: Là phạm vi cụ thể của đời sống được người viết nhận thức, lựa chọn
và thể hiện trong tác phẩm của mình
Ví dụ: Xã hội Việt Nam 1930-1945 với các đề tài:
+ Tình yêu+ Cuộc sống giang hồ+ Thiên nhiên, quá khứ+ Đời sống khổ cực…
Trang 10* Chủ đề: Là vấn đề chủ yếu, trung tâm được đặt ra từ toàn bộ nội dung hiệnthực mà tác phẩm thể hiện.
Vấn đề của đời sống được khái quát bởi tác giả, cho thấy tầm tư tưởng, tínhchất tư duy và khả năng thâm nhập vào đời sống của tác giả Ví dụ: Đời thừa (NamCao): Bi kịch tinh thần của người trí thức giữa 2 phía: Con người (nhân đạo) nhàvăn (phải sáng tạo) Hay “Tắt đèn” (Ngô Tất Tố): Vấn đề quyền sống của conngười
* Tư tưởng tác phẩm: Là sự biểu hiện tư tưởng của tác giả bằng tác phẩm
Ví dụ: Con sẻ (Tuốc ghê nhep):
+ Chuyện về hai mẹ con chim sẻ+ Sức mạnh của tình mẫu tử+ Tình yêu mạnh hơn cái chết và nỗi sợ hãi
Trong tất cả các yếu tố tạo thành tác phẩm, tư tưởng tác phẩm đóng vai tròquan trọng nhất (chỉ đạo toàn bộ tác phẩm) thông qua ý thức chủ quan của ngườiviết
2a3 Nhân vật:
“Đối với nhà văn, tấm huân chương cao quý nhất là nhân vật mà người ta biếttới” (Pautôpxki)
Còn ĐacUyn khẳng định: “Không thể có một kiệt tác nào nếu trong đó không
có lấy một nhân vật mà ta yêu thích”
* Nói đến nhân vật, người ta quan tâm đến đối tượng con người Khi mọi conngười xuất hiện trong văn học đều gọi là nhân vật
Ví dụ: Anh thanh niên, ông hoạ sĩ (trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa) (NguyễnThành Long), Bé Thu, ông Sáu (Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng)
Trang 11Nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm, nhân vật chức năng.
Ví dụ: Nhân vật trung tâm: Nhân vật Tấn (Truyện ngắn Cố hương - Lỗ Tấn) Nhân vật chính: Nhuận Thổ
- Xét về hệ tư tưởng của nhân vật:
Nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, nhật vật lý tưởng, nhân vật tư tưởng(Nhĩ - truyện ngắn Bến quê - Nguyễn Minh Châu)
2b Các phương diện cơ bản xây dựng nhân vật trong tác phẩm tự sự của tác giả:
- Một nhân vật văn học thành công bao giờ cũng mang một tính cách, một sốphận riêng Nó là “Con người này” theo cách nói của nhà Mĩ học Đức nổi tiếngHêghen Vậy phân tích một nhân vật chính là làm sáng tỏ một tính cách, một sốphận độc đáo nhưng tính cách, số phận ấy bộc lộc qua các phương diện:
1 Lai lịch: Là phương diện đầu tiên góp phần chi phối đặc điểm tính cách
cùng cuộc đời nhân vật
Ví dụ: Chí Phèo ngay từ khi được sinh ra đã bị ném ra khỏi cuộc sống, đã làđứa trẻ hoang không biết bố mẹ, chẳng có nhà cửa Hoàn cảnh xuất thân ấy đã gópmột phần tạo nên số phận cô độc thê thảm của Chí
- Tính cách, số phận nhân vật được lý giải một phần bởi hoàn cảnh xuất thân,hoàn cảnh gia đình và điều kiện sinh hoạt trước đó
2 Ngoại hình: Tục ngữ Việt Nam có cấu: “Xem mặt mà bắt hình dong”.
Trong văn học, miêu tả ngoại hình chính là một biện pháp của nhà văn nhằm hé
mở tính cách nhân vật Phần lớn đặc điểm tính cách, chiều sâu nội tâm (cái bêntrong) của nhân vật được thống nhất với ngoại hình (vẻ bề ngoài)
3 Ngôn ngữ:
Qua lời ăn tiếng nói của một người, chúng ta có thể nhận ra trình độ văn hoá, nhận
ra tính cách của người ấy Ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm văn học mangđậm dấu ấn của một cá nhân Ví dụ: Ngôn ngữ nhân vật ông Hai (Trong Làng -Kim Lân)- ngôn ngữ mang đậm tính khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói của người nôngdân